1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương giới và phát triển

56 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 299 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới là một thuật ngữ XHH bắt nguồn từ môn Nhân loại học nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích. Giới đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân. Vai trò giới được xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội và các vùng địa lý khác nhau. Khi mới sinh ra, chúng ta không có sẵn đặc tính giới. Những đặc tính giới mà chúng ta có được là do chúng ta học được từ gia đình, xã hội và nền văn hoá của chúng ta (Tính thay đổi).

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN

1 Định nghĩa Giới và Giới tính? Phân tích sự khác biệt giữa giới và giới tính? Ýnghĩa của sự phân biệt này trong nghiên cứu xã hội học giới?

Định nghĩa rút gọn: Giới tính là sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ.

Hình thức và nội dung của sự khác biệt giới tính

Chúng ta có thể phân biệt giới tính của nam và nữ về mặt sinh học thông quamột số khác biệt sau đây:

+ Có thể nhận biết nam hoặc nữ qua quan sát

- Hệ thống gien: Nữ: XX, Nam: XY

Có thể nhận biết qua kiểm tra y tế

Giới là một thuật ngữ XHH bắt nguồn từ môn Nhân loại học nghiên cứu về

vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việcphân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích Giới đề cập đến cácquy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân Vai trò giớiđược xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổitheo thời gian, theo xã hội và các vùng địa lý khác nhau Khi mới sinh ra, chúng ta

Trang 2

không có sẵn đặc tính giới Những đặc tính giới mà chúng ta có được là do chúng tahọc được từ gia đình, xã hội và nền văn hoá của chúng ta (Tính thay đổi).

Có thể định nghĩa ngắn gọn: Giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cáchthức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội

Giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tư cách cá nhân mànói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ (tính tập thể) Quan hệ này thay đổitheo thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội

Những yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi quan hệ giới trong xã hội tuỳ thuộcvào sự vận động và phát triển của chính các quan hệ xã hội Cụ thể là các quan hệ

có liên quan tới vấn đề dân tộc, giai cấp, chính trị, tôn giáo, lịch sử, văn hoá, phongtục, tập quán

Các biểu hiện của giới

Biểu hiện bằng tính cách và phẩm chất

Ví dụ:

- Nam tính: Gia trưởng, mạnh mẽ, quyết đoán, dũng cảm, nóng nảy

- Nữ tính: dịu dàng, vị tha, nhẫn nại, cần cù, khiêm nhường

Giải thích:

Tính cách và phẩm chất của nam và nữ là do xã hội thừa nhận hay cảm nghĩ.Các phẩm chất, tính cách này được hình thành do quá trình giáo dục của giađình và những tác động khách quan của thực tế xã hội (xã hội hoá Socialization)

Ở độ tuổi lên 3, trẻ em đã có thể mô tả chính xác giới tính của chúng Chúng

đã biết mình là con gái hoặc con trai Chúng học được điều này từ việc nghe ngườikhác gán cho chung và có thể dán nhãn chính xác cho người khác nhưng chúng

Trang 3

chưa biết các điều thuộc về giới tính như tính bất biến, mỗi người thuộc một giớitính, chức năng tình dục và chức năng sinh sản của mỗi giới tính…

Cùng với sự xác định được giới tính, trẻ em cũng bắt đầu quá trình tiếp nhậncác giáo dục về giới từ cha mẹ, gia đình, bạn bè, trường học… Con trai bắt đầunhận biết mình giống với cha, rằng họ là đàn ông Tương tự như con gái với mẹ.Quá trình xã hội hoá diễn ra từ từ với các tiến bộ vững chắc, và như vậy đã hìnhthành tính cách và phẩm chất giới theo khuôn mẫu định sẵn của nền văn hoá.Chúng bắt đầu chọn đồ chơi là súng khi hiểu mình là nam giới và chọn búp bê nếubiết mình là nữ giới Sự chọn lựa này không chỉ là giới tính mà còn là giới, dưới tácđộng của môi trường xã hội

Biểu hiện bằng tư tưởng

Sự phát triển cao hơn trong nhận thức về giới được biểu hiện trên các quanđiểm, tư tưởng và trở thành các chuẩn mực và giá trị xã hội: Chẳng hạn như trong

xã hội mẫu hệ, do vị trí vai trò khách quan của mình, người phụ nữ được đề cao.Tất nhiên điều này là hoàn toàn theo khía cạnh bản năng Trong xã hội phụ quyền,

tư tưởng thống trị trong xã hội là tư tưởng đề cao nam giới (hệ tư tưởng Nho giáo,Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo) và đi cùng với nó là những chuẩn mực và giátrị văn hoá nghiêng về lợi ích của người đàn ông

- Thiên chúa giáo: Theo Kinh Thánh, thuỷ tổ của loài người được tạo ra bởi

sự tích: Chúa trời tạo ra A đam (nam giới) nhưng sợ ông buồn nên đã rút cái xươngsườn của ông để tạo ra bà E va (phụ nữ) để xây dựng cuộc sống dưới mặt đất Phụ

nữ không thể đạt được các chức sắc cao trong nhà thờ như Hồng Y giáo chủ, Giámmục…

- Hồi giáo: Kinh Co ran khẳng định địa vị vượt trội của đàn ông và chấpnhận đa thê Từ bao đời nay, phụ nữ được nuôi dạy để phục tùng người cha, ngườichồng, thậm chí cả anh, em trai và anh, em rể Họ phụ thuộc vào nam giới và bị xử

Trang 4

theo các luật lệ hà khắc Phụ nữ phải che mặt và không được tham gia các côngviệc xã hội, không được tự do yêu đương phải giữ gìn trinh tiết…

- Phật giáo ở Nhật Bản: Kinh Phật đầu thế kỷ XX quy định ai muốn tu thànhPhật thì trước hết phải trở thành đàn ông

- Phụ nữ Việt Nam: Mặc dù Việt Nam có Phật bà (Quan âm Thị Kính), có sư

cụ nữ nhưng phụ nữ không thể có chức sắc cao trong hệ thống Phật giáo như hoàthượng, đại đức…

Những phân biệt giới diễn ra trong mọi lĩnh vực của xã hội và trở thànhnhững chuẩn mực và giá trị văn hoá, thâm nhập vào từng mối quan hệ xã hội vàphong tục tập quán Ví dụ: Tại Thế vận hội của những người Hy Lạp cổ đại, phụ nữkhông được tham gia vào các nội dung thi đấu Để tránh điều này, Ban tổ chức yêucầu tất cả các vận động viên không được mặc quần áo khi thi đấu Ở Việt Nam, “Rangõ gặp gái” là câu nói thông dụng của quan điểm nam quyền đã len lỏi vào cả tậptục xã hội Nhiều người thích sinh con trai hơn con gái và con trai thường được ưuđãi trong gia đình và xã hội

Biểu hiện bằng phân công lao động

Mô hình phân công lao động theo truyền thống “Nam ngoại, nữ nội” là namgiới lo việc ngoài xã hội, còn phụ nữ lo việc gia đình

Có hai hình thức phân công lao động:

- Phân công lao động về mặt kỹ thuật: Quá trình sản xuất được phân chiathành nhiều nguyên công Mỗi công đoạn do một hoặc một nhóm người hoặc máythực hiện Các công đoạn này phối hợp với nhau để hoàn thiện quá trình sản xuất

- Phân công lao động về mặt xã hội: Đây là lĩnh vực có liên quan trực tiếpđến giới Trong xã hội tồn tại hai loại công việc: Công việc đơn giản, nặng nhọc,khó chịu, buồn tẻ, không đòi hỏi trình độ cao, bị khinh miệt, trả công thấp; hoặc

Trang 5

công việc nhẹ nhàng, dễ chịu, hấp dẫn, đòi hỏi trình độ cao, được tôn trọng, nhiềuquyền lợi, trả công cao.

Các công việc được phân công trong xã hội đã dựa trên các yếu tố về chủngtộc, giai cấp…

Chủng tộc, giai cấp thống trị thì được nhận việc tết và ngược lại (Như cácông chủ có điều kiện làm việc tốt và hưởng lương cao hơn công nhân, hay trườnghợp công nhân ở các nước nghèo khi xuất khẩu lao động sang các nước giàu để làmnhững việc mà người sở tại không muốn làm như dọn vệ sinh, bốc vác, giúp việcgia đình…) Đây chính là sự phân công lao động bất bình đẳng tạo ra giai cấp và lànguồn gốc của các cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội Chính đấu tranhgiai cấp và cách mạng xã hội về bản chất là hướng tới xoá bỏ sự phân công laođộng bất bình đẳng này

Thực tế lịch sử còn cho thấy, trong xã hội còn có sự phân công lao động dựatrên giới lính và giới Đây cũng là một sự phân công lao động bất bình đẳng nhưnglại ít được chú ý trong lịch sử Giống như sự phân chia chủng tộc và giai cấp, sựphân biệt giới trong phân công lao động cũng rất phổ biến và hà khắc không kém.Chẳng hạn, nam làm những công việc dễ chịu, hấp dẫn đòi hỏi trình độ cao, nữngược lại Nếu phân chia phân công lao động thành hai loại hình cơ bản: sản xuất

và tái sản xuất chúng ta có thể thấy:

Lao động sản xuất:

Bao gồm những việc làm ra hàng hoá, dịch vụ để trao đổi hoặc tiêu thụ Cảnam và nữ cùng tham gia song hình thức công việc và tiền công khác nhau Namgiới do có sức khoẻ, trí tuệ và rảnh rỗi việc nhà hơn phụ nữ nên thường nhận đượccác công việc tốt hơn Phụ nữ yếu hơn, phải mang thai, sinh đẻ và chăm sóc concái, gia đình nên thường phải nhận các công việc nặng nhọc, đơn giản, tiền côngthấp

Trang 6

Lao động tái sản xuất:

- Tái sản xuất về sinh học: Trong khi nam giới sản xuất tinh trùng cho quátrình thụ thai thì phụ nữ mang thai, sinh con, cho con bú bằng sữa mẹ Công việccủa phụ nữ rất nặng nhọc và nguy hiểm và không được trả công hoặc trả công thấp

- Tái sản xuất ra sức lao động: Là tất cả những công việc hỗ trợ cho ngườisản xuất cả khi họ đang làm việc và khi không làm việc, tạo điều kiện cho họ nghỉngơi, bồi dưỡng để có thể tiếp tục làm việc ngày hôm sau tốt hơn Những việc nàygồm nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, trông nom nhà cửa, chăm sóc người ốm, người già,trẻ em (Những nhân công lao động của quá khứ và tương lai) Công việc này dophần lớn phụ nữ đảm trách và không được trả công Nhiều người đã tưởng lầm đây

là công việc của riêng phụ nữ, là “thiên chức” nhưng thực tế đây là một dạng “xãhội chức” mà xã hội phụ quyền đã trao cho phụ nữ Điều này có thể thay đổi trongmột xã hội bình đẳng giới Chẳng hạn, nam giới có thể cho con bú bằng sữa bình vàlàm các việc khác Hiện nay, nhiều nam giới chủ yếu tham gia vào việc xây dựng,sửa chữa, trang trí nhà cửa, những việc mà họ cho là “lớn” nhưng không thườngxuyên và tất nhiên có sự tham gia của cả phụ nữ Nam giới được xác nhận là nhữngngười có năng lực trong các công việc nấu bếp và nội trợ Họ thường là các “vuabếp” trong các khách sạn lớn hoặc là những người thợ thêu tài giỏi

Dịch vụ gia đình đang trở thành nghề kiếm sống quan trọng trong nền kinh tếthị trường Chúng ta phải trả tiền cho người giúp việc gia đình hoặc trả tiền côngcao về nấu nướng tại các tiệm ăn Tuy nhiên, nhiều người đàn ông đã suốt đời ăncơm vợ nấu, hưởng thụ các dịch vụ vợ làm, nhưng trong đầu vẫn nghĩ rằng vợ là kẻ

ăn bám khi cô ta không được ai trả công, tình trạng bất công này kéo dài hàng thế

kỷ và đang cần sự thay đổi cách nhìn của cả xã hội

Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ người nội trợ là cần thiết, bởi lẽ, đây khôngchỉ là công việc gia đình mà còn là công việc xã hội Lao động sản xuất và tái sản

Trang 7

xuất đã kết hợp chặt chẽ với nhau Cả nam và nữ đều tham gia xen kẽ trong thờigian một ngày nhưng thời gian lao động của phụ nữ thường kéo dài hơn nam giới

và vất vả cũng lớn hơn

Tái sản xuất cơ cấu hoặc vai trò chính trị trong cộng đồng: Liên quan đến

việc truyền bá và duy trì tư tưởng chuẩn mực, cơ chế đảm bảo cho bất kỳ một xãhội nào cũng luôn luôn tồn tại và phát triển Công việc này chủ yếu là nam giớitham gia được trả công cao thông qua quyền lực và uy tín xã hội Phụ nữ thườngtham gia ở vai trò thừa hành và ít quyền ra quyết định

- Sự phân công lao động bất bình đẳng giữa nam và nữ và quá trình xã hộihoá mang định kiến giới đã đưa đến sự bất bình đẳng trong các vai trò giới: namgiới mang tính xã hội cao còn phụ nữ mang tính gia đình cao Nam giới thường làngười lãnh đạo còn phụ nữ là người thừa hành Ví dụ: công việc của phụ nữ thườngquá tải và ảnh hưởng đến giao tiếp của họ Việc ít điều kiện giao tiếp đã gây hạnchế lớn cho phụ nữ trong công việc và thăng tiến Quá trình đào tạo liên tục củanam giới và đứt đoạn của phụ nữ do tái sản xuất cũng là yếu tố quan trọng cản trởphụ nữ phát triển

Công việc của nam giới thường được coi là chủ yếu, quan trọng còn côngviệc của phụ nữ thường được coi là thứ yếu, không quan trọng

Đặc tính cơ bản của mối quan hệ giới phụ thuộc vào cấu trúc của xã hội và tưtưởng của giai cấp cầm quyền, nghĩa là nó có thể thay đổi theo từng thời đại, theotừng nước, từng dân tộc và từng nền văn hoá khác nhau Sự phân công lao độngđầu tiên đối với người phụ nữ xuất phát từ sự liên quan đến cấu tạo cơ thể của họ từviệc phải mang thai, sinh con và cho con bú Người phụ nữ phải tiếp nhận các côngviệc nội trợ, chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái, chăm sóc người già,… Nhữngcông việc đó ngày càng trói buộc và tiêu phí thời gian của người phụ nữ khiến họ

có rất ít cơ hội được nghỉ ngơi, học tập và hưởng thụ văn hoá Cho đến nay ở nhiều

Trang 8

nước, công việc này vẫn chỉ được xem như là việc riêng của gia đình và khôngđược trả công.

Ý nghĩa của sự phân biệt này trong nghiên cứu xã hội học giới:

Phân tích giới giúp chúng ta có được những thông tin cụ thể về những ảnhhưởng tích cực hoặc tiêu cực của một chương trình, kế hoạch, dự án, chính sách…đối với phụ nữ và nam giới Từ kết quả phân tích có thể hiểu được nguyên nhân đểđưa ra các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hộicủa chương trình… thông qua việc đảm bảo lợi ích của cả phụ nữ và nam giới

2 Phân tích các biểu hiện của giới tính và giới? Liên hệ thực tiễn các biểu hiệugiới ở Việt Nam (Câu 1)

Một số ví dụ về định kiến giới:

- Tình dục ở phụ nữ chỉ là để phục vụ cho nam giới

- Nam giới có quyền chủ động trong tình yêu, tình dục

- Việc không sinh được con trai hoàn toàn là do phụ nữ không biết đẻ

- Thiên chức của phụ nữ là sinh đẻ, nuôi con và làm nội trợ

Trang 9

Đàn ông nông nổi giêng khơi Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.

Đàn ông rộng miệng thì sang Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà “.

Khôn ngoan cũng thể đàn bà Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông”.

100 con gái không bằng cái… của con trai”.

Gái goá lo việc triều đình “.

Gà mái gáy thay gà trống”.

3 Phân biệt sự giống và khác nhau giữa Phụ nữ học; Khoa học nghiên cứu về giới

Trang 10

- Giành quyển bình đẳng cho phụ nữ trong quá trình phát triển (công nhận 3vai trò của phụ nữ: là vợ, mẹ và công dân).

- Tìm cách đáp ứng nhu cầu chiến lược thông qua sự can thiệp trực tiếp củaNhà nước và các tổ chức quốc tế trao quyền tự trị về kinh tế và chính trị cho phụ

nữ

Quan điểm này không được phổ biến trong các Chính phủ, đặc biệt là đạoHồi và bị chỉ trích là chủ nghĩa nữ quyền phương Tây Phụ nữ được coi như ngườitích cực tham gia vào sự phát triển

3 Chống nghèo khổ: Quan điểm thứ hai của thập kỷ phụ nữ.

Quan điểm này giải thích về sự bình đẳng dịu hơn quan điểm trên

- Đảm bảo cho phụ nữ nghèo tăng năng suất lao động

- Tình trạng nghèo khổ của phụ nữ được coi là một vấn đề của tình trạng kémphát triển chứ không phải là tình trạng phụ nữ phải chịu địa vị thấp kém (công nhậnvai trò sản xuất to lớn của phụ nữ)

- Tìm cách đáp ứng nhu cầu thực dụng của giới là có thu nhập đặc biệt tàtrong các dự án có quy mô nhỏ Quan điểm này phổ biến trong các tổ chức NGO

4 Hiệu quả: Quan điểm thứ ba của thập kỷ phụ nữ.

- Đảm bảo phong trào thực sự và có hiệu quả của phụ nữ

- Công nhận sự đóng góp về kinh tế của phụ nữ

- Sự tham gia của phụ nữ gắn với vấn đề bình đẳng

- Đáp ứng các nhu cầu thực dụng của giới

Quan điểm này phổ biến và chiếm ưu thế, đặc biệt là từ cuộc khủng hoảngkinh tế năm 1980

Trang 11

5 Giành quyền lực: Quan điểm mới nhất do phụ nữ thế giới thuộc thế giới

Phương pháp tiếp cận “Phụ nữ trong phát triển”

Phụ nữ trong phát triển (Women in development - WID) là một phương pháp tiếpcận xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ XX, sau khi cuốn sách “Vai trò của phụ

nữ trong phát triển kinh tế” của E Bô-sơ-ấp được xuất bản Cuốn sách tập trungphân tích ảnh hưởng của các dự án phát triển đối với phụ nữ ở các nước đang pháttriển Một phát hiện quan trọng của E Bô-sơ-ấp là hầu hết các dự án phát triển, đặcbiệt là các dự án về kỹ thuật tinh xảo đều bỏ qua vai trò của người phụ nữ, hạn chếcác cơ hội và sự tự chủ về kinh tế của phụ nữ Các dự án này hầu như chỉ cải thiện

cơ hội và kiến thức cho nam giới và làm giảm sự tiếp cận của phụ nữ tới kỹ thuậthiện đại và cơ hội việc làm Các kết quả này đã đi ngược lại với quan điểm trước đócho rằng, những lợi ích từ các dự án phát triển sẽ tự động mang lại lợi ích cho phụ

nữ và làm tăng cường bình đẳng giới ở các quốc gia phát triển Sau đó, thuật ngữ

“Phụ nữ trong phát triển” được Ủy ban phụ nữ của Mỹ sử dụng nhằm kêu gọi sựchú ý của các nhà làm chính sách Mỹ đối với khái niệm này và vận động hành lang

Trang 12

đối với Chính phủ Mỹ trong việc gây ảnh hưởng tới các tổ chức chính sách pháttriển kinh tế

Phương pháp tiếp cận WID bao gồm các biện pháp xây dựng các dự án tín dụng vàđào tạo dành riêng cho phụ nữ WID chú trọng vào phụ nữ, vào các vấn đề của phụ

nữ nảy sinh trong quá trình phát triển như: cơ hội có việc làm, được học hành, bìnhđẳng tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội và được hưởng dịch vụ chăm sócsức khỏe và đời sống WID đã tập trung vào việc làm thế nào để phụ nữ có thểđược tham gia tốt hơn vào các sáng kiến phát triển hiện có WID nhấn mạnh vai tròquan trọng của phụ nữ trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, đề cao vaitrò của phụ nữ trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, coi đó như là mộtcách thức quan trọng để giúp họ có thể thoát khỏi sự lệ thuộc vào nam giới, cảithiện vị trí của mình trong xã hội Tuy nhiên, WID chủ yếu thúc đẩy sự tham giacủa phụ nữ với tư cách là người thụ hưởng chứ chưa phải là tác nhân của công cuộcphát triển, là một chủ thể của công cuộc phát triển, vì vậy, hạn chế khả năng pháthuy tính chủ động, sáng tạo của phụ nữ WID mới chỉ tập trung vào phụ nữ, cònnhững vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị và văn hóa lại được xem xét một cách độclập hoặc tách biệt Do đó, vô hình chung đã tách phụ nữ ra khỏi quá trình ra quyếtđịnh của chính quyền

Một số nội dung chủ yếu của WID bao gồm: Tuyệt đại đa số các dự án đều có sự kỳthị đối với phụ nữ, sự tham gia của phụ nữ vào trong lĩnh vực kinh tế và sự hưởngthụ lợi ích của phụ nữ rất hạn chế; Các vai trò thực tế của phụ nữ hầu như khôngnhận được sự đánh giá cao của các quá trình chính sách; Phụ nữ bị nghèo đói hóa

và “ngoài lề hóa” WID nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, nhưngkhông tán đồng việc theo đuổi các lợi ích một cách đơn thuần, vì như thế đồngnghĩa với việc tạo thêm gánh nặng công việc cho phụ nữ

Trang 13

WID đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong thời kỳ đầu của công cuộc đấutranh vì sự bình đẳng nam nữ của toàn nhân loại Nhờ có WID mà các vấn đề vềgiới thu hút được sự quan tâm của cả các nhà chính trị và các nhà khoa học WIDthúc đẩy các cơ quan phát triển và chính phủ các nước đưa phụ nữ hòa nhập vàoquá trình phát triển.

Trong những năm qua, ở Việt Nam xuất hiện nhiều dự án phát triển xã hội có mụctiêu hướng tới việc tăng cường khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực củaphụ nữ Các dự án này bao gồm việc cung cấp các gói tín dụng cho phụ nữ, trang bịkiến thức về khoa học kỹ thuật, trang bị kỹ năng nghề nghiệp… nhằm giúp cho phụ

nữ có thể độc lập và tự chủ về mặt kinh tế, thoát khỏi sự lệ thuộc vào nam giới Các

dự án này ban đầu được thực hiện bởi các tổ chức quốc tế tại Việt Nam dưới ảnhhưởng của cách tiếp cận WID và cho đến nay vẫn tiếp tục được thực hiện

Các dự án hỗ trợ phụ nữ hiện nay không đơn giản chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế,trong lĩnh vực chính trị, nhiều dự án nâng cao năng lực dành riêng cho nữ ứng cửviên Quốc hội, nữ ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nữ cán bộ,công chức cũng đã được triển khai thực hiện nhằm nâng cao tỷ lệ và thúc đẩy vaitrò của phụ nữ trong chính trị

Phương pháp tiếp cận “Phụ nữ và phát triển”

Vào nửa sau những năm 70, khái niệm “Phụ nữ và phát triển” (Women anddevelopment) nổi lên từ một bài phê bình lý thuyết hiện đại hóa và phương pháptiếp cận WID Khái niệm này dựa trên nhận định rằng, phụ nữ luôn là một phần củacác quá trình phát triển Phụ nữ và tiến trình phát triển có mối liên hệ với nhau vàtrên thực tế, không phải là không có biện pháp để đưa phụ nữ vào trong chiến lượccủa quá trình phát triển

Trang 14

Chương pháp tiếp cận này cho rằng phụ nữ luôn là một tác nhân kinh tế quan trọngtrong xã hội, công việc mà phụ nữ thực hiện cả trong gia đình và ngoài gia đìnhđóng vai trò trung tâm trong việc duy trì xã hội, nhưng sự hòa nhập này chỉ gópphần duy trì cơ cấu của sự bất bình đẳng hiện nay trên bình diện quốc tế Tình trạngbất bình đẳng của phụ nữ hiện nay ở cấp độ quốc tế Nếu như trên bình diện quốc

tế, vấn đề bình đẳng được cải thiện thì địa vị của phụ nữ sẽ được nâng lên Trongcác lĩnh vực kinh tế, chính trị và kết cấu xã hội đều thiếu hụt sự đại diện của phụ

nữ, con đường để giải quyết vấn đề này, đó là thông qua việc xây dựng các chiếnlược có sự tham dự của phụ nữ, chứ không phải là thông qua biện pháp biến đổicăn bản các quan hệ giới

Cũng giống như WID, WAD đã quá chú trọng vào lĩnh vực sản xuất, chú trọng vàochiến lược tham dự và việc triển khai các hoạt động tạo thu nhập mà không xem xétđến việc thực hiện các chiến lược này sẽ tạo thêm áp lực và gánh nặng cho phụ nữ.Các quan điểm của WAD bị phê phán là đã không coi lao động gia đình như mộtgiá trị kinh tế và WAD đã áp dụng các thành kiến và các giả định của phương Tâyvào các nước đang phát triển

Ở Việt Nam, trong những năm qua, mặc dù bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ

đã đạt được những thành tựu to lớn, tuy nhiên trong hầu hết các lĩnh vực, phụ nữvẫn chưa có được địa vị tương xứng với tiềm năng và đóng góp thực tế của họ.Trong lĩnh vực chính trị, tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp ủy đảng còn thấp (ở nhiệm

kỳ khóa XII, tỷ lệ này ở cấp Trung ương là 10%, cấp tỉnh là 13,3%, cấp huyện là14,3% và cấp xã là 19,69% Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội và Hội đồng nhân dân cáccấp cũng không cao, ở nhiệm kỳ 2016 - 2021, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội là 26,72%,

tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cụ thể như sau: cấp tỉnh là 26,4%, cấphuyện là 27,5%, cấp xã là 26,7%)

Phương pháp tiếp cận “Giới và phát triển”

Trang 15

Theo kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm từ các phương pháp tiếp cận WID vàWAD, vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, người ta ngày càng nhận thấy rằng,rào cản đối với sự bình đẳng chủ yếu do các yếu tố xã hội tạo nên và tồn tại bởi mộtloạt những di chứng lịch sử, tư tưởng, văn hóa, kinh tế và tôn giáo Những rào cảnnày ăn sâu và khó thay đổi Song, một số bằng chứng lại cho thấy, những ảnhhưởng này có thể thay đổi được Sự bất bình đẳng của phụ nữ thường do nhiều yếu

tố kết hợp lại (xã hội, kinh tế, chính trị và văn hóa), tác động tới đời sống của phụ

nữ và nam giới một cách khác nhau Do đó, cần phải hệ thống và lý giải mối quan

hệ giữa phụ nữ và nam giới trong các bối cảnh xã hội khác nhau và xây dựng cácchiến lược thay đổi có tính đến các mối quan hệ này

GAD quan niệm, phụ nữ và nam giới cùng có vai trò trong xây dựng và duy trì xãhội, cùng quyết định phân công lao động xã hội Tuy nhiên, họ lại không bình đẳngtrong việc hưởng thụ lợi ích và trong việc đối mặt với những khó khăn, điều này là

do phụ nữ là nhóm yếu thế, vv́ vậy, cần phải tập trung sự quan tâm dành cho phụ nữ.Mặc dù giữa phụ nữ và nam giới có mối quan hệ nương tựa vào nhau, tuy nhiênphương thức và phạm vi hoạt động của họ trong xã hội lại không giống nhau, cónhững vai trò khác nhau trong những lĩnh vực xã hội khác nhau Vì vậy, mỗi giớiđều có những vấn đề ưu tiên riêng, có cách nhìn nhận sự vật riêng Trong quan hệvai trò giới, nam giới có thể hạn chế hoặc mở rộng những khó khăn của phụ nữ.Phát triển có ảnh hưởng khác nhau tới phụ nữ và nam giới, đồng thời, nam giới vàphụ nữ cũng có những ảnh hưởng khác nhau đối với các dự án sản xuất, để thúcđẩy lợi ích và phúc lợi của xã hội, phụ nữ và nam giới phải có cùng cách nhìn nhận

về các vấn đề và cùng tìm ra phương thức để giải quyết các vấn đề đó

Phương pháp tiếp cận GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò củaphụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng đồngtrên các lĩnh vực hoạt động khác nhau GAD xem phụ nữ như là chủ thể của quá

Trang 16

trình biến đổi chứ không coi phụ nữ như nhóm đối tượng thụ hưởng bị động.Phương thức thực hiện là thông qua trao quyền, tăng cường sức mạnh nội tại củaphụ nữ, thực hiện năng lực cải tạo xã hội của phụ nữ Để thực hiện trao quyền, nộidung căn bản nhất là lập kế hoạch giới, GAD nhấn mạnh trong thực hiện các dự ánphát triển quốc tế, phát triển đất nước, phát triển khu vực cần phải thực hiện tổnghợp yếu tố giới Vấn đề công bằng phải được thể hiện trong thực tiễn chứ khôngphải chỉ trên khẩu hiệu.

GAD đã phát triển một số khái niệm cơ bản như: lập kế hoạch giới, lợi ích giới,nhu cầu giới (bao gồm nhu cầu giới chiến lược và nhu cầu giới thực tiễn)

Trong công trình “Sự lệ thuộc dai dẳng của phụ nữ trong tiến trình phát triển” (năm1978), Whitehead chỉ ra rằng, nghiên cứu phụ nữ và phát triển không thể chỉ đứngtrên quan điểm xem xét các vấn đề của phụ nữ, mà phải xem xét cả phụ nữ và namgiới, đặc biệt phải chú trọng xem xét mối quan hệ giữa hai giới

Một đại biểu tiêu biểu khác của GAD là K Young, đã tổng kết các vấn đề lý luậncủa GAD trên sáu phương diện:

Một là, lý luận của GAD là khi các vấn đề liên quan đến phụ nữ xuất hiện, chúng ta

không phải bàn đến các vấn đề của phụ nữ mà phải quan tâm đến mối quan hệ giới.Mối quan hệ này luôn bị các nhà xã hội học gọi là mối quan hệ phụ thuộc, vị tríquan hệ này được quyết định trong gia đình hoặc trong hệ thống xã hội phụ hệ (nhưquan hệ cha con hoặc quan hệ hôn nhân), cũng có một số quan hệ được hình thành

từ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Hai loại quan hệ này có mối liên hệ lẫnnhau dưới ảnh hưởng của các yếu tố như giai cấp, chủng tộc, dân tộc và tôn giáo

Hai là, lý luận của GAD không coi phụ nữ như những đối tượng thụ hưởng một

cách bị động mà coi phụ nữ như là những thành phần chủ động tham gia vào quátrình phát triển, nhưng không giả định rằng, phụ nữ hiểu biết một cách đầy đủ và

Trang 17

toàn diện về địa vị xã hội của họ Lý luận của GAD giả định, phụ nữ hoàn toàn biếtđược địa vị phụ thuộc của họ nhưng không giải thích được căn nguyên của sự kì thị

và phụ thuộc Lý luận của GAD cũng cho rằng, nam giới biết được vị trí chủ đạocủa họ trong xã hội, nhưng không phải tất cả nam giới đều cố gắng nỗ lực để dành

và giữ lấy vị trí chủ đạo đó Không phải tất cả hành vi và mục tiêu của phụ nữ đều

là đúng đắn, không nghi ngờ, cũng không phải tất cả nam giới đều là những người

“gian ác” Nhưng GAD cho rằng, nếu như không có sự nỗ lực tuyên truyền, vậnđộng, nam giới sẽ không sẵn sàng ủng hộ sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ,

Ba là, lý luận của GAD có được cái nhìn toàn diện GAD đã đứng trên tổng thể

kinh tế, chính trị, tổ chức của xã hội để giải thích từng phương diện, từng vấn đềcủa xã hội Ví dụ, để tìm hiểu mô hình đời sống của phụ nữ, GAD không chỉ quantâm đến vai trò sinh sản của phụ nữ (vai trò làm mẹ, chăm sóc con cái của phụ nữ).Hay khi phân tích đời sống kinh tế - xã hội, GAD không chỉ đơn giản quan tâm đếntừng công việc, như trao đổi và sản xuất các sản phẩm, các loại dịch vụ của cáccông xưởng hay các bệnh viện Mà GAD đã quan tâm đến mối quan hệ giữa giađình, các công việc gia đình và các hình thức tổ chức kinh tế… Nói một cách cụ thểhơn, đứng dưới góc độ giới, chỉ khi thấu hiểu các lĩnh vực, các vấn đề trong giađình mới có thể giải thích được cơ chế cơ bản để các công việc hằng ngày của lĩnhvực sản xuất có thể hoàn thành

Bốn là, GAD nhìn nhận phát triển như là một quá trình phức tạp của tiến bộ văn

hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của cá nhân và xã hội Ở đây tiến bộ để chỉ trong mỗibối cảnh lịch sử nhất định, các thành viên được thỏa mãn đầy đủ về nhu cầu vậtchất, tình cảm và năng lực sáng tạo Để kiểm chứng ảnh hưởng của phát triển kinh

tế đối với mỗi xã hội, GAD sẽ quan tâm đến các vấn đề: Ai là người được hưởnglợi ích? Ai là người phải chịu ảnh hưởng, thiệt thòi? Tiến hành giao dịch như thế

Trang 18

nào? Quyền lợi và nghĩa vụ của phụ nữ và nam giới và sự cân bằng giữa các nhóm

xã hội đặc thù như thế nào?

Năm là, lý luận của GAD cho rằng, phúc lợi, chống nghèo đói và bình đẳng không

phải là ba vấn đề đối lập, không thể đồng thời lựa chọn Mà ngược lại, phúc lợi vàchống nghèo đói chính là tiền đề của bình đẳng Điều then chốt của cách tư duy này

là làm thế nào để các cách thức thực hiện phúc lợi có thể phục vụ được cho mụctiêu bình đẳng Cách tư duy này đã tiến thêm một bước: thông qua cải cách để cóthể đạt được mục đích, hoặc tất yếu phải thông qua biến đổi xã hội một cách cấptiến mới có thể đạt được mục đích trên Bất luận lựa chọn cách nào ở trên đều phảitiến hành một loạt các lựa chọn và quyết sách, mà những lựa chọn và quyết sáchnày đều gặp phải những ảnh hưởng từ những bối cảnh chính trị, lịch sử nhất định

Sáu là, về mặt chiến lược, GAD tập trung quan tâm đến việc phụ nữ trở thành

những cá thể hay những nhóm có thu nhập GAD có thái độ không tích cực đối vớivai trò phân phối lợi ích của thị trường GAD nhấn mạnh, phụ nữ cần được liên kếtthành các tổ chức nhằm tăng cường năng lực thương thuyết của mình trong hệthống kinh tế Cụ thể hơn, việc liên kết thành các tổ chức sẽ giúp cho phụ nữ tăngcường uy tín GAD nhấn mạnh vai trò của tổ chức, đặc biệt nhấn mạnh vai trò củacác tổ chức của riêng phụ nữ nhằm nâng cao quyền lực chính trị cho phụ nữ trongcác hệ thống kinh tế

Có thể nói, trong các nghiên cứu về phụ nữ ở Việt Nam, đặc biệt trong những nămgần đây, phương pháp tiếp cận GAD có những ảnh hưởng tới nhiều tác giả và nhiềucông trình nghiên cứu Các nghiên cứu về phụ nữ không chỉ đơn thuần là mô tả cácvấn đề của phụ nữ mà thường xuyên đặt các vấn đề của phụ nữ trong mối tươngquan với các vấn đề của nam giới để thấy được sự khác biệt và chỉ ra những vấn đề,những bất bình đẳng, những thiệt thòi và cả những áp lực mà phụ nữ đang thật sựphải đối mặt Từ kết quả của các công trình nghiên cứu này và dưới tác động của

Trang 19

các nhà nghiên cứu về phụ nữ, các nhà nghiên cứu giới, nội dung của GAD đã hiệndiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, chẳng hạn như lĩnh vực banhành và thực thi chính sách xã hội… Các khái niệm trao quyền cho phụ nữ, lập kếhoạch giới và lồng ghép giới hiện nay đã trở nên khá phổ biến ở Việt Nam Trongquá trình xây dựng chính sách, luật pháp và xây dựng các dự án đều phải xem xétyếu tố giới Về mặt nguyên tắc, việc lồng ghép giới, bảo đảm cơ hội bình đẳng cho

cả phụ nữ và nam giới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trở thành yếu tốbắt buộc trong quy trình xây dựng và thực thi chính sách ở Việt Nam Nghị quyết23-NQ/TW về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, ngày 12-03-2003, của Ban Bí thư Trung ươngĐảng nêu rõ: “tiếp tục nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội

về công tác phụ nữ và vấn đề bất bình đẳng giới, khẩn trương cụ thể hóa các chủtrương của Đảng thành luật pháp, chính sách, lồng ghép giới trong quá trình xâydựng và hoàn thiện các chương trình, kế hoạch chung… Tạo điều kiện để phụ nữtham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản

lý các cấp”

Để cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, năm 2006, Luật Bình đẳng giới

đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực Việc ra đời của Luật Bình đẳng giới làmột dấu mốc quan trọng, thể hiện sự quyết tâm của Đảng và Chính phủ trong việcthúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ Việt Nam Đảng và Chính phủ luôn tạomọi điều kiện cho phụ nữ được tham gia và phát huy năng lực của mình trong mọilĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực chính trị

Mặc dù đã đạt được những bước tiến dài trong lĩnh vực bình đẳng giới, tuy nhiên

do tác động của nhiều nguyên nhân, bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại trong tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị Để phụ nữ có thểkhẳng định được vai trò, vị trí và phát huy hết tiềm năng của mình cho xã hội, xóa

Trang 20

bỏ hoàn toàn khoảng cách giới đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của toàn xã hội trongthời gian tiếp theo.

6 Phân tích Bình đẳng giới là gì? Đặc điểm của bình đẳng giới? Nội dung củabình đẳng giới và Chính sách bình đẳng giới ở Việt Nam?

Bình đẳng giới có thể được xem xét trên hai quan điểm:

- Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức giới

- Quan điểm bình đẳng khi có nhận thức giới

Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức về giới: Theo Từ điển Bách

khoa Việt Nam (1995) tập I thì: Bình đẳng là sự được đối xử như nhau về các mặtchính trị, kinh tế, văn hoá, không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đótrước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật Theo đó, bình đẳng giới sẽđược hiểu là sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi phương diện, không phânbiệt, hạn chế, loại trừ quyền của bất cứ giới nam hay giới nữ Ởđây, điều kiện cầnthiết chỉ là cung cấp cho phụ nữ các cơ hội bình đẳng, sau đó người ta tin rằng, họ

sẽ thực hiện và được hưởng thụ theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn như nam giới vàđem lại các kết quả như nhau, nhưng thực tế, sự đối xử bình đẳng không luôn luônđem lại kết quả bình đẳng Quan điểm trên, sau này được nhiều nhà nghiên cứu vềgiới cho rằng là một loại “bình đẳng giới mà không tôn trọng sự khác biệt về giớitính”

Nguyên tắc đối xử như nhau, không phân biệt là điều hết sức cần thiết, song

có lẽ chưa đủ để phụ nữ được bình đẳng thực sự Ở nhiều quốc gia trên thế giớitrong đó có Việt Nam, xuất phát từ vấn đề quyền con người, hiến pháp đã ghi nhậnquyền bình đẳng giữa nam và nữ trên mọi phương diện Điều đó là một sự tiến bộlớn, tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ này, phụ nữ vẫn chưa được bình đẳngthực sự Cũng là con người như nam giới nhưng phụ nữ lại có những đặc tính về

Trang 21

giới tính hết sức riêng biệt do đặc trưng sinh học và đặc trưng xã hội quy định chiphối, cho nên, nếu chỉ thực hiện sự đối xử như nhau (căn cứ vào cái chung) màkhông chú ý đến cái riêng để có các đối xử đặc biệt thì sẽ không có bình đẳng thựcsự.

Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển, giữa nam và nữ đã không cócùng một điểm xuất phát, cho nên cơ hội mở ra như nhau nhưng phụ nữ khó nắmbắt được như nam giới Ví dụ, khi cơ hội tìm việc làm, có thu nhập cao mở ra cho

cả nam và nữ thì phụ nữ khó có thể đón nhận được cơ hội đó như nam giới (vì lý dosức khoẻ, công việc gia đình, các quan niệm cứng nhắc trong phân công lao động);ngay cả khi có điểm xuất phát như nhau (do đã được tạo điều kiện) thì quá trìnhphát triển tiếp theo của phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn, cản trở hơn so với namgiới

Ví dụ, hai sinh viên nam và nữ cùng tốt nghiệp đại học, mười năm sau, trình

độ, khả năng thăng tiến giữa họ lại rất khác nhau Trong thời gian này, nam giới cớthể chuyên tâm vào học tập, nâng cao trình độ, còn phụ nữ lại phải chi phối hơncho việc sinh đẻ và nuôi con nhỏ Vậy là đối xử như nhau không thể đem lại sựbình đẳng giữa hai giới nam và nữ vốn rất khác nhau về mặt tự nhiên và xã hội (dolịch sử để lại)

Theo quan điểm này thì mọi điều kiện cần thiết chỉ là cung cấp cho phụ nữcác cơ hội bình đẳng và người ta mong đợi phụ nữ sẽ tiếp cận các cơ hội này, thựchiện và hưởng lợi theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn như nam giới Điều này đặt rasức ép vô cùng lớn đối với phụ nữ trong khi đó lại thu hẹp sự tiếp cận của họ tớicác kỹ năng và các nguồn cần thiết để có thể tận dụng “các cơ hội bình đẳng” Bìnhđẳng về cơ hội, về sự lựa chọn và đối xử là cơ hội cần thiết nhưng không phải là cơhội quan trọng để hỗ trợ cho sự phát triển của phụ nữ

Trang 22

Quan điểm bình đẳng với nhận thức giới: Theo chúng tôi, khi đã thừa nhận

phụ nữ có những khác biệt cả về tự nhiên và xã hội so với nam giới, thì đối xử nhưnhau sẽ không đạt được bình đẳng Cho nên, bình đẳng giới không chỉ là việc thựchiện sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi lĩnh vực xã hội, theo phươngchâm phụ nữ có thể có quyền làm tất cả những gì nam giới có thể và có quyền làm.Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa hai giớinhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ, thông qua các đối xử đặcbiệt với phụ nữ (Trong Luật Bình đẳng giới hiện nay đã có các quy định cụ thể vềnhững điều khoản “đặc biệt tạm thời” mà không coi là phân biệt giới để thực hiệnbình đẳng giới)

Những đối xử đặc biệt tác động đến khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ hạnchế những thiệt thòi của phụ nữ còn được duy trì thường xuyên như chương trìnhchăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em Các đối xử đặc biệt tác động làm thay đổi vị thếngười phụ nữ do lịch sử để lại được duy trì chừng nào đạt được sự bình đẳng hoàntoàn Đối xử đặc biệt khác không chỉ căn cứ vào sự khác biệt giữa nam và nữ, quátrình tiến tới bình đẳng giới còn phải chú ý sự khác biệt ngay trong giới nữ, thể hiệnqua các nhóm phụ nữ khác nhau, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân vớinông dân, trí thức, giữa phụ nữ giàu và phụ nữ nghèo…

Như vậy việc đối xử như nhau giữa các bộ phận xã hội không giống nhau sẽkhông thể đạt tới được sự bình đẳng thực sự Ở đây, điều kiện để đạt tới sự bìnhđẳng chính là cần phải có các đối xử đặc biệt, thậm chí là các điều kiện ưu tiêndành cho các nhóm xã hội yếu thế Trong một môi trường mà cơ hội, điều kiện và

vị trí xã hội của phụ nữ còn thấp hơn nam giới thì để có bình đẳng giới thực sự,cách đối xử đặc biệt như trên đối với phụ nữ là điều kiện cần thiết phải có

Bình đẳng giới là một tình trạng lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới đượchưởng vị trí xã hội như nhau, được tạo cơ hội và điều kiện thích hợp để phát huy đủ

Trang 23

khả năng của mình nhằm đóng góp cho sự phát triển của quốc gia và được hưởnglợi từ các kết quả của quá trình phát triển đó.

Quan điểm bình đẳng có nhận thức về giới đưa ra sự tiếp cận đúng đắn, côngnhận sự khác biệt và thực tế là phụ nữ đang ở vị trí bất bình đẳng do sự phân biệtđối xử trong quá khứ và hiện tại Mô hình này không chỉ quan tâm đến cơ hội bìnhđẳng mà còn quan tâm đến kết quả của sự bình đẳng, sự đối xử bình đẳng, tiếp cậnbình đẳng và lợi ích bình đẳng Chúng ta cần phải xem xét cẩn thận những cản trởtiềm ẩn đối với sự tham gia bình đẳng cũng như có cơ hội, điều này có nghĩa là cóthể phải đối xử khác nhau đối với phụ nữ và nam giới để họ có thể được hưởng lợimột cách chính đáng và đó không thể coi là phân biệt giới

Tóm lại: Bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được trải nghiệmnhững điều kiện ngang nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của mình, có cơ hội

để tham gia, đóng góp và hưởng lợi như nhau từ các hoạt động phát triển của quốcgia về kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội

Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa haigiới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ, thông qua các đối xửđặc biệt với phụ nữ Để đạt tới bình đẳng giới trong một môi trường mà cơ hội,điều kiện và vị trí xã hội của phụ nữ còn thấp hơn nam giới thì việc đối xử đặc biệtvới phụ nữ, ưu tiên cho phụ nữ trên một số mặt, chính là cơ sở để tạo lập sự bìnhđẳng thực sự

* Bình đẳng giới: Là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo

điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng,của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó (Khoản 3 -Điều 5 Luật Bình đẳng giới)

* Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới

- Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Trang 24

- Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.

- Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới

- Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới

- Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật

- Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.(Điều 6 - L

7 Lồng ghép giới là gì? Nêu và phân tích các bước trong chu trình lồng ghép giới?Liên hệ thực tiễn hoặc có ví dụ minh họa

Lồng ghép giới là khái niệm đã đoược định nghĩa trong Kết luận của ủy banKinh tế - Xã hội của LHQ tháng 2/1997 như sau: Lồng ghép giới là quá trình đánhgiá những tác động đối với phụ nữ và nam giới của bất kỳ quá trình hoạch địnhchính sách nào, bao gồm cả luật pháp, chính sách hay chương trình trong tất cả cáclĩnh vực và tất cả các cấp độ Đó là chiến lược để đưa những mối quan tâm và kinhnghiệm của cả phụ nữ và nam giới thành một bộ phận không thể tách rời của côngtác thiết kế, thực hiện, kiểm tra, đánh giá các chính sách, chương trình ở mọi lĩnhvực chính trị, kinh tế, xã hội với mục đích phụ nữ cũng như nam giới được thamgia và thụ hưởng một cách bình đẳng và công bằng những thành quả đạt được và sựbất bình đẳng sẽ không còn tồn tại Mục đích cuối cùng là đạt được bình đẳng giới

Lồng ghép giới được xác định trong chiến lược toàn cầu để thúc đẩy bìnhđẳng giới Theo Cương lĩnh hành động của Hội nghị Bắc Kinh năn 1995, lồng ghépgiới có mặt trong tất cả các chính sách, chương trình độ bảo đảm trước khi mộtquyết định dược đưa ra, phải phân tích được tác động của quyết định đó đối vớiphụ nữ và nam giới Lồng ghép giới đã bình đẳng giới vào trung tâm của các quyếtđịnh về chính sách, kế hoạch trung hạn, ngân sách, các quá trình vận hành và cơcấu của thể chế Lồng ghép giới đòi hỏi phải đưa được những nhận thức, kinhnghiệm, kiến thức và lợi ích của cả phụ nữ và nam giới vào việc hoạch định chính

Trang 25

sách, lập kế hoạch và ra quyết định Điều này cần tới những thay đổi trong cơ cấu –

tổ chức, thủ tục và văn hoá nhằm tạo ra những môi trường thuận lợi để thúc đẩybình đẳng giới Lồng ghép giới nhằm khắc phục những thiếu sót của các dự án mùgiới và tạo ra các chính sách công bằng giới Quá trình tham gia của cả nam và nữđảm bảo rằng phân công lao động công bằng, cả hai giới đều có sự tiếp cận và kiểmsoát bình đẳng đối với nguồn lực, lợi ích, cơ hội ra quyết định, đảm bảo đáp ứngnhu cầu giới chiến lược và thực tế dựa trên tính nhạy cảm giới Lồng ghép giới cần

có quá trình thu thập số liệu, phân tích tình hình, xác định mục tiêu và đưa ra nhữngchính sách có thể cho địa phương và Nhà nước Lồng ghép giới tiến tới thay đổi vaitrò giới, qua đó nam giới chịu trách nhiệm nhiều hơn trong công việc gia đình, phụ

nữ chịu trách nhiệm nhiều hơn trong công việc chính trị, xã hội

TIẾN TRÌNH LỒNG GHÉP GIỚi

Để lồng ghép giới vào chính sách, chương trình, hoạt động cần thực hiện các bướcPhân tích giới, Lập kế hoạch giới và Thực hiện, giám sát và đánh giá lồng ghépgiới

1 Phân tích giới

a) Thu thập số liệu về nhóm đối tượng tách biệt theo giới tính, khi phân tích vấn đề,phân tích tình hình;

b) Phân tích số liệu thu thập được để xác định các xu hướng bất bình đẳng;

c) Xác định sự phân chia lao động và khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực

và lợi ích;

d) Hiểu được nhu cầu, khó khăn và cơ hội của nam giới và phụ nữ;

e) Rà soát năng lực của các tổ chức liên quan trong việc thúc đẩy bình đẳng giới

2 Lập kế hoạch giới

Khi phân tích giới cho thấy vị thế và tình trạng của nam giới và phụ nữ tương đốibình đẳng, cần duy trì Nhưng khi thấy nguy cơ bất bình đẳng giới, cần lập kếhoạch giới để xoá bỏ bất bình đẳng Lập kế hoạch giới gồm:

Trang 26

a) Xác định mục tiêu của lồng ghép giới

b) Xác định các biện pháp để ngăn ngừa hoặc giải quyết vấn đề bất bình đẳng, dựatheo các chiến lược lồng ghép giới

c) Thay đổi tổ chức: là hoạt động tác động tới cơ quan thực hiện nhằm nâng caonăng lực thực hiện kế hoạch lồng ghép giới và thúc đẩy bình đẳng giới cho họ

3 Thực hiện, giám sát và đánh giá lồng ghép giới

Bước này nhằm triển khai kế hoạch giới đã được xây dựng và giám sát - đánh giáviệc thực hiện lồng ghép giới, bao gồm các hoạt động như: a) Thực hiện kế hoạchlồng ghép giới;

b) Giám sát và đánh giá quá trình và kết quả thực hiện lồng ghép giới

CÁC PHƯƠNG PHÁP LỒNG GHÉP GIỚI

Từ Các công cụ phân tích giới, chúng ta có thể tiến hành lồng ghép giới ởdạng đơn giản Dưới đây giới thiệu hai phương pháp lồng ghép giới phổ biến chocác nước đang phát triển là:

Trang 27

Nhằm trả lời các câu hỏi trong từng vấn đề sau:

a) Phân công lao động theo giới

Có phải nam giới và phụ nữ đều hài lòng về phân công lao động theo giớihiện tại không? Có, tại sao? Không, tại sao?

Chúng ta có thể thay đổi điều đó như thế nào để cả nam giới và phụ nữ đềuhài lòng?

b) Tiếp cận kiểm soát nguồn/lợi ích

Sự tiếp cận và kiểm soát của phụ nữ với các nguồn được tăng cường thư thếnào?

Sự tiếp cận và kiểm soát của phụ nữ đối với các lợi ích được tăng cường nhưthế nào?

c) Quá trình ra quyết định

Quyền lực ra quyết định của phụ nữ trong gia đình và xã hội có thể lực tăngcường như thế nào?

Ai có thể thay đổi quyền lực cho phụ nữ?

d) Nhu cầu giới thực tế, nhu cầu giới chiến lược

Những nhu cầu giới thực tế của phụ nữ và nam giới là gì? Chúng có thể đượcgiải quyết như thế nào?

Những nhu cầu giới chiến lược của phụ nữ là gì? Chúng có thể được giảiquyết như thế nào?

3 Ra quyếtđịnh

4 Nhu cầu thực tế

và chiến lược

Trang 28

Nguồn: Phân tích giới và lập kế hoạch dưới góc độ giới, Tài liệu tập huấn

của UBQG vì sự tiến bộ phụ nữ và UNDP, 1998

1.3 Lập kế hoạch dưới góc độ giới

5 Các mục tiêu

giới

6 Những cản trở 7 Các cơ hội 8 Các hoạt động

Nguồn: Phân tích giới và lập kế hoạch dưới góc độ giới, Tài liệu tập huấn

của UBQG vì sự tiến bộ phụ nữ và UNDP, 1998

2 Phương pháp Caroline O.N Moser

(Được trình bày trong cuốn “Kê hoạch hoá về giới và phát triển”)

Phương pháp Caroline và O.N Moser có khung phân tích bao gồm:

- Xác định vai trò giới

- Đánh giá nhu cầu giới

- Kiểm soát nguồn tài nguyên và ra quyết định trong gia đình

- Tiếp cận WID - GAD

- Phân tích SWOT: phân tích những điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thứctrong đánh giá những khía cạnh giới

Khung tăng năng lực phụ nữ: phúc lợi, tiếp cận, nhận thức, tham kiểm soát

2.1 Cơ sở, khái niệm lập kế hoạch dưới góc độ giới

Trước hết, cần phân biệt giữa tăng trưởng và phát triển

- Tăng trưởng: Đưa ra những con số tổng hợp sản phẩm quốc dân, không

biết được các phương diện vận động của xã hội như về phân phối thu nhập, tính

Ngày đăng: 04/12/2019, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w