An sinh xã hội là gì?Đối tượng và đối tượng nghiên cứu của an sinh xã hội.Các dịch vụ xã hội.Chức năng của an sinh xã hội.Vì sao phải trợ giúp hoá công tác trợ giúp xã hội?Tại sao nói bảo hiểm là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội?
Trang 1ĐỀ CƯƠNG AN SINH XÃ HỘI
Câu 1: Khái niệm an sinh xã hội, so sánh với một số khái niệm liên quan Đối tượng nghiên cứu của an sinh xã hội?
An sinh xã hội: là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế xã hội để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc suy giảm thu nhập bởi các
nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con Là lưới an toàn cho mọi thành viên trong xã hội, cơ bản đáp ứng được nhu cầu an sinh xã hội của người dân một cách toàn diện
Phúc lợi xã hội: là hệ thống các định chế, các chính sách và các hoạt động nhằm bảo đảm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất của người dân, với mục tiêu làm sao cho mọi người dân có được một cuộc sống đàng hoàng tử
tế, xứng đáng với phẩm giá của cón người Hệ thống này bao gồm các lĩnh vực: giáo duc, ý tế, nhà ở, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, các chính sách trợ giúp xã hội (hỗ trợ những tầng lớp nghèo và khó khăn…) và các chính sách cứu trợ xã hội ( cứu trợ thiên tai, dịch bệnh, )
An sinh xã hội cơ bản: Là sự bảo đảm mức tối thiểu cho cá nhân và hộ gia đình về các nhu cầu thiết yếu như lương thực, thực phẩm, y tế, giáo dục, nhà ở
Đối tượng nghiên cứu của an sinh xã hội:
- Những vấn đề có tính phổ biến, tính quy luật về rủi ro và các biện pháp phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro, khắc phục rủi ro nhằm bảo
vệ an toàn cho các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ rủi ro bị suy giảm hoặc mất thu nhập do già yếu, ốm đau, tại nạn, thất nghiệp, thiếu việc làm, hoặc các cú sốc kinh tế- xã hội, thông qua các giải pháp làm giảm thiểu rủi ro,phòng ngừa rủi ro, khắc phục rủi ro gắn liền với con người, kinh tế xã hội và môi trường có liên quan
Trang 2- Nghiên cứu các quy luật hình thành, điều kiện hình thành các mô hình
an sinh xã hội, các cơ chế, chính sách của hệ thống an sinh xã hội, cách thức vận hành hệ thống an sinh xã hội để dảm bảo tính ổn định, bền vững của hệ thống an sinh xã hội trong từng điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia, khu vực Nghiên cứu các yếu tố tác động đến quá trình hình thành, phát triển của hệ thống an sinh xã hội và từng hợp phần của hệ thống
- Nghiên cứu sự tác động qua lại giữ tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội với việc phát hiện hệ thống chính sách an sinh xã hội, các quy luật về tổ chức, quản lý xã hội Thúc đẩy và đảm bảo việc phát triển hài hoà , đồng bộ kinh tế và xã hội giữa các chính sách an sinh xã hội với chính sách phúc lợi xã hội khác, đặc biệt là phúc lợi xã hội về giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, chính sách cho trẻ em…
Đối tượng của an sinh xã hội: cá nhân, gia đình, nhóm xã hội hoặc các cộng đồng, không phân biệt giới tính, thành phần xã hội, tôn giáo, sắc tộc, màu da
Câu 2: Chức năng của an sinh xã hội và mối quan hệ của an sinh xã hội với một số vấn đề xã hội: việc làm, phúc lợi xã hội, phát triển bền vững
Chức năng của an sinh xã hội:
- Bảo đảm thu nhập ở mức tối thiểu
- Nâng cao năng lực quản lý rủi ro
- Lập quỹ tiền tệ tập trung trong xã hội để phân phối lại cho những người không may mắn gặp phải những hoàn cảnh khó khăn, éo le, những người bị mất hoặc bị giảm thu nhập do các nguyên nhân khác nhau…
- Thúc đẩy việc làm bền vững và phát triển thị trường lao động
Phúc lợi xã hội: Là hoạt động của người dân, cộng đồng và tổ chức trong xã hội nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu và các điều kiện sống nhất định
Mối quan hệ giữa an sinh xã hội với các vấn đề khác: trang 44
Trang 3Câu 3: Phân biệt “ lưới an toàn xã hội” và “Sàn an sinh xã hội” Phân tích
để thấy sự vận dụng sáng kiến sàn ASXH trong hệ thống ASXH của VN
https://binhlieu.quangninh.gov.vn/pinchitiet.aspx?nid=2668
Sàn an sinh xã hội: Là một tập hợp cơ bản các quyền, dịch vụ và nguồn lực
xã hội mà mọi người dân phải được hưởng Sàn an xinh xã hội bao gồm hai cấu phần chính: (1) Dịch vụ: Sự tiếp cận cả về mặt địa lý và tài chính đến các dịch vụ thiết yếu như nước sạch và vệ sinh môi trường, sức khỏe và giáo dục (2) Trợ cấp: Một tập hợp các trợ cấp xã hội cơ bản bằng tiền mặt hoặc hiện vật nhằm đảm bảo mức thu nhập tối thiểu và sự tiếp cận đến các dịch
vụ thiết yếu, gồm cả dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Lưới an toàn xã hội: Có thể là lưới chính thức (từ chính phủ như các chương trình bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp xã hội) hay cũng có thể lưới an sinh phi chính thức cá nhân (gia đình hoặc bạn bè là những người cung cấp an sinh
xã hội) hoặc cũng có thể là các tổ chức cung cấp lưới an sinh
Là tập hợp các dịch vụ do nhà nước hoặc tổ chức xã hội cung cấp cho người nghèo hoặc người dễ bị tổn thương trước các cú sốc nhằm giảm nguy cơ rơi vào nghèo đói và duy trì mức sống tối thiểu Lưới an sinh xã hội bao gồm: Trợ cấp xã hội (thường xuyên, đột xuất), chương trình việc làm công, nhà ở
xã hội, và đôi khi là các dịch vụ được bao cấp như giao thông công cộng
Câu 4: Nêu các bộ phận cấu thành của chính sách an sinh xã hội hiện nay ở
VN Phân tích một bộ phận cấu thành an sinh xã hội Liên hệ thực tiễn
Các bộ phận cấu thành của chính sách an sinh:
- Việc làm, thu nhập và giảm nghèo:
- Bảo hiểm xã hội:
- Trợ giúp xã hội: Trang 237
- Dịch vụ xã hội:
Trang 4Câu 5: trình bày những thách thức mới của hệ thống an sinh xã hội trên thế giới? Liên hệ VN?
Câu 6: các đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên, trơ giúp đột xuất theo Quy định tại NĐ 136/2013 có gì thay đổi với NĐ 67/2007
và NĐ 13/2010
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội (sau đây gọi là Nghị định số 67/2007/NĐ-CP) như sau:
1 Khoản 4 Điều 4 được sửa đổi như sau:
“4 Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ.”
2 Khoản 5 Điều 4 được sửa đổi như sau:
“5 Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm.”
3 Khoản 8 Điều 4 được sửa đổi như sau:
“8 Hộ gia đình có từ 02 người trở lên là người tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 67/2007/NĐ-CP được sửa đổi theo khoản 1 Điều 1 Nghị định này, người mắc bệnh tâm thần quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 67/2007/NĐ- CP được sửa đổi theo khoản 2 Điều 1 Nghị định này.”
4 Điều 7 được sửa đổi như sau:
Điều 4 Đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã, phường, thị trấn quản lý gồm:
1 Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ
hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo.
Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên.
2 Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ).
3 Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội.
4 Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo.
5 Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo.
6 Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo.
7 Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi.
8 Hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ.
9 Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi.
Điều 5 Đối tượng thuộc diện trợ cấp xã hội quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5, 6 Điều 4 của Nghị định này thuộc diện đặc biệt khó
khăn không tự lo được cuộc sống thì được xem xét tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc nhà xã hội tại cộng đồng.
Điều 6.
1 Đối tượng được trợ giúp đột xuất (một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do
bất khả kháng khác gây ra, bao gồm:
a) Hộ gia đình có người chết, mất tích;
b) Hộ gia đình có người bị thương nặng;
c) Hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;
d) Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh thiếu đói;
Trang 5đ) Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét;
e) Người bị đói do thiếu lương thực;
g) Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc;
h) Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú.
2 Ủy ban nhân dân cấp xã, bệnh viện, cơ quan, đơn vị đứng ra tổ chức mai táng cho người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết để mai táng.
Điều 5 Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng
1 Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:
a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;
b) Mồ côi cả cha và mẹ;
c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật;
d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;
đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định
xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
e) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;
g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;
h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
i) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;
k) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
l) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2 Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.
3 Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác.
4 Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con).
5 Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;
b) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a Khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;
c) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.
6 Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.
Trang 6Trợ giúp xã hội thường xuyên:
NĐ 136/2013
trường hợp dưới đây
khoản 1 điểu này mà đang học phổ thông , học nghề, trung học
chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất
nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm hàng tháng, trợ cấp ưu đãi với người có công hàng tháng và trợ cấp hàng tháng khác
đã chết, có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi
file:///C:/Users/DELL/Downloads/VanBanGoc_136.2013.ND.CP.pdf
67/2007/NĐ-CP
Trợ giúp xã hội đột xuất
67/2007/NĐ-CP
a) Hộ gia đình có người chết, mất tích;
b) Hộ gia đình có người bị thương nặng;
c) Hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;
d) Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh thiếu đói;
đ) Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét;
e) Người bị đói do thiếu lương thực;
g) Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc;
h) Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú
Trang 7Câu 7: Phân tích ý nghĩa của việc khuyến khích tối đã các thành phần kinh
tế, các loại hình doanh nghiệp phát triển để tạo việc làm hiện nay ở Việt Nam
Sự tồn tại của kinh tế nhiều thành phần có tác động thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế
Thúc đẩy hàng hoá phát triển, nâng cao đời sống nhân dân
Cho phép khai thác và sử dụng hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế trong nước như: vốn, lao động, tài nguyên, kinh nghiệm rổ chức quản lý, khoa học công nghệ,…
Cơ cấu kinh tế thành phần tạo điều kiện khắc phục tình trạng độc quyền tạo
ra các quan hệ cạnh tranh- động lực quan trọng thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất
Quy mô kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá (tốc độ tăng trưởng GDP đạt gần 6%/năm giai đoạn 2011-2016, năm 2017 tăng 6,81%; quy mô vốn đầu tư xã hội cao (bình quân chiếm 31,8% GDP giai đoạn 2011-2015), các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển mạnh (giai đoạn 2011-2016, mỗi năm có trên
80 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, năm 2017 có gần 127 nghìn doanh nghiệp thành lập mới) là dộng lực chủ yếu để tạo thêm nhiều việc làm ổn định và bền vững cho người lao động Giai đoạn từ 2011-2017, hằng năm cả nước đã giải quyết việc làm cho khoảng 1,5-1,6 triệu lao động (năm 2011: 1,538 triệu lao dộng, năm 2012: 1,52 triệu lao động, năm 2013: 1,54 triệu lao động, năm 2014: 1,6 triệu lao động, năm 2015: 1,617 triệu lao động, năm2016: 1,641 triệu lao động và năm 2017 giải quyết việc làm cho khoảng 1,633 triệu lao)
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại những hạn chế như: các chính sách về việc làm chưa thực sự đáp ứng các yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội, các chính sách còn mang tính chung chung; chính sách tiền lương chưa phù hợp, chưa tạo sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp; phạm vi bao phủ của các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp còn hạn chế; các chính sách kinh tế thường thiếu định hướng
Trang 8chuyển dịch cơ cấu ngành gắn với nhu cầu lao động và đào tạo lao động tương ứng… Đồng thời, việc triển khai thực hiện các chính sách còn chậm, thiếu cán bộ cơ sở, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ; chất lượng lao động hạn chế, năng suất lao động thấp; chất lượng việc làm chưa cao; tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ diễn biến phức tạp; hệ thống thông tin thị trường lao động chưa đầy đủ, kịp thời, chính xác; hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm tư vấn, giới thiệu việc làm kém hiệu quả
Câu 8: Vì sao xã hội hóa công tác trợ giúp xã hội là xu hướng chủ yếu trong điều kiện hiện nay Liên hệ thực tiễn VN?
Vấn đề trợ giúp xã hội ở Việt Nam hiện tại không phải chỉ là vấn đề của riêng ai mà đó chính là sự quan tâm cũng như đóng góp của toàn xã hội
để xã hội ngày càng phát triển hơn
Đối tượng cần trợ giúp xã hội là rất lớn
- số người cần trợ giúp xã hội trên cả nước khá lớn, chiếm trên 20% tổng dân số
- khoảng 2,7 triệu đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện hưởng trợ cấp hàng tháng từ ngân sách nhà nước
Mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội còn thiếu và yếu
- thiếu về số lượng và yếu về chất lượng
- chưa đáp ứng được yêu cầu chăm sóc, trợ giúp cho đối tượng
- cơ sở vật chất của nhiều cơ sở trợ giúp được xây dựng từ lâu, nay đã xuống cấp
- dụng cụ y tế, trang thiết bị cần thiết để phục hồi chức năng còn rất thiếu
- Tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, viên chức và nhân viên công tác xã hội làm việc tại các cơ sở còn nhiều hạn chế, phần lớn các cán
Trang 9bộ nhân viên này chưa qua đào tạo hoặc được đào tạo từ nhiều nghề khác nhau, làm việc không đúng ngành, nghề đào tạo
Cần thiết phải đầu tư , mở rộng mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội
- đổi mới hệ thống an sinh xã hội nói chung và mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội nói riêng
- Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
- hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội
- Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội
Câu 9: Lý giải bảo hiểm xã hội là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội? So sánh sự khác biệt cơ bản giữa bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại ở Việt Nam? Liên hệ thực tế
Hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên cơ
sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Theo phương thức đó, người lao động phải có đóng góp vào quỹ BHXH mới được quyền lợi BHXH Còn mối quan hệ giữa mức đóng và quyền lợi được hưởng lại chịu sự ràng buộc của các nguyên tắc như: nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ rủi ro (thể hiện ở chính sách BHYT, chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ), nguyên tắc tương quan giữa đóng và hưởng có sự can thiệp nhờ cách thức phân phối lại mang tính xã hội (chế độ hưu trí, tử tuất)
Bản chất của BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao
Trang 10động hoặc chết trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện.
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm mang tính cộng đồng chia sẻ sâu sắc được áp dụng trong lĩnh vực khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho mọi người, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế.
Hệ thống an sinh xã hội là một hệ thống tổng hợp gồm nhiều chế độ, chính sách mà trong đó mỗi chế độ, chính sách đều có vai trò, chức năng và phạm
vi hoạt động riêng, mang tính kết hợp nhằm tạo ra một mạng lưới an sinh xã hội rộng khắp, bao trùm toàn bộ dân cư của một quốc gia Hệ thống này có mục tiêu bảo vệ mọi thành viên trước những rủi ro và giữ gìn cuộc sống của
họ với những biện pháp thích hợp hay những quyền lợi hợp lý trước những biến động bất thường xảy ra hay trong những hoàn cảnh và điều kiện đặc
biệt Tuy nhiên, trong hệ thống an sinh xã hội thì hệ thống BHXH giữ vai trò trụ cột, bền vững nhất Phát triển BHXH sẽ là tiền đề và điều kiện để
thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Vai trò của chính sách bảo hiểm, BHYT đối với an sinh xã hội:
Một là, người lao động khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập để hỗ trợ bản thân hoặc người khác khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, lúc tuổi già để duy trì và
ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình Cho nên, hoạt động BHXH,
BHTN, BHYT một mặt đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng người lao động đối với bản thân mình, với gia đình và cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa
vụ, mặt khác nó thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững Thông qua đó người sử dụng lao động cũng có trách nhiệm đóng góp BHXH, BHTN, BHYT cho người lao động, góp phần trách nhiệm bảo vệ người lao động khi gặp phải rủi ro
Hai là, thực hiện chính sách BHXH, BHTN, BHYT đảm bảo sự bình đẳng về vị trí xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển Xóa bỏ nhận thức trước đây