Ba mô hình nhà nước phúc lợi của EspingAndersen (1990) trong tác phẩm The Three Worlds of Welfare Capitalism (Ba thế giới của chủ nghĩa tư bản phúc lợi) là cách phân loại có nhiều ảnh hưởng đối với các nghiên cứu đi sau về vấn đề này. Đây là một trong những cách phân loại được sử dụng phổ biến nhất trong việc phân biệt các loại trạng thái phúc lợi hiện đại.
Trang 1I Vài nét về Esping Andersen
Gösta Esping-Andersen (sinh ngày 24 tháng mười một năm 1947 ở Đan Mạch ), là một nhà xã hội học mà tập trung chủ yếu đã có mặt trên nhà nước phúc lợi và vị trí của nó trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Trong thập kỷ qua, nghiên cứu của ông
đã chuyển sang các vấn đề nhân khẩu học gia đình Một tổng hợp các tác phẩm của
ông đã được xuất bản như Gia đình trong Thế kỷ 21 (Stockholm, SNS, 2016).
Esping-Andersen là giáo sư danh dự tại Đại học Pompeu Fabra ở Barcelona ( Tây Ban Nha ), và là thành viên của Ủy ban Khoa học của Viện Juan March và Hội đồng Quản trị và Hội đồng Khoa học tại Viện Khoa học Xã hội IMDEA , cả ở Madrid ( Tây Ban Nha ) Ông là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Hoa Kỳ và Học viện Anh Ông đã được trao bằng danh dự bác sĩ danh dự của Đại học
Copenhagen vào năm 2012 Hiện ông là giáo sư nghiên cứu tại Đại học Bocconi ở Milano
II Nội dung
1 Các yếu tố tác động đến loại hình mô hình hệ thống phúc lợi xã hội
Việc loại hình hóa các mô hình hệ thống phúc lợi thường được các nhà nghiên cứu tiến hành bằng cách xem xét những kiểu kết hợp của ba khu vực xã hội ( thị trường, nhà nước và gia đình) và trong việc đáp ứng 3 chức năng chính ( bảo hiểm, tái phân phối, cung ứng các dịch vụ xã hội)
Ngoài ra người ta còn xem xét trên các yếu tối sau đây:
- Mức độ phụ thuộc vào thị trường để thỏa mãn các nhu cầu và có được sự bảo trợ của
xã hội ( Esping Andersen đưa ra khái niệm decommodification- “phi hàng hóa hóa”,
để nói về mức độ được hưởng thụ các dịch vụ an sinh xã hội mà không phụ thuộc vào thị trường)
- Mô hình phân tầng xã hội mà nhà nước nhắm đến hoặc là hệ quả của sự can thiệp nhà nước ( liên quan tới mục tiêu bình đẳng xã hội)…
Theo Esping Andersen 1990 , chính lịch sử của các mỗi liên minh chính trị giữa các giai cấp mới là nguyên nhân quyết định đối với biến thể của mô hình nhà nước phúc lợi trong các xã hội hiện đại.
Esping Andersen cho rằng: chìa khóa của một hình thái nhà nước phúc lợi chủ yếu
nằm trong 3 khâu sau đây:
- Mức độ phi hàng hóa (decommodification)
- phân tầng xã hội (social stratification),
- tình hình nhân dụng (employment) trong xã hội
2 Quan điểm của Esping Andersen về phân loại hệ thống phúc lợi xã hội
Theo Esping Andersen:sự “phi hàng hóahóa ” là tình trạng trong đó sở dĩ người ta được hưởng các dịch vụ phúc lợi là do người ta có quyền được hưởng và người ta có thể duy trì cuộc sống của mình mà không cần dựa trên thị trường
Trang 2 Dù có những chính sách trợ giúp xã hội hay bảo hiểm xã hội thì điều này không nhất thiết dẫn đến tình hình “phi hàng hóa hóa” thực thụ nếu chúng không thực hiện giải phóng các cá nhân khỏi sự lệ thuộc của thị trường
Chỉ khi nào các quyền xã hội của họ được “phi hàng hóa hóa” thì lúc ấy họ mới thực sự có sức mạnh.
Esping Andersen đã phân biệt loại hình nhà nước phúc lợi căn cứ trên những khác biệt giữa các quốc gia về:
- Lịch sử chính trị (khả năng huy động giai cấp công nhân và liên minh giữa các giai cấp
- Mức độ ảnh hưởng của nhà nước và thị trường
- Mức độ mà việc tiếp cận các khoản an sinh xã hội có thể cho phép người dân giảm bớt lệ thuộc vào thị trường
Cấu hình sắp xếp:
Khi nghiên cứu các loại hình nhà nước phúc lợi, Esping Andersen nhận định rằng có nhiều kiểu cấu hình sắp xếp khác nhau giữa nà nước, thị trường và gia đình Tác giả dựa trên 7 chỉ báo để tiến hành việc loại hình hóa:
Số lượng các chế độ trợ cấp hưu bổng riêng biệt theo ngành nghề
Mức độ bao phủ bảo hiểm trong dân cư
Mức chênh lệch giữa trợ cấp trung bình với mức trợ cấp tối đa
Mức chi tiêu tính theo quy mô tương đối của một số người hưu trí thuộc diện công chức nhà nước
Số trợ cấp dựa trên sự thẩm tra khả năng thu nhập
Số người hưu trí thuộc khu vực tư nhân
Y tế thuộc khu vực tư nhân
Loại hình nhà nước phúc lợi theo quan điểm tự do, trong đó các đặc trưng chính
là: trợ giúp dựa trên sự thẩm tra thu nhập; hạn chế chế độ trợ cấp phổ quát
(universal transfer); hoặc chỉ có những chương trình bảo hiểm xã hội hạn hẹp
Các khoản tiền trợ cấp thường rất thấp, và chủ yếu chỉ được dành cho những người
có thu nhập thấp hoặc buộc phải sống phụ thuộc vào nhà nước Điển hình cho loại hình này là Mỹ, Canada, Úc
Loại hình nhà nước phúc lợi bảo thủ và mang nặng tính chất “nghiệp hội” (corporatist) Chế độ phúc lợi xã hội này dựa trên những khác biệt về vị thế
(status), do các quyền ở đây luôn đi đôi với các giai cấp và các vị thế Nhà nước đóng vai trò chính trong việc cung ứng các dịch vụ phúc lợi xã hội, và hệ thống bảo hiểm tư nhân chỉ đóng vai trò mờ nhạt Đặc trưng của chế độ phúc lợi “nghiệp hội” còn là dựa vào các tổ chức của giáo hội và gia đình Điển hình cho loại này là
Áo, Pháp, Đức và Ý
Trang 3Loại hình nhà nước phúc lợi thứ 3 là chế độ dân chủ- xã hội, trong đó những
nguyên tắc về tính phổ quát và về việc phi hàng hóa hóa các quyền xã hội được mở rộng cho tới tất cả các tầng lớp trung lưu Mục tiêu của khuynh hướng dân chủ xã
hội là xây dựng một nhà nước phúc lợi hướng đến sự bình đẳng ở mức độ cao nhất, chứ không phải sự bình đẳng với những nhu cầu tối thiểu như ở những nước
khác Nguyên tắc của nhà nước phúc lợi này là không đợi đến các nguồn lực của gia đình cạn kiện thì mới trợ cấp, mà là “xã hội hóa các chi phí đời sống gia đình ngay từ đầu”, không phải nhằm tăng cường sự phụ thuộc vào gia đình , mà ngược lại nhằm tăng cường những khả năng độc lập của cá nhân Nhà nước phúc lợi này cung cấp các khoản trợ cấp trực tiếp cho trẻ em, đảm nhận trách nhiệm trực tiếp chăm lo cho trẻ em, người già và những người không có nơi nương tựa Điển Hình cho nhà nước phúc lợi này là các nhà nước Bắc Âu
Mở rộng nghiên cứu ra khu vực Đông Á, Esping-Andersen (1996) xếp các nước Đông Á vào mô hình nhà nước phúc lợi bảo thủ ,sau đó ông lại xếp vào dạng thức lai giữa mô hình bảo thủ và mô hình tự do Tuy nhiên, mô hình nhà nước phúc lợi của Esping-Andersen không hoàn toàn phù hợp với thực tế tại các nước Đông Á Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những điểm đặc thù và đề xuất mô hình thứ tư cho nhà nước phúc lợi ở Đông Á với các tên gọi như: “nhà nước phúc lợi phát triển” ,
“nhà nước phúc lợi hiệu suất” hay đơn giản là “nhà nước phúc lợi kiểu Đông Á”
III Ý nghĩa
- Ba mô hình nhà nước phúc lợi của Esping-Andersen (1990) trong tác phẩm The Three Worlds of Welfare Capitalism (Ba thế giới của chủ nghĩa tư bản phúc lợi) là cách phân loại có nhiều ảnh hưởng đối với các nghiên cứu đi sau về vấn đề này Đây là một trong những cách phân loại được sử dụng phổ biến nhất trong việc phân biệt các loại trạng thái phúc lợi hiện đại
- Hệ thồng phúc lợi xã hội là một thành tố không thể thiếu trong một hệ thống chính sách kinh tế - xã hội quốc gia, giúp cho xã hội có thể “ tự bảo vệ mình trước những mối hiểm họa cố hữu của một hệ thống thị trường tự điều tieesrt”
- Giúp người dân xác lập được tư thế con người cũng như tư thế công dân của mình một cách đúng đắn trong xã hội dân chủ và văn minh
- Xây dựng một hệ thống phúc lợi xã hội vững mạnh là điều cần thiết và tất yếu của bất cứ xã hội nào thực sự muốn bảo vệ các công dân của mình Đặc trưng cốt lõi của của hệ thống phúc lợi này chính là bảo vệ các quyền xã hội của công dân, tức là quyền được đáp ứng nhu cầu thiết yếu nhất để có một cuộc sống tử tế, xứng đáng với phẩm giá con người, bằng cách “ phi hàng hóa hóa” các dịch vụ phúc lợi ( nói như Esping Andersen), nhằm tạo điều kiện cho mỗi người được thụ hưởng các dịch vụ phúc lợi xã hội mà không lệ thuộc vào thị trường, qua đó nhằm giảm bớt tư cách “ hàng hóa” của mỗi công dân