Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Những năm gần đây, nhờ những chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân đã được cải thiện một cách rõ rệt
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -oOo -
TRẦN THANH LONG
PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 9.34.02.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2020
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -oOo -
TRẦN THANH LONG
PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 9.34.02.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 PGS TS MAI THANH QUẾ
2 TS PHẠM THỊ HOA
HÀ NỘI, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã nêu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và kết quả của luận án là trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm lời cam đoan trên
Người cam đoan
NCS Trần Thanh Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, lời cảm ơn xin được gửi đến các nhà khoa học và các chuyên gia của Học viện Ngân hàng và đặc biệt là các cấp lãnh đạo cùng các đồng nghiệp tại Học viện Ngân hàng Phân viện Phú Yên đã luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập, nghiên cứu giúp tác giả hoàn thành Luận án tiến sĩ
Lòng chân thành biết ơn xin được gửi đến Khoa Sau đại học cùng các thầy cô tham gia giảng dạy chương trình nghiên cứu sinh Chính những kiến thức, phương pháp nghiên cứu được tiếp thu từ các thầy cô là hành trang quan trọng giúp tác giả thực hiện nghiên cứu
Lời tri ân sâu sắc nhất xin được gửi đến hai nhà khoa học hướng dẫn là PGS.TS Mai Thanh Quế và TS Phạm Thị Hoa đã gắn bó cùng tác giả trong suốt quá trình học tập, công việc và cuộc sống Các định hướng đúng đắn của thầy và cô cùng
sự chỉ bảo tận tình, tâm huyết đã giúp tác giả hoàn thành Luận án
Cuối cùng, xin được gửi tặng kết quả cho cha, mẹ, gia đình thân yêu và các anh, chị, các bạn đã đồng hành cùng tác giả trong quá trình nghiên cứu Chính sự yêu thương, chia sẻ và niềm tin của mọi người là động lực to lớn cho tác giả hoàn thành Luận án
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả Luận án
Trần Thanh Long
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 18
1.1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 18
1.1.1 Khái niệm tổ chức tài chính vi mô 18
1.1.2 Các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô 19
1.1.3 Vai trò của tổ chức tài chính vi mô 21
1.2 TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO 25
1.2.1 Khái niệm người nghèo 25
1.2.2 Tín dụng đối với người nghèo 29
1.2.3 Vai trò của tín dụng đối với người nghèo 33
1.3 PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 35
1.3.1 Khái niệm phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua tổ chức tài chính vi mô 35
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá việc phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô 38
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức TCVM 39
1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TCVM VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 44
1.4.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô 44
1.4.2 Bài học cho Việt Nam đối với việc sử dụng tín dụng vi mô với mục tiêu xóa đói giảm nghèo 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 58
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM 59
2.1 MÔI TRƯỜNG CHO PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM 59
2.1.1 Tình hình đói nghèo tại Việt Nam 59
2.1.2 Khái quát về các tổ chức cấp tín dụng cho người nghèo tại Việt Nam 63
2.1.3 Chính sách của Chính phủ về phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô 71
Trang 62.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG
QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM 75
2.2.1 Sự hình thành và phát triển của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam 75
2.2.2 Các sản phẩm tín dụng của các tổ chức tài chính vi mô dành cho người nghèo 77
2.2.3 Phát triển tín dụng của các tổ chức tài chính vi mô đối với người nghèo 80
2.3 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TCVM TẠI VIỆT NAM 93
2.3.1 Mô hình nghiên cứu 93
2.3.2 Thống kê mô tả về kết quả khảo sát 96
2.3.3 Kết quả hồi quy mô hình 106
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CHO NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM 110
2.4.1 Những thành quả đạt được 110
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 112
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 117
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM118 3.1 ĐỊNH HƯỚNG VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM 118
3.1.1 Định hướng của Nhà nước về phát triển tín dụng đối với người nghèo tại Việt Nam 118
3.1.2 Định hướng của các tổ chức tài chính vi mô về phát triển tín dụng đối với người nghèo tại Việt Nam 121
3.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CHO NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TCVM TẠI VIỆT NAM 124
3.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đối với các tổ chức tài chính vi mô 124
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao khả năng hấp thụ vốn tín dụng của người nghèo 132
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TCVM TẠI VIỆT NAM 137
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 137
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 140
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 145
KẾT LUẬN 146 TÀI LIỆU THAM KHẢO a PHỤ LỤC g
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á Asia Development Bank
2 ATM Máy rút tiền tự động Automated teller machine
5 CGAP Tổ chức Tư vấn và hỗ trợ người nghèo Consultative Group To Assist The Poor
6 CIC Trung tâm thông tin tín dụng Credit Information Center
10 GDP Tổng thu nhập quốc dân Gross domestic product
11 Grameen Bank Ngân hàng Grameen ở Bangladesh
13 IFC Tổ chức Tài chính Quốc tế International Finance Corporation
16 LHPNVN Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
18 MIS Hệ thống quản lý thông tin
19 NGOs Tổ chức phi chính phủ Non-governmental organization
27 QTDND TW Quỹ tín dụng nhân dân trung ương
28 QTDND (PCF) Quỹ tín dụng nhân dân
29 ROA Lợi nhuận trên tổng tài sản Return On Assets
30 ROE Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Return On Equity
31 TCTCVM Tổ chức tài chính vi mô Microfinance Institution
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ
Danh mục bảng
Bảng 1.1: Các tổ chức cung cấp trên thị trường tài chính chính thức 19
Bảng 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo phân chia theo khu vực thành thị - nông thôn 61
Bảng 2.4: Tỷ lệ người nghèo phân chia theo trình độ giáo dục của chủ hộ 64
Bảng 2.6: Các chương trình TCVM thực hiện bởi Hội LHPN Việt Nam và các tổ chức khác 69 Bảng 2.7: Các dấu mốc hình thành khung pháp lý cho TCTCVM 78 Bảng 2.8 Sản phẩm tín dụng vi mô của một số TCTCVM bán chính thức 81 Bảng 2.9: Tổng hợp một số đối tác nhà tài trợ trong các dự án của CEP 85 Bảng 2.10: Tỷ lệ giá trị khoản vay trung bình trên GDP bình quân đầu người của TCTCVM
Bảng 2.14: Bảng thống kê mô tả về trình độ học vấn của người tham gia TCVM và khả năng
thoát nghèo của người vay theo trình độ
99
Bảng 2.15: Bảng thống kê mô tả về quy mô hộ của người vay trong hộ gia đình và khả năng
thoát nghèo của hộ
101
Bảng 2.16: Bảng thống kê mô tả về số người có việc làm trong hộ gia đình người vay và khả
năng thoát nghèo của hộ
101
Bảng 2.17: Bảng thống kê mô tả về tỷ lệ phụ thuộc trong hộ gia đình người vay và khả năng
thoát nghèo của hộ
Bảng 2.21: Mối quan hệ giữa việc tham gia tập huấn từ chương trình TCVM của hộ và khả
năng thoát nghèo
Trang 9Danh mục biểu
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ hộ nghèo có vay hoặc còn nợ các chương trình tín dụng ưu đãi năm 2012 72
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ hộ nghèo có vay hoặc còn nợ các chương trình tín dụng ưu đãi năm 2016 72
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ hộ nghèo có vay hoặc còn nợ các chương trình tín dụng ưu đãi phân theo 5
Biểu đồ 2.5: Tổng số khách hàng đang vay vốn của 04 TCTCVM chính thức 82
Biểu đồ 2.6 Số lượng chi nhánh/PGD của 04 TCTCVM chính thức 83
Biểu đồ 2.7 Số lượng CBTD chuyên trách của 04 TCTCVM chính thức 83
Biểu đồ 2.8 Tỷ lệ tăng trưởng số lượng khách hàng vay vốn bình quân của các TCTCVM bán chính thức giai đoạn 2010 – 2018
83
Biểu đồ 2.9 Số lượng khách hàng vay vốn của các TCTCVM bán chính thức giai đoạn 2010 –
2016
83
Biểu đồ 2.10: Tổng giá trị dư nợ tín dụng của 04 TCTCVM chính thức 85
Biểu đồ 2.11: Tỷ lệ tăng trưởng tổng giá trị dư nợ tín dụng bình quân của các TCTCVM bán
chính thức giai đoạn 2010 – 2018
86
Biểu đồ 2.12: Giá trị dư nợ tín dụng của TCTCVM bán chính thức 86
Biểu đồ 2.13: Tỷ lệ giá trị khoản vay trung bình trên GDP bình quân đầu người của các
TCTCVM chính thức
87
Biểu đồ 2.14: Tỷ lệ PAR (30) của 04 TCTCVM chính thức 89
Biểu đồ 2.15: Tỷ lệ PAR (30) trung bình các TCTCVM bán chính thức giai đoạn 2010 – 2018 90
Biểu đồ 3.1: Sử dụng sản phẩm tài chính của nhóm người trưởng thành trong nhóm 40% có
thu nhập thấp nhất năm 2017
124
Danh mục hình
Hình 1.2: Các chỉ tiêu chính đánh giá sự phát triển hoạt động tín dụng của TCTCVM 37
Hình 2.1: Phân đoạn thị trường tín dụng cho người nghèo Việt Nam 65
Hình 2.2: Khung phân tích tác động của tài chính vi mô đến khả năng thoát nghèo 95
Danh mục hộp
Hộp 2.1: Khái niệm tổ chức tài chính vi mô được cấp phép tại Việt Nam 74
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu Những năm gần đây, nhờ những chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân đã được cải thiện một cách rõ rệt Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt ở khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa… vẫn có đời sống khó khăn, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống Chính vì lẽ đó chương trình xóa đói giảm nghèo là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta Trong các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo đó có một nguyên nhân quan trọng đó là thiếu vốn sản xuất kinh doanh Vì vậy, làm thế nào để người nghèo có thể tiếp cận và sử dụng có hiệu quả vốn vay, chất lượng tín dụng được nâng cao nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nguồn vốn tín dụng, đồng thời giúp người nghèo thoát khỏi cảnh nghèo đói là một vấn đề được cả xã hội quan tâm Trên thực tế, phần lớn người nghèo khu vực nông thôn hiện nay tại Việt Nam vay vốn tại Ngân hàng CSXH Ngân hàng CSXH có ưu thế trong cho vay người nghèo nhờ một phần vào sự bao cấp của ngân sách nhà nước, một hệ thống mạng lưới rộng khắp trên cả nước đã và đang cung cấp tín dụng cho các khách hàng nghèo với mức lãi suất rất thấp Tuy nhiên, đứng trước nhu cầu của người nghèo thì ngân hàng này cũng không đủ nguồn vốn đáp ứng và trong nhiều trường hợp bản thân người nghèo chưa thật sự hấp thụ hiệu quả vốn vay Kết quả là một bộ phận không nhỏ người nghèo chưa tiếp cận được các nguồn tín dụng chính thức mà phải vay từ nguồn phi thức thức với lãi suất cao
Trước thực tế đó, trong thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách ưu đãi trong cho vay người nghèo, mà một trong số đó là cho vay thông qua các
Tổ chức Tài chính vi mô Tài chính vi mô (TCVM) được hiểu là tổ chức cung cấp dịch
vụ tài chính cho những người có thu nhập thấp Tại Việt Nam, năm 1986, Chính phủ Việt Nam quyết định thực hiện chính sách quốc gia về xóa đói giảm nghèo thông qua việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất của người nghèo Bên cạnh đó, với sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) quốc tế; các chương trình hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) song phương và đa phương; các cơ quan đoàn thể và chính quyền địa phương, các chương trình TCVM đã được hình thành với mục đích giảm nghèo cho
Trang 11phụ nữ, trẻ em… Tại kỳ họp thứ 7 (khóa XII) ngày 16/6/2010, Quốc hội đã thông qua Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) Đây là lần đầu tiên loại hình TCVM được khẳng định là một loại hình TCTD trong hệ thống các TCTD của Việt Nam Việc các tổ chức TCVM được hoạt động dưới sự điều chỉnh của Luật Các TCTD là một bước tiến mới, góp phần cùng với các loại TCTD khác phát triển hoạt động trong lĩnh vực TCVM với mục tiêu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam Đến nay, ở Việt Nam có hàng trăm tổ chức cung cấp dịch
vụ TCVM thuộc ba khu vực: Khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức Những tổ chức này ngày càng khẳng định rõ vai trò quan trọng của mình trong phát triển kinh tế - xã hội và công cuộc xóa đói, giảm nghèo nói riêng
Xuất phát từ những vấn đề nói trên, tôi chọn thực hiện đề tài “Phát triển tín
dụng đối với người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam”
nhằm phân tích những khó khăn, vướng mắt trong phát triển tín dụng đối với người nghèo tại Việt Nam trong thời gian qua, nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, cùng với phân tích những đặc điểm riêng như về vấn đề văn hóa, xã hội, địa
lý của người nghèo tại Việt Nam để đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phát triển cho vay người nghèo thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam trong thời gian tới
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
2.1 Đối với tình hình nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới đã có nhiều nhiên cứu về tín dụng dành cho người nghèo Trong
đó có những nghiên cứu trực tiếp về tín dụng và những nghiên cứu về tín dụng như là một bộ phận của dịch vụ tài chính vi mô dành cho người nghèo nói chung Các nghiên cứu cũng đã tập trung vào vai trò của tín dụng đối với người nghèo, về các sản phẩm tín dụng dành cho người nghèo, những đối tượng nào nên được cấp tín dụng và cách thức cấp tín dụng phù hợp với đặc thù của người nghèo
Trước hết, một loạt các nghiên cứu đã chỉ ra những thách thức của người nghèo khi tiếp cận nguồn vốn để phát triển sinh kế Tác giả (Dedhich 2002) nhận định rằng, ở nhiều nước đang phát triển, thị trường vốn vẫn còn ở giai đoạn sơ khai và các ngân hàng thương mại không muốn cho vay đối với người nghèo chủ yếu là do họ thiếu tài sản thế chấp và chi phí giao dịch cao Người nghèo thường vay số tiền tương đối nhỏ
và như vậy việc xử lý và giám sát cho vay đối với họ sẽ gây tốn kém về chi phí hành
Trang 12chính mà có thể không tương xứng với số tiền cho vay Một nghiên cứu của Quỹ Quốc
tế về phát triển nông nghiệp (IFAD) đã xác nhận rằng quy trình vay vốn và thủ tục giấy tờ phức tạp kết hợp với sự thiếu kinh nghiệm kế toán đã hạn chế người nghèo tiếp cận với các nguồn tín dụng chính thức Để cung cấp tín dụng rẻ hơn, nhiều ngân hàng thương mại đã cố gắng để cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo ở khu vực nông thôn bằng cách thực hiện các chương trình tín dụng quy mô lớn bao cấp giữa những năm 1950 và 1970 Mục tiêu của họ là cung cấp một tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp hơn thị trường cho người sản xuất nông nghiệp nhỏ, cho phép họ thúc đẩy đầu tư vào nông nghiệp, do đó làm tăng sản lượng lương thực và, sau đó, kích thích tăng trưởng kinh tế chung (Yaron và Benjamin, 2002) Tuy nhiên, thường là những nỗ lực
đã thất bại, dẫn đến lãng phí và tham nhũng Các chi phí giao dịch cao, gắn kết với các khoản vay nhỏ cũng là một rào cản chính ngăn cản hệ thống ngân hàng truyền thống phục vụ từ các hộ gia đình nông thôn nghèo Giné et al (2010) đã đề cập rằng rủi ro đạo đức và lựa chọn bất lợi, cùng với kích thước giao dịch nhỏ, cùng nhau hạn chế các khả năng cho ngân hàng khi cho vay đối với nghèo
Trước những khó khăn của việc các ngân hàng cho vay đối với người nghèo, tín dụng vi mô nói riêng và các tổ chức TCVM nói chung đã xuất hiện để giải quyết các khó khăn đó Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra thành công của TCVM trong công tác hỗ trợ xóa đói giảm nghèo trên phạm vi thế giới Tác giả Buckley (2007) khẳng định rằng sự xuất hiện của tín dụng vi mô như một thay thế cho các ngân hàng thông thường trong việc hoàn thành mục tiêu xóa đói giảm nghèo đã được công nhận trên toàn thế giới
Nguồn tín dụng này đã trở thành một công cụ quan trọng của sự phát triển và là các giải pháp thiết thực và thích hợp nhất trước những thách thức sâu xa của nghèo đói Các mục tiêu phát triển của tín dụng vi mô có thể bao gồm: thúc đẩy sinh kế, phát triển kinh tế địa phương, trao quyền cho phụ nữ, và tạo ra thay đổi rộng lớn hơn của các tổ chức trong xã hội
Các phân tích trong bài báo “The Impact of Micro-credit on Poverty: Evidence from Bangladesh” của M Jahangir Alam Chowdhury (2002) cho thấy tín dụng vi mô giảm nghèo vĩnh viễn là một tác động lâu dài, nó không phải là một khoản tài trợ ngắn hạn Mục đích của nó là để dẫn đến sự tăng bền vững trong khả năng của gia đình để tạo ra sự giàu có Phân tích được trình bày trong bài viết này cung cấp một số bằng chứng cho thấy tác động của tín dụng vi mô trên nghèo là đặc biệt mạnh mẽ trong
Trang 13khoảng sáu năm với một số chững lại sau đó Nghiên cứu của Klein (2008) cũng cho
ra một kết luận tương tự về tác động theo thời gian của tài chính vi mô Ông tìm thấy rằng cần có một thời gian tương đối dài thì những tác động tích cực của tài chính vi
mô được bộc lộ rõ nhất Theo ông, việc tiếp cận tài chính cho người nghèo giúp cải thiện tổng thể sức khỏe của các hộ gia đình và làm giảm sự bất bình đẳng về thu nhập Beck, Demirguc-Kunt, và Levine (2005) báo cáo kết quả tương tự và cho rằng phát triển tài chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhanh hơn và do đó, làm giảm nghèo Beck
et al (2005) cũng cho thấy tăng cường tiếp cận tài chính có liên quan đến tốc độ tăng trưởng thu nhập nhanh hơn cho người nghèo, thu hẹp nhanh chóng của khoảng cách giàu nghèo, và giảm nhanh tỷ lệ nghèo Barr et al (2007) đã chỉ ra những lợi ích xã hội để tăng cường tiếp cận tài chính cho người nghèo như tín dụng, tiết kiệm, rủi ro quản lý và thanh toán dịch vụ, tất cả đều góp phần hạ thấp tỷ lệ nghèo Nathanael Goldberg (2005) cũng cho rằng tài chính vi mô làm giảm nghèo thông qua việc nâng cao thu nhập và cuộc sống Điều này sẽ dẫn đến tình trạng dinh dưỡng và giáo dục của trẻ em của khách hàng vay được cải thiện
Nghiên cứu về tài chính vi mô trong việc giảm nghèo tại Bangladesh, Ullah Mazumder, Lu Wencong (2013) cho rằng chương trình tín dụng vi mô giúp cải thiện tình trạng kinh tế - xã hội của phụ nữ nông thôn ở Bangladesh Theo đó, nó làm cải thiện tình trạng kinh tế của người nhận tín dụng và cũng làm tăng trang trại và tài sản gia đình Đa số những người được hỏi đã trả lời là xuất hiện sư thay đổi tình trạng nghèo đói của họ bằng cách sử dụng đúng các khoản tín dụng nhận được Điều này ngụ ý rằng có một mối quan hệ tích cực giữa giảm nghèo và tiếp cận với tín dụng vi
mô Nichols (2004) đã nghiên cứu về các tác động của TCVM đến cuộc sống của người nghèo ở nông thôn Trung Quốc Nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra thực tế tại huyện nghèo, có chương trình tín dụng vi mô đã hoạt động trong 7 năm Nghiên cứu cho thấy rằng, tham gia chương trình có tác động tích cực đến cuộc sống của khách hàng vay, đặc biệt về an ninh kinh tế, người dân cảm thấy tự tin vào bản thân và nâng cao khả năng quản lý tài chính của chính họ Nghiên cứu cho thấy thu nhập của người vay vốn tăng hơn ba lần so với những người không vay vốn từ chương trình TCVM và những người đi vay là người nghèo nhất thì tốc độ tăng của thu nhập nhanh hơn những người vay có điều kiện tương đối Rukiye (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của các chương trình TCVM đến mức thu nhập của các thành viên tham gia
Trang 14Đây là một trong số ít các nghiên cứu về TCVM tại Thổ Nhĩ Kỳ Với số quan sát là 2.036, kết quả nghiên cứu cho thấy, TCVM là một giải pháp hiệu quả của công tác xóa đói giảm nghèo Tuy vậy, nghiên cứu cho biết, không phải tất cả những người tham gia TCVM đều hướng đến hoạt động tạo ra thu nhập mà trong một số trường hợp họ dùng TCVM như một nhu cầu bình thường về vốn mà thôi Tại Mỹ và Canada, tài chính vi mô được cho rằng đã góp phần hỗ trợ cho người nghèo thông qua những khoản tín dụng nhỏ và giúp họ có thể nhận tốt nghiệp từ các chương trình phúc lợi xã hội Alterna (2010) nói tín dụng vi mô ở Mỹ đã hỗ trợ tích cực cho các chủ doanh nghiệp nhỏ, giúp họ gia tăng thu nhập
Bên cạnh đó, rất nhiều nghiên cứu cũng đã tìm hiểu những nguyên nhân thành công và những yếu tố cản trở hoạt động cung cấp tín dụng cho người nghèo thông qua các tổ chức TCVM Tác giả Akpabio (2005) cho rằng tín dụng vi mô hoạt động ở khu vực nông thôn đã dẫn đến sự nảy mầm của các doanh nghiệp quy mô nhỏ nhờ khả năng tiếp cận nguồn tài chính Điều này tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tư nhân bị hạn chế về tiềm lực tài chính tham gia tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế nông thôn Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua tín dụng vi mô đã giúp xóa đói giảm nghèo ở nông thôn (Schwetman 2009) Điều này đã trao quyền đáng kể người dân nông thôn tham gia vào các nỗ lực để cải thiện đời sống kinh tế xã hội của
họ Theo Ndubi (2008) chương trình tín dụng vi mô khuyến khích tự tạo việc làm thông qua sự phát triển của các doanh nghiệp quy mô nhỏ tại các cộng đồng nông thôn Như vậy doanh nghiệp cũng đóng vai trò là nguồn chính của sự hình thành vốn thông qua việc huy động và tạo ra kênh tiết kiệm tư nhân Các doanh nghiệp quy mô nhỏ hấp thụ một nguồn cung cấp lao động vẫn đang phát triển nhanh chóng ở khu vực nông thôn, do đó cho vay vi mô là một chiến lược kinh tế cho việc tự tạo việc làm của người nghèo ở nông thôn
Để giải thích sự thành công của tài chính vi mô trong việc cung cấp tín dụng cho người nghèo, một số lượng lớn các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng các hợp đồng cho vay đối với người nghèo thông qua nhóm bảo lãnh đã góp phần giải quyết các vấn đề thông tin bất cân xứng trên thị trường tín dụng Hình thức này cho phép người cho vay khắc phục những hạn chế của sự lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại của khách hàng và do đó giúp duy trì tỷ lệ trả nợ cao Theo Kono và Takahashi (2010), trong các chương trình cho vay nhóm điển hình: (a) mỗi thành viên phải liên đới chịu
Trang 15trách nhiệm về khoản vay của nhau, (b) nếu bất kỳ thành viên không trả được, tất cả các thành viên đều bị trừng phạt (thường ở dạng bị từ chối tiếp cận tín dụng trong tương lai), và (c) người vay tiềm năng được yêu cầu tự lựa chọn và thành lập các nhóm Mô hình cho vay nhóm đã thu hút một số lượng lớn sự chú ý của công chúng và giới học thuật chủ yếu sau sự thành công của chương trình cho vay nhóm của Ngân hàng Grameen
Tác giả Zeller (1998) sử dụng thông tin trên 168 nhóm tín dụng ở Madagascar
và cho thấy rằng nhóm hiệu quả sẽ tạo ra cơ chế bảo hiểm, sàng lọc và chi phí giám sát
từ các ngân hàng cho khách hàng vay, cung cấp một cách hiệu quả cho các tổ chức TCVM để vượt qua lựa chọn bất lợi, rủi ro đạo đức, và các vấn đề thực thi, dẫn đến một hiệu năng trả nợ tốt hơn Trong nghiên cứu của mình, Wenner (1995) sử dụng thông tin về 25 nhóm tín dụng Costa Rica và cho thấy rằng cơ chế cho vay nhóm sử dụng thông tin cá nhân để lựa chọn các thành viên nhóm và chính cơ chế lựa chọn này làm tăng hiệu năng trả nợ của nhóm
Ngoài ra, nghiên cứu của Stiglitz (1990) đã chỉ ra trách nhiệm liên đới trong việc cho vay nhóm có thể làm giảm các vấn đề rủi ro đạo đức bằng cách tăng ưu đãi với khách hàng vay để giám sát lẫn nhau và sau đó để trả nợ Những nghiên cứu này kết luận rằng trách nhiệm liên đới có thể tạo ra sự giám sát lẫn nhau trong một nhóm,
do đó làm giảm các vấn đề rủi ro đạo đức Tuy nhiên, Kono và Takahashi (2010) cho rằng cho vay nhóm làm chỉ giảm bớt các vấn đề rủi ro đạo đức chỉ khi nhóm có thể phối hợp các quyết định của các thành viên và đạt được tỉ lệ hoàn trả cao hơn chỉ khi lợi nhuận của thành viên là đủ cao Theo Besley và Coate (1995), Karlan (2007), rủi ro đạo đức còn có thể được giảm còn bằng biện pháp trừng phạt đối với các thành viên mất khả năng trả nợ của nhóm Ví dụ, Besley và Coate (1995) xây dựng một mô hình
để so sánh hiệu suất giữa cho vay nhóm có và không có sử dụng các biện pháp chế tài
xã hội và cho rằng chế tài xã hội có thể cải thiện tỷ lệ trả nợ trong cho vay nhóm
Tác giả Armendáriz và Morduch (2005) lập luận rằng bí mật của tỷ lệ trả nợ cao
có quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng các hợp đồng cho vay theo nhóm Tuy nhiên, cho vay theo nhóm trong thực tế gặp phải một số nhược điểm như hiệu ứng domino, hoặc nguy cơ lây lan nếu một trong các thành viên là không thể đáp ứng hoàn trả (Armendáriz và Morduch, 2000; Churchill, 1999) Điều này làm phát sinh một câu hỏi rất quan trọng: khi tổ chức TCVM không gắn với cơ chế cho vay dựa vào trách nhiệm
Trang 16liên đới của nhóm và chỉ cung cấp các khoản vay cá nhân, thì cách tổ chức TCVM quản lý rủi ro tín dụng của họ như thế nào? Trong phân tích của Armendáriz và Morduch (2000) đã nêu bật một số cơ chế quan trọng cho phép tổ chức TCVM tạo ra
tỷ lệ hoàn trả cao từ khách hàng vay là người nghèo mà không đòi hỏi tài sản thế chấp
và không sử dụng các hợp đồng cho vay theo nhóm Những cơ chế này bao gồm việc
sử dụng các mối đe dọa không cho vay lại, lịch trình trả nợ thường xuyên, thay thế tài sản thế chấp, và cung cấp dịch vụ phi tài chính
2.2 Đối với tình hình nghiên cứu trong nước
Đối với hoạt động của các TCTCVM, một số lượng lớn các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu tập trung đánh giá hiệu quả hoạt động của các loại hình TCTCVM Nghiên cứu của Nguyễn Kim Anh & cộng sự (2016) cũng đã đề cập tới hiệu quả tài chính khi đánh giá quá trình chuyển đổi tổ chức TCVM tại Việt Nam theo các tiêu chí: ROA, ROE, năng suất lao động (số khách hàng vay trên 1 cán bộ tín dụng) và hiệu suất (tỷ lệ chi phí hoạt động và lợi tức trung bình trên tổng dư nợ) Nguyễn Đức Hải (2012) đã đánh giá sự phát triển hoạt động TCVM Việt Nam trên 4 nhóm chỉ tiêu: tiếp cận, tính bền vững, khả năng sinh lời và xã hội Phạm Bích Liên (2016) đã đánh giá sự phát triển hoạt động TCVM của các tổ chức tín dụng dựa trên chỉ số tiếp cận (độ rộng tiếp cận và độ sâu tiếp cận) và chỉ số tự vững tài chính (tự vững hoạt động, tự vững tài chính, ROA, ROE, nợ quá hạn và nợ xấu) Tương tự, Nguyễn Quỳnh Phương (2017)
đã đánh giá sự phát triển hoạt động của các tổ chức TCVM Việt Nam ở cả khu vực chính thức và bán chính thức trong giai đoạn 2010-2015 trên khía cạnh tiếp cận (cả độ
rộng, độ sâu và độ dài tiếp cận) và sự bền vững (bền vững hoạt động, ROA và ROE)
Bên cạnh đó, các nghiên cứu tại Việt Nam cũng tập trung đánh giá khả năng tiếp cận vốn của người nghèo thông qua các kênh tín dụng chính sách, mà một trong
số đó là các TCTCVM Nghiên cứu của tác giả Lê Văn Luyện (2015) cho rằng: thị trường TCVM tại Việt Nam còn mang nặng tính bao cấp nên đã xảy ra vấn đề vốn ngân sách lấn át hoạt động của các Tổ chức TCVM bán chính thức Thị trường TCVM Việt Nam hiện do Ngân hàng CSXH chiếm ưu thế nhờ một phần vào sự bao cấp của ngân sách nhà nước, tổ chức này có một hệ thống mạng lưới rộng khắp trên cả nước và đang cung cấp tín dụng cho các khách hàng nghèo tương tự như khách hàng mà các tổ chức TCVM đang hướng tới, nhưng với mức lãi suất rất thấp Điều này cản trở sự phát triển, mở rộng của các tổ chức TCVM bán chính thức Trong thời gian qua tổ chức
Trang 17TCVM bán chính thức chủ yếu nhắm tới đối tượng khách hàng mà Ngân hàng CSXH không có khả năng đáp ứng về vốn, đồng thời thu hút khách hàng bằng cách cung cấp sản phẩm dịch vụ đa dạng Ngoài cho vay, TCVM bán chính thức còn cung cấp các dịch vụ tiết kiệm, dịch vụ phi tài chính cho khách hàng Nhưng điều này lại càng làm tăng chi phí vốn vay cho khách hàng nghèo cao hơn nhiều so với Ngân hàng CSXH Bản thân Ngân hàng CSXH cũng gặp khó khăn trong việc xác định đâu là đối tượng nghèo thực sự và cần vay vốn ưu đãi của Chính phủ, cùng với sự quá tài trong hoạt động của Ngân hàng CSXH đã khiến cho việc cấp tín dụng cho người nghèo chưa đạt hiệu quả vững chắc Lê Văn Luyện (2015) cũng đã khuyến nghị rằng: Để hoạt động cấp tín dụng cho người nghèo phát triển có hiệu quả, Chính phủ cần tạo lập cơ chế bán vốn từ Ngân hàng CSXH và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho các
tổ chức TCVM nhằm tăng cường khả năng tiếp cận khách hàng Bên cạnh đó, thay vì tập trung vào việc cấp tín dụng trực tiếp cho người nghèo thông qua nhiều chương trình như hiện nay, tín dụng có thể cấp gián tiếp cho các doanh nghiệp địa phương sử dụng nhiều lao động., hoặc đi vào các công trình thủy lợi, trường học, trạm xá, chợ… nhằm vừa tạo việc làm vừa cải thiện đời sống tinh thần cho người nghèo, giúp người
nghèo thoát nghèo một cách bền vững
Các nghiên cứu của ADB (2003), Oxfam (1999), Oxfam và ActionAid (2008)
và Ngân hàng thế giới (2009) đã chỉ ra một số yếu tố chính của nền kinh tế Việt Nam
đã được cải thiện Trong các yếu tố này, mức độ tiếp cận với tín dụng thông qua NHCSXH và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã được cải thiện đáng
kể Dù vậy, Ngân hàng thế giới (2012) cũng vẫn nhấn mạnh là Việt Nam chưa có chương trình cụ thể nào tỏ ra là hiệu quả tối ưu trong giảm nghèo Thay vào đó, chỉ có
sự giao thoa và kết hợp của nhiều chương trình như chương trình cấp tín dụng lãi suất thấp, đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà ở… cũng như vai trò của các tổ hợp tác nông dân Chính vì vậy, việc gắn tín dụng người nghèo với xây dựng nông thôn mới là một quyết định phù hợp với hiện trạng nghèo và mục tiêu phát triển khu vực nông thôn theo hướng hiện đại của Việt Nam
Đối với các nghiên cứu về tín dụng vi mô phục vụ xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Kiên Cường (2013), Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2010, 2014) đã đề cập tới vai trò của tài chính vi mô (TCVM) trong việc hỗ trợ xóa đói giảm nghèo Với đặc điểm là các khoản vay nhỏ, đối tượng trọng tâm phục vụ người nghèo,
Trang 18đáp ứng từng cá nhân hay nhóm khách hàng tham gia, TCVM đã có tác động tích cực cải thiện chất lượng cuộc sống của hộ nghèo Tuy nhiên, hạn chế của TCVM là nguồn lực TCVM của Nhà nước có giới hạn, trong khi nhu cầu của người nghèo ngày càng cao và đa dạng, khu vực tài chính phi chính thức hoạt động tự phát, khó kiểm soát, nguồn nội lực của các tổ chức TCVM còn yếu… Nguyễn Đức Hải (2015) đã chỉ ra rằng sự thiếu vắng cơ chế tài chính, hành lang pháp lý đã khiến các tổ chức TCVM ở
cả khu vực chính thức và bán chính thức khó phát triển
Trong nghiên cứu “Tài chính vi mô tại Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị chính sách”, Nguyễn Kim Anh và các cộng sự (2014) đã nhận định rằng: Các số liệu cho thấy, tỷ lệ khách hàng có tài khoản tại một định chế tài chính chính thức kể cả ở khu vực nông thôn hay thành thị tại Việt Nam đều thấp hơn các quốc gia khác trong khu vực Đông Á – Thái Bình Dương và các quốc gia thu nhập cận trung bình Do vậy, đòi hỏi thực tiễn về phát triển ngành TCVM để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của các khách hàng khác nhau, đặc biệt là các khách hàng thu nhập thấp, trình độ văn hóa thấp, ở khu vực nông thôn hoặc các vùng sâu vùng xa khó tiếp cận trở nên hết sức cấp thiết Thực tế cho thấy, dịch vụ và sản phẩm TCVM được đánh giá là phù hợp với khả năng và nhu cầu của người nghèo/người có thu nhập thấp TCVM là hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính (như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, ) cho đối tượng nghèo và thu nhập thấp, đồng thời cung cấp các dịch vụ tư vấn, đào tạo để giúp cho người nghèo
có đủ năng lực khởi sự hoạt động kinh doanh, vươn lên làm chủ hoàn cảnh, cải thiện cuộc sống, thoát khỏi cảnh đói nghèo một cách bền vững Người nghèo cũng cần có những công cụ tài chính để tích lũy tài sản, bình ổn tiêu dùng và tự bảo vệ mình trước rủi ro
Nếu xét riêng tín dụng vi mô, số lượng khách hàng và giá trị dư nợ (từ 30 triệu đồng trở xuống) vẫn duy trì đà tăng trưởng qua các năm Một số TCTVVM chính thức như: TYM, M7-MFI, Tổ chức TCVM Thanh Hóa hiện đang cung cấp các sản phẩm cho vay vi mô dưới hai hình thức: cho vay theo nhóm hoặc cá nhân độc lập, với thời hạn cho vay ngắn hoặc trung hạn Trong đó, cho vay theo nhóm hiện đang chiếm ưu thế (do lịch sử hoạt động từ trước), cụm/nhóm trưởng là những người có uy tín tại các
tổ chức đoàn thể/tổ chức chính trị – xã hội Tại Việt Nam hiện nay, số lượng các loại sản phẩm tín dụng đã bắt đầu phong phú và đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các đối tượng khách hàng nghèo, cận nghèo khác nhau Các TCTCVM bán chính thức đang
Trang 19triển khai nhiều loại sản phẩm tín dụng, như: tín dụng cho lao động nghèo phát triển kinh tế, tín dụng cho người tàn tật, các đối tượng yếu thế trong xã hội tạo lập mô hình sinh kế, tín dụng cho người nghèo sửa chữa nhà cửa, tín dụng cho các hộ gia đình sống trong vùng ô nhiễm, cải thiện môi trường sống,…
Ngoài các sản phẩm tín dụng phát vay bằng tiền mặt thì các TCTCVM có thêm nhiều sản phẩm tín dụng phát vay bằng hiện vật như giống vật nuôi (bò, gà, lợn…), các nguyên vật liệu (xi măng, gạch, ngói, thức ăn gia súc, …) Tuy nhiên về cơ bản thì sản phẩm dịch vụ còn kém đa dạng, chất lượng dịch vụ chưa thực sự cao Các sản phẩm dịch vụ hầu như tập trung vào cho vay vi mô, với một vài sản phẩm ngắn hoặc trung hạn, mục đích sử dụng chủ yếu cho sản xuất, kinh doanh nhỏ, lẻ Nhiều sản phẩm không được thiết kế dựa trên nhu cầu và quan điểm kinh doanh, mà chủ yếu kế thừa các dự án tài trợ Một vài tổ chức có đa dạng hoá sản phẩm cho vay tiêu dùng nhưng ở mức độ thử nghiệm
Nghiên cứu của nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng: Cách thức trả dần các khoản vay được chứng minh là rất phù hợp với điều kiện, khả năng của khách hàng TCVM Đặc tính này của sản phẩm khiến các TCTCVM tốn nhiều chi phí và nguồn lực thu nợ hơn
so với các TCTD khác, nhưng xét về phương diện khách hàng nghèo, người thu nhập thấp thì gánh nặng trả nợ được “dàn trải” thành những khoản nhỏ, không gây áp lực như phương thức trả nợ cuối kỳ, qua đó dẫn tới khả năng hoàn trả nợ tốt, tỷ lệ nợ xấu của các TCTCVM luôn được duy trì ở mức thấp
Bên cạnh đó đã có nhiều nghiên cứu về tác động của tín dụng vi mô đối với từng nhóm khách hàng cụ thể trong công tác xóa đói giảm nghèo
Nguyễn Kim Anh, Ngô Văn Thứ, Lê Thanh Tâm, Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011) nghiên cứu về tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam dựa trên số liệu từ
971 khách hàng tài chính vi mô tại 2 tỉnh Tiền Giang và Hải Dương Một số kết quả nghiên cứu được tìm thấy: (1) Tình trạng nhà ở, nhà vệ sinh, nước sinh hoạt đều có những thay đổi tích cực sau khi các hộ gia đình tiếp cận được vốn vay, (2) hầu hết các
hộ gia đình đều đánh giá cao về các lợi ích xã hội do tài chính vi mô mang lại, (3) So sánh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ TCVM, tỷ lệ khách hàng có lợi ích về đào tạo, hướng dẫn và các lợi ích xã hội là cao nhất đối với khách hàng TCTCVM (trên 37%)
Từ những kết quả được tìm thấy, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cường sự phát triển của các TCTCVM tại Việt Nam Tuy nghiên, nghiên
Trang 20cứu này còn hạn chế khi quy mô nghiên cứu chỉ thực hiện tại 2 tỉnh, thời gian nghiên cứu chưa đủ dài, không có số liệu điều tra cơ sở và không có nhóm đối chứng, việc phân tích tác động chủ tập trung ở mức so sánh giữa các tổ chức
Trong nghiên cứu “Nhu cầu của Phụ nữ Nghèo Khu vực Nông thôn Việt nam với các Dịch vụ Tài chính Quản lý rủi ro”, các tác giả đã chỉ ra rằng: Vay mượn là một trong những biện pháp phổ biến để đối phó với rủi ro và các áp lực kinh tế 82% đối tượng không phải là khách hàng được phỏng vấn cho biết họ cũng đã từng nợ nần Gần một nửa số vốn vay (44%) được sử dụng cho các mục đích sản xuất Vốn vay cũng được sử dụng cho các mục đích tiêu dùng khác ví dụ như sắm Tết (10%), để thanh toán các chi phí liên quan đến sức khoẻ (9%), giáo dục (8%), xây dựng, sửa sang nhà cửa (8%) và cho thực phẩm như mua gạo (7%) Các nguồn vay là từ họ hàng và bạn bè, vay từ người cho vay nặng lãi, từ tổ chức TCVM, Ngân hàng NNPTNT và từ Ngân hàng chính sách xã hội
Vay từ tổ chức TCVM là một biện pháp thông dụng đối với các mẫu điều tra Nhưng hầu hết vốn vay của tổ chức TCVM là dành cho kinh doanh và theo định nghĩa không được sử dụng cho mục đích tiêu dùng Người vay vốn kinh doanh không thể vay tiếp một món vay cho kinh doanh lần hai nếu người đó chưa trả hết lần vay thứ nhất Vì vậy, đây không thể xem là một biện pháp đối phó với rủi ro tốt Trên thực tế, mọi người thường vay từ bạn bè/họ hàng hay người cho vay nặng lãi trong trường hợp cấp bách, và sau đó dùng tiền vay được từ tổ chức TCVM để trả nợ Vay từ ngân hàng chính thức không được xem là biện pháp thông dụng để đối phó với trường hợp khẩn cấp Những người được phỏng vấn phàn nàn về thời gian chờ đợi dài
Nhóm tác giả cũng đã đưa ra các khuyến nghị để cho vay phụ nữ nghèo ở nông thôn là: Phụ nữ nông thôn cần tiền cho rất nhiều mục đích chứ không chỉ để đầu tư vào kinh doanh Để đáp ứng những nhu cầu của khách hàng tốt hơn, các tổ chức TCVM nên xem xét đa dạng hoá danh mục vốn vay bằng cách đưa thêm loại vốn vay với mục đích phi kinh doanh vào danh sách sản phẩm của mình Vốn vay khẩn cấp có thể đáp ứng yêu cầu vay ngay lập tức khi cần là một giải pháp Sản phẩm đó có thể giúp phụ
nữ nghèo tránh phải dùng đến những biện pháp tiêu cực ảnh hưởng đến công việc kinh doanh và đời sống
Trong nghiên cứu “Đánh giá tác động các chính sách giảm nghèo của thành phố
Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 – 2013”, Phan Đức Tùng và các cộng sự đã chỉ ra rằng:
Trang 21So sánh giữa mục đích sử dụng các khoản vay chính thức và phi chính thức cho thấy các hộ nghèo/cận nghèo có thể dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng từ các nguồn chính thức
để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh Trung bình có 41,0% các khoản vay của hộ nghèo/cận nghèo từ nguồn tín dụng chính thức là để sản xuất kinh doanh Trong khi đó chỉ có 16,2% các khoản vay từ nguồn tín dụng phi chính thức là phục vụ cho mục đích này Tuy nhiên khả năng tiếp cận tín dụng cho các mục đích như tiêu dùng và chữa bệnh của hộ nghèo/cận nghèo từ nguồn hỗ trợ của Chương trình giảm nghèo hạn chế hơn Các hộ nghèo/cận nghèo thường phải vay vốn từ các nguồn phi chính thức để giải quyết vấn đề tiêu dùng và chữa bệnh Có 41,3% và 15,6% các khoản vay từ nguồn phi chính thức là phục vụ cho mục đích tiêu dùng và chữa bệnh, trong khi những con số này từ nguồn tín dụng chính thức thấp hơn nhiều (22,1% cho tiêu dùng và 4,0% cho chữa bệnh)
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã xem xét tác động của chính sách tín dụng ưu đãi của thành phố Hồ Chí Minh bằng hồi quy biến thu nhập bình quân và các biến phúc lợi của hộ lên biến vay tín dụng ưu đãi của hộ Mặc dù nghiên cứu định lượng không cho thấy tác động rõ rệt của chính sách tín dụng ưu đãi, nhưng thảo luận nhóm với các nhóm hộ nghèo/cận nghèo thành phố cũng đã một phần cho thấy tác động của các chính sách hỗ trợ tín dụng trong việc giúp hộ đa dạng hóa sinh kế và cải thiện thu nhập Nhiều hộ đã được vay vốn từ các chương trình tín dụng để tham gia buôn bán hoặc sản xuất nhỏ Tuy nhiên, các hộ cũng cho biết sinh kế buôn bán, sản xuất nhỏ dù có giúp hộ cải thiện thu nhập nhưng không bền vững, thu nhập từ buôn bán sản xuất nhỏ không đều
Bên cạnh phương pháp định tính truyền thống, một số nghiên cứu cũng đã áp dụng phương pháp định lượng để đánh giá tác động của tín dụng vi mô đối với khả năng thoát nghèo
Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự (2005) đã thu thập số liệu từ
640 hộ nông dân ở Ninh Thuận và 619 hộ nông dân ở Bình Phước làm nguồn số liệu chính cho đề tài Các số liệu được phân tích dựa trên mô hình kinh tế lượng, với hàm hồi quy Logistic Biến phụ thuộc là chi tiêu bình quân/người, các biến giải thích là: việc làm, dân tộc thiểu số, diện tích đất canh tác, được vay vốn là những biến số có ý nghĩa thống kê để giải thích nguyên nhân ảnh hưởng tới nghèo đói của hộ nông dân Khi các yếu tố khác không thay đổi, với xác suất nghèo của một hộ gia đình là 30% ở
Trang 22Ninh Thuận cho thấy nếu hộ này được vay vốn tín dụng chính thức thì xác suất nghèo của hộ sẽ giảm xuống 20,7%; ở Bình Phước, cho thấy nếu hộ này được vay vốn tín dụng chính thức thì xác suất nghèo của hộ sẽ giảm xuống 29%
Lê Việt Phương (2012) nghiên cứu về tác động của TCVM đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình nghèo tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả khảo sát 250 mẫu ngẫu nhiên đại diện cho những hộ nghèo tham gia TCVM trên phạm
vi toàn huyện Bình Chánh Các biến trình độ học vấn, có việc làm, số tiền vay vốn, tập huấn, tương quan ý nghĩa với biến tình trạnh nghèo với mức ý nghĩa 1%, và mục đích
sử dụng vốn vay với mức ý nghĩa 5%; biến giới tính của chủ hộ và quy mô hộ không
có ý nghĩa thống kê Kết quả nghiên cứu đã cho thấy 2 nhóm nhân tố có tác động tích cực đến khả năng thoát nghèo của hộ đó là nhóm nhân tố thuộc bản thân hộ gia đình nghèo (trình độ học vấn và số người có việc làm trong hộ) và nhóm nhân tố thứ 2, nhóm nhân tố TCVM, cũng góp phần không nhỏ cho việc thoát nghèo của hộ (tổng số tiền vay, số lần tham gia tập huấn từ chương trình TCVM, mục đích sử dụng vốn)
Kết quả nghiên cứu “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay: Trường hợp của hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng”, Bùi Văn Trịnh và cộng sự (2014) cho thấy: hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo phụ thuộc vào các yếu tố sau: lượng vốn vay, kỳ hạn, lãi suất, rủi ro, hướng dẫn sau khi vay, diện tích đất, tỷ trọng vốn sử dụng cho sản xuất và số lao động trong đó có 5 yếu tố có mối tương quan thuận là: lượng vốn vay, hướng dẫn sau khi vay, diện tích đất, tỷ trọng vốn sử dụng cho sản xuất và số lao động Ngược lại thì các yếu tố: kỳ hạn, lãi suất và rủi ro có mối tương quan nghịch (-) với hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo
Trong nghiên cứu “Áp dụng mô hình Multinominal Logit đánh giá tác động của các nhân tố tới khả năng nghèo, thoát nghèo và tái nghèo của hộ gia đình Việt Nam”, Tác giả Trần thị Xuyến (2015) đã kết luận rằng: tín dụng ưu đãi có tác dụng tích cực tới giảm tỷ lệ tái nghèo và tăng tỷ lệ thoát nghèo Vậy tăng cường chính sách tín dụng
ưu đãi về lãi suất, về khoản vay và mức độ tiếp cận dễ dàng là chính sách quan trọng giúp người nghèo có cơ hội có vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp thoát nghèo bền vững
Trang 232.3 Khoảng trống nghiên cứu và tính kế thừa
Qua tổng quan các nghiên cứu cho thấy bên cạnh những điểm mạnh trong
nghiên cứu về cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, những
nghiên cứu trước còn có các giới hạn như:
Thời gian nghiên cứu thực tiễn của một số nghiên cứu trước chưa đủ dài và
mới, số lượng tổ chức lựa chọn nghiên cứu ít, không mang tính đại diện
Các nghiên cứu trước đây chỉ phân tích hoạt động về TCVM tại các tổ chức tài chính nông thôn, và của NHTM Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động TCVM của trường hợp điển hình là NHTMCP Bưu điện Liên Việt, chưa tập trung phân tích hoạt động
TCVM của chính các TCTCVM chính thức và bán chính thức
Một số nghiên cứu phân tích hoạt động của TCTCVM nhưng số liệu không cập nhật đến năm 2018, số liệu rời rạc không theo chuỗi Các kết luận nghiên cứu của những công trình này không còn hoàn toàn phù hợp với thực tế hiện nay do bối cảnh
hoạt động của TCTVM (yếu tố bên trong và bên ngoài) đã thay đổi
Chưa có nghiên cứu nào đề cập đầy đủ các cơ sở lý luận về việc phát triển tín dụng cho đối tượng người nghèo của hệ thống các TCTCVM (chính thức và bán chính thức), tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động tín dụng
người nghèo của các TCTCVM;
Như vậy, qua những phân tích trên đây chúng ta có thể thấy được những nghiên cứu trong nước đa phần tập trung nghiên cứu về tín dụng cho người nghèo của hệ thống Ngân hàng CSXH Việt Nam, và một số ít nghiên cứu về hệ thống các tổ chức TCVM Các nghiên cứu chủ yếu chú trọng vào các giải pháp cho vay người nghèo theo hướng ưu đãi, trợ cấp Do đó việc phát triển tín dụng cho người nghèo về lâu dài
sẽ thiếu tính bền vững Điều này đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu mang tính hệ thống hóa cao, tập trung chuyên sâu vào các vấn đề cho vay người nghèo tại Việt Nam theo hướng thị trường, xem người nghèo là một đối tượng khách hàng thật sự của Tài chính vi mô chứ không phải chỉ là đối tượng được trợ cấp Nghiên cứu vận dụng đa dạng các mô hình cho vay vi mô từ kinh nghiệm quốc tế vào thực tế của người nghèo tại Việt Nam, phù hợp với văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế, pháp lý của Việt Nam
Trong quá trình thực hiện đề tài luận án, tác giả luận án đã kế thừa các giá trị khoa học từ các nhà khoa học trong và ngoài nước như sau:
Trang 24- Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ TDVM của các TCTCVM thông qua sự phát triển bền vững và mức độ tiếp cận
- Xây dựng khung phân tích về sự phát triển hoạt động tín dụng vi mô của các TCTCVM tại Việt Nam dựa trên các nghiên cứu quốc tế và kinh nghiệm thực hiện phân tích của các tác giả tại nhiều quốc gia
- Vận dụng kinh nghiệm phát triển hoạt động tín dụng vi mô của các TCTCVM ở các nước để đưa ra các giải pháp hợp lý cho việc phát triển hoạt động của các TCTCVM tại Việt Nam
Trên cơ sở khoảng trống nghiên cứu và các nội dung kế thừa nêu trên, luận án hướng tới giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Cơ sở của mối quan hệ giữa tín dụng vi mô và khả năng cải thiện thu nhập của người nghèo là gì?
- Thực trạng hoạt động tín dụng của các TCTCVM và tín dụng vi mô có ảnh hưởng như thế nào đến quá trình thoát nghèo của hộ gia đình?
- Cần có những giải pháp gì từ cả phía cung và cầu để cải thiện hiệu quả xóa đói giảm nghèo của tín dụng vi mô?
Trong phạm vi luận án này, các câu hỏi nghiên cứu trên sẽ được trả lời dựa trên các cơ sở khoa học chặt chẽ cùng với các dữ liệu thực tế về hoạt động tín dụng cho người nghèo của các TCTCVM tại Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Về khía cạnh lý luận
- Làm rõ cơ sở lý luận về phát triển tín dụng đối với người nghèo tại các tổ chức TCVM Theo đó, nhấn mạnh vai trò của tín dụng vi mô đối với người nghèo, phân tích
sự cần thiết của phát triển bền vững tín dụng cho người nghèo bằng các giải pháp theo
cơ chế thị trường, cũng như những yếu tố ảnh hưởng và một số chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng tín dụng bền vững của các tổ chức TCVM đối với người nghèo
- Đúc kết những bài học phù hợp nhất cho việt phát triển tín dụng đối với người nghèo của các tổ chức TCVM tại Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia có đặc điểm tương đồng với Việt Nam như Ấn độ, Bangladesh, Thái Lan, và Indonesia
Trang 254 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu về tình hình phát triển tín dụng đối với người nghèo của các tổ chức TCVM tại Việt Nam Trong đó, đối tượng nghiên cứu là phát triển tín dụng cho người nghèo từ nguồn vốn của chính các tổ chức TCVM chứ không bao gồm các nguồn vốn khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp triết học biện chứng và duy vật lịch sử thường được áp dụng trong các công trình nghiên cứu nói chung, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê để xử lý số liệu, kết hợp với đồ thị, bảng, biểu minh họa để làm tăng tính trực quan cho công trình Để làm tăng tính thuyết phục cho các nhận định, nghiên cứu sinh sẽ đưa vào nghiên cứu của mình một số mô hình kinh
tế lượng Cụ thể, để minh chứng cho khả năng phát triển tín dụng đối với người nghèo,
đề tài sử dụng mô hình kinh tế lượng nghiên cứu về phát triển tín dụng cho người nghèo gắn với những đặc điểm của đối tượng người nghèo và khả năng thoát nghèo
Trang 26sau tham gia chương trình Nghiên cứu định lượng của luận án sử dụng số liệu khảo sát của 569 hộ gia đình tham gia chương trình TCVM từ tổ chức TCVM TYM Số liệu
569 mẫu về hộ gia đình nghèo được sàng lọc từ phiếu khảo sát thu thập của 750 thành viên trước khi tham gia chương trình TCVM là những hộ nghèo trên địa bàn 5 tỉnh (3 tỉnh khu vực phía Bắc và 2 tỉnh khu vực phía Nam)
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Luận cứ khoa học về phát triển tín dụng đối với người nghèo
thông qua các tổ chức tài chính vi mô
Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng đối với người nghèo thông qua các
tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị để phát triển tín dụng đối với người nghèo
thông qua các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
Trang 27CHƯƠNG 1 LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1.1 Khái niệm tổ chức tài chính vi mô
Tài chính vi mô là một thuật ngữ mới xuất hiện từ những năm 1970 Trước
đó, trong giai đoạn từ năm 1950 - 1970, các dịch vụ tài chính tương tự được cung cấp dưới hình thức các chương trình tín dụng nông thôn với tỷ lệ nợ xấu cao và khả năng tiếp cận hộ nghèo thấp (Robinson, 2001) Sau khi ngân hàng Grameeen và Raykat Indonesia ra đời, cung cấp hiệu quả các khoản vay nhỏ và dịch vụ tiết kiệm trên quy mô lớn, thì cụm từ TCVM chính thức được sử dụng rộng rãi
Cho tới nay, khái niệm về TCVM tồn tại dưới nhiều "phiên bản" khác nhau
Cụ thể, TCVM là “dịch vụ tài chính cung cấp cho người nghèo có thu nhập thấp hoặc người rất nghèo tự lao động mưu sinh (self-employed people)” (Otero, 1999), hay TCVM là dịch vụ nhằm hướng đến các khoản tiền gửi nhỏ, các khoản vay nhỏ cho hộ gia đình nghèo bị các ngân hàng từ chối (Schreiner và Colombet, 2001) Theo Nhóm tư vấn và hỗ trợ người nghèo (CGAP, 2002), “TCVM là hoạt động cung cấp tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm vi mô, dịch vụ chuyển tiền và các dịch vụ phi tài chính khác cho nhóm người có thu nhập thấp bởi một cơ chế thích hợp, giúp cho thể tiến hành sản xuất, phát triển nghề nghiệp tăng thêm thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống” Trong khi đó, ADB (2000) định nghĩa “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ” Tại Việt Nam, thuật ngữ TCVM đã được đề cập tương đối sớm trong các văn bản pháp lý Ban đầu, TCVM được ghi trong Nghị định 28/2005/NĐ-CP là “tài chính quy mô nhỏ” và được định nghĩa “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một
số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo”
Tựu chung lại, TCVM là các dịch vụ tài chính như tiết kiệm, cho vay, thanh toán, bảo hiểm cho người nghèo, có thu nhập thấp sống ở cả nông thôn và thành thị
- những người không có khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính của khu vực tài
Trang 28chính chính thức TCVM có tác dụng giúp người nghèo tạo dựng công việc, sản xuất kinh doanh, giúp họ giảm thiểu rủi ro về kinh tế và cuộc sống, từ đó, tăng thu nhập hộ gia đình Nhờ tăng thu nhập, người nghèo lại có tích lũy tài sản, tiết kiệm
và khả năng vay vốn, để tái đầu tư mở rộng sản xuất, nhà xưởng, thuê thêm nhân công tạo công ăn việc làm cho lao động tại địa phương; mua đất đai xây dựng hoặc cải tạo nhà ở, vật nuôi Bên cạnh đó, nhờ tiết kiệm và tài sản được tích lũy, người nghèo thay vì phải chạy ăn từng bữa sẽ có những kế hoạch dài lâu và định hướng cho tương lai
Trên cơ sở khái niệm về TCVM, chúng ta có khái niệm về tổ chức tài chính
vi mô (TCTCVM) TCTCVM là tổ chức chuyên cung cấp các dịch vụ TCVM cho khách hàng Tại Luật các TCTD số 47/2010/QH12, điểm 5, điều 4 đã quy định “Tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) là loại hình TCTD chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ” Như khái niệm này, các dịch vụ TCVM mà TCTCVM cung cấp có thể bao gồm một phần hoặc tất cả các hình thức như tiết kiệm, cho vay, thanh toán, bảo hiểm Bên cạnh các dịch vụ tài chính đơn thuần, trong một số trường hợp, TCTCVM còn cung cấp bao gồm những dịch vụ phi tài chính như đào tạo tay nghề, kiến thức tài chính, chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn phương pháp sản xuất hay những dịch vụ xã hội liên quan tới sức khỏe và trẻ em nhằm mục đích hỗ trợ người nghèo thoát khỏi đói nghèo TCTCVM có thể hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, ví dụ như các tổ chức phi chính phủ (NGOs), hợp tác tín dụng; hoặc cũng có thể được đầu tư bởi các ngân hàng hoạt động vì lợi nhuận như các ngân hàng thương mại (NHTM) Mỗi TCTCVM lại có quy mô và mục đích hoạt động khác nhau Ví dụ, có thể tổ chức này phục vụ cho vài ngàn khách hàng ngay tại những khu vực cận kề, trong khi đó, nhiều tổ chức khác lại cung cấp dịch vụ cho hàng trăm ngàn thành viên, thậm chí là hàng triệu khách hàng thuộc những nơi xa xôi, thông qua những chi nhánh của tổ chức đó
1.1.2 Các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô
Theo cách tiếp cận truyền thống, tổ chức cung ứng dịch vụ TCVM thuộc 3 khu vực: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức Tiêu thức phân loại này được Ledgerwood (1998), Had & cộng sự (2009), Trong Vi Ngo (2012); Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2013) đề cập trong nghiên cứu Tổ chức cung ứng dịch
Trang 29vụ TCVM thuộc khu vực chính thức là những tổ chức hoạt động theo những qui định pháp luật chung và các qui định cụ thể về giám sát ngân hàng Tổ chức cung ứng dịch
vụ TCVM thuộc khu vực bán chính thức là những tổ chức không phải tuân theo những qui định của hoạt động ngân hàng, nhưng lại do các cơ quan chính phủ cấp phép hoạt động và chịu sự giám sát của các cơ quan này Tổ chức cung ứng dịch vụ TCVM thuộc khu vực phi chính thức là những tổ chức không đăng ký hoạt động theo các qui định của pháp luật
Bảng 1.1: Phân loại các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô
Khu vực chính thức Khu vực bán chính thức Khu vực phi chính thức
- Ngân hàng phát triển
- Ngân hàng phát triển
- Ngân hàng tiết kiệm
bưu điện
- Ngân hàng thương mại
- Ngân hàng theo mô
- Nhóm tự lực
- Người cho vay tiền (thuần túy)
- Thương mại, chủ đất và gần giống người cho vay tiền
- (Hầu hết) các nhóm tự lực
- Những tổ chức tín dụng
và tiết kiệm luân phiên (nhóm hoạt động và nhóm tự hỗ trợ đa mục tiêu)
- Gia đình và bạn bè
Nguồn: Phan Thị Hồng Thảo (2019)
Bên cạnh cách tiếp cận truyền thống, Ledgerwood & cộng sự (2012) căn cứ vào mức độ chính thức hóa để phân loại nhà cung cấp dịch vụ TCVM, bao gồm: nhà cung cấp dựa vào cộng đồng (hoạt động ở khu vực không chính thức và không có tư cách pháp nhân) và nhà cung cấp có tổ chức (gồm tổ chức được đăng ký và tổ chức hoạt động theo qui định) Nhà cung cấp dựa vào cộng đồng là nhà cung cấp ở khu vực không chính thức, không có tư cách pháp nhân Nhóm này bao gồm cả cá nhân (bạn
bè, gia đình, người cho vay cá nhân, chủ cửa hàng, nhà đầu tư, người thu gom tiền gửi)
và nhóm gồm nhóm địa phương (như Hiệp hội tiết kiệm và tín dụng luân ROSCA và Hiệp hội tiết kiệm và tín dụng tích lũy – ASCA) và nhóm thuận tiện (như nhóm tiết kiệm, nhóm tự quản) Nhà cung cấp có tổ chức là những tổ chức đăng ký và trong một số trường hợp là những tổ chức được điều tiết, gồm các NGO, hợp tác xã tài chính, các ngân hàng TCVM thương mại, các tổ chức TCVM chuyên biệt và các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác (NBFI)
Trang 30phiên-1.1.3 Vai trò của tổ chức tài chính vi mô
1.1.3.1 Trung gian tài chính
TCVM đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trên thị trường tài chính, góp phần làm cho thị trường tài chính trở nên hoàn thiện hơn Thật vậy, thị trường tài chính thường được hiểu như trung gian tài chính – nơi cung ứng, luân chuyển vốn giữa người dư thừa và người thiếu hụt vốn nhằm phục vụ các hoạt động tiêu dùng, kinh doanh, đầu tư… Tuy nhiên, để tham gia được thị trường tài chính thì các chủ thể phải đáp ứng được những điều kiện nhất định Trong khi đó, xã hội luôn có một
bộ phận người không đạt được những tiêu chuẩn sống tối thiểu (nghèo đói, không
có việc làm, không có thu nhập/ thu nhập thấp, không có tài sản đảm bảo…) và luôn cần sự hỗ trợ về mặt tài chính để cải thiện đời sống, tiệm cận dần đến mức trung bình của xã hội Việc tiếp cận các dịch vụ tài chính thông thường của đối tượng này trở nên xa xỉ Khi này, sự xuất hiện của TCVM với các loại hình dịch vụ và sản phẩm tài chính cho cộng đồng người nghèo nhằm giúp họ cải thiện đời sống, phát triển kinh tế và đóng góp cho xã hội TCVM thúc đẩy khả năng tiếp cận tài chính của người nghèo, người có thu nhập thấp, doanh nghiệp nhỏ/ siêu nhỏ; tạo nên một thị trường tài chính toàn diện trong một nền kinh tế
Sản phẩm dịch vụ trung gian tài chính của các TCTCVM bao gồm cung cấp các dịch vụ: tín dụng vi mô, tiết kiệm vi mô, bảo hiểm, thanh toán, cho thuê Dịch
vụ trung gian tài chính không cần thiết phải có trợ cấp về lâu dài, mặc dù có thể cần hoặc không cần trợ cấp trong ngắn hạn
Dịch vụ tín dụng: có thể nói đây là dịch vụ cơ bản của hầu hết các tổ chức
TCVM, với việc cung cấp các khoản vay nhỏ đáp ứng nhu cầu của các hộ thu nhập thấp, đặc biệt là các hộ nghèo hoặc cũng có thể là các doanh nghiệp nhỏ Hai phương pháp cung cấp tín dụng được áp dụng là cho vay cá thể và cho vay theo nhóm Bền vững tài chính là mục tiêu quan trọng các TCTCVM luôn hướng tới với không ít khó khăn và thách thức trong việc cung cấp dịch cụ này
Dịch vụ tiết kiệm: thường được coi là phần không thể thiếu với hầu hết các
TCTCVM với mục đích chính huy động nguồn vốn và coi tiết kiệm như một phần bảo lãnh vốn vay, đồng thời mang lại một số lợi ích cho khách hàng như xây dựng ý thức thói quen tiết kiệm, tích lũy tài sản, tập dượt kỹ năng tài chính Hai hình thức huy động tiết kiệm thường được áp dụng là tiết kiệm bắt buộc và tiết kiệm tự
Trang 31nguyện Tuy nhiên, tiết kiệm tự nguyện có thể gặp rào cản về mặt pháp lý trong việc cho phép thực hiện hoạt động này cho mục tiêu an toàn tài chính Một số TCTCVM
đã rất thành công đối với việc cung cấp dịch vụ tiết kiệm, nhưng nó vẫn là điểm yếu của nhiều TCTCVM
Dịch vụ bảo hiểm vi mô: so với dịch vụ tín dụng và tiết kiệm, dịch vụ này
chưa được cung cấp nhiều bởi các TCTCVM Nó là hình thức kinh doanh mới đối với các TCTCVM và đang trong giai đoạn thử nghiệm và bắt đầu phát triển Bảo hiểm nhân thọ là một trong những loại bảo hiểm được các TCTCVM quan tâm áp dụng Grameen Bank là một ví dụ điển hình cho việc áp dụng loại hình này Tại Việt Nam, quỹ TYM cũng đang áp dụng thử nghiệm loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ thông qua “Nhóm tương hỗ”
Dịch vụ thanh toán: bao gồm các thể thức như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm
thu, thư tín dụng hay thẻ thanh toán Tuy nhiên, không phải tất cả các TCTCVM được cung cấp dịch vụ này mà tùy theo quy định của mỗi nước Tại Việt Nam, chỉ
có các ngân hàng mới được cung cấp dịch vụ thanh toán Các dịch vụ thanh toán gắn liền với dịch vụ huy động tiền gửi của TCTCVM Để thực hiện thanh toán, khách hàng cần phải dùng tới các khoản tiền gửi không kỳ hạn
Thẻ tín dụng: việc cung cấp dịch vụ này cho phép khách hàng tiếp cận với
hệ thống tín dụng Nó có thể được thực hiện trong việc mua sắm hàng hóa, rút tiền mặt ở các máy rút tiền tự động Cung cấp dịch vụ thẻ là lĩnh vực mới với các TCTCVM Tại Việt Nam dịch vụ này chỉ được cung cấp bởi các ngân hàng
Cho thuê vi mô: là loại sản phẩm có thể cho phép khách hàng thuê và sử
dụng các máy móc, thiết bị và họchỉ phải thanh toán cho phần chi phí dịch vụ sử dụng Ở nông thôn, cho thuê vi mô thường được yêu cầu cho hoạt động nông nghiệp theo nhóm khi mà các thành viên của một nhóm nông dân cùng nhau thuê máy móc thiết bị, ví dụ máy cày và thay nhau sử dụng chúng, đóng góp từng phần chi phí theo tỷ lệ Trên quốc tế, cho thuê vi mô là sản phẩm phổ biến cho các nông dân nghèo và các doanh nghiệp nhỏ
1.1.3.2 Trung gian xã hội
Hoạt động TCVM không chỉ dừng lại ở các dịch vụ tài chính mà còn cung cấp cả các dịch vụ phi tài chính nhằm hỗ trợ khách hàng sử dụng tài chính hiệu quả Theo đó, TCTCVM vừa đóng vai trò trung gian tài chính - huy động và cung ứng
Trang 32vốn cho khách hàng, vừa là trung gian xã hội - kết nối nguồn lực con người và xã hội cần thiết cho dịch vụ trung gian tài chính bền vững cho người nghèo
Dịch vụ trung gian xã hội, chính là quá trình xây dựng con người và xã hội xuất phát từ yêu cầu của dịch vụ trung gian tài chính bền vững cho khu vực nông thôn Hoạt động trung gian xã hội thường đòi hỏi phải có sự trợ cấp dài hạn hơn so với hoạt động trung gian tài chính, nhưng những trợ cấp trên cũng nên dần được xóa
bỏ Việc cung cấp các dịch vụ trung gian xã hội thường được các TCTCVM thực hiện thông qua tổ chức nhóm, nhưng cũng có trường hợp thực hiện trực tiếp với cá nhân khách hàng Trung gian xã hội dựa trên cơ sở nhóm được định nghĩa là sự nỗ lực xây dựng năng lực tổ chức của nhóm và đầu tư vào nguồn lực con người của các thành viên Xây dựng năng lực thường tập trung vào xây dựng liên kết nhóm, năng lực tự quản lý của nhóm, sự tự tin của các thành viên Khách hàng/ nhóm khách hàng TCVM được cung cấp các dịch vụ phi tài chính nhằm cải thiện các lĩnh vực của đời sống xã hội như giáo dục, xóa mù chữ, sức khỏe, dinh dưỡng, vệ sinh môi trường Trung gian xã hội tập trung các nhóm, cá nhân bị thiệt thòi để tham gia vào mối quan hệ kinh doanh vững chắc với các TCTCVM, ví dụ, bằng cách hình thành các nhóm khách hàng vay hoặc giải thích vai trò và trách nhiệm khi trở thành một thành viên TCTCVM Bằng chứng đã chỉ ra rằng điều đó là dễ dàng để thiết lập các mối quan hệ trong xã hội mà đã có sự khuyến khích các nỗ lực hợp tác thông qua các câu lạc bộ địa phương, các hiệp hội tôn giáo, hoặc các nhóm làm việc - nói cách
khác, các cộng đồng với mức vốn xã hội cao
1.1.3.3 Dịch vụ phát triển doanh nghiệp
Đây là các dịch vụ phi tài chính nhằm trợ giúp cho các doanh nghiệp nhỏ Các dịch vụ này bao gồm đào tạo kinh doanh, dịch vụ tiếp thị và công nghệ, phát triển kỹ năng và phân tích tiểu khu vực kinh tế Dịch vụ phát triển doanh nghiệp có thể cần hoặc không cần trợ cấp, tùy thuộc vào sự sẵn lòng và khả năng thanh toán của khách hàng cho những dịch vụ này
Dịch vụ phát triển doanh nghiệp nhằm mục đích nâng cao hiệu quả kinh doanh của khách hàng Họ có thể làm điều này bằng cách tăng cường quản lý doanh nghiệp, nâng cao quyết định đầu tư, giảm hoạt động hoặc chi phí rằng buộc, tăng độ
an toàn nơi làm việc, hoặc mở rộng khả năng tăng trưởng Nói chung, các dịch vụ phát triển kinh doanh liên quan đến việc chuyển giao kinh nghiệm cho các chủ
Trang 33doanh nghiệp nhỏ và vi mô dưới hình thức tư vấn “làm thế nào để”, đào tạo, thông tin thị trường, hay các mối liên kết với các tổ chức hiểu biết hoặc mạng lưới Họ cũng có thể kết nối các chủ doanh nghiệp đến cơ sở hạ tầng thị trường, chẳng hạn như các cơ sở lưu trữ, hệ thống công nghệ hoặc cấp giấy chứng nhận và các nhân vật khác có liên quan
TCTCVM áp dụng một cách tiếp cận tích hợp trong việc cung cấp một số loại hình dịch vụ phát triển doanh nghiệp (một số TCTCVM tham khảo các dịch vụ: dịch vụ phát triển kinh doanh, dịch vụ phi tài chính, hoặc hỗ trợ) Nếu những dịch
vụ này không được các TCTCVM cung cấp trực tiếp thì có các tổ chức công hay tư nhân cũng cung cấp phát triển dịch vụ này trong khuôn khổ hệ thống mà khách hàng của các TCTCVM có thể tiếp cận được Dịch vụ phát triển doanh nghiệp bao gồm một loạt các biện pháp can thiệp phi tài chính, bao gồm: (i) Tiếp thị và dịch vụ công nghệ; (ii) Đào tạo kinh doanh; (iii) Đào tạo sản xuất; (iv) Phân tích tiểu ngành và biện pháp can thiệp
Các nhà cung cấp dịch vụ phổ biến nhất với các biện pháp tiếp cận tích hợp: (i) NGOs với các dự án TCVM với phương pháp tiếp cận tích hợp; (ii) Viện đào tạo; (iii) Mạng lưới; (iv) Trường đại học; (v) Công ty tư nhân (công ty đào tạo, các nhà thầu phụ viện trợ song phương); (vi) Nhóm sản xuất (hoặc phòng thương mại); (vii) Cơ quan Chính phủ (hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, văn phòng xúc tiến xuất khẩu) Tổ chức nghiên cứu phát triển quốc tế tại Mỹ vào cuối những năm 80 thế kỷ XX đã chỉ ra các chương trình phục vụ phát triển doanh nghiệp được chia ra như sau:
- Chương trình đào tạo doanh nghiệp, cung cấp đào tạo các kỹ năng cụ thể của ngành như đào tạo kỹ năng dệt cho những người mới bắt đầu lập nghiệp
- Chương trình chuyển đổi doanh nghiệp, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo
và công nghệ để giúp các doanh nghiệp nhỏ có bước nhảy vọt về số lượng và chất lượng trong quy mô sản xuất và tiếp thị Một khác biệt giữa các dịch vụ trực tiếp và gián tiếp là sự tương tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ và các doanh nghiệp
1.1.3.4 Dịch vụ xã hội
Bao gồm các dịch vụ phi tài chính nhằm cải thiện các lĩnh vực của đời sống xã hội như giáo dục, xóa mù chữ, sức khỏe, dinh dưỡng, vệ sinh môi trường Việc cung cấp dịch vụ này tăng thêm các giá trị cho nhóm khách hàng của TCTCVM, giúp họ cải thiện các khía cạnh khác ngoài khía cạnh tài chính, vì dịch vụ tài chính không phải là
Trang 34giải pháp giải quyết được mọi vấn đề cho người nghèo TCVM trao cho người nghèo
cơ hội học tập, lao động, tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh; từ đó góp
phần bổ sung nguồn lực lao động cho xã hội Thêm vào đó, đa số người nghèo sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp với năng suất lao động thấp và ít được tiếp cận với các dịch vụ tài chính và kiến thức Không chỉ cung cấp vốn, hoạt động TCVM còn giúp người nghèo cải thiện năng lực, trình độ thông qua các khóa đào tạo kỹ năng sản xuất, dạy nghề… góp phần nâng cao năng suất lao động chung của cả nền kinh tế
Bảng 1.2: Một số ví dụ về dịch vụ phi tài chính
Trung gian xã hội Phát triển kinh doanh
- Hoạt động nhóm
- Phát triển sự gắn kết trong
nhóm
- Đào tạo các thành viên
nhóm về quản lý, kế toán, hoặc
các điều cơ bản về tài chính
- Thành lập một hệ thống lưu
trữ tốt
- Nâng cao nhận thức về các
dịch vụ tài chính sẵn có
- Giúp đỡ các cá nhân nâng
cao sự tự tin khi làm việc với
tổ chức tài chính
- Chuyển giao công nghệ
- Đào tạo quản lý kinh doanh
- Đào tạo về sản xuất
- Tư vấn quản lý và pháp lý
- Phân tích và can thiệp vào
chuỗi giá trị
- Kết nối doanh nghiệp với
thị trường hoặc người mua
- Cung cấp thông tin thị trường thông qua đại lý, cơ sở
1.2 TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO
1.2.1 Khái niệm người nghèo
1.2.1.1 Nghèo đói về thu nhập
Trước tiên, khái niệm nghèo cần được hiểu dựa trên hoàn cảnh xã hội của mỗi cá nhân, mỗi nhóm dân cư, không chỉ đơn thuần là dựa vào thu nhập mà còn dựa vào nhiều khía cạnh khác như tình trạng thiếu thốn các dịch vụ cơ bản như giáo dục, văn hóa, y tế, khả năng tiếp cận với các nguồn lực như đất đai, lao động, vốn, môi trường kinh doanh…, tình trạng dễ bị tổn thương trước những ảnh hưởng bất lợi trong cuộc sống hàng ngày Nghèo cũng không phải là một vấn đề có tính đơn lẻ, của một cá nhân, của một hộ gia đình hay của một địa phương mà là một vấn đề có tính quốc gia, toàn cầu Xuất phát từ lý do này, nghèo có nhiều khái niệm khác nhau, không hoàn toàn giống
Trang 35nhau mà tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng quốc gia, từng tổ chức xã hội
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới, “Nghèo là sự thiếu hụt, hoặc không
có khả năng để đạt được một tiêu chuẩn sống được xã hội chấp nhận” Việc đưa cụm
từ “một tiêu chuẩn sống được xã hội chấp nhận” khiến cho khái niệm “nghèo” được xem xét trên hai khía cạnh Thứ nhất, nghèo phụ thuộc vào một tiêu chuẩn sống được chấp thuận trong một xã hội nhất định và trong một thời gian nhất định Thứ hai,
nghèo phụ thuộc vào việc tiêu chuẩn sống được xã hội chấp nhận được đo lường như thế nào, thông qua một chỉ tiêu hay một nhóm các chỉ tiêu
Ủy ban của Liên hiệp quốc về các quyền văn hóa, kinh tế và xã hội đưa ra khái
niệm “Nghèo là tình trạng thiếu thốn nguồn lực, năng lực, sự lựa chọn, sự an toàn và
quyền lực cần thiết một cách thường xuyên và lâu dài để đáp ứng các điều kiện sống một cách đầy đủ và các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa và các quyền công dân khác” Theo cách tiếp cận này, điều kiện sống của một cá nhân không chỉ bao gồm các
nhu cầu vật chất cơ bản, mà các quyền của con người (như quyền có nơi ở hợp pháp, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, quyền được học tập…) cũng cần được đáp ứng Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội là điều kiện quan trọng để bảo đảm cho cá nhân thực hiện các quyền của mình
Theo nghĩa tuyệt đối, nghèo khổ là một trạng thái mà các cá nhân thiếu những nguồn lực thiết yếu để có thể tồn tại Khái niệm này nhằm vào phúc lợi kinh tế tuyệt đối của người nghèo, tách rời với phân phối phúc lợi của xã hội Điều này có nghĩa là mức tối thiểu được xác định bằng ranh giới nghèo khổ Ranh giới nghèo khổ phản ánh mức độ nghèo khổ của một tầng lớp dân cư nhất định trong thời gian nhất định Nó thay đổi cùng với sự phát triển kinh tế và những chính sách điều chỉnh xã hội trong các kế hoạch chung và dài hạn của quốc gia Ranh giới nghèo khổ có thể được xếp theo cách tiếp cận “đáp ứng nhu cầu cơ bản”, trong đó chỉ rõ mức dinh dưỡng tối thiểu
và những nhu cầu thực phẩm khác
Một người được coi là nghèo khi mức tiêu dùng khác nhau hay thu nhập người
đó thấp hơn một ngưỡng tối thiểu thiết yếu để đáp ứng những nhu cầu cơ bản Ngưỡng tối thiểu đó thường được gọi là "chuẩn nghèo" Tuy nhiên, mức độ thiết yếu để thoả mãn nhu cầu cơ bản lại thay đổi theo thời gian và không gian Vì vậy chuẩn nghèo cũng thay đổi theo thời gian, địa điểm, và mỗi nước sử dụng chuẩn nghèo riêng phù
Trang 36hợp với trình độ phát triển, các chuẩn mực và giá trị của xã hội mình Như vậy theo thước đo thu nhập có thể đưa ra hai khái niệm: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối về thu nhập, đo lường số người có thu nhập dưới một ngưỡng
nhất định hoặc số hộ gia đình không có đủ tiền để chu cấp cho những hàng hoá và dịch
vụ thiết yếu nhất định Chuẩn nghèo tuyệt đối của thế giới do WB xác định là 2 USD mỗi ngày mỗi người tính theo ngang giá sức mua (PPP) năm 1993 được dùng cho các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình như Đông Á và Mỹ Latinh Trong khi đó, ngưỡng 1 USD/ngày/người, thường được sử dụng cho các nước kém phát triển, chủ yếu
là châu Phi
Theo nghĩa tương đối nghèo là tình trạng thiếu hụt các nguồn lực của các cá nhân hoặc nhóm trong tương quan của các thành viên khác trong xã hội, tức là so với mức sống tương đối của họ Như vậy, nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương xem xét Khái niệm này thường được các nhà xã hội học ưa dùng vì nghèo tương đối liên quan đến
sự chênh lệch về những nguồn lực vật chất, nghĩa là về bất bình đẳng phân phối trong
xã hội
Phương pháp tiếp cận này cho thấy rằng nghèo khổ là khái niệm động thay đổi theo không gian và thời gian, cũng như theo trình độ học vấn và truyền thống Đây là cách tiếp cận đói nghèo tập trung vào phúc lợi của tỷ lệ số dân nghèo nhất, có tính đến mức phân phối phúc lợi của toàn xã hội Từ cách hiểu như trên, có thể nhận thấy khái niệm nghèo tương đối phát triển theo thời gian, tùy thuộc vào mức sống của xã hội
Theo khái niệm nghèo tương đối, hộ gia đình được coi là nghèo nếu nguồn tài chính của họ thấp hơn một mức thu nhập được xác định là chuẩn nghèo của xã hội đó Chuẩn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội Một ngưỡng hay được dùng để đo lường nghèo tương đối là 50% hay 60% mức thu trung bình đầu người trong một nền kinh tế Chẳng hạn năm 2001, tại khu vực EU, những người được coi là nghèo khi có thu nhập ít hơn 60% mức thu nhập ròng trung bình đầu người Tuy nhiên, chuẩn nghèo tương đối theo cách đo như vậy trên thực tế phản ánh rất ít mức sống về con người do khi thu nhập đồng loạt tăng hoặc giảm thì tỷ lệ người nghèo vẫn không thay đổi mặc dù thu nhập của họ có thay đổi Vì vậy, trong ngưỡng nghèo tương đối có pha trộn cả vấn đề phân phối thu nhập
Trang 371.2.1.2 Nghèo đa chiều
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập
Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh
và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội
và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012) Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan
điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc
không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống
Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013 Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn
về thực trạng nghèo ở nước ta Vì vây, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/01/2016 Chuẩn nghèo mới sẽ xem xét dựa trên 5 tiêu chí, bao gồm: y tế, giáo dục, điều kiện sống, tiếp cận thông tin, bảo hiểm và trợ giúp xã hội Theo Quyết định 59, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 bao gồm: (i) các chỉ tiêu về thu nhập; (ii) mức
độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin) Trước đây, việc xác định chuẩn nghèo chỉ dựa vào một tiêu chí duy nhất là thu nhập Mặc dù mức thu nhập này được điều chỉnh tăng dần theo diễn biến lạm phát, nhưng chuẩn nghèo dựa trên thu nhập của Việt Nam không phù hợp với chuẩn nghèo trên thế giới Mặt khác, do đời sống khó khăn, nhiều người muốn được xếp vào diện nghèo để nhận được các khoản hỗ trợ như như vay vốn ưu đãi, bảo hiểm y tế Việc sử dụng tiêu chí duy nhất là thu nhập cũng dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng, có những
Trang 38người tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại không tiếp cận được một số nhu cầu cơ bản như y tế, giáo dục, thông tin
Cách xác định của Việt Nam hiện nay là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế khi mà chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập
mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010) Chuẩn nghèo đa chiều, là tiêu chí đo lường sự thiếu hụt các nhu cầu cơ bản của mỗi con người, phụ thuộc vào điều kiện phát triển cụ thể của mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn nhất định Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang được các tổ chức quốc tế như UNDP, WB đo lường thông qua các chỉ số HDI (thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ) hay chi số MPI (chỉ số nghèo đa chiều); Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ Theo OPHI và UNDP, những chỉ số này cung cấp đẩy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với các thang đo về thu nhập giản đơn Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên và quy mô của sự nghèo khổ ở các cấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độ quốc tế Cách tiếp cận đa chiều mới trong việc đánh giá mức độ nghèo khổ được điều chỉnh để sử dụng ở cấp quốc gia ở Mexico và hiện nay đang được xem xét áp dụng ở Chile và Colombia
1.2.2 Tín dụng đối với người nghèo
Trong cuộc sống hàng ngày của người nghèo, việc rơi vào tình trạng thiếu hụt các khoản tài chính cho các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu như ăn, ở, đi lại, học hành… cho tới các nhu cầu khẩn cấp như bị ốm đau, bị trộm cắp, và thậm chí là các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, mua nguyên vật liệu, cho sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên hơn và với mức độ trầm trọng hơn Việc thiếu hụt nguồn tài chính tài trợ cho các nhu cầu này là lực cản lớn đối với công cuộc xóa đói, giảm nghèo của một quốc gia và với nỗ lực vươn lên thoát nghèo của chính bản thân người nghèo Dù người nghèo có sức lao động, có mong muốn vươn lên nhưng do khó tiếp cận với các nguồn lực khiến họ đễ rơi vào vòng luẩn quẩn là bẫy nghèo Với những hạn chế trong khả năng đáp ứng các quy định về vay vốn của ngân hàng, người nghèo không thể tìm
ra nguồn vốn tài chính hợp lý cả về quy mô, thời hạn và chi phí để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh Gắn kết đặc điểm này của người nghèo cùng với vai trò quan trọng của Nhà nước đối với việc bảo đảm an sinh xã hội cho thấy sự cần
Trang 39thiết của Nhà nước trong việc cung cấp, hỗ trợ cung cấp nguồn tín dụng chính sách cho người nghèo Để thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo và hướng tới phát triển kinh tế xã hội một cách toàn diện, Nhà nước thường sử dụng các công cụ tài chính như thu, chi ngân sách để hướng nguồn lực tài chính (của Nhà nước nói riêng và xã hội nói chung) một cách có hiệu quả nhất tới người nghèo, giúp cho họ có thể có vốn để sinh hoạt và sản xuất, từ đó vươn lên thoát nghèo
Tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối
tượng chính sách khác của Chính phủ ban hành ngày 04/10/2002, tín dụng cho người
nghèo (và các đối tượng chính sách khác) được định nghĩa là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do nhà nước huy động để cho người nghèo (và các đối tượng chính sách khác) vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội
Tín dụng cho người nghèo không chỉ dừng lại ở việc cung cấp nguồn tín dụng chính với ưu đãi cho người nghèo mà còn phải phối hợp với các nguồn lực của xã hội nói chung và nguồn lực của nhà nước nói riêng để giúp người nghèo phát triển toàn diện, qua đó thoát nghèo một cách bền vững Người nghèo rất cần vốn tín dụng ưu đãi
để có thể đáp ứng thiếu hụt nguồn tài chính cho các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh nhưng họ cũng rất cần những hỗ trợ khác về y tế, văn hóa, giáo dục từ phía chính quyền và cộng đồng người dân xung quanh Bên cạnh đó, những hỗ trợ về thị trường, kỹ thuật lao động như trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán… đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với người nghèo vay vốn để sản xuất kinh doanh để họ giảm được những thiệt thòi so với các đối tượng khác trong xã hội Nếu không có những biện pháp hỗ trợ kịp thời và hợp lý, tín dụng chính sách dù có được đưa tới cho người nghèo cũng khó có thể được họ sử dụng hiệu quả và các mục tiêu về phát triển nông thôn mới (công tác xóa đói giảm nghèo là một bộ phận của kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội của từng địa phương) cũng khó có thể đạt được một cách đồng bộ Nghèo không chỉ được đo lường bởi thu nhập mà còn là những hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội khác như văn hóa, giáo dục, y tế nên song song với việc cấp tín dụng cho người nghèo, các ngân hàng còn tham gia cấp tín dụng cho các công trình,
dự án mà người nghèo có thể hưởng lợi hoặc tham gia lao động Ngoài ra, chi phí của việc cấp tín dụng cho người nghèo đối với các ngân hàng ở mức cao so với cho vay các đối tượng khác Điều này là do giá trị các khoản tín dụng thường nhỏ, quay vòng
Trang 40nhiều cộng thêm với đặc điểm người nghèo nằm phân tán trên một địa bản rộng nên việc quản lý khoản tín dụng trở nên rất tốn kém.
Từ định nghĩa về người nghèo và tín dụng đối với người nghèo, có thể rút ra các điểm cần chú ý như sau:
Thứ nhất, mục tiêu của tín dụng cho người nghèo là nhằm giúp cho người
nghèo có vốn để sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh từ đó nâng cao đời sống, chứ không phải là khoản cấp phát (có tính chất cho không) cho người nghèo Tín dụng cho người nghèo là không vì mục tiêu lợi nhuận, mà vì mục tiêu xã hội là xóa đói giảm nghèo tuy nhiên cũng cần đảm bảo tính bền vững hoạt động của tổ chức cho vay
Thứ hai, nguyên tắc cho vay là người nghèo phải sử dụng vốn đúng mục đích
và phải là những người nghèo có đủ sức lao động để hoàn trả được vốn vay (gồm cả gốc lẫn lãi) cho ngân hàng như đã thỏa thuận Dù là cho vay người nghèo hay bất kỳ đối tượng nào khác, hai nguyên tắc căn bản của tín dụng luôn phải được bảo đảm
Thứ ba, ưu đãi trong tín dụng đối với người nghèo không chỉ nằm ở các ưu đãi
về khía cạnh tài chính mà còn ở khía cạnh phi tài chính Ngoài lãi suất ưu đãi, thời hạn vay, các ưu đãi về TSBĐ, các thủ tục vay vốn đơn giản, quy trình giải ngân, giám sát, trả nợ… đơn giản, linh hoạt cùng với các hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, khả năng tiếp cận thị trường là hết sức cần thiết để đồng vốn vay được người nghèo sử dụng hiệu quả nhất
Thứ tư, điều kiện cấp tín dụng cho người nghèo phải bảo đảm tính linh hoạt và
phù hợp với hoàn cảnh của người nghèo Các thủ tục vay vốn, các yêu cầu về điều kiện tài chính, và TSBĐ cần được điều chỉnh linh hoạt trong từng thời điểm, từng mục đích vay vốn, gắn với thực tiễn địa phương và hoàn cảnh của người nghèo để bảo đảm người nghèo có thể tiếp cận được vốn vay
Thứ năm, cơ sở thông tin về người nghèo và các khoản tín dụng cho người nghèo
thường thiếu hụt cả về số lượng lẫn chất lượng Khả năng tiếp cận với các dịch vụ tài chính như tiền gửi, thanh toán của người nghèo là rất hạn chế xuất phát từ bản thân nhu cầu và trình độ học vấn của người nghèo cũng như mức độ đáp ứng các dịch vụ tài chính của TCTD tại khu vực nông thôn còn thấp Tương tự, các thông tin về năng lực pháp lý và tài chính của người nghèo cũng rất khó để thu thập và xác minh do cơ sở dữ liệu về người nghèo tại các địa phương (đặc biệt là tại các vùng hẻo lánh) thường không được lưu trữ đầy đủ và chính xác như các đối tượng khách hàng doanh nghiệp được