Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách thức to lớn cho các quốc gia cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới. Các quốc gia này phải đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuất khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những qui định mở để tạo ra những rào cản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp…Vì vậy, song song với tự do hóa thương mại toàn cầu, các biện pháp chống phá giá được áp dụng ngày càng nhiều để đối phó với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không công bằng của hàng hóa nhập khẩu khi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường Các vụ kiện chống bán phá giá ngày càng có xu hướng tăng lên và thường xuyên đối với các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN… do nền kinh tế các nước này phát triển chủ yếu dựa vào xuất khẩu, hàng hóa ngày càng tăng và doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu ngày càng nhiều hơn. Việt Nam tham gia vào ASEAN, APEC và đàm phán xin gia nhập WTO đồng nghĩa với sự thay đổi sâu sắc các chính sách thương mại liên quan tới việc mở cửa thị trường. Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng và chủ động hơn vào các hoạt động hội nhập quốc tế, lượng hàng hóa xuất khẩu Việt Nam ngày càng tăng cùng với tăng trưởng thu hút đầu tư nước nước ngoài (FDI). Như vậy hàng hóa Việt Nam trong thời gian tới sẽ có tăng trưởng đáng kể, đem lại lợi thế nhất định cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Tuy nhiên, trước làn sóng thu hút FDI ngày càng tăng, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam có nguy cơ phải đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá và trợ cấp tăng lên. Khi những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ngày càng gia tăng có uy tín trên thị trường thế giới và chiếm thị phần lớn đã xuất hiện một số trường hợp hàng xuất khẩu của nưóc ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá để tạo ra hàng rào bảo hộ, ngăn cản hàng hoá của ta không cho xuất khẩu vào thị trường của nước họ. Chính vì vậy, để đảm bảo sản xuất trong nước được thuận lợi, các doanh nghiệp phát huy tốt đa nguồn lực của mình. Nhóm chúng em muốn đề cấp đến một số qui định của WTO về bán phá giá hàng hóa và tình hình về các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với Việt Nam. Từ đó đề xuất những giải pháp để chủ động phòng ngừa và tích cực đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các doanh nghiệp Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
DANH MỤC BẢNG 6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ BÁN PHÁ GIÁ 8
1.1 Một số khái niệm 8
1.1.1 Giá thông thường (Normal value) 8
1.1.2 Giá xuất khẩu (Export price) 8
1.2 Khái niệm về bán phá giá hàng hoá 8
1.2.1 Khái niệm về bán phá giá 8
1.2.2 Điều kiện bán phá giá 9
1.3 Mục tiêu của bán phá giá 9
1.3.1 Mục tiêu chính trị 9
1.3.2 Mục tiêu lợi nhuận 9
1.4 Nguyên nhân của việc bán phá giá 10
1.5 Những ảnh hưởng của việc bán phá giá hàng hoá 13
1.5.1 Đối với nước xuất khẩu 13
1.5.2 Đối với nước nhập khẩu 13
1.6 Quy trình xử lý vụ việc chống bán phá giá 13
1.7 Thuế chống bán phá giá (anti – dumping duty) 13
CHƯƠNG 2:TÌNH TRẠNG BỊ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ 14
HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM 14
2.1 Tình hình chống bán phá giá trên thế giới 14
2.2 Các vụ kiện bán phá giá hàng xuất khẩu Việt Nam 16
2.3 Tác hại của việc bán phá giá hàng hóa đối với nền kinh tế nước ta 22
2.3.1 Những thiệt hại về mặt kinh tế 22
2.3.2 Những thiệt hại về mặt xã hội 23
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 25
3.1 Kiến nghị giải quyết tình trạng bán phá giá ở Việt Nam 25
3.1.1 Tăng cường quản lý thị trường, đấu tranh ngăn chặn tệ nạn buôn lậu, chống gian lận thương mại 25
Trang 23.1.3 Hạn ngạch 36
3.1.4 Thuế nhập khẩu 38
3.1.5 Thực hiện tổ chức thi hành “ Pháp lệnh giá” 39
3.2 Các giải pháp khắc phục tình trạng bị kiện bán phá giá 41
3.2.1 Phân loại 41
3.2.2 Tại sao việc bán phá giá xảy ra? 43
3.2.3 Chủ động phòng tránh các vụ kiện bán phá giá 43
3.2.4 Các giải pháp đối phó với vụ kiện chống bán phá giá đã xaỷ ra 45
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
A Tài liệu tiếng Việt 48
B Tài liệu tiếng nước ngoài 48
C Tài liệu thông tin điện tử 49
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách thức
to lớn cho các quốc gia cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trườngthế giới Các quốc gia này phải đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuấtkhẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những qui định mở để tạo ra những ràocản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp…Vì vậy, song song với tự do hóathương mại toàn cầu, các biện pháp chống phá giá được áp dụng ngày càng nhiều
để đối phó với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không công bằngcủa hàng hóa nhập khẩu khi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thịtrường Các vụ kiện chống bán phá giá ngày càng có xu hướng tăng lên và thườngxuyên đối với các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và các nướcASEAN… do nền kinh tế các nước này phát triển chủ yếu dựa vào xuất khẩu,hàng hóa ngày càng tăng và doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu ngày càngnhiều hơn Việt Nam tham gia vào ASEAN, APEC và đàm phán xin gia nhậpWTO đồng nghĩa với sự thay đổi sâu sắc các chính sách thương mại liên quan tớiviệc mở cửa thị trường Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng và chủ động hơnvào các hoạt động hội nhập quốc tế, lượng hàng hóa xuất khẩu Việt Nam ngàycàng tăng cùng với tăng trưởng thu hút đầu tư nước nước ngoài (FDI) Như vậyhàng hóa Việt Nam trong thời gian tới sẽ có tăng trưởng đáng kể, đem lại lợi thếnhất định cho các doanh nghiệp xuất khẩu Tuy nhiên, trước làn sóng thu hút FDIngày càng tăng, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam có nguy cơ phải đối mặt với các
vụ kiện chống bán phá giá và trợ cấp tăng lên Khi những mặt hàng xuất khẩucủa Việt Nam ngày càng gia tăng có uy tín trên thị trường thế giới và chiếm thịphần lớn đã xuất hiện một số trường hợp hàng xuất khẩu của nưóc ta bị nướcnhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá để tạo ra hàng rào bảo hộ,ngăn cản hàng hoá của ta không cho xuất khẩu vào thị trường của nước họ.Chính vì vậy, để đảm bảo sản xuất trong nước được thuận lợi, các doanh nghiệpphát huy tốt đa nguồn lực của mình Nhóm chúng em muốn đề cấp đến một sốqui định của WTO về bán phá giá hàng hóa và tình hình về các vụ kiện chốngbán phá giá của nước ngoài đối với Việt Nam Từ đó đề xuất những giải pháp để
Trang 4chủ động phòng ngừa và tích cực đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá củacác doanh nghiệp Việt Nam.
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Khối lượng và giá trị xuất khẩu cá tra vào Mỹ (1996-2012) 18Bảng 2: Cơ cấu thị trường xuất khẩu Việt Nam 19
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Thông thường
SPTT Sản phẩm thông thường
XK Xuất khẩu
BIT Văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc
CFA Hiệp hội chủ trại nuôi cá nheo Mỹ
ITC Ủy ban thương mại quốc tế Mỹ
DOC Bộ Thương mại Mỹ
DFT Cục Ngoại thương
MITI Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế MalaysiaFSIS Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
DGAD Tổng vụ Chống bán phá giá và chống trợ cấp
Trang 7CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ BÁN PHÁ GIÁ
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Giá thông thường (Normal value)
Giá thông thường (giá TT) là giá bán sản phẩm sản phẩm tương tự với sản phẩm bịđiều tra (SPTT) tại thị trường nước xuất khẩu Có ba cách xác định giá TT (áp dụngvới các điều kiện cụ thể):
Cách 1: Giá TT được xác định theo giá bán của SPTT tại thị trường nước xuất khẩu(tại thị trường nội địa của nước nơi sản phẩm đó được sản xuất ra)
Cách 2: Giá TT được xác định theo giá bán của SPTT từ nước xuất khẩu liên quansang thị trường một nước thứ ba
Cách 3: Giá TT được xác định theo trị giá tính toán (constructed normal value) = Giáthành sản xuất + Chi phí bán hàng, hành chính (SG&A) + Lợi nhuận Trong các cáchthức nêu trên, cách 1 là cách thức tính giá TT tiêu chuẩn, được ưu tiên xem xét ápdụng trước trong tất cả các trường hợp Chỉ khi không đáp ứng được các điều kiện để
sử dụng cách 1 thì giá TT mới được tính theo cách 2 hoặc cách 3
1.1.2 Giá xuất khẩu (Export price)
Giá xuất khẩu (giá XK) là giá bán sản phẩm từ nước sản xuất (nước xuất khẩu)sang nước nhập khẩu
Các cách thức tính giá XK (tuỳ thuộc vào các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể) bao gồm: Cách 1: Giá XK là giá trong giao dịch mua bán giữa nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩucủa nước xuất khẩu với nhà nhập khẩu của nước nhập khẩu;
Cách 2: Giá XK là giá tự tính toán (constructed export price) trên cơ sở giá bán sảnphẩm nhập khẩu đó cho người mua độc lập đầu tiên tại nước nhập khẩu; hoặc một trịgiá tính toán theo những tiêu chí hợp lý do cơ quan có thẩm quyền quyết định
Cách 1 là cách tính giá XK chuẩn và được áp dụng trước tiên (ưu tiên áp dụng) khitính giá XK (trong các điều kiện thương mại thông thường) Chỉ khi hoàn cảnh cụ thểkhông đáp ứng các điều kiện áp dụng cách 1 thì giá XK mới được tính theo cách 2
1.2 Khái niệm về bán phá giá hàng hoá
1.2.1 Khái niệm về bán phá giá
Bán phá giá (dumping) trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một loạihàng hóa được xuất khẩu (bán sang thị trường nước khác) với giá thấp hơn giá bán của
Trang 8mặt hàng đó tại thị trường nước xuất khẩu.Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản lànếu giá xuất khẩu (giá XK) của một mặt hàng thấp hơn giá nội địa (giá thông thường)của nó thì sản phẩm đó được coi là bán phá giá tại thị trường nước nhập khẩu sảnphẩm đó.
1.2.2 Điều kiện bán phá giá
Theo Hiệp định, để áp dụng biện pháp chống bán phá giá thì mỗi quốc gia phảithông qua thủ tục điều tra và chứng minh được 3 yếu tố:
- Phải có hành vi bán phá giá của hàng hoá nước ngoài trên thị trường trong nước
- Hành vi bán phá giá phải gây thiệt hại đáng kể hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêmtrọng đến ngành sản xuất trong nước của quốc gia nhập khẩu
- Quốc gia nhập khẩu phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phágiá và thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trongnước mình
1.3 Mục tiêu của bán phá giá
Ví dụ: Mỹ sẵn sàng bỏ Ngân sách để mua phần lớn số gạo trên thị trường thế giớirồi bán phá giá, điều này làm cho nhiều nước phải lao đao và chịu nhiều vòng phongtỏa của Mỹ
1.3.2 Mục tiêu lợi nhuận
Khi các hãng cạnh tranh với nhau có mức chi phí bình quân xấp xỉ như nhau thì họthường thỏa thuận thủ tiêu cạnh tranh, giảm lượng bán và tăng giá bán
Khi tự do cạnh tranh, sau một khoảng thời gian dài ngắn thị trường không cânbằng, lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm, thỏa thuận giảm sản lượng xuống tạo ra
Trang 9Đối với các nước xuất khẩu, phải hạn chế tốt đa nhập khẩu, các doanh nghiệptrong nước thỏa thuận với nhau về giá, nâng mức giá trong nước lên.
Đồng thời, xuất khẩu với giá triệt tiêu đối thủ, sau đó chiếm lĩnh thị trường nhậpkhẩu, từ đó thu lợi nhuận tốt đa
1.4 Nguyên nhân của việc bán phá giá
Mỗi một hành động bán phá giá đều nhằm đạt được một số mục tiêu cụ thể và cómột số nguyên nhân dẫn đến hành động đó Một số nguyên nhân như sau:
Bán phá giá nhằm đạt mục tiêu chính trị thao túng các nước khác
Chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm đến xuất khẩu gạo bởi vì cạnh tranh giá gạo bâygiờ ảnh hưởng lớn đến việc đạt các mục tiêu quan trọng khác Mỹ sẵn sàng bỏ ngânsách mua phần lớn số gạo trên thị trường thế giới rồi bán phá giá Điều này làm chonhiều nước xuất khẩu gạo phải lao đao và sẽ phải chịu vòng phong toả của Mỹ Chẳnghạn, giá xuất khẩu của gạo của Mỹ khoảng 400USD/1 tấn, nhưng các nhà xuất khẩugạo Mỹ sẵn sàng mua với giá 500USD/1 tấn, thậm chí cao hơn đến 800USD/1 tấn và
họ cũng sẵn sàng bán ra thị trường thế giới chỉ bằng 60 – 70 %, thậm chí đến 40% giámua Mức giá này thấp hơn nhiều so với giá thành của chính nông dân Mỹ sản xuất ra.Như vậy, Mỹ có thể sẵn sàng bỏ ra 700 – 800 triệu USD mỗi năm để tài trợ giá xuấtkhẩu gạo nhằm thực hiện mục tiêu của mình Chính vì điều này mà mặc dù sản lượnggạo của Mỹ hàng năm thấp nhưng Mỹ lại thao túng giá gạo trên thị trường thế giới
Do có các khoản tài trợ của chính phủ
Chính phủ các nước phương Tây coi tài trợ là con đường ngắn nhất để đạt được sựcân bằng kinh tế và đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách tối ưu Chính sách tàitrợ nhằm đạt được hai mục đích sau:
Duy trì và tăng cường mức sản xuất xuất khẩu
Duy trì mức sử dụng nhất định đối với các yếu tố sản xuất như lao động
và tiền vốn trong nền kinh tế Các khoản tài trợ có thể được cấp chongười sản xuất cũng như cho người tiêu dùng, nhưng về mặt tác độngkinh tế thì chúng đều như nhau vì đều đưa đến những hệ quả tương tự.Những hình thức tài trợ chủ yếu là: trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu đãi,
sự tham gia của chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như hỗ trợ xuất khẩu
Trợ cấp: đặc điểm cơ bản của trợ cấp là hướng vào giúp đỡ phát triển sản
Trang 10nửa toàn bộ khối lượng tài trợ Tỷ trọng của các khoản trợ cấp cho từngngành trong tổng số giúp đỡ của chính phủ có sự khác nhau đáng kể giữacác nước.
Ưu đãi về thuế: những ưu đãi về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi chomột số ngành trong một số loại hoạt động riêng biệt Chúng được ápdụng rộng rãi ở nhiều nước mặc dù ít khi được phản ánh trong các chitiêu của chính phủ vì chúng là ngoại lệ khi áp dụng các thuế suất chuẩn
Ưu đãi về tín dụng: những vấn đề về tín dụng là sự cho vay của chínhphủ với điều kiện hấp dẫn là tìm kiếm trên thị trường vốn Ở các nướcthuộc Cộng đồng Kinh tế Châu Âu khoảng 14% tổng khối lượng giúp đỡcho công nghiệp được thực hiện dưới hình thức tín dụng ưu đãi, phần lớnkhối lượng tín dụng của chính phủ Nhật Bản cấp cho các hãng vừa vànhỏ với lãi suất thấp hơn ở lãi suất thị trường vốn 0,5% Các chính phủcũng thường xuyên bảo đảm các khoản tín dụng, tức là bảo lãnh cho cáccông ty vay mà không trả nợ được Phương pháp tài trợ này thường dùngcho các hợp đồng xuất khẩu để đảm bảo cho các công ty xuất khẩu củanước mình
Tham gia của chính phủ vào chi phí kinh doanh: sự tham gia của chínhphủ vào chi phí kinh doanh thường là 15% tổng tài trợ trở xuống.Phương pháp này được sử dụng để bù đắp những tổn thất trong nhữnglĩnh vực kinh tế riêng đang suy thoái Hiện nay, tài trợ công nghiệp vẫnđược chính phủ các nước phương Tây duy trì ở mức khá cao Trên thực
tế, các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệ mới, trang bịmáy móc và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp các ngành mới gia nhập thịtrường và đẩy mạnh phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn củađất nước, tăng cường xuất khẩu
Bán phá giá cũng có thể xảy ra trong trường hợp một nước có quá nhiều hàng tồn kho không thể giải quyết theo cơ chế giá bình thường
Trong nền kinh tế hàng hoá trước đây, khi gặp khủng hoảng thừa, các chủdoanh nghiệp thường chất đống hàng hoá của mình châm lửa đốt hoặc đổ xuống biển
Trang 11hết là lưu kho chờ ngày giá lên, nhưng lưu kho đòi hỏi phải có chỗ chứa và chỉ ápdụng được với những mặt hàng không bị hư hỏng Giải pháp thứ hai là bán xôn, nhiềukhi đây là giải pháp duy nhất đối với một số mặt hàng: thực phẩm sắp hết thời hạn sửdụng, máy vi tính đời cũ, một số kiểu giày, quần áo hết mốt, Nhiều cửa hàng lớn ởPháp (Paris) ngay từ khi vào mùa đã có số hàng tồn đọng lên tới 50% số dự trù bán ra.Hàng tồn kho này sẽ nhanh chóng được mang bán với giá khuyến mãi thấp hơn 30%giá bán thông thường Đến cuối mùa, số hàng tụt xuống còn vài phần trăm, đượcnhượng lại cho dân bán xôn chuyên nghiệp với giá chỉ bằng 1/10 giá cũ Dân chuyênnghiệp sẽ đẩy hết hàng ra nước ngoài, chủ yếu là sang Châu Phi, Châu Á và Đông Âu.
Bán phá giá được sử dụng như công cụ cạnh tranh
Các hãng nước ngoài sử dụng công cụ bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnhtranh, chiếm lĩnh thị trường của các nước nhập khẩu Sau khi đã giành được vị tríkhống chế thị trường, triệt tiêu được sự cạnh tranh của hàng hoá nội địa thì các hãngnước ngoài sẽ thực hiện mục tiêu cuối cùng của mình là tăng giá, tìm cách thao túngthị trường để thu được lợi nhuận tối đa
Một nước có thể do nhập siêu lớn, cần phải có ngoại tệ để bù đắp cho thiếu hụt này:Khi đó họ có thể áp dụng công cụ bán phá giá để giải quyết vấn đề thiếu hụt ngoại tệ.Một số nước làm ra được một số sản phẩm với giá thảnh rất thấp là nhờ sử dụng laođộng trẻ em tiền lương thấp và sử dụng lao động của tù nhân làm hàng xuất khẩuTheo số liệu của Văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em (BIT) thì trên toàn thế giớihiện có tới 250 triệu trẻ em từ 5 – 14 tuổi đang tham gia một số hoạt động kinh tế Còntheo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) thì tại các nước nghèo, cứ 4 trẻ em thì
có 1 trẻ em làm việc như người lớn
Việc sử dụng lao động trẻ em và sử dụng lao động tù nhân ngoài việc mang lạisiêu lợi nhuận, nó còn là cách cạnh tranh đối với các đối thủ làm ăn Nhờ giá nhâncông rẻ mạt, người ta có thể hạ giá thành sản phẩm, xuất khẩu hàng hoá phá giá ởnước ngoài
Ở Việt Nam có hiện tượng một số công ty kinh doanh hàng nhập khẩu trả chậm, đã bán phá giá nhằm dùng nguồn vốn nước ngoài để kinh doanh mặt hàng khác và hàng nhập lậu với khối lượng lớn
Để làm được việc đó, họ tìm cách bán phá giá trên thị trường, có lúc bán ồ ạt chịu
lỗ từ 10 – 20% so với giá vồn nhập khẩu để nhanh chóng thu hồi vốn, đi buôn mặt
Trang 12hàng khác có lãi suất cao hơn, không những đủ bù lỗ số hàng nhập trả chậm mà còn cólãi lớn.
1.5 Những ảnh hưởng của việc bán phá giá hàng hoá
1.5.1 Đối với nước xuất khẩu
Đạt được:
- Tăng thị phần, lợi nhuận
- Loại bỏ đối thủ cạnh tranh
Hậu quả:
- Áp dụng biện pháp chống bán phá giá
- Nguy cơ mất thị phần
1.5.2 Đối với nước nhập khẩu
Ngành sản xuất: bị thiệt hại Vĩ mô:
- DN thuộc ngành đó phá sản
- Lao động mất việc làm
- Ảnh hưởng đến các ngành khác Vi mô: mất thị phần và lợi nhuận
Người tiêu dùng: được lợi
1.6 Quy trình xử lý vụ việc chống bán phá giá
Giai đoạn 1: Thẩm định hồ sơ và kết quả điều tra
Giai đoạn 2: Điều tra sơ bộ và ra kệt luận điều tra sơ bộ
Giai đoạn 3: Điều tra cuối cùng và ra kết luận cuối cùng
Giai đoạn 4: Áp dụng biện pháp chống bán phá giá và tiến hành rà soát
1.7 Thuế chống bán phá giá (anti – dumping duty).
Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu thôngthường, do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ban hành, đánh vào sản phẩmnước ngoài bị bán phá giá vào nước nhập khẩu Đây là loại thuế nhằm chống lại việcbán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng nhập khẩu bán phá giá gây ra
Trang 13CHƯƠNG 2: TÌNH TRẠNG BỊ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ
HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM
Tự do hóa thương mại đã làm trao đổi hàng hóa tăng lên nhanh chóng và đi cùng với nó là sự gia tăng nhanh chóng của các vụ tranh chấp thương mại, trong đó có các
vụ kiện bán phá giá Việt Nam cũng không ngoại lệ khi mà chúng ta hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới Trong thời kì đổi mới, thương mại của Việt Nam đã thực hiện khởi sắc, kim ngạch xuất khẩu đã gia tăng lên đáng kể Nhiều mặt hàng đã chiếm vị trí cao trong xuất khẩu trên thị trường quốc tế như gạo, thủy sản, thép,… Cũng trong thời gian qua Việt Nam đã là đối tượng điều tra bán phá giá của một số nước và khu vực
2.1 Tình hình chống bán phá giá trên thế giới
Mỹ sắp áp thuế thêm 200 tỷ USD hàng Trung Quốc
Chính quyền Tổng thống Donald Trump đẩy cuộc chiến tranh thương mại Trung leo thang thêm một bước mới khi tuyên bố chuẩn bị áp thuế 10% lên thêm 200
Mỹ-tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc mỗi năm bao gồm hàng trăm mặt hàng thực phẩm, thuốc lá, than, hóa chất và lốp xe, thức ăn cho thú cưng, và hàng điện tử tiêu dùng bao gồm linh kiện TV
Tuần trước, Mỹ áp thuế 25% lên 34 tỷ USD hàng Trung Quốc và dự kiến áp mức thuế này lên thêm 16 tỷ USD hàng Trung Quốc nữa sau 2 tuần Bắc Kinh đã ngay lập tức đáp trả bằng cách áp mức thuế tương xứng lên 34 tỷ USD hàng Mỹ
Việc Mỹ tuyên bố sẽ đánh thuế thêm 200 tỷ USD hàng Trung Quốc không gây bất ngờ lớn, bởi Tổng thống Trump đã nói sẽ đánh thuế tổng lượng hàng Trung Quốc hơn
500 tỷ USD Con số này tương đương với toàn bộ kim ngạch nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ trong năm 2017
Mỹ áp thuế chống bán phá giá đối với vòng bi côn Hàn Quốc
Vào ngày 20/6/2018, Bộ Thương mai Mỹ đã xác nhận áp thuế chống bán phá giá đối với các loại vòng bi côn nhập khẩu Hàn Quốc Theo Bộ Thương mại mỹ, nước này
sẽ áp mức thuế chống bán phá giá từ 8.21% đến 52.44% đối với mặt hàng vòng bi côn của Hàn Quốc khi cho rằng các sản phẩm nhập khẩu đã được bán với giá thấp hơn giá trung bình Vòng bi côn được sử dụng trong ngành ô tô Kim ngạch nhập khẩu các loạivòng bi côn từ Hàn Quốc trong năm 2017 của Mỹ đạt 67.4 triệu USD
Trang 14Trước đó, Mỹ tuyên bố áp đặt mức thuế 20% đối với 1,2 triệu máy giặt nhập khẩu lần đầu tiên trong năm đầu tiên của Hàn Quốc, trong khi các lô hàng nhập khẩu sau đó sẽ phải chịu thuế 50% Riêng sản phẩm tấm pin và môđun năng lượng Mặt Trời trên 2,5 gigawatt sẽ chịu mức thuế nhập khẩu 30% trong năm đầu tiên Phía Mỹ đưa ra biện pháp này nhằm bảo
vệ ngành công nghiệp nội địa trước thực trạng gia tăng mạnh hoạt động nhập khẩu các mặt hàng trên, tác động hoặc đe dọa tới ngành sản xuất trong nước
Chống bán phá giá cá tra, basa Việt Nam vào Mỹ
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá tra, basa vào thị trường Mỹ kể từ năm 1996 Sản phẩm cá tra, basa philê do Việt Nam sản xuất được người tiêu dùng Mỹ đặc biệt ưa chuộng do chất lượng ngon, giá thành hạ và có hương vị tương tự như cá da trơn bản địa Trong nước, với việc không ngừng nâng cao trình độ sản xuất, áp dụng các kỹ thuật nuôi trồng tiên tiến, sản lượng cá tra Việt Nam không ngừng tăng mạnh, giá thấp hơn, đáp ứng ngày một tốt hơn cho nhu cầu xuất khẩu.Năm 2001, Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại song phương với Mỹ khiến thuế nhập khẩu thủy sản giảm xuống còn 0%
Do vậy, lượng cá tra, basa xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ đã không ngừng tăng mạnh, từ 59 tấn năm 1996 lên 3.191 tấn năm 2000 và trên 103 nghìn tấn năm 2012 Thị phần xuất khẩu vào Mỹ cũng tăng từ 5,2% năm 1996 lên 85,4% năm 2000 và 95,9% năm 2012
Sự xuất hiện của cá tra, basa Việt Nam trên thị trường Mỹ khiến biên lợi nhuận của nhà sản xuất cá da trơn Mỹ giảm mạnh và họ cho rằng các doanh nghiệp Việt Nambán phá giá Năm 2002, Hiệp hội chủ trại nuôi cá nheo Mỹ (CFA) đã đệ đơn kiện lên
Ủy ban thương mại quốc tế Mỹ (ITC) và Bộ Thương mại Mỹ (DOC) Năm 2003, DOC
ra phán quyết doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa đã bán phá giá và áp thuế, đồng thờiban hành quy định về việc sản phẩm cá tra, basa Việt Nam không phải là catfish2 và không được dán nhãn “catfish” trên bao bì sản phẩm Từ đó đến nay, các doanh nghiệpxuất
khẩu cá tra, basa Việt Nam đã trải qua 8 lần bị xem xét hành chính bán phá giá (POR)
Bảng 1
Trang 152.2 Các vụ kiện bán phá giá hàng xuất khẩu Việt Nam
“Vụ kiện” chống bán phá giá
Đây thực chất là một quy trình Kiện - Điều tra - Kết luận - Áp dụng biện pháp chống bán phá giá (nếu có) mà nước nhập khẩu tiến hành đối với một loại hàng hoá
nhập khẩu từ một nước nhất định khi có những nghi ngờ rằng loại hàng hoá đó bị bán
phá giá vào nước nhập khẩu gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương
tự của nước nhập khẩu
Mặc dù thường được gọi là “vụ kiện” (theo cách gọi ở Việt Nam), đây không phải thủ tục tố tụng tại Toà án mà là một thủ tục hành chính và do cơ quan hành chính nước nhập khẩu thực hiện Thủ tục này nhằm giải quyết một tranh chấp thương mại giữa một bên là ngành sản xuất nội địa và một bên là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài; nó không liên quan đến quan hệ cấp chính phủ giữa hai nước xuất khẩu
và nhập khẩu
Vì trình tự, thủ tục và các vấn đề liên quan được thực hiện gần giống như trình tự
tố tụng xử lý một vụ kiện tại toà nên thủ tục này còn được xem là “thủ tục bán tư pháp” Ngoài ra, khi kết thúc vụ kiện, nếu không đồng ý với quyết định cuối cùng của
Trang 16cơ quan hành chính, các bên có thể kiện ra Toà án (lúc này, vụ việc xử lý tại toà án thực sự là một thủ tục tố tụng tư pháp).
Thép
Trong năm 2015, các doanh nghiệp xuất khẩu thép “điêu đứng” vì bị khởi xướngđiều tra bán phá giá theo đơn kiện của một số doanh nghiệp nước ngoài Hiệp hội ThépViệt Nam cho biết, chỉ trong tháng 9, ba thị trường Đông Nam Á là Indonesia, TháiLan và Malaysia đều đã tiến hành điều tra chống bán phá giá đối với thép Việt Nam.Tiếp đó, sản phẩm ống thép dẫn dầu của Việt Nam bị Cơ quan biên mậu Canada quyếtđịnh gia hạn thời gian đưa ra kết luận cuối cùng Ở thị trường Mỹ, thép Việt Nam bịkiện bán phá giá tới 6 lần trong năm 2015 Gần đây nhất, vào đầu tháng 11, các doanhnghiệp Việt Nam sản xuất sản phẩm bị điều tra được nêu trong đơn kiện với biên độphá giá phía nguyên đơn cáo buộc đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam ởmức rất cao là 103.83%
Bảng 2
Nguồn: kinhtevadubao.vn
Trang 17 Tôn
Ngoài thép, tôn là mặt hàng xuất khẩu bị điều tra chống bán phá giá trong năm
2015 Gần đây nhất, vào ngày 11/9, Cục Ngoại thương (DFT) thuộc Bộ Thương mại
Thái Lan đã đăng công báo quyết định khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm tôn lạnh và tôn màu nhập khẩu từ Việt Nam
Trước đó, DFT đã nhận được đơn yêu cầu điều tra chống bán phá giá đối với sảnphẩm tôn lạnh và tôn màu của nguyên đơn là Công ty NSW Bluescope đối với hai sảnphẩm trên
Công ty NSW Bluescope cáo buộc sản phẩm tôn lạnh và tôn màu với biên độ phágiá lần lượt là 89.58% và 86.04% Được biết, đây là vụ kiện chống bán phá giá thứ 3của Thái Lan đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam
Vào tháng 4/2015, sản phẩm tôn phủ màu từ Việt Nam và Trung Quốc cũng bịđiều tra sau khi Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Malaysia (MITI) nhận đượcđơn kiện của Công ty FIW Steel Sdn Bhd
Theo kết luận sơ bộ, mức thuế chống bán phá giá xác định cho mặt hàng tôn phủmàu nhập khẩu từ Việt Nam là 5,68% đến 16,45% và mức thuế này được áp dụng tạmthời từ ngày 26/9/2015 đến 23/1/2016
Nguồn: Internet
Trang 18 Cá tra
Trong danh sách những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bị kiện chống bán phágiá năm 2015 không thể không nhắc tới cá tra Mới đây, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ(FSIS) đã thông báo về quyết định triển khai chương trình giám sát cá da trơn đối với
cá tra nhập khẩu vào Mỹ
Theo đó, kể từ tháng 3/2016, cá tra muốn xuất khẩu vào Mỹ phải tuân thủ toàn bộquy trình “tạo ra sản phẩm” từ khâu đầu tiên cho đến khâu cuối cùng phải được thựchiện theo “kiểu Mỹ”
Trước đó, ngay từ đầu năm, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã công bố kết quả cuốicùng mức thuế chống bán phá giá lần thứ 10 (POR10), giai đoạn từ ngày 1/8/2012 đến31/7/2013 đối với sản phẩm cá tra phile đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam
Mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam đã đưa ra nhiều lập luận để thuyết phục, tuynhiên DOC vẫn đưa ra mức thuế thiếu công bằng và bất hợp lý với mức thuế gần 1USD/kg
Vào giữa tháng 9/2015, DOC tiếp tục ra phán quyết sơ bộ mức thuế chống bán phágiá lần thứ 11 (POR11) đối với cá tra philê đông lạnh của Việt Nam vào thị trường nàytrong giai đoạn 1/8/2013 đến 31/7/2014
Trang 19Theo đó, mức thuế mà hai bị đơn bắt buộc là HUNG VUONG CORP vàTAFISHCO lần lượt là 0,36 USD/kg và 0,84 USD/kg 16 công ty là bị đơn tự nguyệntrong đợt xem xét lần này chịu mức thuế là 0,6 USD/kg.
Cơ quan này cho biết xét thấy đơn kiện có đủ chứng cứ cần thiết để khởi xướngđiều tra chống bán phá giá với sợi dún polyester nhập khẩu từ một số nước, trong đó
có Việt Nam
Với mặt hàng này, hiện Thổ Nhĩ Kỳ đang áp thuế chống bán phá giá với sản phẩmnhập khẩu từ Trung Quốc, Indonesia và Malaysia với mức thuế từ 48 - 351 USD/tấn,trong thời gian 5 năm kể từ ngày 17/12/2014
Theo Cục Quản lý cạnh tranh, đây là lần thứ ba Thổ Nhĩ Kỳ kiện chống bán phágiá mặt hàng sợi nhập khẩu từ Việt Nam Trước đó, nước này đã kiện và áp thuế chốngbán phá giá sợi nhân tạo tổng hợp và sợi vải bạt polyethylene/polypropylene nhậpkhẩu từ Việt Nam
Trang 20Nguồn: Internet
Gỗ
Mặt hàng gỗ tấm MDF và gỗ dán xuất khẩu của Việt Nam cũng không tránh khỏikiện tụng Chỉ riêng trong tháng 5/2015, sản phẩm gỗ xuất khẩu liên tiếp bị điều trachống bán phá giá Theo Tổng vụ Chống bán phá giá và chống trợ cấp (DGAD) thuộc
Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ, sản phẩm gỗ tấm MDF nhập khẩu Việt Nam
bị điều tra bắt đầu từ ngày 7/5/2015 Nguyên đơn trong vụ kiện lần này là Công tyGreenply Industries Ltd và Công ty Mangalam Timber Products Ltd
Tiếp đó, mặt hàng gỗ dán xuất khẩu của Việt Nam cũng bị Tổng vụ Nhập khẩu, BộKinh tế Thổ Nhĩ Kỳ điều tra chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá Điều tra nàyđược Thổ Nhĩ Kỳ khởi xướng vào ngày 27/5/2015 đối với sản phẩm gỗ dán nhập khẩu
từ Việt Nam và Bulgaria vào thị trường này từ năm 2010 đến nay
Việc điều tra được tiến hành nhằm xem xét liệu có khả năng gỗ dán từ Trung Quốcđược chuyển sang Việt Nam và Bulgaria vào thị trường Thổ Nhĩ Kỳ nhằm né tránhthuế chống bán phá giá mà quốc gia này đang áp dụng cho gỗ dán Trung Quốc haykhông
Trang 21Nguồn: Internet
Săm lốp
Vào tháng 8/2015, mặt hàng săm lốp xe máy nhập khẩu từ Việt Nam bị Tổng vụNhập khẩu, Bộ Kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ điều tra chống bán phá giá cùng với sản phẩmtương tự tại Trung Quốc, Sri Lanka và Đài Loan
Bộ Kinh Tế Thổ Nhĩ Kỳ cho biết, nước này đã nhận được những đơn yêu cầu tiếptục biện pháp chống bán phá giá với lý do nếu dừng biện pháp này lại thì ngành sảnxuất nội địa sẽ tiếp tục bị thiệt hại đáng kể
Trang 22Nguồn: Internet
Việt Nam còn rất ít kinh nghiệm trong việc đương đầu với phụ kiện phá giá và vậndụng cơ chế chống bán phá giá Qua các vụ kiện phá giá chúng ta có cơ hội nhìn rõ
hơn tình trạng thương mại quốc tế hiện nay.
2.3 Tác hại của việc bán phá giá hàng hóa đối với nền kinh tế nước ta
2.3.1 Những thiệt hại về mặt kinh tế
Qua các vụ kiện, chúng ta có thể thấy thiệt hại không nhỏ không chỉ cho doanhnghiệp xung quanh mà còn có cả nền sản xuất nội địa
Tâm lý bất ổn trong quá trình theo đuổi các vụ kiện khiến các doanh nghiệp khôngthể đảm bảo các hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường Thực tế cho thấy, khidoanh nghiệp tiếp nhận thông tin đầu tiên từ vụ kiện luôn rơi vào trạng thái căngthẳng, đáng lo ngại Doanh nghiệp Việt Nam chưa sẵn sàng với kiện tụng hoặc dothiếu kinh nghiệm trong thương trường và am hiểu pháp luật thương mại quốc tế Tâm
lý lo lắng về khả năng thua kiện và nguy cơ bị áp đặt thuế chống bán phá giá cao tạo
áp lực khiến các doanh nghiệp trở nên lúng túng trong việc lựa chọn các giải phápđúng đắn trong quá trình tham gia vụ kiện và trong việc tìm kiếm những bằng chứng
Trang 23Chi phí cho các vụ kiện cũng là vấn đề nan giải đối với các doanh nghiệp vì ngoạitrừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hầu hết doanh nghiệp Việt Nam là làdoanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, khả năng tài chính có hạn, chủ yếu trong các lĩnhvực gia công hoặc sản xuất các ngành hàng có sử dụng nhiều nhân công
Tỷ lệ thất bại cao trong các vụ kiện khiến các doanh nghiệp giảm hẳn sự nhiệt tâmhợp tác trong quá trình điều tra khiến kết quả càng bất lợi, thậm chí có những doanhnghiệp thực hiện chính sách mang tính bất chấp làm ảnh hưởng lớn đến các doanhnghiệp khác
Tổn thất lớn về tài chính Những khoản thiệt hại lớn thường liên quan đến bảng tưvấn, trả lời bảng câu hỏi, thu thập thông tin, tham gia tố tụng Trong đó, chi phí liênquan đến tư vấn thường là những khoản tiền không nhỏ Nếu lạc quan, chúng ta có thểvui vẻ mà cho rằng những khoản chi phí này dù không được chi trả để đổi lấy kinhnghiệm kinh doanh, song cũng đủ làm học phí cho những bài học về sử dụng pháp luậttrong giao thương quốc tế
2.3.2 Những thiệt hại về mặt xã hội
Sự đình trệ của hàng loạt xí nghiệp cùng với sự giải thể bên bờ vực phá sản gây ratình trạng thất nghiệp gia tăng Người tiêu dùng phải sử dụng các loại hàng hóa kémchất lượng, thậm chí độc hại và có nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏengười tiêu dùng
Bán phá giá thu được lợi nhuận lớn, do đó tình trạng buôn lậu, trốn thuế, gian lậnthương mại ngày càng gia tăng Một số cán bộ có chức có quyền do hám lợi đã tiếp taycho tội phạm làm tha hóa đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp, gây ra thiệt hại lớn với xãhội
Trang 24CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
3.1 Kiến nghị giải quyết tình trạng bán phá giá ở Việt Nam
3.1.1 Tăng cường quản lý thị trường, đấu tranh ngăn chặn tệ nạn buôn lậu, chống gian lận thương mại.
3.1.1.1 Khái niệm
Gian lận thương mại là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, nghĩa là nó chỉ xuất hiện khi có sản xuất hàng hoá, khi các sản phẩm được mang ra trao đổi trên thị trường và khi có người bán, kẻ mua nhằm thực hiện giá trị được kết tinh trong hàng hoá
Trước hết, gian lận là hành vi dối trá, mánh khoé lừa đảo của những người không trungthực, còn gian lận thương mại là hành vi gian lận thể hiện trong khu vực thương mại, thông qua hàng hoá, dịch vụ Chủ thể hành vi gian lận thương mại là các chủ hàng (có thể là người mua, hay người bán và cũng có khi là cả người mua và người bán) Mục đích hành vi này là nhằm thu lợi bất chính (lẽ ra họ không được hưởng) nhờ thực hiện trót lọt thủ đoạn dối trá, lừa đảo.Ví dụ về gian lận thương mại như: hàng có thuế suất cao, chủ hàng giấu giếm, nguỵ trang, khai với cơ quan thuế là hàng có thuế suất thấp; hàng nhiều lại khai là hàng ít; khai sai chủng loại để trốn toàn bộ hoặc một phần số tiền thuế phải nộp cho nhà nước Nghĩa là chủ hàng lừa dối cơ quan nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát hàng hoá để thực hiện hành vi gian lận thương mại Ngoài
ra, đối với hàng cấm, hàng do nhà nước quản lý và hạn chế lưu thông, các chủ hàng cũng dùng các thủ đoạn gian lận thương mại để trốn tránh, qua mặt các cơ quan và nhân viên chức năng
3.1.1.2 Hậu quả của gian lận thương mại đối với nền kinh tê quốc dân
Thuế quan là các mức thuế đánh trên hàng hoá xuất nhập khẩu nhằm mục đích làmtăng giá của hàng nhập khẩu để làm giảm sự cạnh tranh của các nhà sản xuất trong nước hoặc kích thích sản xuất tại nội địa Vì vậy, các hành vi trốn thuế xuất nhập khẩu thông qua hoạt động gian lận thương mại đã làm mất tính công bằng cạnh tranh
thương mại giữa hàng nội và hàng ngoại nhập Hành vi cạnh tranh tiêu cực phi kinh tế này gây nhiều thiệt hại cho người sản xuất và người tiều dùng, thể hiện như sau: