Chương trình và chính sách an sinh xã hội sẽ là một trong những giải pháp cơ bản cho người nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa.. Luận văn đi vào nghiên cứu một số vấn đề về an si
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
LƯƠNG THÙY DƯƠNG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI CHO NÔNG DÂN MẤT ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
TẠI PHƯỜNG LỘC VƯỢNG, NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
- Chuyên ngành: Xã hội học
Hà Nội, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
LƯƠNG THÙY DƯƠNG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI CHO NÔNG DÂN MẤT ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
TẠI PHƯỜNG LỘC VƯỢNG, NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
- Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Mai Quỳnh Nam
Hà Nội, 2013
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành chương trình Thạc sĩ và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy cô, đồng nghiệp và gia đình
Đầu tiên tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến PGS TS Mai Quỳnh Nam, người thầy đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này cũng như giữ lửa để tôi kiên trì với công việc nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn, PGS TS Nguyễn Thị Kim Hoa, TS Hoàng Thu Hương cùng các thầy cô Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã giúp đỡ tôi trong thời gian được đào tạo tại trường, khoa
Để hoàn thành chương trình đào tạo này, tôi đã được sự tạo điều kiện của cơ quan Xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ về mặt khoa học và tinh thần từ các đồng nghiệp trong cơ quan
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ UBND phường Lộc Vượng cùng những người dân trên địa bàn phường đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành công việc thu thập số liệu, tư liệu, điều tra khảo sát trên địa bàn phường
Mặc dù có rất nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn với tâm huyết và sự nhiệt tình nhưng cũng không thế tránh khỏi thiếu sót rất mong sự đóng góp
chân thành của quý thầy cô và bạn đọc
Hà Nội, 12/2013
Lương Thùy Dương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1.Lý do chọn đề tài 8
2.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 10
2.1.Ý nghĩa lý luận 10
2.2.Ý nghĩa thực tiễn: 10
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
3.1 Mục đích nghiên cứu 10
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
4.Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11
5.Tổng quan tình hình nghiên cứu 12
5.1.Nghiên cứu về an sinh xã hội và an sinh xã hội cho nông dân 12
5.2.Nghiên cứu về nông dân mất đất 25
5.3.Nghiên cứu về “đô thị hóa” và “vấn đề đất đai trong quá trình Đô thị hóa”28 6.Phương pháp nghiên cứu 37
6.1 Phương pháp định lượng 37
6.2 Phương pháp định tính 37
6.3 Tiêu chí chọn mẫu 38
6.4 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp 38
7 Câu hỏi nghiên cứu 38
8 Giả thuyết nghiên cứu 38
9 Khung phân tích 39
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 41
1.1 Lý thuyết 41
Trang 51.1.1 Lý thuyết cơ cấu xã hội 41
1.1.2 Lý thuyết an sinh xã hội 46
1.1.3.Lý thuyết đô thị hóa 49
1.2 Các khái niệm 52
1.2.1.An sinh xã hội 52
1.2.2.Đô thị hoá 54
1.2.3 Nhu cầu 55
1.3.Về địa bàn nghiên cứu 56
1.3.1 Giới thiệu chung về phường Lộc Vượng 56
1.3.2 Về các dự án thu hồi đất trên địa bàn phường Lộc Vượng từ năm 2000 đến nay 57
1.4 Về Chương trình - chính sách an sinh xã hội nông dân mất đất có thể tiếp cận phường Lộc Vượng 58
1.4.1 Chương trình, chính sách về Bảo hiểm xã hội 58
1.4.2 Chương trình, chính sách về Bảo hiểm y tế 59
1.4.3 Chương trình và chính sách hỗ trợ nông dân mất đất tham gia thị trường lao động 61
1.4.4 Trợ cấp, trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất 62
CHƯƠNG 2: TÌNH TRẠNG AN SINH XÃ HỘI CỦA NÔNG DÂN MẤT ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TẠI PHƯỜNG LỘC VƯỢNG 64 2.1 Những khó khăn để ổn định cuộc sống sau mất đất của nông dân 66
2.1.1 Lao động - việc làm 67
2.1.2 Giáo dục - đào tạo nghề 71
2.1.3 Biến đổi lối sống 75
2.1.4 Vấn đề môi trường 81
Trang 62.1.5 Biến đổi an ninh trật tự 82
2.2 Yếu tố tác động đến Chính sách an sinh xã hội cho nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa 86
2.2.1 Văn bản, chính sách liên quan đến đô thị hóa 86
2.2.2 Nhận thức của nông dân về quyền lợi và quan điểm về việc tham gia chương trình bảo hiểm 88
2.3 Nhu cầu về an sinh xã hội của nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa 92
2.3.1 Nhu cầu về hỗ trợ giải quyết việc làm 92
2.3.2 Nhu cầu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 97
2.3.3.Nhu cầu về các dịch vụ xã hội 98
2.4 Giải pháp hỗ trợ an sinh xã hội cho nông dân mất đất tại phường Lộc Vượng 101
2.4.1 Vai trò của chủ đầu tư các dự án tại địa phương 101
2.4.2 Vai trò của chính quyền địa phương 103
2.4.3 Vai trò tổ chức hội, đoàn thể 105
2.4.4 Vai trò của cộng đồng dân cư 107
2.4.5 Vai trò của người nông dân mất đất 109
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Tài liệu trong nước 114
Tài liệu tiếng Anh 120
PHỤ LỤC I - CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 123
BẢNG HỎI A1 - DÀNH CHO HỘ MẤT ĐẤT 123
BẢNG A2 – BẢNG HỎI DÀNH CHO HỘ KHÔNG MẤT ĐẤT 132
Trang 7B1- NỘI DUNG ĐỊNH HƯỚNG PHỎNG VẤN SÂU NÔNG DÂN MẤT ĐẤT 140 B2 - NỘI DUNG ĐỊNH HƯỚNG PHỎNG VẤN CÁN BỘ CHÍNH QUYỀN/HỘI ĐOÀN THỂ 142 C1 - NỘI DUNG ĐỊNH HƯỚNG THẢO LUẬN NHÓM NÔNG DÂN MẤT ĐẤT 143 PHỤ LỤC II - BẢNG THU THẬP SỐ LIỆU THỐNG KÊ PHƯỜNG LỘC VƯỢNG 144 PHỤ LỤC III - THÔNG TIN CÁC DỰ ÁN THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG LỘC VƯỢNG TỪ NĂM 2000 – 2013 147
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH : An sinh xã hội
SWOT : Phương pháp đánh giá mạnh – yếu
UN-HABITAT : Chương trình định cư con người Liên hiệp quốc
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
HÌNH
Hình 1.1 Mô hình “Lưới an sinh xã hội” 48
BẢNG Bảng 1.1 Hệ thống an sinh sã hội theo mô hình và khả năng tiếp cận 49
Bảng 2.1 Những khó khăn của hộ nông dân mất đất 69
Bảng 2.2 Thống kê nhập cư trên địa bàn phường Lộc Vượng 76
Bảng 2.3 Biến đổi mức sống của người dân so với trước năm 2005 78
Bảng 2.4 Biến đổi tâm lý cộng đồng sau mất đất 80
Bảng 2.5 Thống kê số vụ tranh chấp giữa các hộ dân liên quan đến đất đai……80
Bảng 2.6 Quan điểm của người dân về quyền lợi khi tham gia bảo hiểm 90
Bảng 2.7 Quan điểm của người dân về việc tham gia bảo hiểm 90
Bảng 2.8 Đánh giá mức sống hộ gia đình 93
Bảng 2.9 Hỗ trợ vốn vay của Hội nông dân, Hội phụ nữ đối với hộ nông dân mất đất 106
BIỂU Biểu 2.1 Tỷ lệ hộ theo mức độ đất nông nghiệp bị thu hồi 68
Biểu 2.2 Số vụ tranh chấp, vụ án được UBND phường Lộc Vượng giải quyết 84
Biểu 2.3 Những khó khăn lao động 15-35 tuổi sau mất đất 94
Biểu 2.4 Những khó khăn của lao động 35 - 55 với nữ, 35 - 60 tuổi với nam 96
Trang 10MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Đô thị Việt Nam những năm qua đang phát triển theo chiều rộng, tính
từ năm năm 2000 cả nước có từ 645 đô thị đến năm 2010 đã tăng lên 721 đô thị [48, tr 15, 49, 15] Trong 10 năm kể từ 2000 đến 2010 số lượng đô thị loại
IV (thị trấn trực thuộc huyện) tăng lên là chủ yếu, tăng 11,7% Điều này cho thấy làn sóng đô thị hóa đang lan tỏa đến các làng quê và cùng với nó là việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất mà điển hình nhất là chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng (xây dựng nhà máy, khu công nghiệp, cơ sở hạ
tầng đô thị ) Theo Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29/6/2006 của Quốc
hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về kế hoạch sử dụng đất 5
năm 2006-2010 của cả nước thì chỉ tiêu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất
nông nghiệp sang đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp được phê duyệt là
645.200 ha “Nếu tính trung bình 1 ha đất nông nghiệp liên quan đến 1-2 lao
động nông nghiệp thì số nông dân bị ảnh hưởng trực tiếp từ việc thu hồi đất nông nghiệp từ năm 2006-2010 không dưới 1 triệu người” [37, tr 1]
Đất đai hay ruộng đất gắn liền với sinh kế của người nông dân và qua
đó vị thế xã hội của họ được xác lập Tác giả Nguyễn Danh Sơn trong nghiên cứu về “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát
triển đất nước theo hướng hiện đại” đã nhận định:“Đất đai đối với nông dân
là nhu cầu tối quan trọng mà việc đảm bảo thỏa mãn nhu cầu này như là điều kiện cơ bản cho lợi ích của nông dân” [40, tr.189] Mọi hoạt động sản xuất
nông nghiệp của người nông dân đều gắn với đất đai, thậm chí để sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao cần diện tích đất lớn để có thể thâm canh, chuyên môn hóa, áp dụng máy móc vào sản xuất nâng cao năng suất và sản lượng Nhưng quá trình đô thị hóa ở Việt Nam thời gian vừa qua đã khiến
Trang 11một diện tích đáng kể đất nông nghiệp bị mất đi do chuyển đổi sang đất chuyên dùng (xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, nhà máy, doanh nghiệp)
Như vậy, vị thế xã hội của người nông dân bị biến đổi trong cấu trúc xã hội nghề nghiệp và cấu trúc xã hội vùng khi mất đất trong quá trình đô thị hóa Vị thế xã hội trong cấu trúc xã hội nghề nghiệp của người nông dân chuyển đổi từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp và vị thế
xã hội trong cấu trúc xã hội vùng chuyển từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị Trong thời kỳ chuyển đổi này, người nông dân đã gặp những khó khăn, nhu cầu nào để xác lập vị thế xã hội mới trong cấu trúc xã hội đô thị? Chương trình và chính sách an sinh xã hội sẽ là một trong những giải pháp cơ bản cho người nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa Đồng bằng sông Hồng cùng với đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là những vùng có tốc độ đô thị hóa cao của cả nước Không những vậy đồng bằng sông Hồng lại là vùng có mật độ dân số cao nhất của cả nước Mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng là 949 người/km2
trong khi vùng Đông Nam Bộ là 631 người/km2
(Tổng cục Thống kê, 2012) Bởi vậy, luận văn này lựa chọn nghiên cứu trường hợp tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, đây là một địa phương thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nơi có tốc độ đô thị hóa cao và có nhiều vấn đề xã hội nảy sinh quanh vấn đề thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất Luận văn đi vào nghiên cứu một số vấn đề
về an sinh xã hội dành cho nông dân mất đất nhằm giúp họ thích ứng với quá trình xã hội hóa cá nhân và tạo lập địa vị xã hội của người đô thị qua nghiên cứu tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định
Trang 122.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2.2.Ý nghĩa thực tiễn:
Tại Việt Nam còn thiếu những nghiên cứu về vấn đề an sinh xã hội cho người nông dân mất đất Do đó cần có nghiên cứu khám phá tìm hiểu vấn đề về an sinh xã hội cho người nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa ở phường Lộc Vượng, Nam Định Trong giới hạn về nguồn lực luận văn nghiên cứu trường hợp tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, đây là địa phương đang diễn ra quá trình đô thị hóa với những đặc điểm khá điển hình cho vùng đồng bằng sông Hồng
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu nhằm nhận diện tình trạng an sinh xã hội đối với nông dân mất đất từ đó xác định nhu cầu an sinh xã hội cho người nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
- Đưa ra những khuyến nghị về hỗ trợ cho người nông dân mất đất để họ
ổn định cuộc sống sau mất đất trong quá trình đô thị hóa
Trang 133.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ khái niệm an sinh xã hội, nông dân mất đất, đô thị hóa
- Phân loại đối tượng nông dân mất đất, các loại hình an sinh xã hội
- Xác định nhu cầu và giải pháp về an sinh xã hội để nông dân mất đất ổn định cuộc sống
- Đề xuất một số khuyến nghị để áp dụng các loại hình an sinh xã hội để
hỗ trợ người nông dân mất đất, giúp họ thích ứng với sự biến đổi về đời sống kinh tế - xã hội của bản thân và của xã hội
4.Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: An sinh xã hội cho nông dân mất đất và hậu quả của nó
- Khách thể: Người nông dân bị mất đất trong quá trình đô thị hóa ở phường Lộc Vượng, cán bộ chính quyền, hội, đoàn thể địa phương
- Phạm vi nghiên cứu:
Giới hạn không gian nghiên cứu: Phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định;
Giới hạn thời gian nghiên cứu: từ năm 2000 đến 2011, mốc đối chiếu
là năm 2005 khi có quyết định chuyển từ xã Lộc Vượng sang phường Lộc Vượng
Luận văn này hướng đến tìm hiểu vấn đề mất đất nông nghiệp vì đây chính là tư liệu sản xuất chính của người nông dân Mất đất nông nghiệp có tác động sâu sắc đến đời sống của người nông dân khi phải tổ chức lại hoạt động sản xuất, lối sống từ đó dẫn đến những nhu cầu để
ổn định cuộc sống sau mất đất
Trang 145.Tổng quan tình hình nghiên cứu
5.1.Nghiên cứu về an sinh xã hội và an sinh xã hội cho nông dân
Nghiên cứu trên thế giới về an sinh xã hội hay phúc lợi xã hội
Sau cách mạng công nghiệp, hệ thống an sinh xã hội có những cơ sở để hình thành và phát triển Đó là vì lực lượng công nhân tăng lên và cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu hoặc hoàn toàn vào tiền làm công nên sự hụt hẫng
về tiền lương sẽ trở thành mối đe dọa với cuộc sống của người không có thu nhập ngoài lương Hoàn cảnh này khiến những người làm công cần được hỗ trợ Xét về truyền thống, hệ thống an sinh xã hội của châu Âu được hình thành từ trước đó, trên cơ sở Luật cứu trợ người nghèo ra đời ở Anh từ thế kỷ XVI và lan dần sang các nước châu Âu Theo luật này nghèo khổ là khuyết điểm của người nghèo, chính vì vậy xã hội cần phải trợ giúp họ để chọ có điều kiện làm việc tốt hơn [45]
Cũng theo nghiên cứu về an sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực, năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật Thời gian đầu những người làm công đóng góp, thời gian sau đó đến năm
1880, giới chủ và Nhà nước cũng tham gia đóng góp bắt buộc cùng người lao động [44]
Mô hình của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó lan sang các nước Mỹ Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada những năm 1930 Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, an sinh xã hội đã lan rộng sang các nước giành độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Ca-ri-bê Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển
Đạo luật đầu tiên về an sinh xã hội trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở
Mỹ, quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp Thuật ngữ an sinh xã hội chính thức được sử dụng
Trang 15Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dung thuật ngữ này trong các công ước quốc tế An sinh xã hội được thế giới thừa nhận là một trong những quyền của con người
Tuyên ngôn nhân quyền do đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng an sinh xã hội”
Hội nghị toàn thể của ILO ngày 25/6/1952 thông qua công ước số 102 gọi tắt là Công ước về An sinh xã hội trên cơ sở tập hợp các chế độ về an sinh
xã hội đã có trên toàn thế giới thành chín bộ phận nhưng đến nay do tính chất phức tạp của an sinh xã hội nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này
Sự ra đời của những văn kiện quốc tế về an sinh xã hội cho thấy tầm quan trọng và sự quan tâm của các tổ chức quốc tế, chính phủ các nước đối với vấn đề này Trong dòng chảy đó, những nghiên cứu về an sinh xã hội đã ngày càng được quan tâm hơn, đó không chỉ là mối quan tâm của kinh tế học, chính trị học, tâm lý học và tất nhiên bao gồm xã hội học
Tác giả Vũ Mạnh Lợi và cộng sự đã có một sự khái lược về những
tranh luận, thai nghén đầu tiên của các học giả trên thế giới, những tranh luận của các trường phái Xã hội học nổi tiếng thế giới Nhóm tác giả đã khái lược quá trình phát triển, tranh luận của các học giả trên thế giới về an sinh xã hội
và gia đình Từ khái niệm “nhà nước phúc lợi”, Tác giả đã dẫn dắt đến những tranh luận xoay quanh khái niệm này Xuất phát điểm đầu tiên là quan điểm phản đối sự can thiệp của nhà nước vào thị trường lao động, thị trường sản xuất làm phá hỏng hoạt động của “bàn tay vô hình” [25]
Như vậy, những tranh luận đầu tiên về an sinh xã hội chính là tranh luận về chủ thể thực hiện an sinh xã hội nào được ủng hộ và khái niệm trung
Trang 16tâm của những cuộc tranh luận này chính là “nhà nước phúc lợi” và “gia
đình” Có thể nói hai chủ thể tranh luận chính là 2 trường phái xã hội học
danh tiếng thế giới, đó là trường phái Chicago và trường phái Frankfurt, phong trào nữ quyền cũng tham gia vào tranh luận này Các nhà xã hội học
Mỹ hiện đại (trường phái Chicago) ủng hộ sự tham gia của nhà nước về phúc lợi xã hội vì sự tham gia này sẽ gánh bớt những chức năng vốn là nặng nề với gia đình, sự san sẻ chức năng cho nhà nước sẽ giúp gia đình thực hiện tốt hơn những chức năng còn lại Ngược lại, các học giả trường phái Frankfurt đưa ra quan điểm phản biện:
1 Ngợi ca chức năng gia đình là nơi nương náu cuối cùng của những mối quan hệ con người bị xói mòn bởi nhà nước
2 Sự can thiệp của nhà nước vào đời sống của người nghèo là thiết chế
“kiểm soát xã hội” hơn là sự giúp đỡ nhân từ
3 sự mở rộng của nhà nước phúc lợi là sự xâm phạm vào lĩnh vực riêng tư của quan hệ con người và những căn nguyên bản năng của cá nhân
Cùng chung với phê phán của trường phái Frankfurt là Phong trào nữ quyền phê phán nhà nước phúc lợi vì tiền đề của nhà nước phúc lợi đặt ra trách nhiệm đặc biệt của phụ nữ đối với gia định, cô lập người phụ nữ trong gia đình và có địa vị phụ thuộc trong lực lượng lao động
Cho đến nay, chính sách an sinh xã hội đã được các quốc gia quan tâm đến nhiều hơn, tùy thuộc vào điều kiện và tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia
Những nội dung tiếp theo về mô hình an sinh xã hội của các nước EU được tác giả tham khảo từ cuốn Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Đinh Công Tuấn chủ biên) [45] Cuốn sách này
đã giới thiệu, phân loại và so sánh về các loại mô hình an sinh xã hội của EU,
vì vậy có thể nói đây là tài liệu tham khảo khá toàn diện để tìm hiểu về mô hình an sinh xã hội của EU
Trang 17Mô hình an sinh xã hội kiểu Scandivani (Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan) có đặc trưng: 1 Mọi người dân đều được hưởng hệ thống an sinh xã hội;
2 An sinh xã hội chủ yếu dựa vào thuế; 3 Hệ thống công ty chịu trách nhiệm chủ yếu về phân phối lợi ích an sinh xã hội; 4 Nhà nước chỉ đảm nhận thanh toán bảo hiểm thất nghiệp; 4 Lợi ích an sinh xã hội mà người dân được hưởng rất cao
Mô hình nhà nước phúc lợi xã hội dân chủ gắn với mô hình an sinh xã hội kiểu Scandivani với đặc trưng: 1.Phân phối phúc lợi bình đẳng giữa các giai cấp, các thành viên xã hội; 2.Nhà nước là lực lượng chủ yếu đảm bảo
phân phối phúc lợi; 3.Mục tiêu ưu tiên hàng đầu là việc làm đầy đủ cho
người dân
Mô hình an sinh xã hội kiểu châu Âu lục địa (Đức, Áo, Pháp) có đặc trưng là: 1 Bảo hiểm xã hội là hạt nhân của hệ thống an sinh xã hội; 2 An sinh xã hội dựa chủ yếu vào sự đóng góp thu nhập của các thành viên trong xã hội; 3 An sinh xã hội được thanh toán không đều cho các giai cấp, các thành viên trong xã hội
Mô hình nhà nước phúc lợi bảo thủ gắn với mô hình an sinh xã hội này, đặc trưng là: 1 Phúc lợi phân phối không đều giữa các giai cấp, các thành viên trong xã hội 2 Nhà nước đóng vai trò chủ yếu trong phân phối phúc lợi
Mô hình an sinh xã hội kiểu Anglo-Saxon (Anh, Ai len) có đặc trưng:
1 Thực hiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện; 2.An sinh xã hội được thanh toán sau khi đã qua thẩm tra tài sản, ở mức thấp; 3 Dịch vụ sức khỏe được chú trọng
Mô hình nhà nước phúc lợi Thị trường tự do gắn với mô hình an sinh
xã hội này có đặc trưng: 1 Phân phối phúc lợi chủ yếu giành cho người nghèo, người yếu thế trong xã hội; 2 Nhà nước chỉ can thiệp khi các thành viên trong xã hội gặp rủi ro
Trang 18Trên cơ sở Luật cứu trợ người nghèo, cuối thế kỷ XIX châu Âu đã phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, đến nay hệ thống bảo hiểm xã hội châu Âu được xây dựng theo một trong hai mô hình Bismarck và Beveridge
Hệ thống bảo hiểm theo mô hình Bismarck với nguyên tắc bảo thủ và gia trưởng được áp dụng ở nước Đức từ những năm 1880 để giải quyết các vấn đề của người công nhân vốn đang đe dọa trật tự xã hội thời kỳ đó Hệ thống bảo hiểm xã hội của mô hình này gắn với nhóm người có nghề nghiệp trong xã hội hay được gọi là hệ thống định hướng nghề nghiệp, được thực hiện trên cơ sở “hợp đồng của các thế hệ” Thông qua bảo hiểm “các thế hệ công nhân trẻ cung cấp một sự bảo lãnh tài chính cho tuổi già của cha mẹ và
ông bà ” (thuật ngữ pay as you go) thực hiện trên nguyên tắc phụ thuộc: thứ
nhất là cá nhân, sau đó là gia đình và cộng đồng, sau cùng là nhà nước
Hệ thống bảo hiểm theo mô hình Beveridge được áp dụng cho tất cả
thành viên của xã hội, được phát triển theo nguyên tắc tự do cải cách, được nước Anh áp dụng đầu tiên năm 1942 Đặc trưng của mô hình này là nó nhấn mạnh đến tính toàn diện về phạm vi, lĩnh vực, lợi ích của nhứng người tham gia bảo hiểm, nhà nước chịu trách nhiệm chính về mặt tài chính
Sự khác biệt cơ bản giữa hai mô hình này là mô hình Bismarck dựa trên quan điểm về sự đóng góp và thụ hưởng theo nguyên tắc đoàn kết trong khi
mô hình Beveridge nhằm đảm bảo mức sống và nhu cầu tối thiểu cho trẻ em
và người không có khả năng tự lo cho bản thân trên nguyên tắc tự chịu trách nhiệm, ngân sách chủ yếu từ chính phủ
Nhật Bản là một trong những nền kinh tế mạnh nhất châu Á hiện nay nhưng sau chiến tranh thế giới thứ 2 đất nước này đã gặp rất nhiều khó khăn
do bị tàn phá nặng nề kết hợp với những vấn đề kinh tế - xã hội: siêu lạm phát, thất nghiệp trầm trọng, số lượng lớn trẻ mồ côi, vấn đề nạn nhân chiến tranh Tình trạng này đã làm rất nhiều người rơi vào cảnh khốn cùng Trong
Trang 19hoàn cảnh đó, Luật trợ giúp quốc gia (1946-1950) được ban hành để cung cấp
sự trợ trợ giúp công cộng và thay thế những Luật trước chiến tranh nhằm xóa
bỏ sự nghèo đói và cung cấp phúc lợi công cộng, và tiêu chuẩn nhận trợ cấp được nới lỏng rất nhiều Những vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra sau chiến tranh
đã có được trợ cấp tương ứng bởi các luật sau: Luật Phúc lợi trẻ em (1947), Luật Phúc lợi dành cho người tàn tật (1948), Luật Liên đoàn lao động (1945), Luật Bảo hiểm việc làm (1947), Luật Bảo hiểm đền bù cho người lao động (1947) Từ cuối những năm 1950-1973, chế độ đảm bảo xã hội (an sinh xã hội) không ngừng được mở rộng Đến cuối thập kỷ 1950, nền kinh tế Nhật Bản đã được phục hồi ở mức trước chiến tranh Chính vì vậy, cùng với ý tưởng xây dựng nhà nước phúc lợi, chính phủ Nhật Bản bắt đầu chú trọng hơn tới việc mở rộng các chính sách xóa bỏ đói nghèo Nhưng nông dân và những người làm trong khu vực tư nhân không được hưởng bất kỳ chế độ hưu trí nào
và tùy ý tham gia hay không bảo hiểm y tế ở địa phương Vì vậy có rất nhiều người không báo bảo hiểm y tế, đặc biệt ở các khu vực đô thị lớn Luật Bảo hiểm y tế quốc gia đã được thông qua năm 1958 và Luật Hưu trí quốc gia được thông qua 1959 được thực hiện năm 1961 đã cung cấp bảo hiểm CSSK
và bảo hiểm hưu trí cho mọi công dân Nhật Bản [32]
Nghiên cứu trong nước về an sinh xã hội và an sinh xã hội cho nông dân
Khi chính sách Đổi mới được thực hiện từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể cũng là lúc các vấn đề xã hội phát sinh với những vấn đề như bất bình đẳng xã hội, chênh lệch giàu – nghèo, thất nghiệp, thiếu việc làm… Nếu như trước đó chính sách an sinh xã hội của Nhà nước chủ yếu gói gọn trong chính sách với Người có công, đối tượng chính sách, và chương trình bảo hiểm xã hội đối với lao động khu vực chính thức thì đến thời kỳ Đổi mới, cần có nhiều hơn thế những chính sách an sinh xã hội, đối tượng thụ hưởng an sinh xã hội cần được mở rộng Những năm 1990,
Trang 20những nghiên cứu về an sinh xã hội thực sự trở thành mối quan tâm lớn đối với lĩnh vực xã hội học nói riêng và khoa học xã hội nói chung (tâm lý học, khoa học lao động, kinh tế học…)
Tác giả Nicolas Prescott trong cuốn “Proverty, social services and
Safety Nets in Viet Nam” đã đưa ra đánh giá chung về việc thực hiện dịch vụ
xã hội của Việt Nam, đã chỉ ra rằng: mặc dù Việt Nam đã đạt được những
thành tựu đáng kể trong việc cung cấp rộng rãi các dịch vụ xã hội cơ bản, nhưng số lượng và chất lượng các nội dung dịch vụ xã hội của quốc gia trong sau thời kỳ Đổi mới vẫn còn nhiều tồn tại [63]
Đi sâu vào đối tượng thụ hưởng an sinh xã hội, tác giả Bùi Thế Cường
trong cuốn sách Trong miền an sinh xã hội, nghiên cứu về tuổi già Việt Nam
[9] đã chỉ ra những nguồn lực vật chất của người già là: tự lập, giúp đỡ của con cái, bảo trợ xã hội Như vậy, sự tự lập, giúp đỡ của con cái và bảo trợ xã hội là ba nguồn lực hỗ trợ người già, do đó để tăng cường cơ sở vật chất cho người già cần có những biện pháp kích thích các nguồn lực này, trong đó cần
có sự tác động của chính sách công Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh,
Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung, Robert Leroy Bach trong cuốn sách: “Bảo
trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam” [12] đã chỉ ra rằng: người
nghèo ở nông thôn đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ Nhìn chung nông dân không tham gia vào các kế hoạch bảo hiểm xã hội hiện hành mà chỉ những người làm công ăn lương có hợp đồng lao động từ ba tháng trở lên trong các tổ chức, Mặc dù người nông dân được thụ hưởng một số chính sách về Y tế, giáo dục, nhà ở, trợ cấp và đất đai ưu đãi cho người nghèo nhưng vẫn còn một số tồn tại cần giải quyết
Những vấn đề tồn tại trong chính sách chăm sóc sức khỏe: 1 Chậm trễ trong việc công nhận các gia đình được hưởng hỗ trợ, chậm phát thẻ BHYT hoặc giấy tờ chăm sóc sức khỏe miễn phí 2 Thủ tục rắc rối, mất thời gian; 3
Trang 21Trợ cấp tài chính thấp; 4 Chất lượng khám chữa bệnh ở cấp huyện và cấp xã còn thấp; 5 Thiếu thông tin về các chính sách của chính phủ và những chương trình dành cho người nghèo; 6 Thói quen CSSK của người dân Đối
với chính sách giáo dục, ở nhiều vùng nghèo thách thức về giáo dục vẫn còn:
tỉ lệ đi học thực sự thấp và tỉ lệ bỏ học/lưu ban cao Rào cản với nông dân vừa
do chi phí lớn lẫn chi phí cơ hội cho con em đến trường [26, tr 35-37]
Tác giả Trịnh Duy Luân trong báo cáo Góp phần xây dựng hệ thống an
sinh xã hội tổng thể ở nước ta hiện nay, đã cho rằng: Hệ thống ASXH được
nhìn nhận như một thiết chế xã hội cơ bản quan trọng với 2 chức năng chính: phân phối lại và quản lý các rủi ro đối với các thành viên của xã hội Cấu trúc nội dung các hợp phần của hệ thống ASXH gồm ba trụ cột chính: 1.Bảo hiểm
xã hội; 2.Hệ thống bảo trợ/cứu trợ xã hội, dành cho những nhóm yếu thế; 3.Hệ thống ưu đãi xã hội BHXH và các chương trình mục tiêu được cho là đã không hoàn toàn thành công trong việc tiếp cận dung tới các nhóm ưu tiên là những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất [27, tr.10] Các chương trình hỗ trợ xã hội thường thiếu công cụ tin cậy giám sát việc lựa chọn đối tượng thụ hưởng nhằm đạt hiệu quả tốt nhất Hệ thống ASXH của Việt nam cần mở rộng tầm bao phủ và tăng cường tính hiệu quả của việc tiếp cận các nhóm mục tiêu
Tác giả Vũ Mạnh Lợi và cộng sự trong nghiên cứu về “Vai trò và nhu
cầu của gia đình về an sinh xã hội” đã phác họa về gia đình và hệ thống an
sinh Hạn chế của nghiên cứu này là nguồn lực hạn chế nên nghiên cứu một mẫu nhỏ với nội dung thu hẹp ở nhận thức về nhu cầu của người dân Nhóm tác giả cho rằng: Việc nghiên cứu kỹ lưỡng cách gia đình chăm sóc các thành viên dễ bị tổn thương và mối quan hệ giữa các thành viên dễ bị tổn thương với thành viên khác trong gia đình có hàm ý quan trọng đối với việc xây dựng một hệ thống an sinh xã hội hiệu quả và bền vững Kết quả nghiên cứu cho
Trang 22thấy: “Những biến số quan trọng giúp giải thích khuôn mẫu để phòng rủi ro
có liên quan chặt chẽ tới các quy định của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc… Người dân vẫn dựa nhiều vào các quan hệ truyền thống, nhất là mạng lưới các quan hệ gia đình và dòng họ để tìm sự trợ giúp khi rủi ro Các tổ chức xã hội đóng vai trò mờ nhạt trong bức tranh phòng ngừa và đương đầu với rủi ro Nhưng với những người di cư thì việc ứng phó với rủi ro như vậy tỏ ra không hiệu quả Đề xuất của nhóm tác giả là cần tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn về vấn
đề còn bỏ ngỏ này”
Tác giả Tô Duy Hợp trong nghiên cứu về “Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn cơ bản của việc kiến tạo hệ thống an sinh xã hội Tam nông ở Việt Nam – tầm nhìn 2020” đã cho rằng hệ thống an sinh xã hội tam nông (an sinh
xã hội cho nông nghiệp – nông dân và nông thông) là một bộ phận của hệ thống an sinh xã hội [20, tr 10] và phải hướng đến bền vững Mô hình hệ thống tam nông Việt Nam – tầm nhìn 2020 mà tác giả đưa ra là: 1 Cần chính thức hóa và chuyên nghiệp; 2 Chuyển từ dựa trên phúc lợi xã hội là chính sang dựa trên bảo hiểm xã hội là chính; 3 Dựa trên nguyên tắc nhà nước và nhân dân ùng làm, lấy tự nguyện của người dân là chính
Tác giả Magaret Gosh, Carlo del Ninno, Emil Tesliuc & Azedin Ouerghi, trong cuốn bảo trợ và thúc đẩy xã hội (thiết kế triển khai các mạng lưới an sinh xã hội hiệu quả) (2008) đã nghiên cứu về mạng lưới an sinh xã hội và các nguồn lực tài chính cho các mạng lưới này và trình bày các quy trình then chốt của mọi mạng lưới an sinh xã hội Có thể nói công trình đã cung cấp những thông tin giúp cho quá trình đánh giá và lựa chọn các phương
án dựa trên những nguyên tắc nên sử dụng khi “đan kết” mạng lưới an sinh xã hội và lắp ghép nó vào chính sách xã hội rộng lớn hơn Công trình đã đưa ra những phân tích, dẫn chứng minh họa khá phong phú và đa dạng từ kinh nghiệm làm việc và thực thi an sinh xã hội tại nhiều quốc gia trên thế giới
Trang 23Đây là một công trình nghiên cứu phát triển, sử dụng một cách chừng mực lý luận, học thuật (sử dụng lý thuyết về phân bổ chi tiêu) và chú trọng đến những kinh nghiệm thực tiễn Ý nghĩa lớn nhất của công trình là đưa ra công
cụ hỗ trợ những người làm chính sách về bảo trợ và thúc đẩy xã hội [14]
Nghiên cứu về an sinh xã hội cho nông dân
Những năm 2000, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp diễn ra mạnh mẽ trên cả nước và hệ quả của nó là việc làm, nghề nghiệp, đời sống của người nông dân sau mất đất dần được báo chí và dư luận
xã hội quan tâm Nghiên cứu xã hội học, kinh tế học đã có quan tâm hơn về
vấn đề này
Tác giả Bế Quỳnh Nga và cộng sự đã có nghiên cứu nghiên cứu “Các mạng lưới xã hội ở nông thôn trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi”, qua
nghiên cứu định tính tại một xã vùng ĐBSH Nội dung nghiên cứu: (i) Nhận
diện về vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong việc trợ giúp xã hội tại xã Tân Lập; (ii) Nhận diện vai trò của các tổ chức xã hội tự nguyện trong hệ thống trợ giúp xã hội tại xã Tân Lập; (iii) Nhận diện các kiểu kết nối nào (mạng lưới xã hội) làm cơ sở cho các tổ chức xã hội nêu trên Phát hiện của nghiên cứu này là các tổ chức xã hội tự nguyện đã góp phần mở rộng các loại hình và phương thức cho an sinh xã hội Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn lực, nghiên cứu vẫn chưa định lượng các mức độ đóng góp của các tổ chức xã hội
tự nguyện [30]
Đến nay, những nghiên cứu xã hội học về an sinh xã hội đã có khá nhiều nhưng những nghiên cứu về an sinh xã hội cho nông dân nói chung và nông dân mất đất nói riêng còn ít
Tác giả Mai Ngọc Anh trong cuốn sách “An sinh xã hội đối với nông
dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” [1] Đây là công trình nghiên
cứu khá đầy đủ và công phu trên phương diện lý luận và thực tiễn Đây là
Trang 24nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận khá bao quát về hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường: bản chất và vai trò của an sinh
xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thì trường; Nội dung, điều kiện xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường; kinh nghiệm một số nước trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống
an sinh xã hội đối với nông dân Nghiên cứu này chỉ ra những đặc trưng cơ bản của an sinh xã hội đối nông dân Việt Nam Đặc trưng thứ nhất là an sinh
xã hội đối với nông dân Việt Nam được thực hiện dưới sự giúp đỡ của Nhà nước, cộng đồng và sự tự nguyện tham gia đóng góp của người nông dân Đặc trưng thứ hai là an sinh xã hội đối với nông dân Việt Nam thuộc lĩnh vực an sinh xã hội cho khu vực phi chính thức Hệ thống luật pháp cho việc thực thi
an sinh xã hội đối với nông dân vì thế còn nhiều bất cập và tính nhất quán chưa cao Đặc trưng thứ ba là người nông dân là những người có thu nhập thấp và không ổn định, vì vậy tính bền vững và ổn định về tài chính cho việc thực hiện an sinh xã hội không cao
Nghiên cứu này đánh giá hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân dựa trên mức độ tác động của hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân, mức độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân, mức độ bền vững về tài chính của hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân
Đóng góp của công trình này là việc đề xuất xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân Việt Nam gồm: 1 Bảo hiểm y tế; 2 Bảo hiểm xã hội; 3 Trợ giúp xã hội cho nông dân và quỹ dự phòng; 4 Chương trình xóa đói giảm nghèo; 5 Cung ứng dịch vụ xã hội cơ bản cho nông dân
Một nghiên cứu kinh tế khác về an sinh xã hội cho nông dân mất đất là
Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Văn Nhường: “Chính sách an sinh
xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công
Trang 25nghiệp” (Nghiên cứu tại Bắc Ninh) [33] Nghiên cứu sử dụng phương pháp:
1 Phân tích tài liệu về thực trạng ASXH đối với người nông dân bị thu hồi đất (số liệu thứ cấp của cơ quan thống kê, Sở Lao động –Thương binh và Xã hội); 2 Phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh và phân tích theo mô hình SWOT; 3 Sử dụng tài liệu và kế thừa kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án và các nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến
đề tài Tác giả cho rằng: việc ban hành chính sách an sinh xã hội đối với nông dân thuộc diện thu hồi đất còn khá mới và chưa nhiều tỉnh triển khai thực hiện, đồng thời Nhà nước vẫn chưa có khung mẫu về an sinh xã hội đối với nông dân thuộc đối tượng bị thu hồi đất “Vấn đề mấu chốt mang tính quyết định để thực hiện chính sách an sinh xã hội với nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp là nguồn lực tài chính, cộng với cơ chế, chính sách mang tính chất khung từ Chính phủ làm cơ sở để các tỉnh thành phố triển khai thực hiện thuận lợi hơn” [33, tr 170] Đây là một nghiên cứu có được tư liệu khá phong phú, thuận tiện để sử dụng vào làm các luận cứ khoa học Tuy nhiên, luận án sẽ thu hút hơn nếu chỉ ra được với tương ứng với mỗi loại tác động của việc mất đất với nông dân sẽ là những chính sách an sinh xã hội tương ứng nào
Tiểu kết: những nghiên cứu về an sinh xã hội trên thế giới cho thấy
mặc dù Cách mạng công nghiệp đã tạo những cơ sở, tiền đề cho sự phát triển của hệ thống an sinh xã hội tại châu Âu Nhưng nền tảng hệ thống an sinh xã hội của châu Âu được hình thành từ trước đó, trên cơ sở Luật Cứu trợ người nghèo ra đời ở Anh từ thế kỷ XVI và lan dần sang các nước châu Âu Với Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã bị tàn phá nặng nề cùng với những khó khăn, khủng hoảng về kinh tế - xã hội đã đặt ra nhu cầu về chính sách bảo trợ xã hội Sau khoảng 10 năm thực hiện các chính sách bảo trợ xã hội, các vấn đề xã hội được giải quyết cùng với nền kinh tế được hồi phục các
Trang 26chính sách bảo trợ xã hội vì vậy càng được đầu tư ngân sách nhiều hơn, đối tượng và phạm vi bảo trợ xã hội ngày càng được mở rộng Qua đây, có thể thấy, chính sách an sinh xã hội hay bảo trợ xã hội luôn là cứu cánh cho các quốc gia khi lâm vào những khủng hoảng hay khó khăn trong các vấn đề xã hội
Đối với những nghiên cứu về an sinh xã hội ở Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy sau chiến tranh, chính sách an sinh xã hội chủ yếu tập trung vào đối tượng chính sách có công trong chiến tranh Nhưng sau Đổi mới, nền kinh
tế phát triển, những người sống dựa vào lượng ngày càng nhiều do đó đặt ra vấn đề chính sách cho đối tượng này sau khi nghỉ hưu, thất nghiệp v.v Những nghiên cứu về an sinh xã hội ở Việt Nam ngày càng được quan tâm trên các phương diện như mục tiêu chính sách (xóa đói, giảm nghèo, trợ cấp thất nghiệp, chăm sóc sức khỏe v.v ), đối tượng trợ giúp (người có công với cách mạng, người cao tuổi, trẻ mồ côi v.v ), chủ thể thực hiện và tham gia chính sách an sinh xã hội (nhà nước, doanh nghiệp, gia đình, cộng đồng làng
xã v.v )
Khi vấn đề thu hồi đất nông nghiệp diễn ra phổ biến trên cả nước, những vấn đề tranh chấp liên quan đến đất đai ngày càng nóng bỏng cũng là lúc các nghiên cứu về an sinh xã hội cho người nông dân được quan tâm hơn
cả Mới đầu chỉ là những nghiên cứu tìm hiểu về mô hình trợ giúp xã hội ở nông thôn thôn qua mạng lưới xã hội, sau đó mới là nghiên cứu về vấn đề an sinh xã hội cho nông dân, nông dân mất đất Những nghiên cứu đầu tiên về an sinh xã hội cho nông dân mất đất lại chính là từ ngành quản lý kinh tế xuất phát từ sự quan tâm đến chính sách trợ giúp xã hội, chế độ bảo hiểm Những nghiên cứu xã hội học chủ yếu quan tâm đến từng bộ phận hợp thành của hệ thống an sinh xã hội như nghiên cứu về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, trợ giúp cho người cao tuổi…
Trang 275.2.Nghiên cứu về nông dân mất đất
Nghiên cứu trên thế giới
Trung Quốc là nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về xã hội, kinh tế, chính trị Vấn đề nông dân mất đất cũng là vấn đề được nông dân mất ruộng đất Theo Bộ Lao động và Bảo trợ xã hội Trung Quốc (2006), những năm đầu thế kỷ XXI, hàng năm có khoảng 3 triệu nông dân mất ruộng đất cho mục đích đô thị hóa Trong khoảng thời gian từ 1996-2006, có khoảng 40 triệu nông dân mất đất Điều này đã đặt ra nhu cầu về đào tạo nghề và bảo trợ
xã hội đối với những nông dân không còn ruộng đất trong khi đó những người nông dân này lại đứng trước áp lực tham gia vào lực lượng lao động nhập cư tại các đô thị Đối với nhóm nông dân mất đất là thanh niên mục tiêu chính được xác định là đào tạo nghề còn nhóm nông dân trung niên sẽ được hướng đến những dịch vụ xã hội như chăm sóc sức khỏe, trợ cấp tiền mặt Theo Bộ Lao động và Bảo trợ xã hội Trung Quốc, chính quyền địa phương nên có một quỹ riêng cho biện pháp hỗ trợ trợ nông dân mất đất và những người nông dân mất đất cho quá trình đô thị hóa nên được vay tín dụng quy mô nhỏ với mức lãi suất ưu đãi Trước đó, bồi thường cho nông dân mất đất thường được quản lý kém và thấp, mức bồi thường không đủ để người nông dân ổn định cuộc sống như trước khi mất đất [82]
Tăng trưởng của Trung Quốc đặt trọng tâm là đô thị hóa với mục tiêu hướng đến tăng trưởng kinh tế đã đặt ra những vấn đề xã hội chẳng hạn như mâu thuẫn giữa chính quyền và cộng đồng dân cư nông thôn xoay quanh vấn
đề đất đai Một số ý kiến trong giới nghiên cứu Trung Quốc cho rằng: nhà nước cần có những biện pháp bảo vệ quyền của người nông dân trong vấn đề đất đai và giải quyết những hệ quả xã hội của đô thị hóa Những vấn đề cần giải quyết đối với nông dân mất đấ là thất nghiệp, những bất ổn trong xã hội [72]
Trang 28Tại Mỹ, hệ thống nông nghiệp chiếm khoảng 13% sản phẩm quốc nội và khoảng 17% lực lượng lao động và dự kiến sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Mỹ sẽ tăng trong tương lai Việc quản lý tốt đất nông nghiệp đảm bảo cung cấp sản phẩm phi thị trường và những dịch vụ xã hội Đất nông nghiệp
và đất chăn nuôi không chỉ cung cấp lương thực và còn bao hàm việc bảo tồn cuộc sống hoang dã như lũ lụt, vùng đầm lầy, mạch nước ngầm Những dạng năng lượng thu được từ các loại cây trồng nông nghiệp thậm chí là năng lượng thay thế nguồn năng lượng hóa thạch [68] Với đất nước phát triển như
Mỹ, đất nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp không chỉ là hoạt động kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội Bởi vậy, sản xuất nông nghiệp, người nông dân ở đây được hưởng những chính sách hỗ trợ của chính phủ và chính phủ coi nông nghiệp như là một hoạt động phi hàng hóa, phi kinh tế
Nghiên cứu trong nước
Tác giả Bùi Quang Dũng trong cuốn sách “Xã hội học nông thôn” đã
bàn đến vấn đề “tình yêu đất đai” như là một trong những giá trị của người
nông dân Đối với người nông dân, quyền sở hữu đất đai “là dấu hiệu của tính
chất độc lập của người sản xuất nông nghiệp với các hình thức quyền lực”
[10, tr.155] Tác giả đã xem xét vấn đề mối quan hệ với đất đai của người
nông dân trong việc xác định hay gán cho họ một “địa vị xã hội” và sự biến đổi mối quan hệ quyền sở hữu đất đai của người nông dân với các hoạt động sống của người nông dân qua một số hình thái kinh tế thị trường tại Việt Nam
và tác giả cũng chỉ ra rằng: “Những “nông dân thực sự” trung thành với truyền thống thì có xu hướng trở nên nghèo đi, trong khi một số ít, bằng cách
từ bỏ nền kinh tế gắn với đất đai và các truyền thống nông dân thì trở nên khá
giả” [10, tr.158] Có thể thấy rằng, mô hình ứng xử và quan hệ của người
Trang 29nông dân với đất đai có mối quan hệ tương quan đối với thu nhập, chất lượng cuộc sống của người nông dân và điều này cũng là nhân tố tác động đến biến đổi hệ giá trị, lối sống của người nông dân
Cũng bàn về vấn đề ruộng đất và người nông dân, tác giả Lâm Quang Huyên trong cuốn “Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam” đã phân tích về vấn đề ruộng đất qua các thời kỳ cải cách ruộng đất và chính sách ruộng đất trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa Tác giả cho rằng ruộng đất và nông dân là yếu tố cơ bản của nông nghiệp nông thôn và quan hệ giữa người nông
dân với ruộng đất của mình chỉ có thể là “người làm chủ ruộng đất, hoặc
nông dân chỉ là người làm thuê trên mảnh đất của người khác” [21, tr.14]
Vì tính chất của mối quan hệ sở hữu ruộng đất này mà ý thứclao động, sản
xuất của người nông dân cũng thay đổi
Tác giả Nguyễn Danh Sơn trong cuốn “Nông nghiệp, nông thôn, nông
dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại hóa”đã
chỉ ra rằng: “Sự suy giảm về mức độ gắn bó của người nông dân với đất đai
Đây là vấn đề nghiêm trọng, bởi lẽ không có sự quan tâm, thiết tha với ruộng đất thì sẽ không có hiệu quả cao trong sử đụng đất đai, thậm chí tàn phá đất đai Tình trạng nông dân bỏ ruộng để tìm kiếm các công việc khác ở đô thị
đang trở nên phổ biến” [41, tr.189] Về khía cạnh ruộng đất, tác giả đã chỉ ra
thực trạng vấn đề đất đai của người nông dân, hệ quả của nó đối với vấn đề lao động việc làm, vấn đề chính sách, quy hoạch…
Tác giả Lưu Song Hà, trong cuốn “Điều tra điểm tâm lý nông dân bị
thu hồi đất làm khu công nghiệp” [15, tr.155] cho thấy : “Không ít nông dân
vẫn chưa hài lòng với số tiền mà họ đã nhận được do có đất canh tác bị thu hồi “ người ta trả bao nhiêu phải chấp nhận bấy nhiêu thôi”; hay những thay đổi trong quan hệ người – người của những người nông dân bị thu hồi đất;
Sự thích ứng của người nông dân bị thu hồi đất với những thay đổi việc làm
Trang 30do xây dựng khu công nghiệp tại địa phương; vấn đề tâm trạng và thái độ của người nông dân bị thu hồi đất
Trong thời gian qua chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam đã trải qua một vài lần cải cách và sau mỗi lần cải cách, diện mạo nông nghiệp, nông thôn đã có những thay đổi đáng kể Trong cuốn “Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay” tác giả Trần Thị Minh Châu đã cho rằng tác động
của chính sách đất nông nghiệp ở nước ta vừa qua đã “… khơi dậy được động
lực trong nông dân, giải phóng sức sản xuất, góp phần to lớn tạo nên những thành tựu của ngành nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới” [6, tr.206] Tác giả
đề xuất quan điểm hoàn thiện chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam trong
thời gian tới: “Nhất quán chủ trương giao đất lâu dài cho nông dân và tạo cơ
sở pháp lý đầy đủ cho quyền sử dụng đất tham gia thị trường bất động sản”
[6, tr 228]
Trong ấn phẩm“Đất đai trong thời kỳ chuyển đổi Cải cách và nghèo
đói ở Nông thôn Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới đã cung cấp bộ dữ liệu
và tóm tắt số liệu thống kê về tình trạng giao khoán đất nông nghiệp giai đoạn đầu, tình trạng giao đất nông nghiệp, đồng thời so sánh chung về tình trạng nghèo và không có đất qua các cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình từ 1993 đến 2004 [59]
5.3.Nghiên cứu về “đô thị hóa” và “vấn đề đất đai trong quá trình Đô thị hóa”
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Cho đến nay đã có nhiều dự án điều tra nghiên cứu đô thị hóa bền vững ở nước ngoài, đặc biệt tại hai quốc gia láng giềng Thái Lan và Trung Quốc Chẳng hạn như nghiên cứu của Lin, Justin Yifu và Yang, Pao “Công nghiệp hóa nông thôn Trung Quốc trong bối cảnh của sự thần kỳ Đông Á: Suy ngẫm lại sự thần kỳ của Đông Á” Các nghiên cứu này đã đưa ra những định nghĩa
Trang 31và cách phân loại quá trình đô thị hóa (phân loại theo không gian, tính chất, phạm vi đô thị hóa) Theo Michael Waibel với bài viết “Đô thị Việt Nam trong quá trình chuyển đổi” trên diễn đàn Tạp chí Kiến trúc: Hiện nay, trên thế giới, các học giả đã đưa ra một khái niệm đô thị hóa mới, xu hướng đô thị hóa mới, đó là “đô thị hóa ngược” hay theo các học giả Mỹ, hiện tượng này còn gọi là “sự phục hưng nông thôn” Phát triển đến một lúc nào đó, bằng các chính sách của mình, các chính phủ sẽ điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn Quá trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách và chất lượng sống giữa thành thị và nông thôn [23]
Tác giả Berger, Alan [65], Glaeser E [66], Lovelace E.H [73 ], đô thị hóa là một quá trình phát triển tự nhiên trong xã hội con người, trước hết là các cố gắng của cá nhân hay tập thể người nhằm giảm thiểu thời gian và chi phí cho việc đi lại và vận tải bằng cách cải thiện các cơ hội tìm việc làm, giáo dục, nhà ở, chăm sóc sức khỏe, giao thông, v.v… Cuộc sống đô thị cho phép các cá nhân và gia đình của họ tận dụng các lợi thế đô thị như các cơ hội về mật độ dân số, giảm bớt khoảng cách di động hàng ngày, tính chất đa dạng của lối sống đô thị và tính cạnh tranh cao trong thương trường để cải thiện đời sống và vươn lên
Đối với tác giả Macionis J [77, tr 679 ]: Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay điện tích đô thị trên tổng
số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hoá, còn theo cách thứ hai, thì đó chính là tốc độ đô thị hoá Nói một cách đơn giản, đô thị hoá là quá trình tập trung con người trong những vùng không gian địa lý hạn chế có tên gọi là thành phố Đô thị hoá không chỉ làm thay đổi phân bố dân số mà còn làm thay đổi nhiều mô thức đời sống xã hội khác
Trang 32Bên cạnh yếu tố diện tích và cư dân, quá trình đô thị hoá được xác định
rõ ràng bởi đặc trưng thay đổi lối sống Về phương diện này, đô thị là các trung tâm định cư có quy mô lớn, với mật độ cao, thành phần cư dân không đồng nhất, được kiểm soát tập trung Vì vậy mà đời sống đô thị thường được coi là có tính khách quan, giả tạo và là một quá trình mang đặc trưng chuyển tiếp [85, tr 1-24]
Đô thị hóa là quá trình phát triển từ các vùng nông thôn thành các khu vực đô thị, bao gồm cả hình thức đô thị hóa bằng con đường di dân từ nông thôn đến các khu vực đô thị Đô thị hóa gây ra tình trạng thay đổi mật độ dân
cư, tác động đến việc làm và các dịch vụ hành chính, xã hội tại các vùng mới trở thành đô thị hoặc tại chính các khu vực đô thị Ngoài ra quá trình đô thị hóa cũng đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế Nguyên nhân chính của quá trình đô thị hóa nhanh chóng chính là các dòng dân cư nông thôn di cư ra
đô thị tìm việc làm và tìm kiếm các cơ hội kiếm sống khác nhau [71]
Tại các nước đã phát triển, đô thị hóa truyền thống là quá trình tập trung các hoạt động của con người và các khu dân cư xung quanh một khu đô thị trung tâm, và người ta gọi đó là nội di cư Trên thực tế thì nhiều người di cư
đã định cư trong các trung tâm thành phố nghèo và người ta gọi hiện tượng này là “ngoại vi hóa trung tâm” để mô tả những người đã từng sống tại các vùng ngoại vi nay chuyển đến các vùng trung tâm [83] Ngoài ra còn có khái niệm tái nội đô hóa, có nghĩa là những người di dân đến các đô thị không nhất thiết cư trú tại các vùng trung tâm, mà người ta tạo thành các trung tâm mới, bên cạnh các trung tâm vốn có Tại một số vùng đã phát triển, người ta còn sử dụng khái niệm phản đô thị hóa, tại các đô thị này, người dân rời bỏ trung tâm
để quay trở về sống tại các vùng nông thôn, nhất là những gia đình giàu có [62,64]
Trang 33Bên cạnh lối sống đô thị thì sinh thái học đô thị đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu Sinh thái học đô thị phân tích các tương tác
xã hội trong việc cạnh tranh để có được các nguồn lực khan hiếm, đặc biệt là đất Quá trình cạnh tranh giữa các nhóm xã hội tại các đô thị làm tăng thêm hiệu quả sử dụng các nguồn và thúc đẩy quá trình phân công lao động để tạo
ra năng suất và chất lượng cao hơn Các quá trình cạnh tranh đó cũng được
mô tả bằng các khái niệm của lý thuyết vòng tròn đồng tâm, trong đó khu vực trung tâm của thành phố được giành cho các ngành dịch vụ ngân hàng, tài chính; khu vực chuyển tiếp là các ngành kinh doanh và có xu hướng mở rộng
ra bên ngoài [77]
Ngoài mô hình hình thành vòng tròn đồng tâm trong quá trình đô thị hoá người ta còn đề xuất mô hình khu vực, trong đó các khu vực đặc biệt của thành phố có xu hướng phát triển ra bên ngoài các khu hình nêm, thường chạy dọc theo tuyến đường xe lửa hay xe điện bánh hơi Các khu vực phụ cận thành phố lớn cũng rất được ưa thích, đặc biệt là những nơi có phong cảnh đẹp và không khí trong lành, yên bình [72] Tiếp sau mô hình khu vực là mô hình đô thị hoá đa trung tâm, thể hiện quá trình đô thị hoá tăng tốc bằng một
mô hình phân tán dựa trên cơ sở phát triển các thành phố công nghiệp dẫn đến việc hình thành nhiều trung tâm kinh doanh, sản xuất cùng với các vùng phụ cận rất rõ ràng Trong các khu vực này các hoạt động thường tách biệt theo không gian vì một số hoạt động mâu thuẫn với nhau: các nhà bán lẻ nguyên vật liệu có thể thích sống gần khu công nghiệp để báo sản phẩm, trong khi đó các chủ cửa hàng thời trang lại muốn sống ở những nơi xa hoa, lộng lẫy với phần đông là các khách hàng có nhiều tiền của Vì vậy tính phức tạp, khác biệt và đa dạng của thành phố thường tạo ra một bộ mặt đô thị hoá với rất nhiều sắc thái khác nhau dẫn đến việc phân vùng trong quá trình đô thị hoá Bên cạnh đó, khi thành phố phát triển thì giá đất ở vùng ngoài chưa quá cao,
Trang 34vì thế người ta xây dựng các khu công nghiệp tách rời khu vực thành phố đông người, đồng thời phương tiện giao thông cá nhân là ô tô rất phát triển, kéo theo đó là các doanh nghiệp bán lẻ dễ dàng phát triển theo tại các vùng xa trung tâm thành phố chính[71]
Vấn đề xã hội của quá trình đô thị hoá
Trong xã hội học Mỹ, người ta thường coi ba nhân tố xã hội có tầm quan trọng nhất là: i) hình thức gia đình, bao gồm cả tình trạng hôn nhân và quy mô gia đình; ii) vị trí xã hội, dựa trên thu nhập và uy tín; và iii) chủng tộc
và dân tộc Các nhân tố này có thể giải thích về hiện tượng phân tán thành những khu riêng biệt trong quá trình phát triển của bất kỳ đô thị nào Người giàu thường chọn các hàng xóm có uy tín cao và tránh xa người có mức sống
và thu nhập thấp Gia đình có đông con cái phải chọn những căn hộ rộng hơn,
ở gần các trường học có cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên tốt Các nhóm dân tộc thiểu số có xu hướng tập hợp thành một khu vực riêng với nhau Trái lại, người nghèo và thành viên của các nhóm thiểu số phải sống ở các vùng đặc biệt vì họ không còn sự lựa chọn khác [77, tr 690]
Sở dĩ đô thị hoá phát triển nhanh tại các quốc gia đang phát triển vì nhiều xã hội nông nghiệp truyền thống hiện nay đang bước vào giai đoạn quá
độ phát triển nhân khẩu cao với tỷ lệ chết giảm do y tế và việc cung cấp thực phẩm được cải thiện tại châu Á, Mỹ Latinh và cả châu Phi Nhưng tỷ lệ gia tăng dân số đô thị lên gấp hai lần chủ yếu là do đã có hàng trăm triệu người dân nông thôn di cư đến các khu vực đô thị để tìm kiếm công việc làm và được hưởng các dịch vụ kinh tế xã hội tốt hơn Mặt khác quá trình phát triển ồ
ạt của các hình thức chủ nghĩa tư bản tại các quốc gia nghèo đã đẩy người dân đến lựa chọn khả dĩ nhất là di cư vào các đô thị Việc quyết định di cư có động cơ sâu xa từ trong nhận thức của người dân về các thuận lợi tương đối
mà họ sẽ có được tại các đô thị Đô thị luôn tạo ra nhiều cơ hội hơn các vùng
Trang 35nông thôn, cho dù đô thị hoá không phải là liều thuốc bách bệnh giải quyết các vấn đề tăng dân số và nghèo đói Hiện nay rất nhiều khu vực đô thị tại các nước đang phát triển hoàn toàn không thể đáp ứng được nhu cầu của người dân [77, tr 696]
Gần đây, nhiều nước châu Á đã không theo hoàn toàn mô hình đô thị hiện đại phương Tây Ngay ở phương Tây, các nhà quy hoạch đô thị cũng đang xét lại các quan niệm cũ, đề ra các giải pháp mới đáp ứng yêu cầu của thời hậu hiện đại Nếu rút tỉa được các bài học phát triển đô thị của họ, công cuộc đô thị hóa ở nước ta có thể phát triển bền vững và có bản sắc riêng
Tình hình nghiên cứu trong nước
Những nghiên cứu về vấn đề quy hoạch đô thị
Theo tác giả Lưu Đức Hải, trong Định hướng phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững tại Việt Nam, Diễn đàn Phát triển bền vững đô thị tháng 5/2006
đã nhận định: Từ năm 1991 trở lại đây, quá trình đô thị hóa của Việt Nam phát triển chưa cân đối Về mặt kiến trúc, đô thị hóa chưa thể hiện rõ được bản sắc địa phương của vùng, miền và đặc điểm khí hậu và đang tạo ra sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn Về tài chính đô thị, chưa kích thích và chưa huy động được sự tham gia của khối kinh tế tư nhân cũng như cộng đồng Hiện nay, quy hoạch của đô thị ở vùng đồng bằng và ven biển Bắc Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung chủ yếu theo kiểu “đô thị hóa nông thôn” Chính vì thế mà cơ sở vật chất, đường xá, hệ thống cấp nước, nước thải, rác thải, v.v vẫn mang đậm dấu ấn nông thôn làng xã, còn đô thị hiện đại, văn minh thì chưa thấy rõ Tư duy và nếp sống đô thị hiện đại vẫn còn rất nhiều khiếm khuyết Nguyên nhân chủ yếu trước hết là thiếu sự hợp tác giữa các quy hoạch ngành liên quan, quy hoạch đô thị không được gắn kết chặt chẽ với quy hoạch sử dụng tài nguyên đất và bảo vệ môi trường đất, chưa có sự bàn
Trang 36thảo với cơ quan quản lý và sử dụng đất đai, cơ quan quản lý môi trường đất
để thống nhất sử dụng đất ở đâu vào mục đích gì là hợp lý nhất
Báo cáo thường niên năm 2008 của UN-HABITAT đã cho rằng: chính
sự gia tăng dân số đã tạo ra áp lực lớn đối với hệ thống cơ sở hạ tầng tại các
đô thị Cùng với đói nghèo và thất nghiệp, những thách thức lớn đối với các thành phố của Việt Nam trong quá trình đô thị hóa nhanh là làm gia tăng khoảng cách về phát triển giữa các vùng, giữa đô thị và nông thôn cũng như giữa phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trường Chính vì thế mà việc quy hoạch đô thị để giải quyết được những thách thức về môi trường, tăng trưởng kinh tế và những thách thức về vấn đề không gian xã hội, đặc biệt là sự phát triển lộn xộn ở nội đô, vấn đề đô thị hóa vùng ven và sự mở rộng về quy mô không gian của các thành phố, là một vấn đề quan trọng Ngoài ra, những thách thức thể chế liên quan đến quản trị đô thị và sự thay đổi vai trò của chính quyền địa phương cũng là vấn đề cần quy hoạch đô thị đặc biệt quan tâm Chính vì vậy, các phương pháp tiếp cận quy hoạch hiện tại cần thay đổi; cần xác định một vai trò mới cho quy hoạch đô thị trong quá trình phát triển bền vững Việc quy hoạch đô thị gắn với quá trình phát triển bền vững, đòi hỏi Chính phủ phải đóng vai trò quan trong trong việc “chỉ đạo các sáng kiến phát triển và đảm bảo đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân”
Tác giả Nguyễn Thị Thiềng và cộng sự, trong cuốn sách “Đô thị Việt Nam trong thời kỳ quá độ” [51] đã nhận định: Phát triển đô thị cần phát huy những tiến bộ khoa học kỹ thuật, cần phối hợp đa ngành, đa cấp và cần được xây dựng dựa trên các kế hoạch phát triển đô thị ngắn hạn và dài hạn mà quy hoạch xây dựng đô thị được duyệt đã quy định Hơn nữa, để ứng phó được với sự phát triển nhanh của đô thị, và những thách thức của quá trình ĐTH, cần tập trung tăng cường các hoạt động tham gia của các đối tượng khác nhau vào việc lập quy hoạch đô thị Nên chú trọng tới công tác tham vấn cộng
Trang 37đồng, các tổ chức chính trị xã hội của địa phương và các hội hoạt động nghề nghiệp của địa phương trong quá trình lập quy hoạch phát triển đô thị Quá trình đô thị hóa của Việt Nam gắn liền với những mối liên hệ giữa hai yếu tố của thời kỳ quá độ kinh tế và quá độ đô thị, đó là sự lệch pha tiềm ẩn giữa việc phát triển bền vững với tiến trình phát triển kinh tế của thời kỳ quá độ Chính phủ và các Bộ cần đưa ra những nguyên tắc hành động nhằm đảm bảo
sự phát triển bền vững vào quá trình quy hoạch đô thị Đối với từng đô thị để tích cực thực hiện vòng tuần hoàn lành mạnh về phát triển kinh tế - xã hội - bảo vệ môi trường, cần tập trung xử lý môi trường ô nhiễm, cải thiện sinh thái
đô thị, bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và quản lý được tốc độ tăng trưởng dân số và quy mô mở rộng đất đai đô thị Đây cũng là những nguyên tắc bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo được việc xây dựng một đô thị
và đô thị hóa gắn liền với phát triển bền vững
Theo một số nhà nghiên cứu địa chất, đô thị vẫn là một thành phần ngoại lai của tự nhiên và không bao giờ trở thành một bộ phận của tự nhiên [19] Tốc độ phát triển đô thị nhanh và sự quản lý đô thị chưa tốt đã dẫn đến môi trường địa chất bị suy thoái trầm trọng về nguồn nước (cả nước mặt và nước ngầm) Nghiên cứu và khảo sát Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) về nước ngầm, được tiến hành liên tục tại 9 tỉnh, thành phố là Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên và Hải Dương từ năm 1990 đến nay cho thấy, mực nước ngầm tại các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ đang có xu hướng giảm mạnh Trữ lượng nước ngầm đang ngày càng suy giảm đã dẫn đến những hiện tượng lún, nứt của các tầng địa chất mà biểu hiện ngày càng
rõ nét tại thành phố Hà Nội Tại thành phố này, quá trình đô thị hóa và sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu dùng nước nhân dân tăng nhanh đã dẫn đến lượng khai thác nước dưới đất tăng mạnh làm cho mực nước ở một số bãi
Trang 38giếng ngày càng hạ thấp Điển hình là khu vực phía nam thành phố, nơi có những nhà máy khai thác nước ngầm, đã hình thành phễu làm hạ thấp mực nước ngầm
Các tỉnh thuộ c vùng Bắc Bộ thuộc về các lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình, sông Nhuê ̣ – sông Đáy, sông Cầu, sông Lô,… mà trong đó hiê ̣n nay lưu vực sông Nhuê ̣ – sông Đáy đang là điểm báo đô ̣ng của viê ̣c ô nhiễm nguồn nước mă ̣t Hà Nội được c hỉ đích danh là thủ phạm gây ô nhiễm chính của lưu vực sông này với nguyên nhân chính là nước thải sinh hoạt và công nghiê ̣p [54, 55]
Viê ̣c dành tài nguyên đất cho quá trình xây dựng các khu công nghiê ̣p
và đô thị hóa đã tăng sứ c ép lên viê ̣c khai thác đất nông nghiê ̣p Người nông dân với mong muốn tăng được năng suất cây trồng trên diê ̣n tích đất nông nghiê ̣p ngày càng bi ̣ thu he ̣p đã và đang sử du ̣ng thuốc bảo vê ̣ thực vâ ̣t và phân bón hóa ho ̣c ngày càn g cao Hiê ̣n tượng mất đất nông nghiê ̣p , ô nhiễm đất và đất đai bi ̣ thoái hóa đang có những tác đô ̣ng không nhỏ đến an ninh lương thực và sự phát triển kinh tế của đất nước [54, 55]
Đề tài cấp Bộ (2012): “ Một số vấn đề cơ bản về phát triển bền vững vùng Đồng bằng và ven biển Bắc bộ trong quá trình đô thị hóa, giai đoạn 2011-2020” (Nguyễn Hồng Quang và cộng sự) đã chỉ ra rằng: Quá trình đô thị hóa vùng trong thời gian qua chưa quan tâm đến sự phát triển hài hòa của khu vực nông thôn Các khu đô thị và công nghiệp trong vùng tuy có tầm quan trọng đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa nông thôn trong vùng nhưng vấn đề việc làm sẽ càng trở nên cấp bách đối với khu vực nông thôn bị mất đất trong các đô thị, đặc biệt các đô thị mới và các khu vực
vùng ven của các đô thị [41]
Theo tác giả Hoàng Bá Thịnh trong bài tạp chí “Đô thị hóa, bất bình đẳng và nghèo đô thị” [42] Quá trình đô thị hóa đi cùng với tình trạng
Trang 39khoảng cách nông thôn và đô thị, tình trạng nghèo đô thị, bất bình đẳng về nghèo đói, sức khỏe và tiếp cận giáo dục Những khía cạnh trái chiều trong quá trình đô thị hóa được xem xét ở những khía cạnh trái chiều Đó là sự khác biệt lớn về khả năng kinh tế dần được mở rộng đến mức đã xuất hiện cụm từ
“thế giới thứ 3” trong “thế giới thứ nhất” mà nhà xã hội học đô thị Castells gọi hiện tượng này là “đô thị kép”
Tiểu kết:
Những nghiên cứu về đô thị hóa cho thấy những đề xuất về các mô hình đô thị hóa (vòng tròn đồng tâm, mô hình khu vực, đa trung tâm…) bên cạnh những khía cạnh tích cực của đô thị hóa như tận dụng được nguồn lực kinh tế, xã hội thì những vấn đề xã hội, môi trường sinh thái cũng cần được lưu ý trong quá trình đô thị hóa
6.Phương pháp nghiên cứu
Phỏng vấn sâu: 05 Nông dân bị mất đất bởi quá trình đô thị hóa, phó
chủ tịch phụ trách văn xã, cán bộ lao động-xã hội), lãnh đạo Hội nông dân, lãnh đạo Hội phụ nữ, Cán bộ hợp tác xã nông nghiệp (chủ nhiệm HTX)
Thảo luận nhóm (02): 01 nhóm nam nông dân mất đất, 01nhóm nữ
nông dân mất đất
Trang 406.4 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Tư liệu địa phương cung cấp bao gồm:
+ Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội hàng năm của UBND phường Lộc Vượng từ năm 2000 đến nay
+ Thống kê thông tin dự án thu hồi đất trên địa bàn phường Lộc Vượng + Thống kê một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội – môi trường của phường Lộc Vượng
+ Niên giám thống kê tỉnh Nam Định từ năm 2000 đến 2010
7 Câu hỏi nghiên cứu
- Tại phường Lộc Vượng hiện có hệ thống an sinh xã hội nào cho nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa?
- Những khó khăn để ổn định cuộc sống sau mất đất của người nông dân tại phường Lộc Vượng là gì?
- Từ những khó khăn để ổn định cuộc sống, nông dân mất đất cần những
hỗ trợ an sinh xã hội nào để ổn định cuộc sống?
- Cần phải có những hỗ trợ nào đối với nông dân mất đất trong quá trình
đô thị hóa tại phường Lộc Vượng?
8 Giả thuyết nghiên cứu
- Vì mất đất sản xuất nên người nông dân gặp phải khó khăn khi chuyển đổi nghề nghiệp, tổ chức đời sống trong quá trình đô thị hóa và mỗi đối