1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bản chất và vai trò của các công ty xuyên quốc gia

44 1,6K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản chất và vai trò của các công ty xuyên quốc gia
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 213,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về các TNCs, bản chất và vai trò

Trang 1

MỤC LỤCDANH MỤC CÁC HÌNH

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA

1.1 Khái niệm về công ty xuyên quốc gia

1.1.1 Các khái niệm chung về công ty xuyên quốc gia

1.1.2 Phân biệt TNCs và MNCs

1.2 Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia

1.2.1 Lịch sử hình thành:

1.2.2 Quá trình phát triển

1.3 Đặc điểm chung của các công ty xuyên quốc gia

CHƯƠNG 2: BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA.

2.1 Bản chất của các công ty xuyên quốc gia

2.2 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia

2.2.1 Thúc đẩy thương mại quốc tế

2.2.1.1 Thúc đẩy hoạt động thương mại thế giới phát triển

2.2.1.2 Làm thay đổi cơ cấu thương mại quốc tế

2.2.2 Thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.2.2.1 TNCs thúc đẩy lưu thông dòng vốn đầu tư trên toàn thế giới

2.2.2.2 TNCs làm tăng tích luỹ vốn của nước chủ nhà

2.2.3 Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm

2.2.4 Vai trò của TNCs đối với hoạt động phát triển và chuyển giao công nghệ

Trang 2

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM

3.1 Những tác động của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh tế Việt Nam

3.1.1 Những tác động tích cực của các công ty xuyên quốc gia đối với nền kinh

3.2.1 Tạo lập đối tác đầu tư trong nước

3.2.2 Hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của nhà nước

3.2.3 Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật

3.2.4 Phát triển nguồn nhân lực

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: So sánh tính chất của công ty xuyên quốc gia và công ty đa quốc giaHình 2: Sự phát triển của các TNCs sau chiến tranh lạnh

Hình 3: Tổng giá trị xuất khẩu và đóng góp của các TNCs nước ngoài

(World Investment Report 2006, UNCTAD)

Hình 4: Tổng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ và xuất khẩu của các công ty chi nhánh TNCs ở nước ngoài

(World Investment Report 2005, UNCTAD)

Hình 5: Mức độ lợi nhuận của các công ty xuyên quốc gia, 1999-2011

(World Investment Report 2012, UNCTAD)

Hình 6: Tỷ trọng vốn FDI tại các khu vực giai đoạn 1978 - 1990

(World Investment Report 2006, UNCTAD)

Hình 7: FDI toàn cầu và nhóm các nền kinh tế, 1995-2011

(World Investment Report 2012, UNCTAD)

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, xự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế đã có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của nền kinh tế các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng Ở Việt Nam sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia rộ lên

kể từ khi Việt Nam ban hành luật đầu tư trực tiếp nước ngoài (tháng 12/1987),

kể từ đó đến nay đã có hàng trăm đoàn doanh nghiệp trên khắp thế giới đã tiếp cận vào thị trường Việt Nam

Sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam đã đem đến sự khởi sắccho nền kinh tế Việt Nam, nhưng bên cạnh đó chúng cũng đem lại một số tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty xuyên quốc gia thì trước hết chúng ta phải tìm hiểu, nghiêncứu về các công ty xuyên quốc gia; đặc biệt đi sâu phân tích về bản chất và vai trò của chúng Trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị nhằm thu hút và nâng cao hiệuquả hoạt động của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam

Nhận thấy rõ được sự cần thiết của việc nghiên cứu về vai trò của các công ty xuyên quốc gia, nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Bản chất và vai trò của các công ty xuyên quốc gia” cho đề tài của mình

Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương:Chương 1: Tổng quan về công ty xuyên quốc gia

Chương 2: Bản chất và vai trò của các công ty xuyên quốc gia

Chương 3: Tổng quan về vai trò và hoạt động của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam

Trang 5

Do trình độ và thời gian có hạn nên bài viết còn nhiều thiếu sót, rất mong sự góp

ý của thầy và các bạn đề bài viết được hoàn thiện hơn Cuối cùng chúng em xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Kim Ngọc đã hướng dẫn và giúp chúng em hoàn thiện bài viết của mình

Trang 6

Chương 1: Tổng quan về công ty xuyên quốc gia

1.1 Khái niệm về công ty xuyên quốc gia

1.1.1 Các khái niệm chung về công ty xuyên quốc gia

Các công ty xuyên quốc gia ra đời là kết quả phát triển lâu dài của nền sản xuất

và quan hệ kinh tế quốc tế Chúng bắt nguồn từ sự tích tụ và tập trung sản xuất cao độ Đó là sự phát triển ngày càng hoàn thiện của các hình thức tổ chức xã hội

từ hình thức phân xưởng thợ thủ công đến hình thức các công trường thủ công,

từ hình thức công xưởng tới hình thức xí nghiệp lớn, rồi đến các loại hình công

ty với nhiều hình thức khác nhau Sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia

đã được đánh giá là một tiến bộ của lịch sử, và ngày nay các công ty này hoạt động khắp mọi nơi trên thế giới Nó được coi là một thực thể kinh tế linh hoạt, hoạt động có hiệu quả, có tiềm lực kinh tế và công nghệ to lớn

Theo khái niệm chung nhất, công ty xuyên quốc gia là công ty có quá trình sản xuất kinh doanh vượt ra khỏi biên giới quốc gia và có quan hệ kinh tế chặt chẽ với nhiều nước thông qua việc thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài

Cũng có quan niệm cho rằng công ty xuyên quốc gia là công ty tư bản độc quyền

có tư bản thuộc về chủ tư bản của một nước nhất định nào đó Theo quan niệm này, người ta đã nhấn mạnh tới tính chất sở hữu và tính quốc tịch của tư bản Chủ tư bản ở một nước cụ thể nào đó có công ty mẹ và thực hiện kinh doanh trong và ngoài nước bằng cách lập các công ty con ở nước ngoài

Theo các chuyên gia của Liên Hợp Quốc thì công ty xuyên quốc gia là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn bao gồm các công ty mẹ và các công tychi nhánh nước ngoài của chúng

Trang 7

Qua các khái niệm trên ta có thể hiểu các công ty xuyên quốc gia là một cơ cấu tổchức kinh doanh quốc tế, dựa trên cơ sở kết hợp giữa quá trình sản xuất quy mô lớn của nhiều thực thể kinh doanh quốc tế với quá trình phân phối và khai thác thị trường quốc tế nhằm đạt được kết quả tối ưu, trên cơ sở đó thu được lợi nhuận độc quyền cao.

1.1.2 Phân biệt TNCs và MNCs

Trong kinh tế, thường có sự phân biệt giữa Công ty Quốc tế (International Corporation) với Công ty Đa quốc gia (Multunational Corporation) và Công ty Xuyên quốc gia (Transnational Corporation) Trong đó, Công ty Quốc tế là công

ty có sự quốc tế hoá thị trường, tức là hoạt động ở cả thị trường nội địa lẫn thị trường nước ngoài Công ty Đa quốc gia là công ty có sự quốc tế hóa nguồn vốn,tức là có chủ đầu tư thuộc các quốc tịch khác nhau Công ty Xuyên quốc gia là công ty có sự quốc tế hoá hoạt động kinh doanh nhưng chủ đầu tư thường thuộc một quốc tịch, tức chủ tư bản ở một nước cụ thể nào đó có công ty mẹ đóng tại nước đó và thực hiện kinh doanh trong và ngoài nước, bằng cách lập các công ty con ở nước ngoài

Để làm rõ khái niệm về công ty xuyên quốc gia ta sẽ so sánh công ty xuyên quốc gia và công ty đa quốc gia trên 2 mặt:

-Tính chất sở hữu của tư bản

-Tính quốc tịch của tư bản

Trang 8

Hình 1: So sánh tính chất của công ty xuyên quốc gia và công ty đa quốc gia

Công ty xuyên quốc gia Công ty đa quốc giaTính chất sở

hữu của tư bản

Tư bản thuộc sở hữu của công

ty mẹ là của một nước Ví dụ:

Sony có vốn chủ sở hữu của các chủ tư bản của Nhật Bản

Tư bản thuộc sở hữu của công ty

mẹ là của hai hoặc nhiều nước

Ví dụ: Unilever có vốn chủ sở hữu của các chủ tư bản Anh và

Hà LanTính chất quốc

tịch của tư bản

Thuộc chủ tư bản nước đó Thuộc hai hay nhiều chủ tư bản

của các nước khác nhauTập đoàn

Như vậy ta có thể kết luận rằng: Công ty xuyên quốc gia- công ty mẹ phải là

công ty cư trú ở một nước nhất định, với các chủ sở hữu của một quốc gia nhất định gọi là Parent Company (công ty mẹ) Công ty đó tiến hành đầu tư, hoạt

động thương mại ở nước ngoài, có thể là trực tiếp hoặc thông qua hệ thống chi nhánh được gọi là Foreign Affililiate(công ty con)

Quá trình tích tụ tư bản và tập trung sản xuất lâu dài đã dẫn đến sự hình thành các công ty xuyên quốc gia Bởi đó chính là quá trình tạo ra cơ sở vật chất cho

sự bành trướng, giúp cho các tập đoàn tư bản có khả năng hiện thực vượt ra khỏi biên giới quốc gia, thực hiện đầu tư và các nước với nhiều hình thức, thỏa mãn được mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao Tuy nhiên có sự khác biệt giữa các công

ty xuyên quốc gia theo vùng địa lý

 Đặc trưng của các công ty xuyên quốc gia Mỹ và Châu Âu

Trang 9

- Tự do cạnh tranh

- Mục tiêu kinh doanh: tối đa hoá lợi nhuận

 Đặc trưng của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản

- Mục tiêu kinh doanh: phát triển công ty, tập đoàn Biểu hiện cụ thể là tăng

tỷ lệ chiếm lĩnh và khai thác thác thị trường thế giới, phát triển sản phẩm, kỹ thuật mới, tăng cường vị trí cạnh tranh

 Đặc trưng của các công ty xuyên quốc gia Hàn Quốc- Các Cheabol

- Bản chất là các doanh nghiệp kiểu gia đình phong kiến

- Hoạt động kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành

- Quyết định quan trọng được đưa ra ở cấp cao nhất

1.2 Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia

1.2.1 Lịch sử hình thành

Như trên đã nói, các công ty xuyên quốc gia được hình thành dựa trên sự phát triển lâu dài của nền sản xuất và quan hệ kinh tế quốc tế Về thực chất chúng là

sự phát triển cao của chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa, là sự vận động mở rộng

và sâu sắc hơn của các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi các mối quan hệ kinh tế đó vượt dần ra khỏi phạm vi quốc gia và gia nhập vào guồng máy sản xuất kinh doanh quốc tế thì nó ngày càng được phát triển

Chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa xuất hiện và ngày càng được hoàn thiện trên

cơ sở sự ra đời và phát triển của nền sản xuất dựa trên máy móc, và cạnh tranh tự

do chính là nguyên nhân ra đời của nền sản xuất đó Chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa ra đời đã thúc đấy phân công lao động mở rộng từ nội bộ quốc gia sang địa bàn quốc tế, từ đó làm cho tích tụ và tập trung tư bản, sản xuất phát triển lên cao độ và nhờ vậy mà các tổ chức độc quyền có điều kiện thuận lợi để

ra đời và phát triển C.Mác và Ph Ăngghen cũng đã khẳng định độc quyền sinh

Trang 10

ra từ tự do cạnh tranh nhưng không phủ định nó Trong quá trình tích tụ và tập trung tư bản, nhân tố tín dụng có vai trò vô cùng quan trọng, theo C.Mác thì nhân tố này đã đẩy nhanh tốc độ phát triển vật chất của các lực lượng sản xuất và

sự hình thành một thị trường thế giới

Khi xuất hiện quá trình tích tụ và tập trung sản xuất cao độ sẽ dẫn đến hình thành các công ty cực lớn thống trị các ngành và đồng thời cũng xuất hiện quá trình liên hiệp hoá Cùng với nó là quá trình chuyên môn hoá, đó là kết quả của sự phát triển phân công lao động xã hội đã tạo điều kiện cho sự phát triển của

những công ty độc quyền chủ chốt trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền Các công ty độc quyền chủ chốt đã thâu tóm toàn bộ các xí nghiệp vừa và nhỏ bao quanh chúng mà nhờ nó giới độc quyền Nhà Nước có thể huy động được toàn bộ lực lượng lao động và mọi tiềm năng của xã hội vào quá trình sản xuất, tạo ra sự hỗ trợ trong việc cải tổ cơ cấu sản xuất, kỹ thuật trong nước Sự khác biệt về tiền lương và bảo hiểm của chúng tạo điều kiện cho các công ty độc quyền chủ đạo kiếm thêm được giá trị thặng dư Khi tích tụ và tập trung sản xuất có bước phát triển mới thì xuất khẩu tư bản cũng được đẩy mạnh và nó trở thành cơ sở kinh tế quan trọng cho việc mở rộng phạm vi hoạt động quốc tế của các công ty xuyên quốc gia được hình thành nên từ các tổ chức độc quyền sau này

Trang 11

trưởng thành nhanh chóng của các công ty xuyên quốc gia, đặc biệt là ở các quốcgia phát triển Khi sự cạnh tranh trên toàn cầu ngày càng khốc liệt thì các công tyxuyên quốc gia bắt đầu điều chỉnh lại hoạt động kinh doanh phân tán của nó, xâydựng hệ thống phân công lao động quốc tế, kết hợp liên kết theo chiều ngang và chiều dọc trong nội bộ công ty Cơ cấu tổ chức toàn cầu của công ty xuyên quốcgia tương ứng cũng ra đời Các công ty xuyên quốc gia trở thành hình thức hoàn thiện điển hình của chế độ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa thích ứng với sự phân công và trao đổi quốc tế hiện đại.

Tóm lại, sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia đi từ tích tụ và tập trung sảnxuất, rồi hình thành các công ty cổ phần, các công ty kinh doanh lớn như sau:Quá trình tích tụ và tập trung sản xuất diễn ra song song với quá trình tích tụ quyền lực kinh tế Tích tụ và tập trung sản xuất tạo ra những công ty cực lớn baogồm trong đó rất nhiều các công ty với công ty mẹ đứng đầu và các công ty con

có quan hệ phụ thuộc về tài chính, kỹ thuật, với công ty mẹ Sự thâu tóm và kiểm soát về mọi mặt như tài chính, kỹ thuật của công ty mẹ đối với công ty con đã tạo điều kiện thuận lợi để tăng quy mô sản xuất và cho tư bản sinh lời.Quá trình tích tụ và tập trung sản xuất dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc quyền Sự liên kết theo chiều dọc và chiều ngang được đẩy mạnh dẫn đến quá trình liên kết đa ngành và bành trướng quyền lực Từ đó dẫn đến hình thành các công ty xuyên quốc gia với mạng lưới thị trường rộng khắp

Quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong nông nghiệp ngày càng được đẩy mạnh dẫn đến việc xuất hiện các hình thức công ty liên hợp nông – công nghiệp, nông – thương nghiệp Cùng với sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm cho cấu tạo hữu cơ tăng lên và mối liên hệ giữa công – nông nghiệpngày càng phát triển

Trang 12

Như vậy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất đã tạo ra cơ sở vật chất cho sự bành trướng, giúp cho các tập đoàn tư bản có khả năng hiện thực vượt ra khỏi biên giới quốc gia, thực hiện việc đầu tư vào các nước khác dưới nhiều hình thức, thỏa mãn mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao Trên cơ sở đó hình thành các công ty xuyên quốc gia.

Theo số liệu của hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển, hiện nay trên thế giới có khoảng 60 nghìn công ty xuyên quốc gia mẹ và có khoảng trên

500 nghìn công ty conđang hoạt động trong tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.Các công ty mẹ phần lớn ở các nước phát triển và tập trung chủ yếu ở Đức, Đan Mạch, Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ

Tính đến năm 2004, trong số 100 TNC lớn nhất, 25 thuộc Mỹ, 50 thuộc EU (37/50 thuộc Đức, Pháp, Anh), 9 thuộc Nhật Các nước phát triển khác như Canana, Australia, Thuỵ Sĩ,… có 12 TNC.Trong khi đó, các nền kinh tế đang phát triển chỉ có 4 TNC là Hutchison Whampoa Limited của Hongkong (xếp hạng16), Singte Ltd của Singapore (66), Petronas của Malaysia(72) và Samsungcủa Hàn Quốc (99)

Trang 13

Có mặt trong top 10 hầu hết đều là những công ty đa quốc gia và gây được tiếng tăm mạnh mẽ trên toàn cầu Dưới đây là 10 công ty danh tiếng nhất thế giới năm

2011 theo thứ tự xếp hạng của Reputation Institute

1 Google

Trụ sở: Mỹ

Chỉ số “danh tiếng” tại đất nước có trụ sở chính: 78,08

Chỉ số “danh tiếng” trên toàn cầu: 79,99

Là gã khổng lồ trong lĩnh vực tìm kiếm Google đã được hàng tỷ người trên toàn thế giới biết đến và sử dụng hàng ngày Hầu hết số người được hỏi đều cho biết,

họ đánh giá cao công ty này vì có môi trường làm việc tuyệt vời, cách thức kinh doanh cởi mở, minh bạch và quan trọng hơn là những cam kết của công ty về việc cải thiện xã hội

2 Apple

Trụ sở: Mỹ

Chỉ số “danh tiếng” tại đất nước có trụ sở chính: 77,64

Chỉ số “danh tiếng” trên toàn cầu: 79,77

Vị trí thứ 2 cũng thuộc về một công ty công nghệ, đó là Apple Công ty này có

“tiếng thơm” bởi luôn không ngừng đổi mới sản phẩm, lại được điều hành bởi đội ngũ nhà lãnh đạo tài giỏi, do đó, công ty không ngừng phát triển, lợi nhuận gia tăng

3 Walt Disney

Trụ sở: Mỹ

Chỉ số “danh tiếng” tại đất nước có trụ sở chính: 81,40

Trang 14

Chỉ số “danh tiếng” trên toàn cầu: 79,51

Không chỉ là một trong những tập đoàn truyền thông lớn nhất thế giới, Walt Disney còn được biết đến như công ty có danh tiếng cao vào bậc nhất thế giới

4 BMW

Trụ sở: Đức

Chỉ số “danh tiếng” tại đất nước có trụ sở chính: 78,17

Chỉ số “danh tiếng” trên toàn cầu: 79,42

Là một công ty chuyên sản xuất dòng xe hơi xa xỉ, không có gì đáng ngạc nhiên khi BMW được cho là “có tiếng” bởi luôn tạo ra những sản phẩm hoàn hảo cộngvới phần dịch vụ đi kèm thỏa mãn được nhu cầu cao của khách hàng

5 Lego

Trụ sở: Đan Mạch

Chỉ số “danh tiếng” tại đất nước có trụ sở chính: 87,21

Chỉ số “danh tiếng” trên toàn cầu: 79,26

Vượt ra khỏi biên giới đất nước quê hương Đan Mạch, Lego là nhãn hiệu đồ chơiđược yêu thích và nổi tiếng nhất thế giới Mỗi sản phẩm của Lego ra đời đều được đánh giá cao về chất lượng cũng như tính sáng tạo

6 Sony

Trụ sở: Nhật

Chỉ số “danh tiếng” tại đất nước có trụ sở chính: 73,39

Chỉ số “danh tiếng” trên toàn cầu: 79,05

Là một công ty sản xuất hàng đầu trong lĩnh vực điện tử với nhiều chủng loại hàng hóa từ máy tính sách tay, điện thoại di động đến ti vi, thương hiệu Sony nổitiếng và được biết đến rộng rãi trên toàn thế giới

Trang 15

7 Daimler

Trụ sở: Đức

Chỉ số “danh tiếng” tại đất nước có trụ sở chính: 79,28

Chỉ số “danh tiếng” trên toàn cầu: 79,03

Là công ty chuyên sản xuất ô tô, nhưng hãng xe này lại được biết đến nhiều hơn bởi thương hiệu xe loại sang Mescedes Hướng tới những khách hàng là giới nhàgiàu có nhu cầu cao hơn bình thường, Mescedes luôn đáp ứng được những dịch

vụ tốt nhất, xa xỉ bậc nhất

8 Canon

Trụ sở: Nhật

Chỉ số “danh tiếng” tại đất nước có trụ sở chính: 79,94

Chỉ số “danh tiếng” trên toàn cầu: 78,07

Thương hiêu Canon không chỉ nổi tiếng tại Nhật Bản mà còn trên toàn thế giới, nhất là các sản phẩm máy ảnh

9 Intel

Trụ sở: Mỹ

Chỉ số “danh tiếng” tại đất nước có trụ sở chính: 75,35

Chỉ số “danh tiếng” trên toàn cầu: 77,5

Là nhà cung cấp chip lớn nhất thế giới, Intel nổi tiếng bởi chất lượng sản phẩm

và uy tín của mình Intel luôn là lựa chọn đối tác hàng đầu của nhiều công ty sản xuất máy tính hàng đầu thế giới

10 Volkswagen

Trụ sở: Đức

Trang 16

Chỉ số “danh tiếng” tại đất nước có trụ sở chính: 80,87

Chỉ số “danh tiếng” trên toàn cầu: 77,33

Sở hữu một loạt các thương hiệu xe “siêu sang” như Audi, Lamborghini…

Volkswagen được đánh giá cao về kiểu dáng mẫu mã cũng như chất lượng sản phẩm

1.3 Đặc điểm chung của các công ty xuyên quốc gia

TNCs được tổ chức và quản lý theo hai mô hình chủ yếu là kiểu hình tháp và kiểu mạng lưới

- Kiểu hình tháp - các TNCs liên kết với nhau theo chiều ngang dưới hình thức Concern, tức là thông qua các quan hệ hợp tác cùng sử dụng bằng phát minh, sáng chế, nghiên cứu và phát triển (R & D), kinh doanh và hệ thống tài chính, tíndụng

Mô hình Concern không hình thành pháp nhân riêng, tính pháp lý của nó thể hiện ở tư cách pháp nhân độc lập của các công ty thành viên Mô hình tổ chức Concern cấu trúc theo hình tháp, tức là thông tin điều hành truyền từ trung tâm xuống các công ty chi nhánh và phản hồi trở lại qua nhiều tầng lớp có tính thứ bậc Vì vậy tính hệ thống và quyền lực của các quyết định quản lý rất cao

Tuy nhiên, khi đối mặt với các đối thủ cạnh tranh gay gắt, phạm vi hoạt động của công ty mở rộng, thì thông tin không phản ánh đúng và kịp thời với sự biến động nhanh chóng của thị trường Hơn nữa, bộ máy quản lý cồng kềnh làm tăng chi phí giá thành, vì thế làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm

- Kiểu mạng lưới – quá trình liên kết TNC theo chiều dọc dưới hình thức

Conglomerate Cơ cấu tổ chức Conglomerate khá phổ biến trong TNCs hiện đại Theo mô hình này, mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty chi nhánh chủ yếu dựa trên các quan hệ về tài chính (thông qua thị trường chứng khoán) Mức

Trang 17

độ kiểm soát của công ty mẹ đối với các công ty chi nhánh phụ thuộc vào tỷ lệ

sở hữu cổ phiếu của nó trong các chi nhánh Bởi thế, so với hình thức Concern,

cơ cấu tổ chức của Conglomerate gọn nhẹ và linh hoạt hơn

Trong mô hình tổ chức Conglomerate cấu trúc theo kiểu mạng lưới các công ty chi nhánh và các bộ phận thành viên hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau nên chúng không liên kết với nhau theo thứ bậc chặt chẽ Nên quyền lực điều hành trực tiếp trong Conglomerate thường tập trung vào các nhà quản lý trong các tổ chức thành viên Mô hình này khắc phục được sự quan liêu, tin tức khôngthông suốt, sai lệch, quyết sách chậm chạp, chuyên quyền và sự thiếu hợp tác giữa các bộ phận trong nội bộ TNC Hạn chế là để cải tiến theo mô hình này, TNCs phải đối mặt với vấn đề sa thải lao động

Mỗi mô hình có ưu điểm và hạn chế riêng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của TNC và mức độ cạnh tranh của thị trường, qui mô và lợi thế cạnh tranh của chúng Mặc dù cả hai mô hình tổ chức và quản lý nêu trên được sử dụng đan xen nhau, nhưng mô hình theo kiểu mạng lưới được sử dụng nhiều hơn vì hiệu quả của nó và có thể được coi là đặc trưng của cơ cấu tổ chức và quản lý của TNCs hiện đại

Trang 18

CHƯƠNG 2: BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦACÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA.

2.1 Bản chất của các công ty xuyên quốc gia.

Như chúng ta đã biết quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, tư bản đã dẫn đến những biến đổi quan trọng về lượng và chất trong các mặt quan hệ sản xuất mà khâu quan trọng nhất là quan hệ sở hữu Do đó khi nghiên cứu về bản chất của các công ty xuyên quốc gia chúng ta nghiên cứu trên hai mặt, đó là về hình thức

sở hữu và tổ chức quản lý tại các công ty xuyên quốc gia

Về hình thức sở hữu: Kể từ khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật bùng nổ mạnh

mẽ đã tạo ra những sự thay đổi các quan hệ pháp lý của các chủ sở hữu trong cáccông ty xuyên quốc gia Ngày nay, hình thức sở hữu tại các công ty xuyên quốc gia tồn tại chủ yếu dưới hai nhìn thức sở hữu sau:

Thứ nhất là hình thức sở hữu độc quyền siêu quốc gia, đây là hình thức sở hữu hỗn hợp đã được quốc tế hoá Hình thức sở hữu này mang tính khách quan tạo nên bởi quá trình tích tụ, tập trung hoá và xã hội hoá sản xuất trên quy mô quốc

tế của chủ nghĩa tư bản, dưới sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và của các quy luật cạnh tranh, quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Theo hình thức sở hữu này các công ty xuyên quốc giatồn tại dưới hình thức các tổ hợp đa ngành khác nhau và các xí nghiệp chi nhánh của nó là các xí nghiệp liên doanh với số lượng cá thể đồng sở hữu từ hai đến bốn nước hoặc nhiều hơn nhưng với tỷ lệ vốn góp khác nhau Điều này đã phản ánh tính chất đa dạng, phức tạp và tính chất hỗn hợp của loại hình sở hữu tại các công ty xuyên quốc gia

Thứ hai là hình thức sở hữu hỗn hợp, hình thức sở hữu này được tạo ra do sự thayđổi về căn bản địa vị và vai trò của những người công nhân, trí thức làm việc

Trang 19

trực tiếp trong các ngành nghề khác nhau, đặc biệt là các ngành nghề có hàm lượng khoa học và công nghệ cao và nó có tác động lớn tới chất lượng của lao động và sản xuất Loại hình sở hữu này diễn ra theo hướng phát triển số người có

cổ phần trong các công ty xuyên quốc gia nhưng với tỷ trọng sở hữu cổ phần trong tổng số vốn kinh doanh không lớn

Như vậy, dù theo hình thức sở hữu nào thì các công ty xuyên quốc gia cũng không còn là sở hữu của một người hay một nước mà là sở hữu hỗn hợp quốc tế Nhưng trong đó sở hữu của các nhà tư bản vẫn giữ vị trí trọng yếu, còn sở hữu của những người lao động chỉ chiếm mộttỷ lệ nhỏ

Về tổ chức quản lý: việc tổ chức quản lý sản xuất và các hoạt động kinh tế đã dịch chuyển từ kiểu đại trà, được tiêu chuẩn hoá hàng loạt sang kiểu sản xuất loạt nhỏ và linh hoạt theo đơn đặt hàng Đồng thời có sự dịch chuyển từ các tổ chức có quy mô lớn được liên kết theo chiều dọc sang phi liên kết kiểu mạng lưới theo chiều ngang giữa các đơn vị kinh tế trong nước và nước ngoài Điều đó

đã làm xuất hiện sự liên kết mới giữa các công ty xuyên quốc gia, đó là kiểu liên kết mà trong đó có các vệ tinh xoay quanh một công ty gốc tạo nên một mạng lưới phủ lên thị trường các nước Phương thức tổ chức quản lý sản xuất tại các công ty xuyên quốc gia ngày nay luôn biến đổi theo các xu thế sau:

Thứ nhất là phi hàng loạt hoá và đa dạng hoá sản các phẩm: việc tổ chức quản lý sản xuất các sản phẩm được tiến hành theo loạt nhỏ hay đơn chiếc theo đúng yêucầu và thị hiếu đa dạng của khách hàng

Thứ hai là phi chuyên môn hoá: việc sản xuất sản phẩm được tổ chức quản lý theo phương thức cấu tạo tổ hợp các khối cấu kiện, phụ kiện

Thứ ba là phi tập trung hoá: quá trình sản xuất được phân bố và được tổ chức quản lý trên diện rộng trong các chi nhánh và đơn vị sản xuất nhỏ và vừa với cácnguồn nhân lực, vật lực và tài lực phân tán trên qui mô quốc gia và quốc tế Nhờ

Trang 20

vậy mà các công ty xuyên quốc gia giảm được chi phí vận chuyển, tránh được các hàng rào bảo hộ và chuyển giao năng lực thiết kế và phát triển sản phẩm.Thứ tư là tổ chức quản lý từ xa: dưới tác động của sự phát triển ngành khoa học viễn thông, tổ chức quản lý từ xa ngày càng được ứng dụng rộng rãi, đặc biệt là tại các công ty xuyên quốc gia Áp dụng hình thức quản lý này sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí cho các nhà quản lý.

Thứ năm là quốc tế hoá và toàn cầu hoá hoạt động tổ chức quản lý

Như vậy việc tổ chức và quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại

và dịch vụ trong các công ty xuyên quốc gia đã được quốc tế hoá và đang được toàn cầu hoá trong quá trình thâm nhập qua lại giữa các hoạt động kinh tế và nềnkinh tế của các quốc gia trên quy mô thế giới

2.2 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia.

Các công ty xuyên quốc gia là chủ thể trong hoạt động kinh tế quốc tế hiện nay Tính quốc tế hóa cao của nền kinh tế thế giới được tăng cường trong vai trò ngàycàng lớn của các TNCs Nói đúng hơn, trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế, TNCs đóng vai trò then chốt Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về vai trò chủ thể tronghoạt động kinh tế quốc tế của TNCs

2.2.1 Thúc đẩy thương mại quốc tế.

Trong những năm gần đây, quá trình toàn cầu hóa đã thúc đẩy nền kinh tế của cácquốc gia phát triển và phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn, dẫn đến những thay đổi sâusắc trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thế giới Một trong những nhân tố quan trọng tác động đến quá trình này là hoạt động thương mại quốc tế của TNCs

2.2.1.1 Thúc đẩy hoạt động thương mại thế giới phát triển

Trang 21

TNCs có vai trò nổi bật là thúc đẩy thương mại thế giới phát triển mạnh mẽ, nhất

là đối với những nền kinh tế hướng về xuất khẩu Trong quá trình hoạt động củamình các TNCs đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia và gia công quốc tế Hay nói cách khác là TNCs thúc đẩy thương mại phát triển với ba dòng lưu thông hàng hoá cơ bản là: hàng hoá xuất nhập khẩu từ công ty mẹ, hàng hoá bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hoá trao đổi giữa các công ty trong cùng một tập đoàn TNCs chi phối hầu hết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh lưu thông xuyên quốc gia của mình

Theo báo cáo đầu tư thế giới năm 2006, giá trị xuất khẩu của các chi nhánh TNCsnước ngoài chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng giá trị xuất khẩu ở một số quốc gia

khẩu

Giá trị xuất khẩu của các TNCs ở nước ngoài

Trang 22

Mỹ là 14,9% năm 2002 và tăng lên 15,3% vào năm 2003.Báo cáo đầu tư thế giới

2005 cho thấy tổng giá trị xuất khẩu của các chi nhánh TNCs ở nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng từ 730 tỷ USD năm 1982 tới 1498 tỷ USD năm 1990 Đến năm 2003 và 2004, con số này đã tăng lên tương ứng là 3073 tỷ và 3690 tỷ USD

Ngày đăng: 17/09/2013, 22:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: So sánh tính chất của công ty xuyên quốc gia và công ty đa quốc  gia - bản chất và vai trò của các công ty xuyên quốc gia
Hình 1 So sánh tính chất của công ty xuyên quốc gia và công ty đa quốc gia (Trang 8)
Hình 3: Tổng giá trị xuất khẩu và đóng góp của các TNCs nước ngoài - bản chất và vai trò của các công ty xuyên quốc gia
Hình 3 Tổng giá trị xuất khẩu và đóng góp của các TNCs nước ngoài (Trang 22)
Hình 5: Mức độ lợi nhuận của các công ty xuyên quốc gia, 1999-2011 - bản chất và vai trò của các công ty xuyên quốc gia
Hình 5 Mức độ lợi nhuận của các công ty xuyên quốc gia, 1999-2011 (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w