Mục tiêu của đề tài: Xác định được phương pháp tính giá trị kinh tế và áp dụng tính toán giá trị kinh tế tại một số hệ thống cho các hộ sử dụng nước khác nhau phục vụ quy hoạch quản lý
Trang 1Trường đại học thuỷ lợi
Cơ quan chủ trỡ: Trường Đại học Thuỷ lợi
7405
02/6/2009
Hà nội, 3/ 2009
Trang 2TÓM TẮT
Đề tài:
“Nghiên cứu phương pháp tính giá trị kinh tế của nước cho các hộ sử dụng nước
khác nhau tại lưu vực sông Hồng”
1 Mục tiêu của đề tài:
Xác định được phương pháp tính giá trị kinh tế và áp dụng tính toán giá trị kinh tế tại
một số hệ thống cho các hộ sử dụng nước khác nhau phục vụ quy hoạch quản lý nguồn
nước tại lưu vực sông Hồng– Thái Bình (gọi tắt là Lưu vực sông Hồng)
Mục tiêu cụ thể của đề tài:
• Xây dựng phương pháp luận tổng quát cho tính toán giá trị kinh tế của nước
được chấp nhận rộng rãi bởi các nhà kinh tế tài nguyên nước
• Xây dựng phương pháp phương pháp cụ thể và các thủ tục cụ thể cho từng loại
hình sử dụng nước, như phương pháp và thủ tục tính cầu tưới, cầu nước sinh
hoạt nông thôn,cầu và tưới nước sinh hoạt đô thị, cầu điện sinh hoạt đô thị và
nước cho phát điện sinh hoạt đô thị
• Điều tra khảo sát tại các tỉnh thuộc địa bàn vực sông Hồng, sử dụng mô hình
tính toán và các số liệu thu thập liên quan nhằm xác định cầu sử dụng nước cho
các mục đích nói trên
• Quy hoạch phân bổ tối ưu các sử dụng nước trong phạm vi một lưu vực sông
Nhưng mục tiêu này không phải là mục tiêu chính của đề tài, và điều kiện về
thời gian và nguồn lực có hạn nên chúng tôi chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ
2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu chính của đề tài bao gồm:
a, Nghiên cứu hiện trạng về giá trị kinh tế của các loại hình sử dụng nước khác
nhau tại Đồng bằng sông Hồng
- Thu thập các số liệu khí hậu, thời tiết, thuỷ văn của hệ thống lưu vực sông Hồng
- Xác định hàm cầu sử dụng nước tưới, nước sinh hoạt đô thị, cầu sử dụng điện,
cầu sử dụng nước cho công nghiệp, thương mại, thuỷ sản thuộc lưu vực cụ thể
mỗi nội dung tính cầu sử dụng nước nói trên tập trung vào các nội dung sau:
o Nghiên cứu tổng quan về phương pháp luận tính cầu
o Thu thập số liệu cho việc tính cầu
o Điều tra về hiện trạng nhu cầu sử dụng nước
o Tính toán hàm cầu sử dụng nước
- Nghiên cứu tổng quan về các điều kiện chính sách, thể chế của ngành nước
o Phân tích tình hình áp dụng luật nước tại khu vực để rút ra một số vấn đề
như:
• Xác định phạm vi quyền sử dụng nước để trên sở đó xây dựng ràng buộc phân phối sử dụng nước trong mô hình;
• Xác định phạm vi của nhà nước và tư nhân trong sử dụng nước
để đưa vào quan hệ giữa các mô hình con trong mô hình tính toán giá trị và giá nước;
Trang 3các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
• Xác định các quy định về thu hồi chi phí để bổ sung vào ràng buộc thanh toán phí hoặc giá nước
o Phân tích các chính sách nước của lưu vực: để rút ra những hàm ý cho phát triển các quy hoạch sử dụng nước
o Phân tích về quản lý hành chính của ngành nước ở khu vực: để xác định chức năng, trách nhiệm của các cơ quan quản lý ngành nước trong lưu vực cũng với mục đích để xác định các ràng buộc lên mô hình tối ưu giá trị kinh tế của khu vực
- Nghiên cứu về các điều kiện văn hoá, chính trị, xã hội khác trong khu vực để xem xét những ảnh hưởng tới hành vi xử dụng nước trong khu vực
b, Nghiên cứu các nhân tố kinh tế ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế về cung cấp
và sử dụng nước tại khu vực lưu vực sông Hồng
- Nghiên cứu các chính sách, kế hoạch, quy hoạch phát triển ngành nước trong lưu vực
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế cung cấp và sử dụng nước khác nhau
- Xây dựng khung điều tra và điều tra thăm dò ý kiến của các bên có liên quan về những yếu tố nói trên cũng như các hậu quả của chúng đối với cung cấp và sử dụng nước
- Xây dựng mô hình phân bổ tối ưu và Viết Chương trình tối ưu:
o Nghiên cứu phương pháp phân bổ tối ưu tài nguyên nước trong lưu vực
o Điều tra số liệu và chạy chương trình
3.Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp mô hình hóa kinh tế vi mô: là phương pháp cơ bản của các nhà kinh tế để phân tích và đánh giá các quan hệ kinh tế lý thuyết Phương pháp này kiểm tra sự phù hợp của bài toán đặt ra với các chuẩn mực của kinh tế học vi
mô thông qua các mô hình toán học từ đơn giản tới phức tạp
- Phương pháp thống kê kinh tế: là phương pháp phân tích toán học việc lấy mẫu, thu thập số liệu thống kê kinh tế, trình bày và biểu diễn các đặc trưng của các liệt số liệu thống kê kinh tế, kiểm định tính đúng đắn trong việc thu thập số liệu thống kê và các tài liệu quan sát kinh tế
- Phương pháp kinh tế lượng: là phương pháp căn bản của các nhà kinh tế để ước lượng các tham số của mô hình từ các số liệu thống kê Phương pháp này cung cấp các phương pháp tính toán các giá trị ước lượng và kiểm định tính đúng đắn của các ước lượng theo quan điểm của lý thuyết thống kê toán học Phương pháp kinh tế lượng được phân chia thành hai loại:
o Phương pháp kinh tế lượng cổ điển với phương pháp bình phương tối thiểu (OLS): là phương pháp căn bản cho các trường hợp trong môi trường các giả thiết của kinh tế lượng cổ điển
o Phương pháp kinh tế lượng nâng cao: gồm những phương pháp áp dụng với những tiếp cận mới chủ yếu để giải quyết các trường hợp ngoài giới
Trang 4hạn của mô hình cổ điển như phương pháp ML, phương pháp GMM, phương pháp GLS, …
- Phương pháp đánh giá tuỳ hoàn cảnh (CVM – Contigent Valuation Method) Đây là phương pháp mới được áp dụng rộng rãi trên thế giới nhằm ước tính giá trị kinh tế cho các loại dịch vu sinh thái và môi trường Nó là trường hợp riêng của mô hình kinh tế lượng khi số liệu không được biểu hiện quan sát trực tiếp
trên thị trường
4 Kết quả của nghiên cứu
Cụ thể:
1 Một quyển báo cáo tổng hợp : 282 trang
Nhóm nghiên cứu đề tài đã đạt được một số kết quả tập trung vào các vấn đề như sau:
- Xác định được giá trị kinh tế của nước cho lúa và một số cây trồng
- Xác định được giá trị kinh tế của nước cho sinh hoạt nông thôn và đô thị; giá trị kinh tế của sử dụng điện sinh hoạt và giá trị của nước cho phát điện, thủy sản và một số ngành dùng nước khác
- Tối ưu phân bổ để xác định giá trị kinh tế của nước cho các mục đích khác nhau
- Áp dụng tính giá trị kinh tế của nước và chương trình tối ưu phi tuyến phân bổ nước vùng Đồng bằng sông Hồng
2 Một quyển báo cáo tóm tắt
3 Một quyển phụ lục
4 Mười hai chuyên đề:
Chuyên đề Tên chuyên đề
Chuyên đề 1 Chuyên đề phương pháp luận CVM
Chuyên đề 2 Chuyên đề điều tra xác định cầu nước sinh hoạt nông thôn Chuyên đề 3 Chuyên đề phương pháp luận xác định cầu nước tưới
Chuyên đề 4 Mô hình tính toán cầu sử dụng nước đô thị
Chuyên đề 5 Mô hình tính toán cầu sử dụng năng lượng điện
Chuyên đề 6 Xây dựng mô hình xác định ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn
nước tới sức khỏe của người dân Chuyên đề 7 Những thay đổi thể chế, chính sách trong mô hình quản lý
tưới ở Vĩnh Phúc Chuyên đề 8 Xây dựng mô hình bình phương tối thiểu hai giai đoạn và ứng
dụng trong mô hình tính toán giá trị nước Chuyên đề 9 Xây dựng mô hình bình phương tối thiểu ba giai đoạn và ứng
Trang 5các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
dụng trong mô hình tính toán giá trị nước Chuyên đề 10 Mô hình thay đổi thể chế trong quản lý tưới
Chuyên đề 11 Tổng hợp phân tích thể chế trong điều kiện thay đổi chính
sách thủy lợi phí Chuyên đề 12 Mô hình tối đa hợp lý - thông tin đầy đủ và ứng dụng trong
mô hình tính toán giá trị nước
5 Kết luận:
- Bài toán tính toán giá trị kinh tế, mà vấn đề cơ bản là xác định hàm cầu, của các
sử dụng nước là hết sức quan trọng vì lý do các sử dụng nước vốn nổi tiếng là các hàng hóa và dịch vụ có nhiều tính chất “thất bại thị trường” cần được tính toán hiệu chỉnh để đáp ứng các yêu cầu làm chính sách
- Các nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu trên thế giới về các lĩnh vực này tăng nhanh trong các hoạt động nghiên cứu về tài nguyên nước, tuy nhiên, điều này chưa được các chuyên gia nghiên cứu ở Việt nam chú trọng Bằng chứng là
số bài viết chuyên nghiệp về những chủ đề này chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay
- Tuy nhóm nghiên cứu đã các những bước đi đầu tiên trong việc nghiên cứu tính toán giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên và môi trường, cụ thể là tài nguyên nước, nhưng những công việc khổng lồ vẫn còn nằm ở phía trước Một số giá trị kinh tế chưa được đề cập là giá trị kinh tế của du lịch liên quan tới nước, giá trị kinh tế của nước giành cho sinh thái, giá trị kinh tế của nước bị ảnh hưởng bởi các điều kiện biến đổi khí hậu, … Chúng tôi đề nghị các cấp quản lý cần nhanh chóng quan tâm tới những chủ đề này nhằm bảo vệ các nguồn lợi ích to lớn của đất nước
- Nhóm nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề quy hoạch phân bổ tối ưu tài nguyên nước của lưu vực sông, nhưng còn nhiều vấn đề cần đề cập Trước mắt là những vấn đề quy hoạch động trong phân bổ tài nguyên nước, là lĩnh vực phân bổ tối ưu có chú trọng tới cả các yếu tố “động”, tức là những yếu tố làm thay đổi “môi trường phân
bổ tối ưu tĩnh” hiện có Đây là lĩnh vực cực kỳ quan trọng cần nhanh chóng phát triển để nâng cao khả năng quy hoạch phân bổ tối ưu sử dụng nước của lưu vực nói chung và của toàn bộ nền kinh tế nói chung
- Một vấn đề nổi cộm hiện nay là vấn đề biến đổi khí hậu Những tiếp cận mà nhóm nghiên cứu đề cập trong nghiên cứu này chắc chắn sẽ giúp ích nhiều cho các nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu giảm thiểu các tác động có hại của biến đổi khí hậu và thích nghi với các điều kiện biến đổi khí hậu trong tương lai Nếu không
có các tính toán ước lượng hành vi của người tiêu dùng cũng như nhà sản xuất, các nhà làm quyết định chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc ứng xử với những tình huống thay đổi bất ngờ trong tương lai
Trang 6MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 12
1 Đặt vấn đề và sự cần thiết của đề tài 12
2 Mục tiêu của đề tài 15
3 Cách tiếp cận 17
Chương I: TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ TRỊ KINH TẾ SỬ DỤNG NƯỚC 18
Giới thiệu 18
I.1 Khái niệm giá trị 20
I 2 Khái niệm “ý muốn thanh toán” (WTP) và các thước đo phúc lợi khác 21
I 2 1 Giới thiệu 21
I 2 2 Giá trị tài nguyên với giá bóng 22
I.3 Đo lường thay đổi phúc lợi 24
I.3.1 Quan hệ ưa thích cá nhân và đường cầu 24
I.3.2 Thước đo phúc lợi ứng với những thay đổi trong giá cả 25
I.4 Giá trị thị trường đối trọi với giá trị phi - thị trường 41
II Giá trị kinh tế của nguồn tài nguyên tự nhiên 41
III.1.1 Giá trị sử dụng 43
III.1.2 Các giá trị phi - sử dụng 44
III.2.1 Tầm quan trọng của một chính sách định giá nước hợp lý 45
III.2.2 Phân bổ nước hiệu quả 46
Chương II: TÍNH TOÁN CẦU VÀ GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA NƯỚC TƯỚI 51
I ĐẶT VẤN ĐỀ 51
I.1 Mục tiêu chính sách 51
I.2 Tình hình tưới ở Lưu vực sông Hồng và sông Thái bình 52
I.3 Tóm tắt 54
II TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TÍNH CẦU NƯỚC TƯỚI 55
II.1 Tiếp cận sử dụng nhiều số liệu 55
II.1.1 Các nghiên cứu cầu kinh tế lượng 55
II.1.2 Các nghiên cứu cầu quy hoạch tối ưu 58
II.1.3 Các nghiên cứu thích hợp khác 58
II.1.4 Tóm tắt 59
II.2 Tiếp cận sử dụng ít số liệu 60
II.2.1 Một số thảo luận về phương pháp rút ra đường cầu 62
II.2.2 Nghiên cứu tổng quan về độ co giãn cầu 64
II.3 Tính cầu tưới tại Việt nam: Phương pháp dựa vào giá trị phần dư 67
III PHƯƠNG PHÁP TÍNH CẦU TƯỚI DỰA VÀO HÀM SẢN XUẤT 68
III.1 Giới thiệu 68
III.2 Hàm cầu 68
Trang 7các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
III.2.1 Mô tả 68
III.2.2 Phương pháp rút ra đường cầu 69
III.2.3 Cầu tổng hợp 70
III.3 Bốc hơi, hiệu quả tưới và các hàm sản xuất sử dụng nước 70
III.4 Chương trình tính cầu 72
III.4.2 Hạn chế và thích nghi 74
III.4.3 Các bổ sung cần thiết 75
III.5 Kết luận 75
IV PHƯƠNG PHÁP TÍNH CẦU DỰA VÀO GIÁ TRỊ PHẦN DƯ 76
IV.1 Phương pháp phần dư 76
IV.2 Phương pháp rút ra đường cầu từ giá trị phần dư 78
IV.3 Kết luận 80
V ÁP DỤNG TÍNH GIÁ TRỊ TẠI CÁC HỆ THỐNG TƯỚI THỰC TẾ 81
V.1 Giới thiệu 81
V.2 Các kết quả tính toán 82
V.2.1 Các kết quả chạy chương trình TÍNH CẦU TƯỚI 82
V.2.2 Các kết quả tính cầu tưới và giá trị kinh tế của tưới cho Hệ thống La khê 82 V.2.3 Các kết quả tính cầu tưới và giá trị kinh tế của tưới cho Hệ thống Liễn sơn
86 V.2.4 Các kết quả tính cầu tưới và giá trị kinh tế của tưới cho Hệ thống Núi cốc 89 V.3 Tóm tắt các kết quả tính toán và so sánh 92
VI SỬ DỤNG KẾT QUẢ TÍNH CẦU ĐỂ PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH 93
VI.1 Giới thiệu 93
VI.2 Trường hợp Hệ thống Tưới Núi cốc, Thái guyed 94
VI.2.1 Hoạt động cung cấp nước tưới của hộ nông dân 95
VI.2.2 Sử dụng các ước lượng từ tính toán giá trị kinh tế nước tưới cho trường hợp Núi cốc 98
VI.2.3 Hoạt động tiêu dùng nước của hộ nông dân 98
VI.2.4 Minh họa cho điều kiện tưới của Núi cốc 100
VI.3 Phân tích tác động của chính sách miễn giảm thủy lợi phí tới hành vi của công ty cung cấp nước và minh họa bởi Hệ thống Núi cốc 101
VI.3.1 Phân tích tổng quát 101
VI.3.2 Phân tích tác động tới nước trong hệ thống 102 VI.4 Trường hợp Hệ thống Liễn Sơn tỉnh Vĩnh Phúc 106
VI.5 Trường hợp nghiên cứu ở hệ thống La khê-Hà Tây 110
VI.6 Tóm tắt 111
VII KẾT LUẬN VỀ TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ VÀ CẦU TƯỚI 112
Chương III: TÍNH TOÁN CẦU VÀ GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 114
I MỞ ĐẦU 114
II HIỆN TRẠNG CUNG CẤP NƯỚC SINH HOẠT TẠI LƯU VỰC SÔNG HỒNG – THÁI BÌNH 116
Trang 8II.1 Giới thiệu 116
II.2 Tầm quan trọng trong việc tính toán giá trị nước sinh hoạt 119
III MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VỀ CẦU NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 119
III.1.1 Lợi ích sử dụng nước sinh hoạt 121
III.1.2 Nguồn cung cấp 121
III.1.3 Môi trường quản lý, môi trường thể chế 122
III.1.4 Xác định mô hình cho cầu nước sinh hoạt 123
IV MÔ HÌNH THỐNG KÊ-KINH TẾ LƯỢNG 124
IV.1 Mô hình kinh tế lượng 124
IV.2 Phương pháp luận về CVM 125
IV.2.1 Các phương pháp quan sát được trực tiếp 125
IV.2.2 Các phương pháp quan sát được gián tiếp 125
IV.2.3 Các phương pháp giả tưởng/gián tiếp 125
IV.2.4 Các phương pháp giả tưởng trực tiếp 126
IV.2.5 Những lợi thế của phương pháp đánh giá giá trị ngẫu nhiên (CVM) 126
IV.3 Các kiểm định trong nghiên cứu CVM 127 IV.3.1 Độ trệch chiến lược 127
IV.3.2 Độ trệch do khả năng diễn đạt của người trả lời phỏng vấn 128
IV.3.3 Độ trệch do khả năng diễn đạt sai kịch bản của người phỏng vấn 128
IV.3.4 Độ trệch do biên tập và xử lý số liệu 128
IV.3.5 Độ trệch xác định sai tổng thể 129
IV.3.6 Độ trệch lấy mẫu 129
IV.3.7 Độ trệch can thiệp của cán bộ địa phương 129
V QUÁ TRÌNH THIẾT KẾ, TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐIỀU TRA VÀ THU THẬP SỐ LIỆU 130
V.1 Thiết kế kịch bản điều tra, tổ chức phỏng vấn 130
V.1.1 Thiết kế bảng hỏi 130
V.1.2 Mô tả quá trình phỏng vấn 134
V.2 Sơ đồ tổ chức điều tra và thu thập số liệu 135
V.2.1 Tổ chức điều tra về kỹ thuật, công nghệ tại các bộ, ban, ngành và các công ty kinh doanh trong lĩnh vực cấp thoát nước 135
V.2.2 Tổ chức điều tra thí điểm và điều tra chính thức 136
VI CHƯƠNG TRÌNH TÍNH TOÁN CẦU NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN, GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN TẠI CÁC ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU TRA 136
VI.1 Biên tập số liệu điều tra 136
VI.2 Xử lý số liệu 136
VI.3 Chạy chương trình tính toán ước lượng các tham số của mô hình cầu nước sinh hoạt nông thôn 137
VI.3.1 Các kết quả trong giai đoạn điều tra thí điểm 137
VI.3.2 Các kết quả trong giai đoạn điều tra chính thức 143
VI.3.3 Các kết quả tính toán giá trị kinh tế của sử dụng nước sinh hoạt nông thôn tại một số địa điểm điều tra 163
Trang 9các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
VII CÁC KẾT QUẢ TÍNH TOÁN VÀ KẾT LUẬN 168
VII.1 Kết luận 168
VII.2 Phần kiến nghị 169
Chương IV: NƯỚC SINH HOẠT ĐÔ THỊ, NƯỚC CHO THỦY SẢN VÀ NƯỚC CÔNG NGHIỆP 170
I GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NƯỚC SINH HOẠT ĐÔ THỊ 170
I.1 Tùy chọn quản lý sử dụng nước sinh hoạt 171
I.1.1 Giới thiệu về các tùy chọn chính sách quản lý nước sinh hoạt 171
I.1.2 Độ co giãn giá của cầu nước sinh hoạt 172
I.1.3 Độ phản ứng của cầu với các chính sách bảo tồn phi-giá-cả 174
I.2 Vấn đề tính toán giá trị nước sinh hoạt đô thị trên thế giới 176
I.3 Vấn đề nước sinh hoạt đô thị ở Hà nội 179
I.3.1 Hiện trạng cung cấp nước sinh hoạt đô thị ở Hà nội từ nguồn nước ngầm 179 I.3.2 Hiện trạng cung cấp nước sinh hoạt đô thị ở Hà nội từ nguồn nước mặt 180 I.3.4 Tóm tắt 182 II KINH TẾ VI MÔ CỦA MÔ HÌNH LỰA CHỌN LIÊN TỤC-RỜI RẠC 182
II.1 Giới thiệu 182
II.2 Lý thuyết cầu người tiêu dùng với ràng buộc ngân sách tuyến tính-từng khúc 184
III PHƯƠNG PHÁP LUẬN KINH TẾ LƯỢNG 189
III.1 Đặt vấn đề 189
III.2 Mô hình kinh tế lượng cho bài toán ước lượng cầu người tiêu dùng với ràng buộc tuyến tính-từng khúc 191
III.3 Ứng dụng tính toán ước lượng cầu sử dụng nước sinh hoạt và điện sinh hoạt đô thị 198 III.4 Một số hiệu chỉnh bổ sung 199
IV KẾT QUẢ TÍNH TOÁN CÁC THAM SỐ CỦA MÔ HÌNH 200
IV.1 Vấn đề hiệu chỉnh bài toán nhiều-phân đoạn về bài toán hai-phân đoạn 200
IV.2 Vấn đề viết chương trình ML cho bài toán hai-phân đoạn 200
IV.2.1 Công tác thu thập số liệu 200
IV.2.2 Chạy chương trình ML 201
IV.2.3 Kết quả tính toán các tham số của hàm cầu nước sinh hoạt đô thị 202
IV.3 Tính toán giá trị kinh tế của nước sinh hoạt đô thị 204
IV.4 Tóm tắt về tính toán cầu và giá trị kinh tế của nước sinh hoạt đô thị 207
V KẾT LUẬN 208
VI CẦU NƯỚC CÔNG NGHIỆP 209
VI.1 Cơ sở 209
VI.2 Sử dụng nước trong quá trình công nghiệp 209
VI.3 Cầu sử dụng nước công nghiệp 211
VI.4 Ví dụ hàm sản xuất sử dụng nước công nghiệp tuyến tính của một số ngành công nghiệp 212
VI.5 Ví dụ cầu sử dụng nước công nghiệp cho sản xuất thép 213
VII CẦU NƯỚC CHO THỦY SẢN 215
Trang 10VII.1 Giới thiệu 215
VII.2 Tính toán cầu và giá trị kinh tế nước cho thủy sản 215
Chương V: CẦU ĐIỆN SINH HOẠT ĐÔ THỊ 218
I GIỚI THIỆU 218
II MÔ HÌNH HÓA CẦU VỚI GIÁ PHI TUYẾN 219
III CÁC ĐỊNH DẠNG NGẪU NHIÊN VÀ TIÊU DÙNG DỰ KIẾN 222
IV ƯỚC LƯỢNG GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ CẦU ĐIỆN SINH HOẠT ĐÔ THỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP SUY LUẬN RA CẦU NƯỚC CHO THỦY ĐIỆN 224
IV.1 Giới thiệu 224
IV.2 Một số kết quả máy tính về ước lượng của các tham số của mô hình cầu 224
IV.3 Một số kết quả tính giá trị kinh tế của điện sinh hoạt 226
IV.4 Phương pháp suy luận ra cầu đối với nước sử dụng để phát điện sinh hoạt 227
IV.5 Áp dụng thực hành phương pháp suy luận cầu sử dụng nước cho phát điện ở quy mô hộ gia đình ………228
V KẾT LUẬN 230
Chương VI: MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC 232
I TỔNG QUAN 232
I.1 Mục tiêu cụ thể 232
I.2 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp CVM 232
II THỰC TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 232
II.1 Vị trí vùng nghiên cứu 232
II.2 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 233
III TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC 233
III.1 Tình hình ô nhiễm 233
III.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm 233
III.2.1 Nước thải sinh hoạt 234
III.2.2 Nước thải các khu công nghiệp và làng nghề 234
III.2.3 Nước thải từ khu sử dụng nước nông nghiệp 235
V TỔNG HỢP VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU TRA THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC 236 V.1 Các ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước 236
V.1.1 Ảnh hưởng đến nguồn cấp nước ssinh hoạt và sức khoẻ con người 236
V.1.2 Ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến nuôi trồng và đánh bắt thủy sản 236
V.1.3 Ô nhiễm ảnh hưởng đến các môi trường sống và hoạt động sản xuất 237
V.2 Tổng hợp và phân tích số liệu ước tính thiệt hại do ô nhiễm 238
V.2.1 Tổng hợp số liệu của các câu hỏi chung 238
V.2.2 Tổng hợp nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm sông Nhuệ 239
V.2.3 Ước tính thiệt hại 240
Trang 11các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
Chương VII: PHÂN BỔ TỐI ƯU TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ CHƯƠNG TRÌNH
TÍNH TOÁN PHÂN BỔ TỐI ƯU NGUỒN NƯỚC 242
I ĐẶT VẤN ĐỀ 242
II BÀI TOÁN QUY HOẠCH TỐI ƯU PHI TUYẾN 245
II.1 Hàm mục tiêu của bài toán 245
II.2 Hiệu quả phân bổ 245
II.3 Thiết lập các ràng buộc của bài toán 246
II.3.1 Ràng buộc chung của bài toán quy hoạch 247
II.3.2 Ràng buộc của bài toán cụ thể 247
II.3 Phương pháp giải bài toán quy hoạch tối ưu phi tuyến 250
III ỨNG DỤNG PHẦN MỀM TÍNH TOÁN TỐI ƯU LINGO 5 252
III.1 Chức năng của phần mềm tính toán 252
III.2 Những ưu điểm và nhược điểm của phần mềm lingo 5 252
IV ÁP DỤNG TÍNH TOÁN THỬ NGHIỆM TẠI MỘT SỐ HỆ THỐNG QLKT 252 IV.1 Mô hình thửi nghiệm ở hệ thống thủy nông Núi Cốc – Thái Nguyên 253
IV.1.1 Một số kết quả thửi nghiệm tính toán tối ưu 255
IV.1.2 Phân tích kết quả 257
IV.2 Mô hình áp dụng tính toán tại hệ thống Liễn Sơn 258
Chương VIII: PHẦN MỀM PHÂN BỔ TỐI ƯU AQUARIUS VÀ ĐỀ XUẤT VIẾT CHƯƠNG TRÌNH ĐỂ THÍCH NGHI CHO LƯU VỰC SÔNG HỒNG 260 I GIỚI THIỆU PHẦN MỀM AQUARIUS 260
II XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG TÀI NGUYÊN NƯỚC 262
II.1 Thanh menu 262
II.2 Bảng các cấu phần hệ thống nguồn nước 262
II.3 Bảng công cụ 263
III NẠP SỐ LIỆU VÀ ÁP DỤNG CÁC KẾT QUẢ TÍNH TOÁN CÁC HÀM CẦU SỬ DỤNG NƯỚC CHO PHẦN MỀM 264
III.1 Nhập số liệu hiện vật 264
III.2 Nhập số liệu kinh tế 267
III.3 Áp dụng các hàm cầu được ước lượng trong báo cáo cho Phần mềm Aquarius
268 IV CHẠY CHƯƠNG TRÌNH VÀ CÁC KẾT QUẢ 271
IV.1 Liên kết hệ thống 271
IV.2 Lựa chọn kỹ thuật tối ưu hóa 271
IV.3 Xác định khoảng thời gian mô phỏng 272
IV.4 Giải bài toán phân bổ nước tối ưu 273
IV.5 Kết quả dưới dạng đồ thị và dạng bảng 273
V VIẾT CHƯƠNG TRÌNH ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI ĐIỀU KIỆN LƯU VỰC SÔNG HỒNG 275
V VIẾT CHƯƠNG TRÌNH ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI ĐIỀU KIỆN LƯU VỰC SÔNG HỒNG 275
VI KẾT LUẬN 275
Trang 12C KẾT LUẬN 277
D KIẾN NGHỊ 279 Tài liệu tham khảo 280
Trang 13các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
A ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Đặt vấn đề và sự cần thiết của đề tài
Ở nhiều nơi trên thế giới nước đang trở thành một hàng hoá khan hiếm [Postel et al
1996; Gleick 1996; United Nations 1997; Seckler et al 1998] Mặt khác, nước là một
tài nguyên cung cấp những lợi ích quan trọng cho nhân loại, cho nên một số học giả đã
cho rằng nước sẽ là “dầu thô của thế kỷ hai mốt” Do khan hiếm ngày càng gia tăng,
cạnh tranh và xung đột giữa các lĩnh vực sử dụng nước và những người sử dụng nước
cũng ngày càng phát triển Bởi vậy cần phải đưa ra các quyết định về bảo tồn và phân
bổ nước sao cho tương thích với các mục tiêu xã hội như hiệu quả kinh tế, tính bền
vững và công bằng
Việc coi nước như một hàng hoá kinh tế có thể coi là một trong những bước tiến nhằm
cải thiện quản lý nguồn tài nguyên nước Khi đó, tính toán giá trị kinh tế của nước là
một công việc cấp thiết, bởi vì nếu không lượng hóa được một cách chắc chắn giá trị
của nước, chúng ta không thể có được những quyết định rõ ràng cho mục đích bảo tồn
nước một cách hiệu quả
Tuy nhiên việc xác định giá trị kinh tế của nước gặp phải rất nhiều thách thức Vì bản
chất vật lý của nước (khó đo lường, kiểm soát, …) cho nên hầu như mọi quốc gia trên
thế giới đã không thiết lập _ nếu không nói là không thể thiết lập _ một thị trường cho
nước, bởi vì việc thiết lập ra các thị trường nước sẽ tạo ra các “thất bại thị trường” như
ngoại ứng, hàng hóa công cộng, độc quyền, tức là tạo ra nhiều đặc tính “xấu” khác của
thị trường Trên thực tế, hầu như mọi quốc gia (chỉ trừ nước Anh), chính phủ, chứ
không phải là thị trường, đóng một vai trò quan trọng trong việc phân bổ tài nguyên
nước cho toàn bộ nền kinh tế Và như một hậu quả, các nhà kinh tế có nhiệm vụ phải
sử dụng các phương pháp “bắt chước” thị trường để mô tả cơ chế hoạt động cũng như
tính toán các tham số của mô hình “thị trường” nước
Điều này vừa là thách thức, nhưng cũng vừa là một cơ hội cho các nhà kinh tế tài
nguyên thiên nhiên và môi trường và đặc biệt là các nhà kinh tế tài nguyên nước Từ
những năm 1960, các nhà kinh tế Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu để xây dựng mô hình thị
trường sử dụng nước về mặt lý thuyết và trên cơ sở đó đã cho thấy có thể sử dụng các
quy luật kinh tế để hiểu được sử dụng vận động của các hoạt động trao đổi sử dụng
nước (James Douglas L., “Kinh tế học của Quy hoạch Tài nguyên Nước”, 1971) Các
nhà kinh tế đã mô hình hóa quy luật cầu, quy luật cung của các sử dụng nước khác
nhau như tưới, nước sinh hoạt, nước cho phát điện, nước công nghiệp, … một cách
tách biệt Và sau đó, họ đã tổng hợp các quan hệ cung và cầu sử dụng nước tách biệt
vào một mô hình tổng hợp trong phạm vi một lưu vực để tối ưu hóa các hoạt động này
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Toàn cầu về Phát triển Bền vững ở Rio de Janeiro,
Brazil (1992) và Tuyên bố Dublin, các nhà kinh tế tài nguyên nước khắp nơi trên thế
giới đã tích cực đẩy mạnh hơn nhiều các nghiên cứu về xây dựng các mô hình cung
cầu sử dụng nước, đặc biệt là các mô hình cầu sử dụng nước, bắt đầu bằng những
nghiên cứu về cầu sử dụng nước tưới (ví dụ như những công trình nghiên cứu của
Ariel Dinar (1996) và nhiều công trình khác) Từ những nghiên cứu ban đầu về xây
dựng mô hình cầu tưới dựa vào hàm sản xuất của tưới, ngày nay, các chuyên gia kinh
Trang 14tế của Mỹ hiện nay đã mở rộng ra những mô hình sử dụng nhiều số liệu để có thể mô
tả một cách chi tiết hơn quan hệ cầu sử dụng tưới cho các loại cây trồng khác nhau Tuy nhiên, do các đặc tính của thời tiết, khí hậu, điều kiện sử dụng đất, cây trồng, các loại hình tổ chức sản xuất, … cho nên ở các quốc gia, vùng miền khác nhau cần có những điều chỉnh thích hợp khác nhau
Bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 21, đặc biết là sau Hội nghị Thượng đỉnh Toàn cầu về Phát triển Bền vũng ở Johannesburg, Nam Phi (2002) xu hướng của các nhà kinh tế lại đặt trọng tâm nhiều hơn vào việc xây dựng các mô hình cầu nước sinh hoạt cho cả khu vực thành thị lẫn khu vực nông thôn Đối với khu vực nước sinh hoạt nông thôn, các chuyên gia đã phát triển tiếp cận CVM (Contingent Valuation Method) cho việc ước lượng các đường cầu sử dụng nước sinh hoạt, còn đối với khu vực đô thị việc
mô tả các quan hệ cầu sử dụng nước sinh hoạt tỏ ra phức tạp hơn nhiều như mô hình lựa chọn rời rạc-liên tục và phải được giải quyết bằng cách công cụ kinh tế lượng phức tạp hơn nhiều nhiều như phương pháp tối đa hợp lý (maximum likelihood)
Cùng với cầu sử dụng nước tưới, cầu sử dụng nước sinh hoạt cả nông thôn lẫn đô thị là những khu vực sử dụng nước chịu tác động nghiêm trọng nhất của “thất bại thị trường”, tức là chịu đựng những khó khăn lớn nhất trong phương pháp luận xác định đường cầu sử dụng nước, và cũng chính là những khó khăn lớn nhất trong phương pháp luận xác định giá trị kinh tế của sử dụng nước Đối với cầu sử dụng nước cho phát điện thì tình hình trước đây là khá đơn giản vì sản phẩm của sử dụng nước cho phát điện chính là điện năng, là một sản phẩm mang tính chất thị trường tương đối hoàn chỉnh, ngoài trừ nhược điểm “độc quyền” của thị trường này Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình có nhiều thay đổi Do chính sách bảo tồn năng lượng, cho nên khắp nơi trên thế giới đã đặt giá cho tiêu dùng năng lượng điện thông qua các
cơ chế định giá tăng theo khối (increasingly block pricing), hay còn gọi là định giá bậc thang Vì thế việc tính toán cầu sử dụng điện, giống như cầu sử dụng nước sinh hoạt
đô thị, lại gặp trở ngại lớn vì số liệu thu thập được không thể phù hợp với những công
cụ hồi quy kinh tế lượng đơn giản Thay vào đó chúng ta lại phải sử dụng phương pháp tối đa hợp lý hoặc phương pháp mô men tổng quát, là những phương pháp tương đối khó sử dụng
Ngoài những sử dụng nước đặc biệt nói trên, các sử dụng nước khác như sử dụng nước công nghiệp, sử dụng nước cho thủy sản, hoặc các sử dụng nước tương tự khác lại không phải gánh chịu những khó khăn do “thất bại thị trường” Trong những tình huống như vậy, mô hình cầu sử dụng nước không phải là khó được thiết lập và việc tính toán ước lượng cầu của những sử dụng nước này được tiến hành theo các phương pháp hay được áp dụng cho các thị trường cạnh tranh khác trên thị trường
Ngoài những trường hợp có thị trường hoạt động tốt như trên, cũng còn một số sử dụng nước mà các chuyên gia kinh tế thường khó có thể tính toán và xác định giá trị kinh tế như nước cho các hệ thống sinh thái, nước cho du lịch, và các sử dụng nước tương tự khác Đây cũng là những đối tượng có nhiều thách thức cho việc nghiên cứu
mô hình hóa các quan hệ cung cầu sử dụng nước, và bởi vậy cho việc xác định giá trị kinh tế của nước trong những sử dụng này Tuy nhiên, vì điều kiện thời gian cũng như tài chính của đề tài không cho phép tiến hành những nghiên cứu trong những lĩnh vực này, do vậy chúng tôi cũng không để cập tới những trường hợp này trong báo cáo Một thực tế là không chỉ các quốc gia đã phát triển trên thế giới như Hoa kỳ, Anh, Pháp, … mới tập trung nghiên cứu những mô hình mô tả quan hệ kinh tế sử dụng tài
Trang 15các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
nguyên nước, các quốc gia xung quanh chúng ta cũng có nhiều nỗ lực đáng kể vào lĩnh vực này Trung quốc là một nước có nhiều nghiên cứu về các mô hình kinh tế cho các
sử dụng nước Nhiều công trình ước lượng các quan hệ cầu sử dụng nước tưới, nước sinh hoạt nông thôn, nước sinh hoạt đô thị, nước công nghiệp, … đã được các chuyên gia Trung quốc thực hiện dựa vào các tiếp cận hiện đại của các nhà khoa học phương Tây Các quốc gia láng giềng khác của chúng ta như Thái lan, Malaysia, Ấn độ, Sri Lanka, và nhiều quốc gia Đông Nam Á và Nam Á khác cũng có những bước đi tương
tự trong lĩnh vực này
Chúng ta có thể dễ dàng thấy một khối lượng nghiên cứu khổng lồ của các nhà kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường trên thế giới đã được giành ngày càng nhiều cho những nghiên cứu về mô hình hóa quan hệ cầu sử dụng nước và các phương pháp kinh
tế lượng để ước lượng các tham số của các mô hình này, và mục tiêu cũng là để góp phần xây dựng các hàm lợi ích từ các sử dụng nước khác nhau Tuy nhiên, một khác biệt quá rõ ràng là số lượng những nghiên cứu như vậy trong điều kiện nước ta còn quá khiêm tốn đặc biệt là ở khu vực Lưu vực sông Hồng Các Viện Nghiên cứu, các Trường Đại học, Cao đẳng, … ở khu vực Lưu vực sông Hồng hầu như chưa có một hệ thống nghiên cứu bài bản nào về vấn đề xây dựng mô hình cung cầu sử dụng nước về mặt lý thuyết cũng như những mô hình kinh tế lượng ước lượng các tham số từ số liệu quan sát thực tế của các mô hình này
Trong các lưu vực khác của Việt nam, tình hình có đôi chút khác biệt Tại Lưu vực sông Đồng nai, một khu vực kinh tế năng động nhất trong cả nước, đã có những hợp tác nghiên cứu giữa những nhà nghiên cứu Việt nam và các nhà nghiên cứu quốc tế về chủ để xây dựng mô hình kinh tế lý thuyết và mô hình ước lượng hồi quy kinh tế lượng để xác định các hàm cầu sử dụng nước Một số trong những ví dụ như vậy là nghiên cứu của Ringler (Mỹ) hợp tác với một số cán bộ của Việt nam xác định các hàm cầu sử dụng nước ở Lưu vực Đồng nai; một nghiên cứu về tính toán cầu nước sinh hoạt đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh có sử dụng tiếp cận tối đa hợp lý (maximum likelihood) ở trường ĐH Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hợp tác với chuyên gia của tổ chức phi chính phủ (NGO) Theo nhận xét của chúng tôi, các nghiên cứu này phần lớn vẫn dựa trên nền tàng nghiên cứu của các chuyên gia nước ngoài kết hợp một phần với các chuyên gia trong nước, và hơn nữa, các nghiên cứu này chưa tạo thành một hệ thống nghiên cứu về chủ đề hết sức quan trọng với phát triển ngành nước Việt nam
Vì những lý do trên đây, việc nghiên cứu xây dựng mô hình lý thuyết và phương pháp ước lượng các mô hình này dựa vào các số liệu quan sát trong điều kiện Lưu vực sông Hồng là rất quan trọng cho việc trợ giúp cho quá trình làm quyết định của các nhà quy hoạch và quản lý của ngành nước Mặc dù đây là một chủ đề rất rộng lớn và phức tạp, nhưng nội dung đề tài nghiên cứu này sẽ cố gắng đưa ra những cơ sở cơ bản của lĩnh vực nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong ngành nước và tính toán thực nghiệm cho một số sử dụng nước khác nhau cho các hộ sử dụng nước khác nhau ở Lưu vực sông Hồng Vì hạn chế về thời gian cũng như nguồn lực, nội dung đề tài sẽ tập trung vào một số nhóm sử dụng nước cấp thiết nhất như tưới (80% sử dụng nước), nước sinh hoạt (11%), …
Một vấn đề nữa cũng sẽ được đề cập trong báo cáo của đề tài: đó là vấn đề phân bổ tối
ưu Để hoàn chỉnh việc tính toán giá trị kinh tế cho các sử dụng nước trong một lưu vực, cần thiết phải tổng hợp các đường cầu ròng (hay các thành phần của hàm lợi ích tổng thể) vào trong một lưu vực sông và tiến hành phân bổ các sử dụng sao cho tối đa
Trang 16hàm lợi ích của toàn bộ lưu vực Tiếp cận phân bổ tối ưu này được nhiều nghiên cứu
đề cập tới và một trong những nghiên cứu như vậy là Chương trình Mô hình hóa và Phân bổ Nước tối ưu cho Lưu vực sông của Đại học Colorado (Mỹ) Ở hệ thống sông Hồng, bài toán phân bổ tối ưu sử dụng nước của hệ thống sông Hồng đã được Viện Quy hoạch Thủy lợi Hà nội thực hiện Tuy nhiên quy hoạch tối ưu này cần được tiếp tục phát triển để cập nhật những ước lượng mới về các hàm cầu sử dụng nước đã nói ở trên Phần sau của báo cáo này có đề cập tới mô hình phân bổ tối ưu này và áp dụng
mô hình tính toán tối ưu để tính toán phân bổ nước cho một số hệ thống nằm trong Lưu vực sông Hồng Hạn chế về thời gian và nguồn lực không cho phép đề tài này thực hiện đầy đủ mô hình phân bổ tối ưu cũng như chạy chương trình tối ưu cho toàn
bộ Lưu vực sông Hồng
2 Mục tiêu của đề tài
Như đã được nêu rõ trong Đề cương Nghiên cứu, mục tiêu chính của đề tài là:
“Xác định được phương pháp tính giá trị kinh tế và áp dụng tính toán giá trị kinh tế tại một số hệ thống cho các hộ sử dụng nước khác nhau
Để đạt được mục tiêu chính, đề tài cần phải thực hiện những mục tiêu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu tổng quan để rút ra phương pháp tính cầu và giá trị kinh tế của nước tưới cho lúa và một số loại cây trồng thích hợp cho Lưu vực sông Hồng
- Áp dụng tính hàm cầu nước tưới cho một số địa điểm nằm trong Lưu vực sông Hồng: cụ thể là Hệ thống La khê (Hà tây cũ), Hệ thống Liễn sơn (Vĩnh phúc),
và Hệ thống Núi cốc (Thái nguyên)
- Áp dụng tính toán giá trị kinh tế cho sử dụng nước tưới cho nước tưới trong các
- Áp dụng tính toán giá trị kinh tế cho sử dụng nước sinh hoạt nông thôn cho một
số địa điểm thuộc các khu vực nói trên
- Nghiên cứu để rút ra phương pháp tính cầu và giá trị sử dụng nước sinh hoạt đô thị ở Lưu vực sông Hồng
- Áp dụng tính cầu nước sinh hoạt đô thị cho một số địa điểm thuộc thành phố
Hà nội
- Áp dụng tính toán giá trị kinh tế cho nước sinh hoạt ở những địa điểm nói trên
- Nghiên cứu để rút ra phương pháp tính cầu và giá trị sử dụng điện sinh hoạt đô thị tại Lưu vực sông Hồng
- Áp dụng tính toán cầu sử dụng điện cho một số địa điểm thuộc thành phố Hà nội
- Áp dụng tính toán giá trị kinh tế cho sử dụng điện sinh hoạt cho các địa điểm trên
- Nghiên cứu xác định phương pháp suy ra đường cầu cho sử dụng nước cho phát điện từ đường cầu điện sinh hoạt đô thị
- Nghiên cứu xác định phương pháp tính cầu và giá trị kinh tế của sử dụng nước cho thủy sản tại Lưu vực sông Hồng
Trang 17các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
- Áp dụng tính toán cầu sử dụng nước cho thủy sản cho một ví dụ thực tế
- Áp dụng tính toán giá trị kinh tế cho trường hợp trên
- Xây dựng mô hình phân bổ nước tối ưu cho một lưu vực
- Trình bày phần mềm tính toán phân bổ nước tối ưu cho lưu vực và các đề xuất cho việc viết phần mềm cho điều kiện của Lưu vực sông Hồng
- Áp dụng tính toán cho một số ví dụ thuộc Lưu vực sông Hồng
Trang 183 Cách tiếp cận
Do đây là một đề tài nghiên cứu kinh tế tài nguyên cho nên tiếp cận của chúng tôi đầu tiên phải dựa vào tiếp cận truyền thống của các nhà kinh tế Cụ thể, tiếp cận phải dựa trên các nguyên tắc sau:
- Tôn trọng thị trường được-thiết-lập-tốt, tức là thị trường thỏa mãn những tiêu chuẩn xấp xỉ với thị trường cạnh tranh hoàn hảo (có nhiều người bán, nhiều người mua, hàng hóa đồng nhất và dễ đo lường, thông tin hoàn hảo, tự do ra nhập hoặc rời bỏ thị trường, …) Nói tóm lại, đối với những thị trường như vậy, các tiếp cận của các nhà kinh tế là cố gắng không can thiệp để chúng tự phát triển nhằm đạt tối
đa lợi ích của thị trường
- Trong ngành nước, có một số ít thị trường như vậy, đó là thị trường nước cho công nghiệp, nước cho sản xuất thủy sản, và thậm chí cả nước cho phát điện nếu giá điện sinh hoạt không được định giá theo kiểu bậc thang Nhưng hầu hết các thị trường nước còn lại đều là những thị trường không-được-thiết-lập-tốt, đặc biệt
là nước cho tưới, nước sinh hoạt cho cả nông thôn lẫn đô thị, nước cho bảo tồn sinh thái, nước cho mục đích bảo vệ môi trường, nước cho du lịch, …
- Các thị trường kể trên được liệt vào các thị trường-không-tốt theo nghĩa các điều kiện hoạt động của chúng bị mắc phải một trong những khiếm khuyết có tên gọi chuyên môn là “thất bại thị trường” Thất bại thị trường bao gồm: (i) hàng công cộng, (ii) ngoại ứng, (iii) độc quyền, và (iv) thông tin phi đối xứng
- Trong những tình huống đó, nhiệm vụ cúa các nhà kinh tế nói riêng cũng như nhiệm vụ của tất cả nền kinh tế là phải can thiệp để “sửa chữa” các “thất bại” thị trường nhằm bảo đảm cho các hoạt động kinh tế tại những khu vực này trở nên lành mạnh và mang lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế Biện pháp “sửa chữa” truyền thống của các nhà kinh tế thường là xây dựng mô hình cầu và ước lượng các tham số của mô hình này bằng các phương pháp thống kê-kinh tế lượng hoặc quy hoạch tuyến tính Sau đó các tính toán này sẽ giúp cho các nhà quản lý hoặc các nhà làm quyết định đưa vào công việc quản lý của mình
- Vì đây là tiếp cận tương đối truyền thống của các nhà kinh tế, cho nên như chúng
ta đã thấy, nước là một lĩnh vực có rất nhiều nhược điểm từ góc độ thị trường, đặc biệt là tính chất hàng công cộng và ngoại ứng Chính vì thế mà chúng ta có thể thấy tại sao trong những năm gần đây số lượng các công trình nghiên cứu và các bài báo về chủ đề kinh tế tài nguyên nước trên thế giới lại tăng lên với một tốc độ chóng mặt đến như vậy
Với lý do như vậy, các nghiên cứu về kinh tế tài nguyên nước quốc tế thường được tiến hành theo những bước chuẩn tắc như sau:
- Bước 1: Xác định các yếu tố gây ra “thất bại” thị trường, từ đó chỉ ra lĩnh vực
cần tính toán cầu và giá trị kinh tế của hàng hóa và dịch vụ tài nguyên thiên nhiên trong đó tài nguyên nước được xem như một trường hợp riêng
- Bước 2: Phát triển các mô hình kinh tế vi mô thích hợp cho từng loại hàng hóa
và dịch vụ có vấn đề “thất bại thị trường”
- Bước 3: Lựa chọn phương pháp để ước lượng các tham số của mô hình cầu đã
được xây dựng trước đó Có hai loại phương pháp chính là: (1) mô hình thống kinh tế lượng dựa vào các số liệu-chéo, chuỗi-thời gian, hoặc mô hình số liệu hỗn hợp; và (2) mô hình quy hoạch tối ưu toán học
kê Bước 4: Thiết kế lấy mẫu và thu thập số liệu cần thiết cho tính toán
- Bước 5: Thực hiện tính toán và trình diễn kết quả
Trang 19các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
Các nhà kinh tế học tài nguyên nước trong những năm gần đây đã đặc biệt quan tâm phát triển lĩnh vực nghiên cứu này Số lượng sách báo xuất bản trên thế giới cách đây một hai thập kỷ hầu như rất hiếm khi đề cập tới vấn đề tính toán giá trị của các sử dụng nước, hoặc có đề cập thì nội dung tương đối sơ sài Một trong những tài liệu của chuyên gia hàng đầu về kinh tế tài nguyên nước là Ariel Dinar là cuốn “Mô hình hóa Quản lý Kinh tế và những vấn đề Chính sách về Nước trong nền Nông nghiệp có Tưới” (Modeling Economic Management and Policy issues of Water in Irrigated Agriculture) (1996) chỉ dừng lại mô tả lý thuyết và một số kết quả ước lượng hàm cầu
sử dụng tưới tại một số cánh đồng thí nghiệm ở miền tây của Thung lũng Joaquin (California, Mỹ) Tuy nhiên, gần đây hàng ngàn bài báo, và nhiều cuốn sách đã được xuất bản đề cập tới việc tính toán cầu sử dụng nước và giá trị kinh tế của các sử dụng nước khác nhau khắp nơi trên toàn thế giới
Mặc dù số lượng phong phú các tài liệu nghiên cứu đã được đề xuất và các chuyên gia kinh tế tài nguyên nước đã nhất trí với nhau về nhiều điểm, xong chưa có một nghiên cứu nào bao quát hoàn chỉnh lĩnh vực rộng lớn này Do vậy, chúng tôi thấy việc đầu tiên cần thiết phải thực hiện là tổng hợp và rút ra một cách hệ thống những kiến thức
cơ bản nhất của lĩnh vực nghiên cứu nói trên Hệ thống kiến thức thứ nhất bao gồm những kiến thức về giá trị kinh tế nói chung và giá trị kinh tế trong lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên và môi trường mà tài nguyên nước là một phần trong đó Hệ thống kiến thức này cũng rất đa dạng và phong phú và có nhiều trường phái quan điểm khác nhau
về khái niệm giá trị kinh tế cũng như các phương pháp đo lường chúng Sau khi nghiên cứu, nhóm nghiên cứu chúng tôi quyết định lựa chọn tiếp cận của Giáo sư A Myrick Freeman III thuộc trường Đại học Michigan (2003) trong tác phẩm “Đo lường các giá trị kinh tế môi trường và tài nguyên: Lý thuyết và Phương pháp” (Measurement of Environmental and Resources Values: Theory and Methods” là cơ sở nền tảng cho việc phát triển các phương pháp đo lường giá trị kinh tế các sử dụng nước ở Lưu vực sông Hồng vì đây là một tiếp cận được đai đa số các chuyên gia nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên và môi trường trích dẫn trong các nghiên cứu của mình
Trang 20Tiếp theo, nhóm nghiên cứu cũng đã lựa chọn trong số nhiều tiếp cận khác nhau trong việc đo lường giá trị kinh tế của các sử dụng nước, một lĩnh vực tương đối phong phú của đo lường giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên và môi trường, một tiếp cận của Giáo sư Robert A Young (chuyên gia cao cấp của World Bank về tài nguyên nước) (Hoa kỳ) làm cơ sở lý luận cho việc phát triển các phương pháp tính toán cầu và giá trị kinh tế của các sử dụng nước Tác phẩm của ông là cuốn “Xác định Giá trị Kinh tế của Nước: Lý thuyết và Phương pháp” (Determining the Economic Value of Water: Concepts and Methods) (2001) đã được sử dụng trong đề tài cấp cơ sở “Nghiên cứu về Tính toán Giá trị của Nước” của Đào Văn Khiêm (Đại học Thủy lợi Hà nội, 2004) Trong phần này, chúng tôi sẽ tóm tắt lại một số vấn đề căn bản nhất của các tiếp cận nói trên để phục vụ việc nghiên cứu các phương pháp cụ thể để tính toán các giá trị kinh tế của các sử dụng nước khác nhau tại Lưu vực sông Hồng Dựa trên những tiếp cận nói trên, chúng ta sẽ có thể khẳng định được một số định hướng cơ bản cho việc phát triển các phương pháp tính toán giá trị kinh tế như sau:
(1) Thứ nhất, việc tính toán giá trị kinh tế của các sử dụng nước cần được phát triển bởi các chuyên gia nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên và môi trường vì, khác với các ngành kinh tế hoạt động dựa trên các nguyên tắc của thị trường cạnh tranh lành mạnh, khi mà các quan hệ cung cầu của thị trường được hình thành một cách tự nhiên trên thị trường và chỉ dẫn các hoạt động trao đổi của các thành viên kinh tế, không sẵn có các thị trường được hình thành một cách
tự nhiên cho các hàng hóa tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong đó có các hàng hóa nước Nói cách khác, giá trị kinh tế của các khu vực có thị trường cạnh tranh phát triển lành mạnh thì giá trị kinh tế là giá trị thị trường, không cần phải có những nghiên cứu khoa học về giá trị kinh tế, nhưng khi thị trường không có đủ điều kiện để tồn tài, nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu là phải xây dựng phương pháp luận để tính toán những giá trị này nhằm giúp cho những người làm chính sách có cơ sở chính xác cho các quyết sách
(2) Thứ hai, các tiếp cận trên cho thấy, việc tính toán giá trị kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường chủ yếu được dựa trên việc xây dựng các mô hình kinh tế vi mô và mô hình ước lượng thống kê kinh tế lượng để ước lượng các tham số của mô hình lý thuyết dựa vào các số liệu thống kê hoặc các mô hình quy hoạch tối ưu để suy ra các giá trị tham số của mô hình lý thuyết Vấn đề cốt lõi của ước lượng giá trị kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường sẽ là vấn
đề xác định dạng của hàm cầu và vấn đề ước lượng các tham số của hàm cầu Vấn đề này sẽ được phát triển một cách cụ thể trong các phần sau khi chúng ta ước lượng các hàm cầu cụ thể cho sử dụng nước tưới, sử dụng nước sinh hoạt,
sử dụng nước phát điện và các sử dụng nước khác trong các chương từ Chương
2 trở về sau
(3) Trong việc xác định các đường cầu, một vấn đề được nhiều nhà kinh tế quan tâm là sự khác biệt giữa tiếp cận đường cầu Marshall và tiếp cận đường cầu Hicks Mỗi một trong số hai tiếp cận trên có những ưu điểm và nhược điểm của mình Về mặt lý thuyết, có thể các nhà nghiên cứu ưa chuộng đường cầu Hicks hơn, tuy nhiên, dựa trên nghiên cứu về phương pháp luận đo lường giá trị kinh
tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường, chúng ta sẽ thấy những khác biệt này không thực sự gây khó khăn cho việc tính toán giá trị kinh tế Nguyên nhân được thấy trong lý thuyết chung ở chương này là các đường cầu Marshall và Hics là gần nhau một cách xấp xỉ Do vậy, trong thực tế của các chương phát
Trang 21các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
triển các phương pháp tính giá trị kinh tế của các sử dụng nước ở Lưu vực sông Hồng chúng tôi sẽ sử dụng cả hai tiếp cận tính cầu Marshall và Hicks này, cụ thể là cầu tưới, cầu nước sinh hoạt đô thị, cầu điện sinh hoạt đô thị, cầu nước công nghiệp và cầu nước cho thủy sản, … là các hàm cầu Marshall, còn hàm cầu nước sinh hoạt nông thôn là hàm cầu tương thích với cầu Hicks
Vì những hàm ý hết sức quan trọng cho việc phát triển các phương pháp tính toán giá trị kinh tế cho các sử dụng nước cụ thể, chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề căn bản nhất của lý thuyết tính toán giá trị kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong các phần sau đây
I Giá trị kinh tế
I.1 Khái niệm giá trị
Theo nghĩa rộng, giá trị thể hiện mong muốn tương đối về đối tượng, tình huống và hậu quả Giá trị gắn liền với tình huống làm quyết định Giá trị trải rộng khắp từ các nguyên tắc đạo đức đến các quan hệ ưa thích giữa các lựa chọn Đạo đức, ưu tiên, giá trị đánh đổi và quan điểm đối với rủi ro, tất cả đều thể hiện giá trị [Keeney, 1992] Tuy nhiên, nội dung báo cáo này chỉ đề cập đến giá trị kinh tế
Giá trị kinh tế là khái niệm liên quan đến hành vi con người và dựa trên các tình huống lựa chọn Định nghĩa kinh tế về giá trị được bắt nguồn từ ý tưởng có nhiều nguồn tài nguyên bị khan hiếm Điều đó có nghĩa là cầu đối với các nguồn tài nguyên này lớn hơn một cách tương đối so với lượng tài nguyên sẵn có Không bao giờ có đủ nước, hoặc đất đai hoặc lao động để làm mọi thứ mà tất cả mọi người có thể muốn Vì các nguồn tài nguyên là khan hiếm, cho nên luôn phải lựa chọn về việc xã hội sử dụng những cái sẵn có như thế nào Những lựa chọn này thường dựa trên những đánh đổi phức tạp, bởi vậy giá trị được bộc lộ trong việc cá nhân và xã hội cùng lựa chọn phân
bổ các nguồn tài nguyên này như thế nào
Khái niệm giá trị kinh tế có nền tảng bắt nguồn từ kinh tế học phúc lợi tân- cổ điển Kinh tế học phúc lợi là môn khoa học xác định các nguồn tài nguyên sẵn có có thể được sử dụng một cách tốt nhất như thế nào để cải thiện phúc lợi của con người Môn khoa học này tìm cách phát triển các thủ tục tốt hơn để phân bổ tổng số các nguồn tài nguyên (lao động, vốn, đất đai, …) giữa những hoạt động tiềm năng và những người
sử dụng tiềm năng để đáp ứng những nhu cầu của cá nhân và tập thể Những tiên đề cơ bản của kinh tế học phúc lợi cho rằng mục đích của hoạt động kinh tế là là làm tăng phúc lợi của các cá nhân tạo nên một xã hội và, mỗi cá nhân là người phán xử tốt nhất đối với lợi ích của chính anh ta hoặc chị ta Phúc lợi này không chỉ phụ thuộc vào tiêu dùng cá nhân các hàng hoá tư dụng và các hàng hoá và dịch vụ được chính phủ cung cấp, mà còn phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng các hàng hoá và dịch vụ phi- thị trường mà họ nhận được từ hệ thống tài nguyên- môi trường _ ví dụ như sức khoẻ, tiện nghi và cơ hội nghỉ ngơi giải trí ngoài môi trường thiên nhiên Điều này cho thấy rằng
cơ sở của việc đưa ra các phương pháp đo lường giá trị kinh tế của những thay đổi trong các hệ thống tài nguyên- môi trường là tác động của chúng lên phúc lợi con người Sự tập trung của đánh giá kinh tế vào các hành vi của con người không ngăn cản mối quan tâm đến sự sinh tồn và phúc lợi của những giống loài khác Các cá nhân
có thể đánh giá cao sự sinh tồn của các giống loài khác không chỉ vì việc họ sử dụng chúng (ví dụ như lương thực, thực phẩm và nghỉ ngơi, giải trí), mà cũng còn vì mối quan tâm vị tha hoặc đạo đức Và chính điều này làm nảy sinh các giá trị phi- sử dụng [Freeman, 1993a]
Trang 22Kinh tế học phúc lợi về bản chất là kinh tế học chuẩn tắc, tức là nó tìm kiếm phân bổ
nguồn tài nguyên thoả mãn một cách tốt nhất các yêu cầu của các cá nhân trong xã hội Tuy nhiên, nó không chỉ rõ các giá trị này phải như thế nào Kinh tế học phúc lợi
tương phản với kinh tế học thực chứng, là môn kinh tế quan tâm đến việc tìm hiểu xem
hệ thống kinh tế hoạt động như thế nào Kinh tế học thực chứng cố gắng trả lời những câu hỏi như cái gì xác định giá của nhà ở, hoặc điều gì xảy ra với sản lượng của một công ty cạnh tranh khi giá của hàng hoá tăng lên Cũng giống như kinh tế học thực chứng, nhiệm vụ của kinh tế học phúc lợi cũng là suy luận một cách lô gíc từ những định nghĩa và giả thiết mà bản thân chúng có thể là đúng đắn hoặc không đúng đắn Nhưng không giống với kinh tế học thực chứng, khó khăn của kinh tế học phúc lợi là ở chỗ “phúc lợi” kinh tế không phải là biến số quan sát được Phúc lợi kinh tế của một
cá nhân, một cách hình thức, được chỉ ra bởi mức tiện ích của anh ta, và đó là biến không quan sát được Mức tiện ích của cá nhân phụ thuộc vào hàng hoá và dịch vụ mà anh ta mua ở thị trường, nhưng cũng phụ thuộc cả vào nhiều hàng hoá phi- thị trường hoặc không- được định giá, như không khí trong lành, nước sạch, điều kiện nghỉ ngơi, giải trí, … Kinh tế phúc lợi quan tâm đến tổng phúc lợi của cá nhân, chứ không phải
chỉ những phúc lợi có từ các hàng hoá và dịch vụ thị trường [Just et al, 1982] Như
vậy, do sự phức tạp trong đo lường lợi ích, chúng ta sẽ thấy việc xác định giá trị của nước quả là rất khó khăn
I 2 Khái niệm “ý muốn thanh toán” (WTP) và các thước đo phúc lợi khác
I 2 1 Giới thiệu
Các nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế bất cứ khi nào những người sử dụng muốn thanh toán để có được chúng Điều này hàm ý nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế chỉ khi chúng là khan hiếm Giá trị kinh tế là thước đo của khối lượng tối đa các hàng hoá
và dịch vụ khác mà người tiêu dùng sẵn sàng từ bỏ để có được một hàng hoá và dịch
vụ hoặc trạng thái tự nhiên nào đó Sự đánh đổi mà người ta tiến hành khi họ chọn ít hơn một đơn vị hàng hoá này và nhiều hơn một chút hàng hoá và dịch vụ khác sẽ bộc
lộ cái gì đó về giá trị của họ đối với những hàng hoá này Giá cả tiền tệ đơn giản chỉ là một tỷ lệ đổi chác trong trường hợp riêng mà thôi
Các thước đo giá trị dựa trên khả năng thay thế có thể được thể hiện hoặc bằng khái
niệm ý muốn thanh toán (WTP _ Willingness To Pay) cho một số thay đổi lợi ích hoặc
ý muốn chấp nhận bồi thường (WTA _ Willingness To Accept) đối với một số thay
đổi có hại WTP và WTA, những thước đo cơ bản của giá trị, có thể được xác định bằng khối lượng của một hàng hoá bất kỳ mà cá nhân muốn thay thế cho một đơn vị hàng hoá được đánh giá Mặc dù tiền tệ thường được sử dụng như một chỉ thị thể hiện
tỷ số đánh đổi, WTP và WTA cũng còn được đo bởi bất kỳ một hàng hoá nào khác có nghĩa đối với cá nhân nói trên
WTP: là khối lượng tiền bạc tối đa mà cá nhân muốn thanh toán hơn là không có một
hàng hoá nào đó như tiện nghi môi trường Đó là khối lượng tiền bạc làm cho cá nhân bàng quan giữa việc thanh toán và có một cải thiện môi trường với việc từ bỏ cải thiện môi trường và giữ tiền cho các chi tiêu khác
WAC: là khối lượng tiền bạc tối thiểu mà cá nhân sẽ đòi hỏi để từ bỏ một cải thiện mà
nhẽ ra anh ta được hưởng
Chúng ta có thể nhận xét là, về nguyên tắc, WTP và WAC không trùng nhau WTP bị ràng buộc bởi thu nhập nhưng WAC không có ràng buộc hạn chế nào
Trang 23các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
Các hệ thống có thể được phân loại theo:
a kiểu tài nguyên môi trường, ví dụ như nước, không khí, ngư nghiệp, lâm nghiệp, …
b kiểu tác động, ví dụ như:
- Tác động trực tiếp lên con người:
(1) Sức khoẻ con người: bệnh tật, chết chóc do ô nhiễm không khí hoặc nước
(2) Hương vị, tầm nhìn, cảnh đẹp
- Tác động sinh thái _ cơ chế sinh học:
(1) ảnh hưởng lên năng suất kinh tế của hệ sinh thái
Năng suất nông nghiệp Lâm nghiệp
Ngư nghiệp thương mại (2) Những ảnh hưởng sinh thái khác
Giải trí sinh thái _ câu cá, săn bắn, …
Đa dạng hoặc bền vững sinh thái
- Tác động thông qua các hệ vô sinh (3) Huỷ hoại vật liệu, đất trồng, chi phí sản xuất (4) Thời tiết, khí hậu
c kiểu tác động kinh tế
- Các tác động được chuyển tải thông qua hệ thống thị trường dưới dạng những thay đổi trong thu nhập của người sản xuất và những thay đổi trong lượng hàng hoá được mua và giá cả của người tiêu dùng
- Những tác động được chuyển tải thông qua những thay đổi trong việc
sử dụng hàng hoá không được mua một cách bình thường qua hệ thống thị trường
Đây là một phân loại chung nhất, tuy nhiên là rất cần thiết cho những phần giới thiệu ban đầu để bảo đảm tính chặt chẽ của lô gíc tính toán giá trị kinh tế của các hàng hóa tài nguyên-môi trường nói chung và tài nguyên nước nói riêng
I 2 2 Giá trị tài nguyên với giá bóng
Theo kinh tế học vi mô, bài toán của chúng ta như sau:
m) 1, , j n;
1, , (i ) , , (
maxu i =u i x ij r d = =
với các ràng buộc:
m) 1, , (k 0 ) , ,
( k k = =
k y r d
m) 1, , (j 0
1 1
=
=
− +∑ ∑
=
=
n i ij h
u i = hàm lợi ích của cá nhân i
y jk = lượng hàng hoá hoặc tài nguyên j do xí nghiệp k sản xuất
s = tổng lượng hàng hoá hoặc tài nguyên j sẵn có
Trang 24r = khối lượng hàng hoá công cộng
d K = giá trị của cá nhân do giảm chất thải của xí nghiệp k
Điều kiện tối ưu Pareto cho hệ thống trên có thể được xác định bằng cách chỉ ra các điều kiện tối đa lợi ích của mỗi cá nhân, tuỳ thuộc vào các ràng buộc sản xuất và nguồn tài nguyên và ràng buộc lợi ích của các cá nhân được giữ cố định ở một mức hiện thời nào đó Đối với mỗi cá nhân, bài toán là:
) ( ) (
(.) (.)
(.) max
* 1
1 j
1 2
1 1
*
r r x
y s
f u
u u
h k
k k n
i
i i i
− +
− +
+
−
− +
µλ
trong đó r* là khối lượng được xác định từ bên ngoài của r
Điều kiện bậc nhất cho tối ưu Pareto là:
m) 1, , j n;
1, , (i
1, , (k
= +
u
1 1
h) 1, , k
n;
1, , (i 0
γµ
h) 1, , k
n;
1, , (i = =
=
∂
∂ +
i i
i i
i
d
f d
chế r Điều kiện (3) còn cho thấy giá bóng phụ thuộc vào hàm lợi ích và hàm sản xuất
Số hạng thứ nhất của điều kiện (4) là giá trị của các cá nhân do xí nghiệp k giảm chất
thải xuống một đơn vị Điều kiện (4) nói rằng tối ưu Pareto yêu cầu giá trị tổng hợp
của việc làm giảm chất thải của xí nghiệp k phải bằng với chi phí của việc làm giảm
này
Điều kiện (3) và (4) cho thấy những giá trị cận biên của những thay đổi trong r và d k Chúng cũng chỉ ra sự tồn tại của các đường cong cận biên WTP tổng hợp xác định ra WTP cận biên cho các luồng dịch vụ như một hàm số của các khối lượng được cung cấp
Trang 25các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
I.3 Đo lường thay đổi phúc lợi
I.3.1 Quan hệ ưa thích cá nhân và đường cầu
Định nghĩa về Quan hệ ưa thích: Giả sử có gói hàng hoá X = (x1, ,x n) và hàm lợi ích
) u(X, Q, T
u = , trong đó X là véc tơ hàng thị trường và Q là véc tơ hàng công và dịch
vụ tài nguyên môi trường, T là véc tơ thời gian
Bài toán tối ưu:
u(X)
u = maximize
với ràng buộc:∑ =
i i
p v M
/ )
, (
Bài toán đối ngẫu với bài toán tối đa là:
0
s.t.
e minimize
u u(X)
một mức lợi ích cố định đã cho Đó chính là các hàm cầu Hicks Chi tiêu tối thiểu khi
đó là:
) e(P, u
trong đó e là chi tiêu tính bằng đơn vị tiền tệ Từ đó ta có:
) , ( / p h P u0
e ∂ i = i
Muốn xác định được hàm cầu nguyên thuỷ (Marshall) phải biết hàm lợi ích nằm bên dưới, nhưng hàm này nói chung không quan sát được Do vậy phải xây dựng hàm cầu dựa trên thông tin về quan hệ ưa thích Điều này có thể thực hiện được miễn là thoả
mãn điều kiện có tên gọi là khả tích Điều kiện này đòi hỏi ma trận Slutsky của các
thành phần thay thế:
j i
j
M
M P x p
M P x
∂
∂ +
∂
∂ ( , ) ( , )
là đỗi xứng và bán xác định âm Nếu điều kiện này được thoả mãn, hệ thống các
Trang 26các hàm lợi ích gián tiếp và trực tiếp Nếu điều kiện khả tích không được thoả mãn các hàm cầu quan sát được không phù hợp với bài toán tối đa lợi ích đã được định nghĩa trên đây
I.3.2 Thước đo phúc lợi ứng với những thay đổi trong giá cả
Tổng quan
Có tất cả năm thước đo hay được sử dụng trong các tài liệu tham khảo
Xét mô hình hai hàng hoá và phúc lợi gắn liền với việc giảm giá của một trong những hàng hoá này Thước đo thứ nhất là thay đổi thặng dư nguyên thuỷ của người tiêu dùng, được đề xuất bởi Marshall
Thặng dư người tiêu dùng nguyên thuỷ được đo bằng diện tích bên dưới đường cầu Marshall nguyên thuỷ nhưng bên trên đường giá nằm ngang Như chúng ta sẽ thấy, thước đo thặng dư người tiêu dùng không thể xác định được theo các khái niệm của hàm lợi ích nằm bên dưới
Bốn thước đo thay đổi phúc lợi còn lại được thanh lọc về mặt lý thuyết từ thặng dư người tiêu dùng nguyên thuỷ (Hicks, 1943) Mỗi một trong những thước đo này được xác định theo các khái niệm của bản đồ ưa thích nằm bên dưới Hình 2-1 cho thấy hai đường bàng quan của một cá nhân Giả sử một cải thiện môi trường làm giảm chi phí
sản xuất hàng hoá x 1 làm cho giá của nó giảm từ ,
1
p xuống ,,
1
p Phản ứng với việc
giảm giá, cá nhận này dịch chuyển từ gói hàng hoá thị trường A ở mức lợi ích u0 đến
gói hàng hoá B ở mức lợi ích u1 Lợi ích phúc lợi của cá nhân này do việc giảm giá sẽ
là bao nhiêu? Có thể đưa ra bốn thước đo thay thế nhau được xác định theo x 2, là hàng
hoá được chọn để xây dựng chỉ số giá: số đơn vị x 2 sẽ được chọn sao cho giá của nó
bằng 1 Bởi vậy, x 2 có thể được coi như đại diện cho thu nhập
(iii) Biến đổi tương đương (EV): là lượng thay đổi trong thu nhập (tại mức giá
ban đầu) sẽ dẫn đến cùng một mức thay đổi lợi ích như việc thay đổi giá của
x 1
(iv) Thặng dư đền bù (CS): khối lượng thanh toán cần phải đền bù để làm cho
cá nhân bàng quan giữa tình huống ban đầu và cơ hội mua được một lượng hàng hoá mới ,,
1
x (BF trên Hình 2-1)
(v) Thặng dư tương đương (ES): lượng thay đổi trong thu nhập cần có ở mức giá ban đầu với khối lượng x 1, để làm cho cá nhân bàng quan với việc các nhân này sẽ tiêu dùng tại điểm B ở mức giá mới (AE trên Hình 2-1)
Chi tiết về các thước đo phúc lợi
Trong mục này đầu tiên chúng ta sẽ trình bày thước đo phúc lợi cơ bản cho một thay đổi cận biên theo một loại giá Sau đó chúng ta sẽ đưa ra các đạo hàm chính xác hơn của các thước đo thặng dư người tiêu dùng, biến đổi đền bù, và biến đổi tương đương của thay đổi phúc lợi cho trường hợp thay đổi trong giá Đối với một thay đổi cận biên,
Trang 27các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
ví dụ, theo p1, thước đo phúc lợi cơ bản là thay đổi trong chi tiêu cần thiết để giữ cho lợi ích cố định Sử dụng phương trình ∂e/∂p i =h i(P,u0) từ mục trước, chúng ta có:
Hình 2-1
) , ( ) ,
1 1
1 h u p
u e
/
/
x M u
Thặng dư người tiêu dùng Marshall
Trong Hình 2-2, đồ thị A cho thấy bản đồ bàng quan của một cá nhân trong trường hợp
hai-hàng hoá đơn giản Giả sử giá của hàng hoá x1 hạ từ ,
1
p xuống ,,
1
p Cá nhân này sẽ
phản ứng lại bằng việc dịch chuyển từ điểm cân bằng ban đầu A đến đieerm cân bằng
B trên đường ngân sách mới Trong đồ thị B của Hình 2-2, những vị trí cân bằng này
được vẽ trên mặt phẳng toạ độ khối lượng- giá cả Các điểm A và B nằm trên đường
cầu nguyên thuỷ với giá x2 và thu nhập bằng tiền cố định Vì thặng dư Marshall gắn liền với tiêu dùng một loại hàng hoá tại mức giá đã cho là phần diện tích nằm bên dưới đường cầu, cho nên thay đổi trong thặng dư ứng với một thay đổi trong giá hàng hoá là diện tích hình học ,,
1
1 ( , )
p p
dp M x
Trang 28trong đó S là thay đổi trong thặng dư
Hình 2-2
Điều kiện để cho S có thể được giải thích như một chỉ số thay đổi lợi ích có thể được
thấy nhờ việc sử dụng Đồng nhất thức Roy:
M M v
p M v M
/ ) , ( )
và thay thế vào phương trình tính S ở trên ta có:
∫∂∂ ∂∂
−
=
, 1
,, 1
1 1
/ /
p p
dp M v
p v S
Nếu lợi ích cận biên của thu nhập là cố định trong suốt khoảng thay đổi của giá, thì điều này có thể được viết như sau:
M v
M p p v M p p v S
1 2
,, 1
Biểu thức nàycho thấy thặng dư Marshall có thể được giải thích như thay đổi lợi ích chia cho một trọng số bằng lợi ích cận biên của thu nhập Nếu lợi ích cận biên của thu
nhập bằng hằng số thì S có thể được nói là tỷ lệ với thay đổi trong lợi ích cho bất kỳ
thay đổi lợi ích trong giá nào Nhưng tính cố định của lợi ích cận biên của thu nhập khi một loại giá bất kỳ nào thay đổi là một điều kiện rất hạn chế Lợi ích cận biên của thu nhập không thể đồng thời không đổi theo thu nhập và những thay đổi trong tất cả các loại giá cả
Nếu không như vậy, như Silbergerg đã giải thích (1978, tr 350-361), tích phân của phương trình trên có thể được coi như tổng số của một chuỗi các bước nhỏ từ một véc
Trang 29các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
tơ giá và thu nhập ban đầu ( , , , , )
p theo một đường mà trên đó p2
và M là cố định Nhưng có những đường khác mà theo đó mà tích phân tính S có thể
được tích phân liên quan đến những thay đổi ra khỏi những giá trị ban đầu của p2
và/hoặc M khi còn chưa đến điểm kết thúc ( , , , , )
2
,,
1 p M
p Và những con đường khác nhau này nói chung sẽ không dẫn đến cùng một giá trị lời giải để tính tích phân này Nói cách khác, tích phân nó chung sẽ phụ thuộc-vào-đường-lấy-tích phân
Một vấn đề tương tự phát sinh khi thước đo thặng dư Marshall được tổng quát hoá cho
những thay đổi đồng thời trong tất cả các loại giá Trong trường hợp này, S được xác
định như một tích phân đường Tích phân này sẽ phụ thuộc vào đường lấy tích phân (tức là trật tự mà theo đó giá cả hoặc/và thu nhập được giả định sẽ thay đổi) chi khi các
độ co dãn thu nhập của cầu đối với tất cả các loại hàng hoá bằng nhau Các độ co dãn thu nhập của tất cả các loại hàng hoá có thể bằng nhau chỉ khi tất cả chúng đều bằng một, nói cách khác, nếu các ưa thích đều đồng nhất Cuối cùng, nếu các loại giá của
chỉ một tập con của tất cả các hàng hoá thay đổi, S duy nhất tồn tại nếu lợi ích cận biên
của thu nhập là cố định chỉ với những loại giá thay đổi (Xem Just, Hueth, và Schmitz [1982] về các chi tiết)
Biến đổi đền bù
Bây giờ giả thiết khi giá của hàng hoá x1 giảm, một phần thu nhập được lấy khỏi người tiêu dùng sao cho anh ta vẫn còn lại ở mức lợi ích ban đầu, tức là trên đường bàng quan u0 Khi đó giá cả và thu nhập đền bù thay đổi, và cá nhân này sẽ ở tại điểm
cân bằng C trên đồ thị A của Hình 2 Điểm C cũng được vẽ trên đồ thị B của Hình
2-2 Điểm A và C nằm trên đường cầu đền bù Hicks, một đường cầu chỉ phản ánh tác
động thay thế của những thay đổi trong giá tương đối Tác động thu nhập của thay đổi giá đã bị loại trừ bởi việc rút thành phần đền bù khỏi thu nhập bằng tiền Vì theo giả thiết hàng hoá x1 là hàng hoá bình thường, tức là, nó có một độ co dãn thu nhập lớn hơn không, đường cầu đền bù- Hicks là ít co dãn giá hơn đường cầu nguyên thuỷ Sự khác biệt giữa đường cầu đền bù- Hicks và đường cầu nguyên thuỷ là một trong những
vấn đề chính trong việc so sánh các thước đo EV, CV và thặng dư người tiêu dùng của
thay đổi phúc lợi
Đồ thị A của Hình 2-2 cho thấy thước đo biến đổi đền bù của thay đổi phúc lợi gắn liền
với việc giảm giá, tức là, sự giảm sút trong thu nhập cần thiết để giữ cho các nhân vẫn
còn ở lại trên đường bàng quan ban đầu Theo khái niệm của hàm lợi ích gián tiếp, CV
là lời giải của phương trình:
0 ,,
, , ) ( , ) ( M v M CV u
CV cũng còn có thể được định nghĩa theo khái niệm hàm chi tiêu Nó là hiệu số giữa
các chi tiêu cần có để duy trì mức lợi ích u0, tại hai tập giá:
) , , (
0 ) , , ( ) , , (
0 2
,, 1
0 2
,, 1
0 2
, 1
u p p e M
u p p e u p p e CV
Vì CV được định nghĩa là hiệu số giữa các mức chi tiêu khác nhau, nó cũng có thể
được viết thành tích phân của thước đo phúc lợi cận biên trong một khoảng thích hợp
Cụ thể,
Trang 30,, 1
, 1
,, 1
1
0 1 1 1
0
) , ( )
,
p
p p
dp u h dp p
u e
Bởi vì chi tiêu M ở tập giá mới tạo ra một mức lợi ích lớn hơn, cho nên chúng ta cũng
có thể viết
) , , ( 1 2
,,
1 p u p e
M−
và sau khi thay thế, ta có:
) , , ( ) , ,
2
,, 1
1 2
,,
1 p u e p p u p
p Đạo hàm riêng của hàm chi tiêu theo p1 mang lại cho chúng
ta thay đổi trong chi tiêu (thu nhập) cần thiết để giữ cho cá nhân tiêu dùng vẫn còn ở lại mức lợi ích u0 với những thay đổi nhỏ trong p1 Như đã chỉ ra ở trên, đạo hàm này cho chúng ta hàm cầu đền bù-Hicks, tức là, một khối lượng tối ưu x1, giữ cho lợi ích
cố định Đối với những thay đổi hữu hạn, tích phân của đạo hàm này là phần diện tích
về phía bên trái cảu đường cầu đền bù-Hicks, tức là, CV Nói cách khác,
∫
=
, 1
,, 1
1
0
1 ( , )
p p
dp u h
Không giống như thước đo thặng dư Marshall, thước đo này không cần phải dựa vào bất kỳ giả thiết nào về sự bất biến của lợi ích cận biên của thu nhập Đó là vì thước đo này lấy tích phân dọc theo đường bàng quan lợi ích cố định u0 Trong trường hợp
nhiều-hàng hoá, khi một số mức giá thay đổi, CV của những thay đổi giá đồng thời là
tích phân của tập các hàm cầu đền bù được tính bằng cách cho từng mức giá thay đổi lần lượt Trật tự thay đổi giá khi tính toán là không thích hợp
Biến đổi tương đương
Biến đổi tương đương cũng có thể được rút ra từ hàm chi tiêu Đồ thị A của Hình 2-3
cho thấy cùng một bản đồ bàng quan và thay đổi giá đối với một cá nhân Khi một
mức giá giảm xuống, EV được định nghĩa là chi tiêu (thu nhập) tăng thêm cần thiết để
đạt đến một mức lợi ích u1 ứng với tập giá ban đầu Theo khái niệm hàm lợi ích gián
tiếp, EV là lời giải của phương trình:
1 ,,
, , ) ( , ) ( M EV v M u
Trên Hình 2-3, EV là chi tiêu thêm vào cần thiết để duy trì điểm C ’ trên điểm A tại các
mức giá ban đầu, hoặc
M u p p e
u p p e u p p e EV
0 ) , , ( ) , , (
1 2
, 1
0 2
, 1
1 2
,
Vì các mức chi tiêu tiền tệ là như nhau tại điểm A và điểm B, tức là,
) , , ( )
2
,, 1
1 2
,
1 p u e p p u p
e
Trang 31các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
Nói cách khác, mặc dù EV được định nghĩa theo các khái niệm của tương đương tiền
bạc của một thay đổi từ u0 đến u1, nó cũng có thể được đo bằng thay đổi trong chi tiêu gắn liền với những thay đổi giá với mức lợi ích u1 đã cho
EV cũng có thể được viết dưới dạng tích phân của thước đo giá trị cận biên:
∫∂ ∂
=
, 1
,, 1
1 1
1 ) , (
p p
dp p
u e
Đạo hàm theo giá của hàm chi tiêu (lần này là giữ cho lợi ích cố định ở mức u1) tạo ra
một đường cầu đền bù-Hicks khác đi qua điểm B trong đồ thị B của Hình 2-3 Phần
diện tích về bên trái của đường cầu đền bù- Hicks này giữa hai mức giá là thước đo phúc lợi biến đổi tương đương Nói cách khác,
∫
=
, 1
,, 1
1
1
1 ( , )
p p
dp u h
Như trong trường hợp của CV, thước đo này không yêu cầu bất kỳ một giả thiết nào về
tính cố định của lợi ích cận biên của thu nhập Và thước đo của thay đổi đa giá là độc lập- với đường lấy tích phân
Toàn bộ thảo luận này được thực hiện theo nghĩa phúc lợi đạt được do giảm giá Việc rút ra những chi phí phúc lợi của việc tăng giá có thể được thực hiện một cách hoàn
toàn đối xứng Nói chung, với một thay đổi giá bất kỳ, thước đo phúc lợi CV là phần diện tích nằm bên trái của đường cầu đền bù-Hicks đi qua vị trí ban đầu Thước đo EV
của thay đổi phúc lợi là phần diện tích nằm bên trái của đường cầu đền bù- Hicks đi qua vị trí cuối cùng
Một sự so sánh ba thước đo phúc lợi
Mặc dù thặng dư người tiêu dùng Marshall có một số sự hấp dẫn về mặt trực giác đối với vai trò của một chỉ số phúc lợi, nó không đo lường bất cứ cái gì của các định nghĩa
lý thuyết của thay đổi phúc lợi được phát triển ở đây Nó chẳng là một chỉ số thay đổi lợi ích ngoại trừ trong những điều kiện đặc biệt, và nó cũng không phải là một thước
đo của cái được hoặc cái mất có thể được sử dụng trong các kiểm tra đền bù tiềm
năng Thặng dư Marshall nằm giữa CV và EV Điều này gợi lên một câu hỏi liệu nó có
thể là một xấp xỉ hữu ích cho một trong những thước đo khác hay không, một câu hỏi
mà chúng ta sẽ giải quyết trong phần dưới đây (bài báo “Thặng dư người tiêu dùng không cần xin lỗi” của Willig)
Ngược lại, CV và EV thể hiện những thước đo phúc lợi thích hợp EV là tương đương
bằng tiền của một thay đổi giá Nó có thể được giải thích như một chỉ số của lợi ích theo nghĩa nó gắn cùng một giá trị tiền tệ cho tất cả những thay đổi từ một vị trí ban đầu dẫn đến cùng một mức lợi ích cuối cùng Đó là vì nó đánh giá tất cả những thay
đổi từ một vị trí ban đầu tại cùng một tập giá CV không thể được giải thích là một chỉ
số lợi ích Đúng hơn là, nó đo lường thay đổi thu nhập bù đắp cần có để “ngăn chặn”
một thay đổi lợi ích Như Silberberg đã nói, “[EV] gán một sự đánh giá bằng đô la cho
một thay đổi trong các mức lợi ích theo một con đường riêng của những thay đổi giá,
trong khi [CV] rút ra những giá trị đô la cần thiết để giữ cho lợi ích cố định khi giá cả
thay đổi” (1972, tr 948)
Trang 32Hai thước đo EV và CV sẽ là như nhau nếu độ co dãn thu nhập của cầu đối với hàng
hoá x1 bằng không Trong trường hợp này, các đường cầu nguyên thuỷ và cầu đền bù-
Hicks là như nhau Với độ co dãn thu nhập dương, EV lớn hơn CV khi giá giảm, nhưng
CV lớn hơn EV khi giá tăng Sự khác biệt giữa điểm C và B trong Hình 2-2 và giữa các
điểm A và C ’ trong Hình 2-3 là một mức thu nhập Nếu độ co dãn thu nhập của cầu đối với x1 là không, khác biệt thu nhập sẽ không có tác động lên việc mua hàng x1 CV và
EV sẽ chính xác bằng nhau; và cả hai đều có thể được đo lường bởi diện tích bên dưới
đường cầu nguyên thuỷ Độ co dãn thu nhập của cầu đối với x1 càng lớn, thì khoảng
cách giữa EV và CV càng lớn, và khoảng cách giữa một trong các thước đo này với
thặng dư người tiêu dùng nguyên thuỷ càng lớn
Có một sự đối xứng giữa các thước đo CV và EV Điều này có thể nhận thấy bằng cách
so sánh các Hình 2-2 và 2-3 và bằng cách so sánh phương trình (9) với phương trình (10) và phương trình (9) với phương trình (11) Để đơn giản, ký hiệu I thể hiện cho tập giá khởi đầu (với ,
1
p ) và II thể hiện tập giá thứ hai (với ,,
1
p ) CV để chuyển từ I đến II
với u0 như một mức lợi ích tham khảo (làm mốc) chính xác bằng với EV của việc
chuyển từ II đến I với u1 như một mức lợi ích tham khảo CV là một thước đo phúc lợi cho dịch chuyển từ A đến B qua điểm C; EV bắt đầu từ điểm B và đo lường sự giảm sút trong thu nhập cần thiết để đến được điểm C và bởi vậy đạt được mức u0 Tương tự,
chuyển đến I
Trang 33các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
Tính đối xứng này liên quan đến lời giải thích về CV và EV như các thước đo của ý muốn thanh toán (WTP) và ý muốn chấp nhận đền bù (WAC) CV đôi khi được miêu
tả như ý muốn thanh toán tối đa cho quyền được mua hàng hoá tại mức giá mới, tức là thanh toán một lần mà cá nhân muốn thực hiện để nhận được tiềm năng các phúc lợi
có được từ mức giá mới Miêu tả này là chính xác chỉ khi giá giảm Đối với giá tăng,
CV xác định ra thanh toán tối thiểu cho cá nhân này đủ để ngăn chặn một sự sút giảm
lợi ích _ nói cách khác, nó xác định ra một thước đo WAC Tương tự, EV xác định ra
một thước đo WAC cho một sự giảm giá, tức là, tổng số tiền bạc mà cá nhân sẽ yêu cầu để tự nguyện từ bỏ một sự giảm giá được đề xuất Nhưng đối với một đề xuất tăng
giá, EV là một thước đo WTP, tức là, khối lượng tiền tối đa có thể lấy được từ cá nhân
này, tạo ra một mất mát lợi ích tương đương với mất mát gây ra bởi thay đổi giá Bất
kể hướng thay đổi của giá như thế nào, CV chọn lợi ích khởi đầu như một điểm tham
khảo
Hai thước đo này cũng có thể được giải thích theo nghĩa quyền sử dụng và các trách
nhiệm gắn liền với những tập giá khác nhau CV ngầm giả định rằng cá nhân không có
quyền mua tại một tập giá rẻ mới, nhưng có quyền đối với tập giá ban đầu trong
trường hợp tăng giá Ngược lại, EV ngầm giả định rằng cá nhân có quyền (trách nhiệm
chấp nhận) tập giái mới thấp hơn (cao hơn) và phải được đền bù (thực hiện thanh toán) nếu tập giá mới không đạt được Dựa trên lời giải thích này về hai thước đo nói trên, một số nhà kinh tế đã lý luận rằng lựa chọn giữa chúng về cơ bản là một vấn đề về đạo đức, tức là, vấn đề phụ thuộc vào một sự phán xét giá trị như là phân phối quyền sở hữu nào là công bằng hơn Tất cả những điều này được tóm tắt như sau:
EV _ quyền sở hữu được áp dụng trong
WTP để có được Đối với hai thay đổi giá khác nhau, các thước đo phúc lợi sẽ là như nhau nếu cả hai thay đổi đều đặt cá nhân tiêu dùng lên cùng một đường bàng quan cao hơn Nhưng nếu hai thay đổi giá đặt cá nhân này lên những đường bàng quan khác nhau thì thước đo phúc lợi sẽ chỉ ra một cách đúng đắn sự sắp đăt ưa thích của hai phương án Thước đo
EV luôn cung cấp một sự sắp xếp phù hợp theo nghĩa này, nhưng thước đo CV thì
không
Hình 2-4 minh hoạ tại sao trường hợp này là đúng Nó cho thấy một cá nhân ở tại điểm cân bằng A, khi đã cho các mức giá và thu nhập bằng tiền Giả sử rằng một đề xuất chính sách đồng thời làm tăng giá của x1 và làm giảm giá của x2 Cá nhân này sẽ đạt
được một cân bằng mới tại điểm B Thước đo CV của thay đổi phúc lợi được chỉ ra
bằng CV AB Phương án chính sách thứ hai sẽ làm giảm giá của x1 và làm tăng giá của
2
x Điều này dẫn đến một cân bằng mới của người tiêu dùng tại điểm C Điểm C được
vẽ trên cùng một đường bàng quan với điểm B Bởi vậy, thước đo thay đổi phúc lợi
cần phải như nhau đối với hai phương án chính sách Nhưng như có thể nhận thấy
bằng cách kiểm tra, CV đối với chính sách thứ hai, CV AB , lớn hơn Thước đo CV sẽ chỉ
ra rằng có một sự ưa thích đối vỡi chính sách thứ hai, trong khi cá nhân trên thực tế
bàng quan giữa hai chính sách EV mang lại cùng một thước đo phúc lợi cho hai
Trang 34đường bàng quan đi qua cân bằng mới, nhưng với mức giá cũ Nếu hai chính sách nằm
trên cùng một đường bàng quan mới, thước đo EV chọn cùng một điểm để đo lường
các tác động phúc lợi cho cả hai chính sách
Nếu câu hỏi được người làm chính sách đặt ra là thay đổi được đề xuất có thể đáp ứng
được kiểm nghiệm đền bù tiềm năng Kaldor hay không? thì thước đo CV sẽ được
dùng Kiểm nghiệm đền bù tiềm năng Kaldor là một dạng kiểm nghiệm cải thiện Pareto tiềm năng, là kiểm nghiệm đưa ra câu hỏi rằng liệu người thắng cuộc có đền bù đầy đủ cho người chịu mất mát mà vẫn có thể làm cho một ai đó tốt hơn hẳn không?
Đối với mỗi người, CV mang lại một thay đổi thu nhập đền bù cần thiết để duy trì cho
người này ở mức lợi ích ban đầu của anh ta hoặc chị ta Nếu tổng số của tất cả những
gì mà những người thắng cuộc nhận được vượt quá tổng số những đền bù cho những người mất mát, thì đề xuất sẽ được coi là vượt qua được kiểm nghiệm về cải thiện
Pareto tiềm năng Sự kiện CV không thể sắp đặt một cách hợp lý hai hoặc nhiều thay
đổi chính sách không là một cản trở cho việc sử dụng nó trong công việc này Đó là vì tiêu chuẩn Pareto tiềm năng tự bản thân không cung cấp cơ sở cho việc sắp đặt hai hoặc nhiều đề xuất thay đổi chính sách Nếu hai thay đổi được đề xuất đều vượt qua thử nghiệm đền bù tiềm năng Kaldor, tiêu chuẩn cải thiện Pareto tiềm năng không cung cấp cơ sở để chọn lựa giữa chúng
Mặt khác, nếu câu hỏi được các nhà làm chính sách đặt ra là liệu chính sách có vượt
qua kiểm nghiệm đền bù tiềm năng Hicks hay không? thì EV sẽ là một thước đo thích
hợp Kiểm nghiệm Hicks đưa ra câu hỏi rằng liệu có khả năng những người mất mát
sẽ hối lộ những người thắng cuộc để nhận được sự đồng ý từ bỏ thay đổi chính sách được đề xuất hay không? Những người thắng cuộc tiềm năng sẽ chấp nhận hối lộ chi khi nếu lượng hối lộ đủ lớn để tăng lợi ích của họ lên cùng một khối lượng như dự án
được đề xuất có thể làm Khối lượng hối lộ được đề xuất sẽ phải lớn như thước đo EV
của mỗi cá nhân được hưởng lợi Và lượng hối lộ tối đa sẽ được đề xuất bởi những
người mất mát tiềm năng sẽ là thước đo mất mát EV của họ Bởi vậy nếu tổng số các
EV của tất cả những người thắng cuộcvượt quá tổng số EV của những người mất mát,
thì đề xuất sẽ vượt qua được kiểm nghiệm đền bù tiềm năng dạng Hicks Vì dạng
Hicks của kiểm nghiệm đền bù được dựa trên các thước đo EV, nó sắp xếp một cách
hợp lý hai hoặc nhiều thay đổi chính sách miễn là xã hội không phân biệt phân phối cái được và cái mất của các cá nhân
Trang 35các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
Đo lường
Nói một cách đơn giản, bài toán được đặt ra cho kinh tế học phúc lợi ứng dụng là các
thước đo phúc lợi mong muốn, CV hoặc EV được dựa trên những hàm cầu đền
bù-Hicks không quan sát được, trong khi một thước đo dựa trên các hàm cầu Marshall quan sát được thì lại không hoàn thiện trong vai trò của một chỉ số phúc lợi Thực tế điển hình thường sử dụng thặng dư Marshall, và đưa ra những lời biện minh như “các tác động thu nhập dường như là nhỏ”; “với chỉ một giá thay đổi, phụ thuộc vào đường lấy tích phân không phải một vấn đề”; và “có chỉ là thước đo duy nhất mà chúng ta có, hơn nữa chẳng có cái gì để đo lường” Sau đó, Robert Willig (1976), trong một bài báo được trích dẫn rộng rãi, đã đưa ra một lời biện minh về việc sử dụng thặng dư
Marshall bằng cách kiểm tra độ lớn của những khác biệt giữa S và CV hoặc EV trong
những điều kiện khác nhau Ông lý luận rằng “trong đa số các ứng dụng, sai số xấp xỉ
sẽ là rất nhỏ Trên thực tế, sai số sẽ thường bị lấn át bởi những sai số có trong ước lượng đường cầu” (1976, tr 589) Một số tác giả gần đây nhất đã phát triển các
phương pháp để tính toán trực tiếp CV và EV từ những thông tin có được trong hàm
cầu nguyên thuỷ, hoặc thông qua xấp xỉ chuỗi Taylor (McKenzie và Pearce, 1982, và McKenzie, 1983) hoặc, như một thước đo chính xác, thông qua tích phân để đạt được hàm lợi ích gián tiếp và hàm chi tiêu (ví dụ xem Hausman, 1981) Trong mục nhỏ này chúng ta sẽ tổng quan những phát triển gần đây này trong phân tích phúc lợi ứng dụng
và đánh giá tầm quan trọng của nó trong việc đánh giá các dịch vụ môi trường
Về bài báo: “Consumer’s surplus without apology”
Willig (1976) đã đề xuất việc rút ra một cách chặt chẽ những biểu thức liên quan đến
CV, S, và EV Những biểu thức này cung cấp một cách thức tính toán độ lớn của những
khác biệt giữa ba thước đo này đối với giá cả, khối lượng và thu nhập đã cho Những khác biệt giữa ba thước đo phụ thuộc vào độ co dãn thu nhập của cầu đối với hàng hoá đang xét và thặng dư người tiêu dùng như một tỷ lệ phần trăm của thu nhập Những khác biệt giữa những thước đo này tỏ ra rất nhỏ, hầu như không đáng kể, cho đa số các trường hợp thực tế Những khác biệt dường như là nhỏ hơn những sai số trong ước lượng các tham số của các hàm cầu bằng phương pháp kinh tế lượng
Các biên giới sai số xấp xỉ của Willig được dựa trên sự kiện rằng những khác biệt giữa
S và CV hoặc EV phát sinh từ tác động thu nhập lên khối lượng cầu; và kích thước của
tác động này phụ thuộc vào thay đổi trong thu nhập thực tế do thay đổi trong giá và độ
co dãn thu nhập của cầu đối với hàng hoá này gây ra Điều này có thể được chỉ ra theo một cách thức không chặt chẽ cho trường hợp một giá thay đổi với sự giúp đỡ của Hình 2-5 Trong hình này, các đường cầu nguyên thuỷ và đền bù được giả định là
tuyến tính Hãy ký hiệu S là diện tích a+b, bởi vậy:
b S
a CV
−
=
=
và:
c S
c b a EV
+
=
+ +
=
Sai số trong sử dụng S để xấp xỉ CV và EV bằng với các diện tích b và c một cách
tương ứng Khi giá thay đổi từ p, đến p,,, các nhân tố ảnh hưởng kích thước của sai
số xấp xỉ có thể được thấy bằng cách kiểm tra yếu tố quyết định là diện tích b:
Trang 362
1
p x
b S CV
trong đó ∆x* là tác động thu nhập lên khối lượng cầu của x gắn với việc giảm thu nhập
đủ để giữ cho mức lợi ích ở mức u0 Sử dụng ký hiệu ∆M* để thể hiện cho thay đổi thu nhập này Theo định nghĩa, ∆M* là CV Định nghĩa độ co dãn thu nhập của cầu là:
x
M M
2
.
∆
−
=
−
Điều này tương tự với biểu thức của Willig để đánh giá sai số xấp xỉ Nó nói rằng sai
số tỷ lệ với độ co dãn thu nhập của cầu và thặng dư người tiêu dùng như một tỷ lệ phần trăm của thu nhập Lý luận tương tự có thể được sử dụng để rút ra mối quan hệ
giữa EV và S
Phân tích của Willig chặt chẽ hơn biểu diễn trên đây ở chỗ nó xét đến khả năng đối với những thay đổi hữu hạn trong giá và khối lượng, độ co dãn thu nhập của cầu có thể thay đổi trong suốt một dải thay đổi giá Ông rút ra các quy tắc ngón tay cái để tính
toán sai số tối đa sử dụng S như một xấp xỉ của EV hoặc CV Các quy tắc ngón tay cái
này được áp dụng nếu các điều kiện sau đây được thoả mãn:
05 , 0 2
.E M ≤
M S
Trang 37các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
05 , 0 2
. M E M
M
S S
S CV E
. M E M
M
S S
EV S E M
M
S
càng nhỏ Có thể chỉ ra được rằng:
M
x p p
p M
S ≤ ∆
(17) Công thức này cho thấy, ví dụ, đối với một hàng hoá chiếm 50% tổng thu nhập và với một thay đổi giá 100%,
Cũng như đối với điều kiện thứ nhất, thặng dư người tiêu dùng như một tỷ lệ phần trăm của thu nhập càng nhỏ, và độ co dãn thu nhập của cầu càng nhỏ, thì (12) càng thoả mãn Ví dụ, nếu thặng dư người tiêu dùng là 5% của thu nhập, độ co dãn thu nhập của cầu có thể cao đến 2,0 mà vẫn thoả mãn (13) Nếu
M
S
thoả mãn (14), thì độ co dãn thu nhập không vượt quá 0,11 có thể sẽ làm thoả mãn (12)
Giả thiết các điều kiện (13) và (14) được thoả mãn, chúng ta hãy quay trở lại quy tắc
ngón tay cái Đầu tiên, theo (13), sai số tối đa liên quan đến sử dụng S như một xấp xỉ cho CV hoặc EV là 5% Thứ hai, thay đổi trong độ co dãn thu nhập càng nhỏ trong
suốt khoảng xem xét, thì (14) và (16) càng chính xác trong vai trò kết luận về sai số
Trang 38liên quan đến S hơn là CV hoặc EV Nếu độ co dãn thu nhập của cầu không thay đổi
trong khoảng xem xét (E M =E M), các vế trái và phải của (15) và (16) bằng nhau và sai
số là không, như đã được thảo luận trên đây Cuối cùng, khi độ co dãn thu nhập của cầu đối với hàng hoá này giảm đi, những khác biệt giữa thặng dư người tiêu dùng
nguyên thuỷ, CV và EV giảm xuống, và biến mất khi E M tiến đến không
Phân tích Willig được giải thích như việc cung cấp một lý lẽ biện minh cho việc sử
dụng thặng dư người tiêu dùng như một xấp xỉ của CV hoặc EV Nhưng có hai lý do
tại sao ai đó cần phải thận trọng về việc chấp nhận tiếp cận Willig để đo lường phúc lợi Điều đầu tiên là phải làm việc với những giới hạn trong việc ứng dụng các điều kiện Willig cho một số dạng bài toán đo lường phúc lợi, kể cả một số quan tâm đặc biệt đối với các nhfa kinh tế tài nguyên môi trường Điều thứ hai phát sinh vì sự phát
triển hiện nay của những phương pháp mới để đạt được các thước đo chính xác của CV
và EV từ chính những thông tin được yêu cầu để sử dụng xấp xỉ Willig
Các điều kiện Willig cho một xấp xỉ đúng đắn được phát triển cho những thay đổi
trong S như một hậu quả của những thay đổi trong giá của một số hàng hoá thị trường
Nhiều vấn đề chính sách tài nguyên môi trường cần có thông tin về tổng giá trị của một dịch vụ môi trường nào đó như một thước đo của những cái sẽ bị mất nếu nguồn tài nguyên bị phá huỷ hoặc chuyển sang sử dụng khác Ví dụ, chi phí kinh tế của việc đắp đập ngăn một con sông cung cấp nước cho đua thuyền hoặc câu cá hồi sẽ được đo lường bằng tổng diện tích nằm bên dưới đường cầu đền bù-Hicks cho những hoạt động này Điều này tương đương với việc đo lường thay đổi trong thặng dư người tiêu dùng với một sự gia tăng trong giá từ mức giá hiện thời tới giao điểm với trục tung của đường cầu đền bù-Hicks Bockstael và McConnell (1980) chỉ ra rằng đối với hàm cầu tuyến tính, độ co dãn thu nhập của cầu tiến ra vô hạn khi giá tiếp cận với trục tung Bởi vậy, sai số xấp xỉ không thể tính được
Đối với một số vấn đề, biến số được các nhà làm chính sách quan tâm không phải là
CV mà là một phần nào đó của CV _ ví dụ, mất mát xã hội gắn liền với một loại thuế
đánh vào hàng hoá Giả sử thuế hàng hoá làm tăng giá của hàng hoá từ ,
Trang 39các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
tiêu dùng, phần diện tích c là sai số Nếu các điều kiện Willig được thoả mãn, c là một
tỷ lệ phần trăm nhỏ một cách chấp nhận được của S và CV; nhưng nó có thể là lớn
không thể chấp nhận được của mất mát xã hội
Nguyên nhân thứ hai cần phải thận trọng về việc sử dụng xấp xỉ Willig là những phương pháp tốt hơn của việc đo lường phúc lợi hiện đã xuất hiện Nếu các hàm cầu
được sử dụng để tính S phản ánh hành vi tối đa lợi ích trong một bộ phận các cá nhân,
chúng có thể thoả mãn các điều kiện khả tích Và nếu như vậy, như chúng ta sẽ giải
thích trong mục sau, có thể tính được CV và EV một cách trực tiếp mà không cần phải
xấp xỉ Mặt khác, nếu các hàm cầu không thoả mãn các điều kiện khả tích, thì sẽ là không thích hợp khi dựa trên giả thiết về hành vi tối đa lợi ích
Thước đo phúc lợi chính xác
Có một định đề cơ bản trong lý thuyết cầu là nếu các hàm cầu nguyên thuỷ phản ánh hành vi tối đa- lợi ích thì chúng chứa đựng toàn bộ thông tin về quan hệ ưa thích cần
có để tái xây dựng một chỉ số thứ tự của lợi ích Nhận thức được quan hệ đối ngẫu này giữa quan hệ ưa thích và đường cầu quan sát được đã dẫn đến việc tìm kiếm các thủ
tục thực hành để khôi phục hàm lợi ích và các thước đo phúc lợi CV và EV trực tiếp từ
các hàm cầu ước lượng Một con đường như vậy đã được phản ánh trong công trình của Rêaum (1973), McKenzie và Pearce (1976, 1982), và McKenzie (1976, 1983) Phương pháp này bao hàm sự mở rộng các chuỗi Taylor của hàm lợi ích gián tiếp dựa trên các thành phần là đạo hàm của các hàm cầu nguyên thuỷ Tiếp cận này đã bị phê phán là quá cồng kềnh (ví dụ như Vartia, 1983), không chính xác một cách tiềm năng
vì các số hạng kế tiếp nhau của các chuỗi Taylor hội tụ không nhất thiết là đơn điệu giảm (ví dụ như Willig, 1979, tr 463), và không cần thiết
Gần đây hơn, một số tác giả đã trình bày các thủ tục vận hành để khôi phục CV và EV
chính xác hoặc xấp xỉ gần một cách tuỳ ý Ví dụ, thủ tục của Hausman (1981), đã được phát triển cho trường hợp chỉ có một loại giá thay đổi, bao hàm bốn bước Bước thứ nhất bao gồm việc kết hợp hàm cầu nguyên thuỷ và Đồng nhất thức Roy để đạt được một phương trình đạo hàm riêng:
M M v
p M v M
/ ) , ( )
,
P P
Nếu hàm lợi ích này là tách được sao cho hàm cầu chỉ bao gồm biến số giá riêng của
nó, và nếu hàm cầu là tuyến tính, điều này trở thành:
M M v
p M v M c p b a
−
/ ) , (
/ ) , (
1
P
trong đó các tham số a, b, và c được ước lượng bằng kinh tế lượng và p1 và M được
giảm phát bởi một chỉ số thích hợp đối với các mức giá khác Những thay đổi trong p1
và M liên quan đến việc dịch chuyển dọc theo một đường bàng quan phải thoả mãn
0 ) ( ) (
(.) )
( ) (
v t
t p t p v
trong đó t xác định đường thay đổi giá Sắp xếp lại biểu thức này, thế vào (18), và sử
dụng định lý hàm ẩn, ta nhận được:
Trang 40M c p b a dp
p dM
)
(
1 1
k
1
1
0 1 1 .
Những biểu thức này có tên là các hàm số “tựa-“ vì chúng không chứa đựng thông tin
về các tác động của giá của những hàng hoá khác lên lợi ích hoặc chi tiêu Như có thể được thấy, phương pháp này phụ thuộc vào khả năng giải phương trình vi phân nhận được từ Đồng nhất thức Roy Hausman (1981) đã chỉ ra một phương pháp giải quyết trường hợp này khi chỉ có một mức giá thay đổi, và đã thảo luận một cách tổng quát lời giải trong trường hợp nhiều loại giá cả thay đổi
Kết luận
Việc chọn lựa một thước đo phúc lợi từ lâu đã liên quan đến những câu hỏi cả về tính thích hợp lẫn tính thực tiễn Thước đo thặng dư Marshall thường được chọn trên cơ sở thực tiễn, thậm chí mặc dù nó được nhận thức là một thước đo không thích hợp ở chỗ
nó không trả lời cho bất kỳ câu hỏi phúc lợi chính xác cụ thể nào Sự phát triển của
Willig về các biên của sai số xấp xỉ trong việc sử dụng S đã khuyến việc thực hành
này Nhưng nhanh chóng theo gót phương pháp này, một số tiếp cận mới đo lường
chính xác phúc lợi đã xuất hiện và đề xuất ra cơ hội tính toán các thước đo CV và EV
thích hợp hơn một cách trực tiếp
Tuy nhiên, vẫn còn một câu hỏi liên quan đến tính thực tiễn Chúng ta có đủ biết về dạng hàm của hàm lợi ích để áp dụng các phương pháp đo lường chính xác không? Giả định một dạng hàm cho hệ thống các hàm cầu vì mục đích ước lượng là tương đương với việc giả định dạng hàm của hàm lợi ích nằm bên dưới Một tiếp cận là giả định một dạng hàm cụ thể cho hàm lợi ích hoặc hàm lợi ích gián tiếp và rút ra các hàm cầu cho ước lượng Nếu tiếp cận này được lựa chọn, thì việc đặt các tham số ước lượng ngược trở lại hàm lợi ích để tính toán những thay đổi phúc lợi là dễ dàng, miễn
là các ước lượng tham số của hàm cầu thoả mãn các điều kiện khả tích Vì các nhà nghiên cứu miễn cưỡng chỉ ra dạng hàm của hàm lợi ích, cho nên một phương án là chỉ ra các dạng có tên gọi là linh hoạt cho hàm lợi ích gián tiếp hoặc trực tiếp Một lần nữa, nếu các điều kiện khả tích thoả mãn, việc rút ra các thước đo phúc lợi “chính xác”
từ dạng hàm linh hoạt “xấp xỉ” của hàm lợi ích là dễ dàng Phương án này là tìm kiếm
sự chỉ dẫn từ số liệu bằng cách chọn lựa dạng hàm cho các hàm cầu trên cơ sở tính vừa vặn (goodness of fit) và thích hợp với những ràng buộc được đặt ra bởi lý thuyết