Toàn cầu hóa , và các xu hướng đầu tư quốc tế hiện nay
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -CHUYÊN ĐỀ:
XU HƯỚNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Nhóm 4: Đào Kim Dung
Mai Lan Anh
Hà Nội,25/10/2012
Trang 2Mục lục.
Lời mở đầu
Chương 1: Những lý luận chung về đầu tư quốc tế 6
1.1 Khái niệm, bản chất đầu tư quốc tế 6
1.2 Đặc điểm của đầu tư quốc tế 7
1.3 Nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế 7
1.4 Các hình thức đầu tư quốc tế 8
1.4.1 Hỗ trợ phát triển chính thức 8
1.4.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
1.4.3 Đầu tư gián tiếp nước ngoài 9
1.4.4 Tín dụng tư nhân quốc tế 10
1.5 Vai trò của đầu tư quốc tế 10
1.5.1 Vai trò của đầu tư quốc tế với nước xuất khẩu vốn đầu tư 10
1.5.2 Vai trò của đầu tư quốc tế với nước tiếp nhận vốn đầu tư 11
Chương 2: Các xu hướng đầu tư quốc tế 12
2.1 Xu hướng tự do hóa đầu tư ngày càng mạnh giữa các nước và các khu vực trên thế giới 12
2.2 Xu hướng đầu tư Nam - Nam, Bắc - Bắc, Bắc- Nam đan xen trong đó đầu tư Nam-Nam có xu hướng gia tăng 15
2.3 Triển vọng phục hồi của dòng vốn FDI toàn cầu 18
2.4 Xu hướng gia tăng đầu tư của các quỹ quốc gia (SWFs - sovereign wealth funds) 21
2.5 Các xu hướng đầu tư khác 25
Chương 3: Việt nam trong xu hướng đầu tư quốc tế 26
3.1 Tình hình đầu tư quốc tế tại Việt Nam 26
3.1.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam 26
3.1.2 Tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài 28
3.2 Tác động hai mặt của đầu tư nước ngoài đến sự phát triển kinh tế xã hội Việt nam. .32
3.3 Những chính sách khuyến khích đầu tư của Việt nam trong xu hướng đầu tư quốc tế 36
Kết luận: 40
Trang 3Tài liệu tham khảo 41
Lời mở đầu:
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế trên toàn cầu, những hoạt động kinh tếquốc tế đã khẳng định được tầm quan trọng của nó trong phát triển kinh tế của mỗi quốcgia, mỗi nền kinh tế Đầu tư quốc tế là một đặc trưng quan trọng của toàn cầu hóa, có vaitrò quan trọng trong tạo ra các nguồn lực cho phát triển kinh tế không chỉ cho nước đầu tư
mà còn cho nước nhận đầu tư Vì thế đầu tư quốc tế trở thành quy luật tất yếu khách quan,
là tiền đề cho sự phát triển của mỗi quốc gia Đầu tư quốc tế đã trải qua quá trình phát triểnlâu dài, vận đông theo nhiều xu hướng cùng với những thăng trầm của nền kinh tế thế giới.Tìm hiều về các xu hướng vận động của đầu tư quốc tế là vô cùng cấp thiết trong bối cảnhcác nước trên thế giới cả nước phát triển và đang phát triển đang nỗ lực hội nhập sâu vàonền kinh tế thế giới, từ đó mỗi nền kinh tế, mỗi quốc gia có thể tìm được hướng đi đúngđắn cho mình, phát huy được lợi thế so sánh của mỗi nước, xây dựng môi trường đầu tư
lành mạnh và hiệu quả Từ những lý do trên, chúng em đã chọn chủ đề nghiên cứu: “Xu hướng đầu tư quốc tế”cho chuyên đề nghiên cứu khoa học của mình.
2.Mục đích nghiên cứu:
Chuyên đề tập trung làm rõ những vấn đề như sau:
- Làm rõ những kiến thức lý luận về đầu tư quốc tế, phân loại các hình thức cũng nhưđặc điểm và vai trò của nó trong phát triển kinh tế mỗi quốc gia
- Phân tích cá xu hướng đầu tư quốc tế hiện nay, biểu hiện, tác động và nguyên nhânhình thành xu hướng Đồng thời liên hệ với Việt nam trong xu hướng đầu tư quốc tế củathế giới, những phản ứng chính sách của chính phủ Việt nam trong nỗ lực khuyến khíchđầu tư nước ngoài
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Chuyên đề tập trung nghiên cứu quá trình vận động của các xu hướng đầu tư quốc tếtrên thế giới trong những năm gần đây, phân tích, đặc điểm cũng như nguyên nhân hìnhthành
4 Kết cấu chuyên đề:
Lời mở đầu
Chương 1: Những lý luận chung về đầu tư quốc tế
1.1 Khái niệm, bản chất đầu tư quốc tế
Trang 41.2 Đặc điểm của đầu tư quốc tế.
1.3 Nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế
1.4 Các hình thức đầu tư quốc tế
1.4.1 Hỗ trợ phát triển chính thức
1.4.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.4.3 Đầu tư gián tiếp nước ngoài
1.4.4 Tín dụng tư nhân quốc tế
1.5 Vai trò của đầu tư quốc tế
1.5.1 Vai trò của đầu tư quốc tế với nước xuất khẩu vốn đầu tư.
Chương 2: Các xu hướng đầu tư quốc tế
2.1 Xu hướng tự do hóa đầu tư ngày càng mạnh giữa các nước và các khu vực trên thếgiới
2.2 Xu hướng đầu tư Nam - Nam, Bắc - Bắc, Bắc- Nam đan xen trong đó đầu tư Nam có xu hướng gia tăng
2.3 Triển vọng phục hồi của dòng vốn FDI toàn cầu
2.4 Xu hướng gia tăng đầu tư của các quỹ quốc gia (SWFs - sovereign wealth funds) 2.5 Các xu hướng khác
Chương 3: Việt nam trong xu hướng đầu tư quốc tế
3.1 Tình hình đầu tư quốc tế tại Việt Nam
3.1.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam
3.1.2 Tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài
3.2 Những xu hướng đầu tư quốc tế tại Việt Nam hiện nay
3.3 Những chính sách khuyến khích đầu tư của Việt nam trong xu hướng đầu tư quốctế
Kết luận:
Trang 5Bảng danh mục viết tắt.
AIA Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN
ACIA Hiệp định đầu tư toàn diện của các nước ASEAN.APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình DươngASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
EC Cộng đồng châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPI Đầu tư gián tiếp nước ngoài
GI Hình thức đầu tư mới
MAI Hiệp định đầu tư của đa phương
SWFs Quỹ đầu tư quốc gia
TNCs Công ty xuyên quốc gia
WTO Tổ chức thương mại thế giới
UNCTAD Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển
Trang 6Chương 1: Những lý luận chung về đầu tư quốc tế.
1.1.Khái niệm, bản chất đầu tư quốc tế.
Cho đến nay đầu tư không phải một khái niệm mới nhất là đối với những người hoạt độngtrong các lĩnh vực kinh tế, xã hội Tuy nhiên, thuật ngữ này lại được hiểu rất khác nhau Cóngười cho rằng đầu tư tức là phải bỏ một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại một lợiích trong tương lai Thậm chí thuật ngữ này thường được sử dụng rộng rãi để nói lên sự chiphí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào hoạt động của con người trong cuộc sống
Vậy đầu tư trong kinh tế là gì? Những đặc trưng nào quyết định một hoạt động được gọi làđầu tư? Mặc dù vẫn còn khá nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này nhưng ta có thể đưa
ra quan niệm cơ bản về về đầu tư ( investment) là “ việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai,… vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hay nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận”.
Có hai đặc trưng cơ bản để phân biệt một hoat động được gọi là đầu tư hay không đó làtính sinh lãi và tính rủi ro trong quyết định đầu tư Mục đích của đầu tư là thu lợi nhuận Vìvậy, cần hiểu rằng bất kỳ chi phí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào một hoạt động nào
đó mà không nhằm mục đích thu lợi thì không phải là đầu tư
Trên cơ sở hiểu được khái niệm và bản chất của đầu tư, chúng ta có thể định nghĩa đầu tưquốc tế và những đặc trưng cơ bản của nó so với đầu tư trong nước Cho đến nay, mặc dù
có rất nhiều quan niệm về đầu tư quốc tế, nhưng khái niệm được nhiều người thừa nhận đó
là: “ Đầu tư quốc tế (international investment) là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ,
kỹ năng quản lý,… từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu” Nước nhận đầu tư được gọi là nước chủ nhà (host country),
nước chủ đầu tư được gọi là nước đầu tư (home country)
Cũng có thể hiểu đầu tư quốc tế là quá trình kinh tế trong đó các nhà đầu tư nước ngoài (tổchức hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nước tiếp nhận đầu tư đểthực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt đượccác hiệu quả xã hội
Qua các định nghĩa trên ta có thể thấy bản chất chung nhất của đầu tư quốc tế là đầu tưtrên phạm vi toàn cầu, tức là hoạt động tìm kiếm lợi nhuận bằng con đường kinh doanh củachủ đầu tư
Trang 71.2 Đặc điểm của đầu tư quốc tế.
* Chủ sở hữu đầu tư là người nước ngoài: đặc điểm này có liên quan đến các khía cạnh
về quốc tịch, luật pháp, ngôn ngữ và phong tục tập quán, …làm tăng thêm tính rủi ro và chiphí đầu tư nước ngoài
* Sử dụng vốn vượt qua khỏi biên giới quốc gia.
+ Vốn: là các nguồn lực (resources) có thể được huy động và sử dụng vào hoạt động sảnxuất kinh doanh nhằm thu lại lợi ích cho chủ đầu tư Đặc điểm này liên quan đến khía cạnh
về chính sách, pháp luật, hải quan và cước phí vận chuyển
*Tính sinh lợi: Lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội
+ Lợi nhuận là chênh lệch giữa thu nhập mà hoạt động đầu tư đem lại cho chủ đầu tư vớichi phi mà chủ đầu tư phải bỏ ra để tiến hanh hoạt động đầu tư đó
+Lợi ích kinh tế xã hội là chênh lệch giữa những gì mà xã hội thu được với những gì mà xãhội mất đi từ hoạt động đầu tư Lợi ich kinh tế xã hội được đánh giá qua các chỉ tiêu địnhtính và các chỉ tiêu định lượng
*Tính rủi ro: Hoạt động đầu tư thường diễn ra trong một thời gian dài vì vậy nó có tính
mạo hiểm Thời gian đầu tư càng dài thì tính mạo hiểm càng cao.Ngoài ra nhà đầu tư quốc
tế còn phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của nước sở tại và chịu thêm rủi ro về chênhlệch tỷ giá
*Vốn đầu tư được tính bằng ngoại tệ ( thường là đồng USD): đặc điểm này có liên quan
đến vấn đề tỷ giá hối đoái và các chính sách tài chính tiền tệ cua các nước tham gia đầu tư
1.3 Nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế.
Đầu tư quốc tế được hình thành do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là do: sựchênh lệch hiệu quả sử dụng vốn đầu tư giữa các nước, các nhà đầu tư muốn phân tánrủi ro, và do sự phát triển của các TNCs
- Chênh lệch hiệu quả sử dụng vốn đầu tư giữa các nước: mục đích của đầu tư quốc tế
là tìm kiếm lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu vì thế ở đâu có hiệu quả sử dụng vốncao thì ở đó sẽ thu hút được nhà đầu tư Việc lưu chuyển vốn đầu tư giữa các nướcđược thực hiện theo nguyên tắc bình thông nhau Mô hình Macdougall- Kemp(1964) đã giải thích rằng nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế là do sự chênh lệch
về năng suất cận biên của vốn, giữa nước thừa vốn và những nước thiếu vốn Nhưngtrên thực tế thì đây chỉ là điều kiện cần, đầu tư quốc tế có được hình thành haykhông còn phụ thuộc rất lớn vào môi trường đầu tư
- Phân tán rủi ro: các nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn cao
mà còn quan tâm đến mức độ rủi ro của các hạng mục đầu tư đặc biệt trong bối cảnhnền kinh tế như hiện nay, nhà đầu tư không muốn tập trung đầu tư vào một hangmục, một khu vực nhất định
- Sự phát triển của các TNCs: có rất nhiều học thuyết giải thích sự hình thành đầu tư
quốc tế là hệ quả tất yếu của sự phát triển cua các TNCs như lý thuyết chu kỳ sản
Trang 8phẩm của Raymond Vernon, lý thuyết sản phẩm bắt kịp của Akamatsu(1962), lýthuyết nội vi hóa hay sự cản trở của các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đã thúcđẩy sự phát triển của các TNCs Tóm lại sự ra đời của các TNCs là động lực khiếnđầu tư quốc tế ngày càng mở rộng.
- Ngoài các lý do trên thì đầu tư quốc tế cũng là hình thức quan trọng để các nướckhẳng định vị thế của mình và thực hiện mục đích chính trị của mình
1.4 Các hình thức của đầu tư quốc tế.
1.4.1 Hỗ trợ phát triển chính thức
- ODA (Official Development Assistance) là nguồn vốn hổ trợ chính thức từ bên ngoài
bao gồm các khoảng viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi ODA được hiểu là nguồnvốn dành cho các nước đang và kém phát triển được các các cơ quan chính thức của chínhphủ trung ương và điạ phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liênchính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết củamột quốc gia, được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ thông qua mộthiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hổ trợ vốn ký kết.Hiệpđịnh ký kết hổ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế
Mục tiêu chính là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển.ODA mang tính chất ưu đãi và có yếu tố không hoàn lại ≥ 25% (được tính với tỷ suất chiếtkhấu 10%)
- Các nhà tài trợ (Donors) bao gồm:
+ Chính phủ các nước chủ yếu là các nước phát triển hoặc tương đối phát triển - ODA song
phương
+ Các tổ chức quốc tế: tổ chức liên chính phủ: EC, OECD; tổ chức thuộc Liên hợp quốc
(United Nation); tổ chức tài chính quốc tế; Các tổ chức phi chính phủ (NGO).
- Đối tượng nhận viện trợ: Là chính phủ các nước đang và kém phát triển
- Tính ưu đãi: lãi suất thấp, thời gian cho vay dài, có thời gian ân hạn (chỉ trả lại, chưa phảitrả gốc), giá trị cho vay lớn
- Có ràng buộc: các nước nhận viện trợ phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới được
nhận tài trợ, điều kiện này tuỳ thuộc quy định của từng nhà tài trợ
- Nhà tài trợ gián tiếp điều hành dự án: Các nhà tài trợ không trực tiếp điều hành dự án
dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
- Có tính phúc lợi xã hội: lĩnh vực đầu tư của ODA chủ yếu là các lĩnh vực không hoặc ít
sinh lợi nhuận, đó là các công trình công cộng mang tính chất phúc lợi xã hội
1.4.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI)
Trang 9- FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong
một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủđầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp
- FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận.
- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức
- Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thịtrường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra nhữngquyết định có lợi nhất cho họ Vì thế, hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tếcao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tếnước nhận đầu tư
- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư Thông quahoạt động FDI, nước chủ nhà co thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏikinh nghiệm quản lý
* Các hình thức thâm nhập chủ yếu của FDI:
+ Đầu tư mới (Greenfield Investment): là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản
xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh
đã tồn tại
Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI cũng là kênh chủ yếu của các nhà đầu tư ở cácnước phát triển vào các nước đang phát triển
+Mua lại và sáp nhập qua biên giới (M&A: Cross-border Merger and Acquisition): Mua
lại và sáp nhập qua biên giới là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợpnhất với một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động
Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước công nghiệp hóa
và rất phổ biến trong những năm gần đây
Ở Việt Nam hiện nay, FDI vẫn chủ yếu thực hiện theo kênh GI Kiểu đầu tư này có vai tròrất quan trọng đối với quá trình tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết để công nghiệp hóa vàhiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, nếu chỉ thu hút FDI theo kênh GI thì không đón bắt được
xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay, sẽ làm hạn chế khả năng thu hút FDI vào nước ta
1.4.3 Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment - FPI)
- FPI là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước mua chứng khoán của
các công ty, các tổ chức phát hành ở một nước khác với một mức khống chế nhất định đểthu lợi nhuận nhưng không nắm quyền kiểm soát trực tiếp đối với công ty hoặc tổ chứcphát hành chứng khoán
Trang 10- Chủ đầu tư nước ngoài không nắm quyền kiểm soát hoạt động của tổ chức phát hànhchứng khoán; bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh sảnxuất
- Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào loại chứng khoán mà nhà đầu tư mua, có thể cốđịnh hoặc không
- Nước tiếp nhận đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ, kỹ thuật máy mócthiết bị hiện đại và kinh nghiệm quản lý vì kênh thu hút đầu tư loại này chỉ tiếp nhận vốnbằng tiền
- Lý do đầu tư chứng khoán nước ngoài: Cơ cấu tương quan quốc tế, thu nhập đầu tưchứng khoán giữa các quốc gia ít tương quan với nhau như trong một quốc gia và phân tánrủi ro
1.4.4 Tín dụng tư nhân quốc tế (International Private Loans)
- Tín dụng tư nhân quốc tế là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước
cho các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế ở một nước khác vay vốn và thu lợi nhuậnqua lai suất tiền cho vay
- Chủ đầu tư không phải là chủ sở hữu của đối tượng tiếp nhận đầu tư Quan hệ giữa chủđầu tư với đối tượng tiếp nhận vốn là quan hệ vay nợ
- Người tiếp nhận đầu tư chỉ có quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định
và sau đó phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn
- Chủ đầu tư thu lợi nhuận qua lãi suất cho vay theo khế ước vay độc lập với kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp vay
- Các khoản cho vay thường là bằng tiền, không kèm theo máy móc thiết bị, công nghệ, bíquyết hay chuyển giao công nghệ
- Đơn vị cung cấp vốn tuy không tham gia quản lý điều hành hay kiểm soát hoạt độngdoanh nghiệp nhưng trước khi cho vay đều nghiên cứu tính khả thi của dự án đầu tư qua hồ
sơ đi vay, dự án sử dụng vốn, nếu đối tượng tiếp nhận đầu tư sử dụng vốn không có hiệuquả và đúng theo hồ sơ đi vay thì chủ đầu tư có quyền đòi tiền trước
- Đối với đối tượng tiếp nhận đầu tư: Không phụ thuộc vào kinh tế của chủ đầu tư, nhà đầu
tư nước ngoài không can thiệp vào việc sử dụng vốn Tuy nhiên tính ổn định không cao donhà đầu tư có thể đòi nợ sớm hoặc rút vốn khi đối tượng tiếp nhận đầu tư làm ăn thua lỗ
- Đối với chủ đầu tư: vốn ít, rủi ro ít, thu nhập không phụ thuộc vào kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh, được ưu tiên thanh toán nếu doanh nghiệp phá sản Tuy nhien nhượcđiểm là lợi nhuận không cao
1.5 Vai trò của đầu tư quốc tế.
Trang 111.5.1 Vai trò của đầu tư quốc tế với nước xuất khẩu vốn đầu tư.
- Giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua việc sử dụng những lợi thế sảnxuất của nơi tiếp nhận đầu tư, giúp hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuậncủa vốn đầu tư
- Xây dựng thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng ví dụ nhờ có đầu
tư nước ngoài mà Mỹ nhập khẩu ổn định toàn bộ phốt phát, đồng, thiếc,3/4 quặng sắt,mangan,
- Bành trướng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế: thôngqua xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài, mà các nước xuất khẩuvốn mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.Ngoài ra, nhiều nước qua hình thức viện trợ và cho vay vốn với quy mô lớn, lãi suất hạ, mà
ra các điều kiện về chính trị và kinh tế, trói buộc các nước đang phát triển phạu thuộc vàohọ
- Các TNCs và MNCs lợi dụng cơ chế quản lý thuế ở các nước khác nhau mà tổ chứ đầu tư
ở các nước khác nhau, qua đó thực hiện chuyển giá nhằm trốn thuế, tăng lợi nhuận chocông ty
- Đầu tư vốn ra nước ngoài giúp các chủ đầu tư phân tán rủi ro do tình hình chính trị trongnước bất ổn,
- đầu tư ra nước ngoài sẽ giúp thay đổi cơ cấu nền kinh tế trong nước thao hướng hiệu quảhơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động khu vực và quốc tế mới
1.5.2 Vai trò của đầu tư quốc tế với nước tiếp nhận vốn đầu tư.
* Đối với nước tư bản phát triển:
- Giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội trong nươc như thất nghiệp, lạmphát,
- Việc mua lại những công ty, xí nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hìnhthanh toán, tạo công ăn việc làm mới cho người lao động
- Tăng thu ngân dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách
- Tạo môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và thương mại
-Giúp các doanh nghiệp trong nước học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các đầu tưvào
* Đối với nước chậm và đang phát triển:
Trang 12- Đầu tư quốc tế giúp các nước này đẩy mạnh tốc độ phát triển nền kinh tế thông qua việctạo ra các xí nghiệp mới hoặc tăng quy mô của các đơn vị kinh tế.
- Thu hút thêm lao động giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở các nước này Theo thống
kê của Liên Hợp Quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp ở các nước chậm phát triển
và đang phát triển khoảng 35-38% tổng số lao động, cho nên hàng vạn xí nghiệp có vốnFDI hoạt động tại các nước đang phát triển giúp các nước này giải quyết một phần nạn thấtnghiệp
- Các dự án FDI góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh là động lực kích thích nền kinh tếtăng trưởng về lượng cũng như về chất
- Giúp các nước chậm phát triển giảm một phần nợ nước ngoài Số nợ hiện nay khoảng1.500 tỷ USD, tương đương khoảng 86.000 tấn vàng, núi vàng này đang lãi mẹ đẻ lãi con
và tiếp tục vay thêm để giải quyết vấn đề kinh tế, xã hội trong nước
Ngoài ra thông qua tiếp nhận đầu tư quốc tế các nước đang phát triển có điều kiện tiếpnhận kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài
Chương 2: Các xu hướng đầu tư quốc tế
Cho tới nay, thế giới đã trải qua nhiều xu hướng phát triển: đầu tư truyền thống (các nướcphát triển đầu tư vào các nước đang phát triển hoặc đầu tư có tính 1 chiều), đầu tư lẫn nhaugiữa các nước và đầu tư của các nước đang phát triển vào các nước phát triển Xu hướngđẩu tư quốc tế ngày nay là sự kết hợp của nhiều xu hướng, tạo nên hệ thống đầu tư toàncầu, hứa hẹn nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các nước tham gia hoạt động kinh tếquốc tế
2.1 Xu hướng tự do hóa đầu tư ngày càng mạnh giữa các nước và các khu vực trên thế giới.
Đây là xu hướng dễ dàng nhận thấy nhất, được khẳng định bằng những nỗ lực của chínhphủ trong việc ban hành các chính sách, kí kết các hiệp định khu vực và quốc tế, qua đó tạo
ra một hành lang pháp lý, một môi trường đầu tư lành mạnh, khuyến khích đầu tư nướcngoài Nhiều nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi trên thế giới đã tiến mộtbước dài về tự do hóa đầu tư va chu chuyển vốn quốc tế trên thị trường nước mình trong xuhướng mở cửa, hội nhập toàn cầu, tăng thu hút FDI và cổ phần nước ngoài đề bù đắp lượngvốn nội địa còn hạn hẹp.Trong những năm qua, các qui định về FDI của các nước đã có sựthay đổi nhanh chóng, từ bảo hộ đến giới hạn hoặc kiểm soát và gần đây chuyển sang thúc
Trang 13đẩy theo hướng tự do hóa FDI ở phạm vị khu vực (hiệp định đầu tư ACIA của các nướcASEAN) và từng nhóm nước (hiệp định đa phương về đầu tư MAI của các nước OECD).
Những biểu hiện của xu hướng:
- Các quan chức tham dự Hội nghị thương mại và phát triển của Liên hợp quốc(UNCTAD) ngày 20/4/2010 nhận định chính sách đầu tư của các nước trong nămnhững năm tới sẽ tiếp tục hướng tới việc mở cửa và tạo điều kiện thuận lợi hơn chođầu tư nước ngoài
- Trong quý 1/2010, có 62 nền kinh tế trên thế giới đã triển khai các biện pháp mớitác động đến khuôn khổ chính sách đầu tư của nước ngoài và 73 nền kinh tế thựchiện những biện pháp đầu tư quốc tế, tiếp tục xu hướng ký kết nhanh các hiệp địnhmới về đầu tư Ước tính trong quý đầu năm 2010, khoảng 37 hiệp định như trên đãđược ký kết
- Báo cáo giám sát đầu tư của UNCTAD cho biết khoảng 28 nền kinh tế đã thông quanhững biện pháp chuyên về đầu tư nhằm tự do hóa, thu hút đầu tư nước ngoài vàocác khu vực kinh tế từ lâu vẫn đóng kín
Cụ thể là Australia và Canada đã tự do hóa dịch vụ vận tải hàng không; Ấn Độ tự do hóadịch vụ truyền hình trên mạng điện thoại di động; Malaysia, Syria, Cameroon tự do hóadịch vụ ngân hàng hoặc sở hữu nhà ở; 9 nền kinh tế, trong đó có Nga, Mexico, Libya, Peru,
đã triển khai các chính sách đầu tư nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tưnước ngoài như thiết lập các khu kinh tế tự do, khuyến khích những dự án năng lượng táisinh
Bên cạnh đó, các nước còn áp dụng 10 biện pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài nhằm tạothuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài, ví dụ như Nam Phi đã loại bỏ mọi hạn chế đốivới việc chuyển dịch vốn nội địa và ra nước ngoài
Một số nước như Thái Lan, Nam Phi, Madagascar…đã thực hiện các biện pháp ưu đãingoại hối, nới lỏng các điều kiện đầu tư để khuyến khích đầu tư ra nước ngoài
- Tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài được đẩy mạnh
So với các lĩnh vực khác, tự do đầu tư trực tiếp nước ngoài là một vấn đề mới nổi lêntrong vòng một thập niên trở lại đây và vẫn sẽ là chủ đề trọng tâm của tự do hóa kinh tếtoàn cầu trong những thập niên tới Nếu như tự do hóa thương mại có mục tiêu cắt bỏ cácbóp méo thương mại, tạo lập một không gian thuận lợi cho sự tự do chu chuyển hàng hóa
và dịch vụ trên phạm vi khu vực toàn cầu, thông qua đó các nền kinh tế quốc gia có thểphát huy lợi thế so sánh của mình trong phân công lao động quốc tế thì tự do hóa đầu tưtrực tiếp nước ngoài có mục tiêu xóa bỏ những phân biệt đối xử đối với các nhà đầu tưtrong nước và nước ngoài tạo nên một không gian cho sự di chuyển vốn và các nguồn lựckinh tế để hình thành một mạng lưới sản xuất toàn cầu, thông qua đó các nền kinh tế gắnkết chặt chẽ với nhau trong nề kinh tế thế giới thống nhất Do bản chất của đầu tư trực tiếp
Trang 14nước ngoài là sự thiết lập và nắm quyền kiểm soát hoạt động của các cơ sở sản xuất ở nướcngoài bởi chính các nhà đầu tư nên quá trình tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn raphức tạp hơn cho đến nay, xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra theo các cấp độsau:
Một là, tự do đơn phương hóa và nới lỏng các quy định về đầu tư nước ngoài bởi cácnước thu hút FDI Xu hướng này đang tiến triển mạnh do sự nhận thức về tầm quan trọngcủa FDI trong pahts triển kinh tế của các nước đang phát triển ngày càng rõ Nhiều nướcđang phát triển đặt ra các chiến lược và chính sách thu hút FDI như một nội dung quantrọng để hội nhập kinh tế toàn cầu và dùng nhiều biện pháp để cải thiện môi trường đầu tư,tăng khả năng cạnh tranh trong thu hút FDI(tìm thêm bảng biểu chứng minh)
Hai là, tự do hóa đầu tư trên cơ sở song phương dựa trên các hiệp định hợp tác ký kếtgiữa hai quốc gia với nhau hoặc một quốc gia với một tổ chức khu vực như Nhật Bản vớiASEAN
Ba là Tự do hóa ở cấp độ khu vực Những nội dung của tự do hóa đầu tư thường đượcgắn kết với các chương trình liên kết của EU, Hiệp định thương mại tự do Châu Mỹ Cũng
có khu vực có hiệp định về đầu tư riêng như: Hiệp định về thiết lập về khu vực đầu tưchung ASEAN(AIA) Trong khuôn khổ APEC có chương trình thuận lợi hóa đầu tư
Bốn là, tự do hóa đầu tư đa phương Điển hình nhất là các vấn đề đầu tư liên quan đếnthương mại trong khuôn khổ WTO Một kế hoạch toàn diện hơn đang được bàn thảo về tựhóa đầu tư đa phương là hiệp định đầu tư đa phương (MAI) Tuy nhiên, các thỏa thuận tự
do hóa đầu tư đa phương còn phải vượt qua nhiều trở ngại liên quan đến ảnh hưởng của cáccông ty xuyên quốc gia đối với các nước chủ nhà là các nước đang phát triển
Các biện pháp thúc đẩy đầu tư của một số nước, 2009-2010
- Costa Rica đổi mới các qui chế khu mậu dịch tự do theo hướng minh bạch hơn vàtăng mức FDI và thúc đẩy liên kết với các công ty địa phương Cải tổ này cho phépCosta Rica thực hiện đúng cam kết WTO
- Ủy ban Quốc gia của Trung Quốc khuyến khích FDI vào ngành công nghệ cao, tiếtkiệm năng lượng, năng lwongj mới và bảo vệ môi trường
- Ấn độ đưa ra chính sách FDI hợp nhất (Consolidated FDI Policy) bao gồm tất cả cácqui chế/ chính sách trước đó vào một văn bản nhằm làm cho chính sách FDI minhbạch hơn, có thể dự báo, đơn giản hơn và rõ ràng hơn
Trang 15- Nga điều chỉnh Luật các khu kinh tế đặc biệt để giảm ngưỡng đầu tư tối thiểu; mởrộng danh mục các hoạt động kinh doanh được phép, đơn giản hóa việc nắm giữ đấtđai và thủ tục hành chính.
Một số điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hóa của các nước, 2009-2010:
- Indonesia xóa bỏ độc quyền trong cung cấp điện của Cty điện nhà nước, tạo diềukiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước
- Quatar tự do hóa đầu tư ở một số lĩnh vực như dịch vụ tư vấn, công nghệ thông tin,dịch vụ liên quan tới thể thao văn hóa và giải trí, và dịch vụ phân phối
- Malaysia tăng mức sở hữu cố phần của nhà đầu tư từ 49% lên 70% đối với cácngành: Ngân hàng đầu tư, các công ty bảo hiểm, cho phép sở hữu 100% vốn trongphân khúc bán buôn, nới lỏng qui chế mua bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài
Có thể thấy đây là xu hướng tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế,
là tiền đề để mở rộng hoạt động đầu tư trên phạm vi toàn cầu, rỡ bỏ những hàng rào thủ tụchành chính, tạo môi trường đầu tư lành mạnh và hiệu quả Xu hướng này đem lại lợi íchcho cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư trong đầu tư quốc tế Cũng từ những chính sách,hiệp định mà chính phủ các nước đã ký kết, một môi trường đầu tư đã được hình thành vàphát triển liên tục, xóa bỏ khoảng cách địa lý và tập quán giữa các nước
Tuy nhiên, UNCTAD nhấn mạnh, xu hướng này cũng đặt ra những vấn đề những tháchthức tiềm tàng đối với đầu tư nước ngoài bao gồm sở hữu nhà nước, việc tăng cường kiểmsoát các công ty trong thời kỳ khủng hoảng tiếp tục tác động đến dòng vốn đầu tư nướcngoài; sự thất bại của chính sách thương mại cũng đã tác động đến hệ thống sản xuất trênquy mô toàn cầu của các công ty xuyên quốc gia và dây chuyền giá trị toàn cầu của cáccông ty này
2.2 Xu hướng đầu tư Nam - Nam, Bắc - Bắc, Bắc- Nam đan xen trong đó đầu tư Nam- Nam có xu hướng gia tăng.
Xu hướng đầu tư ngày nay là sự đa dạng hóa các dòng đầu tư quốc tế, đầu tư lẫn nhau giữacác nước phát triển và đang phát triển và giữa nội bộ các nhóm nước này với nhau.Xuhướng đầu tư lẫn nhau và vào các nước đang phát triển ngày càng gia tăng Hiện tượng nàyphản ánh tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế nhanh chóng của các nước đang phát triển vàotoàn cầu hóa Không chỉ có các hình thức đầu tư truyền thống, những xu hướng đầu tư mớigiữa các nước phát triển và đang phát triển đang hình thành đan xen tạo một hệ thống đầu
tư quốc tế trên phạm vi toàn cầu Điều này cho thấy sự phát triển về quy mô toàn cầu của
Trang 16quá trình chu chuyển dòng vốn quốc tế giữa các quốc gia vượt ra phạm vi lãnh thổ và cũngnhư khác biệt về trình độ phát triển kinh tế giữa các nước phát triển và đan phát triển.
Hình 2.2.1: Tỷ trọng đầu tư trực tiếp (FDI) vào nhóm nước phân theo nước phát triển vànước đang phát triển trong năm 2007 và 2010
Có thể thấy từ năm 2007-2010, tỷ trọng đầu tư trực tiếp của nước phát triển vào nước đangphát triển (đầu tư Bắc- Nam) tăng mạnh 19%, đầu tư vào nước phát triển (đầu tư Bắc-Bắc)
đã giảm 17% nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn Động thái này khẳng định những nỗ lực thuhút vốn đầu tư nước ngoài của các nước đang phát triển, tận dụng triệt để những lợi thế sosánh về tài nguyên và giá nhân công rẻ, đồng thời chính phủ các nước này cũng đưa ranhững chính sách khuyến khích, tạo môi trường đầu tư lành mạnh và hiệu quả Nhờ đó,dòng vốn đầu tư của các nước phát triển sang các nước đang phát triển tăng mạnh trongnhững năm gần đây Bên cạnh đó cũng phải khẳng định, dòng vốn đẩu tư giữa các nướcphát triển tuy giảm nhưng vẫn chiếm phần lớn giá trị đầu tư ra nước ngoài do đây là kênhđầu tư ổn định và ít rủi ro hơn so với đầu tư vào các nước đang phát triển
Đối với nhóm đang phát triển, lại hình thành xu hướng đầu tư từ nước đang phát triển sangnước đang phát triển (đầu tư Nam- Nam), chiếm phần lớn khối lượng đầu tư ra nước ngoài
Xu hướng đầu tư nam - nam gia tăng bởi xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa gia tăng từcuối thập niên 1990 Các nước đang phát triển bắt đầu phân loại thành các nền kinh tế mớinổi (NIEs, ASEAN, Trung Quốc, Ấn Độ, BRICS, 1 số nước Mỹ Latinh) và nhóm các nềnkinh tế phát triển chậm hơn và nhóm các nền kinh tế chậm phát triển Theo lý thuyết đầu tư
Trang 17quốc tế, các nước đang phát triển sẽ tăng cường đầu tư lẫn nhau để tận dụng các lợi thế sosánh, giảm giá thành sản xuất
Dòng vốn FDI đầu tư của các nước đang phát triển lại chủ yếu khu vực Nam Á, Đông Á,
và Đông Nam Á và tăng mạnh về giá trị (năm 2010 là trên 200 tỉ USD) trong những năm2005- 2010
Hình 2.2.2: Dòng vốn FDI từ nước đang phát triển tới các vùng kinh tế qua các năm 2010
2005-Cơ quan xếp hạng tín dụng quốc tế nhận định, mặc dù tình hình khó khăn kinh tế tại một sốnước phương Tây đã và đang làm tăng rủi ro trong hoạt động đầu tư trực tiếp trên thế giới,song các nền kinh tế châu Á vẫn tăng trưởng và sẽ tiếp tục thu hút mạnh nguồn vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) Dự kiến, trong giai đoạn từ năm 2012-2014, Đông Nam Á sẽtrở thành một trong những điểm đến chủ yếu của các nhà đầu tư trên thế giới
Singapore hiện là quốc gia thu hút FDI lớn nhất Đông Nam Á Năm 2011, dòng vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài rót vào nước này đã tăng 31,6% lên trên 64 tỷ USD, chiếm 54,7%tổng FDI tại ASEAN.Một số chuyên gia đánh giá Singapore có thế mạnh về mức thuế thấp
và hệ thống pháp luật khá hoàn thiện Trong khi đó, đầu tư trực tiếp của Singapore ra nướcngoài cũng được duy trì ở mức tăng trưởng khá cao và tăng 19% lên tới 25,2 tỷ USD trongnăm 2011.Không chỉ Singapore, năm ngoái Indonesia cũng đã thu hút 18,9 tỷ USD FDI,tăng 37,3% so với năm trước đó Trong quý II, Indonesia tiếp tục ghi mức kỷ lục mới vềthu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khi tăng tới 30% so với cùng kỳ năm 2011, trong
đó phần lớn đổ vào ngành khai khoáng và hóa chất
Trang 18Theo các chuyên gia, cùng với sự phục hồi kinh tế cũng như triển khai dự án xây dựng cơ
sở hạ tầng quy mô, Indonesia có thể sẽ thu hút nhiều FDI hơn so với các nước khác trongkhu vực
Còn ở Malaysia, sau khi gặp khó khăn vào năm 2009, giới chức nước này đã rút ra bài họckinh nghiệm và cải thiện môi trường đầu tư Trong năm 2010 và 2011, đầu tư trực tiếpnước ngoài đã tăng trở lại khi đạt 9,1 tỷ và 12 tỷ USD.Trong lúc đầu tư trực tiếp củaMalaysia ra nước ngoài tăng trưởng nhanh chóng và đạt 15 tỷ USD năm 2011 Sang quýI/2012, con số này lên tới 5,5 tỷ USD, tăng 51,3 % so với cùng kỳ năm trước
Tại Thái Lan, mặc dù thiên tai lũ lụt năm ngoái đã khiến việc thu hút FDI sụt giảm 1,7%,song các chuyên gia cho rằng nhờ có sự tích lũy về cơ sở kinh tế và mô hình phát triển linhhoạt, Thái Lan vẫn sẽ là một trong những tâm điểm của khu vực Đông Nam Á trong thuhút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Điều đáng chú ý là cùng với việc tiếp tục thực thi chính sách kinh tế mở và không ngừngcải thiện môi trường đầu tư, bốn nước thành viên mới của ASEAN - gồm Việt Nam, Lào,Myanmar và Campuchia - cũng sẽ có thành tích nổi bật trong thu hút vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài
2.3 Triển vọng phục hồi của dòng vốn FDI toàn cầu.
Theo Báo cáo đầu tư toàn cầu 2010 do Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Pháttriển (UNCTAD) công bố ngày 22/7/2010, luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)trên thế giới có dấu hiệu hồi phục từ nửa sau năm 2009 và tăng nhẹ trong nửa đầu năm
2010 (tuy không đồng đều giữa các khu vực) Điều này cho phép có sự lạc quan thận trọng
về triển vọng FDI trong ngắn hạn và cho những năm tới Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)toàn cầu năm 2010 chỉ tăng mức vừa phải và chậm hơn so với tốc độ phục hồi về sảnlượng công nghiệp và thương mại quốc tế
Trong báo cáo về tình hình đầu tư thế giới mới nhất của mình, UNCTAD nêu rõ thươngmại thế giới và sản lượng công nghiệp trên toàn cầu đã trở lại mức trước khi xảy ra cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Nhưng cuối năm 2010, các nguồn FDI vẫn thấphơn so với giai đoạn trước khủng khoảng
UNCTAD cho rằng tạo thuận lợi và thúc đẩy đầu tư vẫn là nhân tố chủ yếu trong tất cả cácchính sách đầu tư quốc gia gần đây của các chính phủ trên toàn cầu Tuy nhiên, tình trạngbảo hộ đầu tư đang có nguy cơ tăng mạnh khi chính phủ các nước đã và đang áp dụngnhiều biện pháp hạn chế đầu tư và các thủ tục hành chính những năm gần đây
Trang 19FDI phục hồi sau suy giảm đến 37% trong năm 2009 (đạt 1.114 tỷ USD) FDI vào cácnước đang phát triển và các nước đang chuyển đổi giảm 27% trong năm 2009, đạt 548 tỷUSD, sau 6 năm tăng trưởng liên tục Tuy nhiên, các nước này dường như chống lại nhữngtác động của cuộc khủng hoảng tốt hơn các nước phát triển (FDI sụt giảm 44%) và lần đầutiên, các nước đang phát triển và các nước chuyển đổi chiếm một nửa dòng chảy toàn cầuFDI trong năm 2009.
Trong số những nước thu hút FDI nhiều nhất năm 2009, Trung Quốc đứng thứ hai sau Mỹ.Trong số 6 nước thu hút FDI nhiều nhất, có 3 nước thuộc nhóm các nước đang phát triển
và đang chuyển đổi Hơn 2/3 hoạt động sáp nhập và mua lại quốc tế vẫn diễn ra tại giữacác nước phát triển nhưng đóng góp của các nước đang phát triển và các nước đang chuyểnđổi đã tăng từ 26% trong năm 2007 lên 31% trong năm 2009 Trong 5 tháng đầu năm
2010, giá trị các vụ sáp nhập và mua lại trên thế giới đã tăng 36% so cùng kỳ năm trước(không đạt quá 250 tỷ USD trong năm 2009)
Hình 2.3:Dòng vốn FDI theo nhóm nước từ năm 2002-2011, dự kiến năm 2012- 2014
Năm 2011, Mỹ vẫn giữ vững ngôi vị là nhà đầu tư lớn nhất thế giới, với FDI ra bên ngoàitrị giá 397 tỷ USD Trong khi đó, Nhật Bản nổi lên là nhà đầu tư lớn thứ hai thế giới với
114 tỷ USD FDI ra bên ngoài, tăng hơn hai lần so với năm 2010 Theo báo cáo củaUNCTAD, đầu tư của Nhật Bản ra bên ngoài tăng, ngoài yếu tố đồng yên mạnh lên còn docác công ty Nhật đẩy mạnh tìm kiếm các cơ hội tăng trưởng và các tài sản chiến lược ở cácthị trường nước ngoài trong bối cảnh triển vọng tăng trưởng kinh tế trong nước còn yếu Ví
dụ tiêu biểu cho xu hướng này là thương vụ công ty dược phẩm Takeda Pharmaceutical
Trang 20Co (Nhật Bản) thâu tóm công ty Nycomed Pharma AG (Thụy Sỹ) với giá 13,7 tỷ USD thương vụ mua công ty xuyên biên giới lớn thứ hai từ trước tới nay của một công ty NhậtBản
-Báo cáo của UNCTAD ghi nhận luồng vốn FDI chảy vào Trung Quốc năm 2011 đã chạmmức cao lịch sử 124 tỷ USD, trong đó lần đầu tiền luồng vốn đầu tư chảy vào lĩnh vực dịch
vụ lại vượt lĩnh vực chế tạo Đầu tư của Nhật Bản vào Trung Quốc trong cùng thời giannày tăng lên 6 tỷ USD, cao hơn mức 4 tỷ USD của năm 2010 và chiếm 9% tổng số FDIvào Trung Quốc
Theo thống kê của UNCTAD, năm 2011 là năm thứ ba liên tiếp FDI chảy vào châu Phigiảm, xuống chỉ còn 42,7 tỷ USD, so với 43,1 tỷ USD năm 2010, chủ yếu do tình trạng bất
ổn xã hội và chính trị ở Ai Cập và Libya Tỷ trọng FDI vào châu Phi trên FDI toàn cầucũng giảm từ 3,3% năm 2010 xuống còn 2,8% năm 2011
Trong Báo cáo đầu tư thế giới hàng năm vừa công bố ngày 5/7/2012, Hội nghị Liên hợpquốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) dự báo luồng vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) trên toàn cầu sẽ tăng chậm lại trong năm 2012 và đạt 1.600 tỷ USD, trong bốicảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn và biến động, các hoạt động mua bán và sáp nhậpxuyên biên giới sa sút và đầu tư mới sụt giảm trong 5 tháng đầu năm nay
Về triển vọng trong trung hạn, Báo cáo đầu tư thế giới 2012 nhận định FDI toàn cầu sẽ tiếptục tăng chậm, ước đạt 1.800 tỷ USD trong năm 2013 và 1.900 tỷ USD năm 2014.Trongbáo cáo trên, UNCTAD cho biết luồng vốn FDI toàn cầu năm 2011 tăng 16% so với năm
2010, lên 1.500 tỷ USD, vượt mức trung bình giai đoạn trước khủng hoảng năm 2005-2007song vẫn thấp hơn 23% so với mức cao đỉnh điểm của năm 2007
Mặc dù vậy, báo cáo của UNCTAD lạc quan rằng triển vọng FDI vào châu Phi năm 2012
và trong những năm tới sẽ hứa hẹn hơn, trung bình ước đạt 55-65 tỷ USD trong năm 2012,70-85 tỷ USD năm 2013 và 75-100 tỷ USD năm 2014, nhờ tăng trưởng kinh tế khả quanhơn, chính phủ các nước trong khu vực tiếp tục các nỗ lực cải cách và giá hàng hóa tăngcao
Ta có thể nhận thấy dấu hiệu phục hồi của dòng vốn FDI sau giai đoạn khủng hoảng kinh
tế, tuy còn tăng chậm trong những năm gần đây nhưng cũng cho thấy xu hướng hồi phục
và tăng trưởng Triển vọng này cho thấy sự hồi phục của nền kinh tế thế giới và những nỗlực của các quốc gia trong gỡ bỏ các chính sách ngăn cản FDI, tạo môi trường đầu tư thuậnlợi trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn FDI hồi phục có tác động tích cực trong sự pháttriển kinh tế của mỗi quốc gia cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư