1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam

135 2,8K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Việc Áp Dụng Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Nhằm Bảo Vệ Thị Trường Nội Địa Của Một Số Nước Và Những Vấn Đề Đặt Ra Cho Việt Nam
Tác giả Trần Thanh Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS Bùi Thị Lý
Trường học Trường đại học Ngoại Thương, Khoa Kinh Tế và Kinh Doanh Quốc Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 17,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn, đối với biện pháp áp thuế chống bán phá giá, theo quy định của WTO, loại thuế này chi được áp dụng trong khoảng thời gian và mức độ cần thiết để chống lại các trường họp bán p

Trang 2

T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C NGOẠI T H Ư Ơ N G KHOA KINH TÊ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

H à Nội, tháng 5 n ă m 2010

Trang 3

MỤC LỤC

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 3

LỜI NÓI ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẨN ĐỀ cơ BẢN VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

1.1 Khái niệm, bản chất và mục tiêu của chộng bán phá giá 6

Ì 2 Các biện pháp cơ bản được áp dụng trong chộng bán phá giá 10

Ì 3 Thủ tục áp dụng biện pháp chộng bán phá giá trong thương mại quộc tế 18

Ì 4 Tác động của chộng bán phá giá đến nước nhập khẩu và nước xuất khẩu 23

1.5 Sự cần thiết áp dụng các biện pháp chộng bán phá giá trong thương mại

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG

B Á N P H Á GIÁ N H Ằ M B Ả O V Ệ THỊ T R Ư Ờ N G N Ộ I ĐỊA C Ủ A M Ộ T S Ố

N Ư Ớ C T R Ê N T H Ế GIỚI 35

2.1 Lịch sử việc sử dụng biện pháp chộng bán giá tong thương mại quộc tế 35

2.2 Thực tiễn sử dụng các biện pháp chộng bán phá giá nhằm bảo hộ thị

trường nội địa của Mỹ 42

2.3 Thực tiễn sử dụng các biện pháp chộng bán phá giá nhằm bảo hộ thị

trường nội địa của EU 57

Trang 4

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP Đ Ố I V Ớ I VIỆT NAM VÊ V Á N Đ Ề

CHỐNG B Á N PHÁ GIÁ H À N G H Ó A KHI THAM GIA V À O T H Ư Ơ N G

3.1 Các biện pháp đối với Việt Nam trong vai trò là nước nhập khẩu hàng hóa 71

3.2 Các biện pháp đối với Việt Nam ừong vai trò là nước xuất khẩu hàng hóa 91

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

PHỤ LỤC 1: THỐNG KÊ CÁC vụ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ MÀ

VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN T Ừ N Ă M 1994 ĐẾN 31/10/2009 127

Trang 5

C Á C THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Chữ viêt

G A U Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

WTO Tổ chức thương mại thế giới

A D A Hiệp định về chống bán phá giá của WTO

D Ó C Bộ Thương mại Hoa K ỳ

ITC Uy ban Thương mại quốc tê Hoa K ỳ

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam A

ASEM Diên đàn Hợp tác A - A U

APEC Diên đàn Họp tác Kinh tê châu A - Thái Bình Dương

DSB Cơ quan giải quyêt tranh châp của WTO

DSU

quyết tranh chấp của WTO

VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

CEPT Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng đã và đang diễn ra ngày một mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu Dưới tác động của hội nhập, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đang dần được dỡ bỏ nhằm tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các nước trên thế giới Việc dỡ bỏ các rào cắn này đã tạo điều kiện thông thoáng cho cạnh tranh thương mại hơn bao giờ hết, nhưng thực tế đã cho thấy bên cạnh sự cạnh tranh bình đắng vẫn còn tôn tại không ít các biện pháp cạnh tranh không công bằng Do đó, pháp luật quốc

tế đã cho phép các nước sử dụng những biện pháp cần thiết để đối phó với những hành vi cạnh tranh không công bằng đó, trong đó có biện pháp chống bán phá giá nhằm đối phó lại hành vi bán phá giá

Trong tiến trình mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam không tránh khỏi phắi đối mặt với những thách thức của quá trình tự do hóa thương mại, trong đó có vấn đề bán phá giá Việt Nam vừa có nguy cơ là đối tượng của hành vi bán phá giá của các nước xuất khấu khác, đồng thời cũng có nguy cơ bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu ra nước ngoài Thực tế, hàng hóa của Việt Nam đã là đối tượng điều tra trong không ít vụ kiện chống bán phá giá của các nước trên thế giới cũng như

đã và đang có không ít hàng hóa từ nước ngoài được bán phá giá tại thị trường Việt Nam Đặc biệt từ sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN và WTO với các cam kết cắt giắm tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, nguy cơ các doanh nghiệp trong nước phắi đối mặt với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các đối thủ nước ngoài ngày càng lớn hơn Tuy nhiên, đứng trước thực trạng đó, các doanh nghiệp Việt Nam hầu như chưa có biện pháp nào nhằm bắo vệ quyền lợi chính đáng của mình Bởi vậy, việc nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp Việt Nam về vai trò bắo vệ các nhà sắn xuất nội địa của biện pháp chống bán

Trang 7

phá giá là vô cùng cấp thiết Một mặt nó thúc đẩy các doanh nghiệp nhanh chóng tìm ra phương thức áp dụng biện pháp này một cách hiệu quả để đối phó với hàng hóa nhập khẩu đang được bán phá giá trong nước, mặt khác nó giúp các doanh nghiệp hiểu rõ động cơ của các nước khi khởi xướng vụ điều tra chống bán phá giá, từ đó nâng cao ý thức chủ động đối phó với các vụ điều tra này

Từ nhựng lý do đó, em xin mạnh dạn chọn đề tài "Vai trò của việc áp

dụng các biện pháp chong bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vẩn đề đặt ra cho Việt Nam" cho bài khóa luận tốt

nghiệp của mình Đe tài này được viết dựa trên phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tư liệu Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương chính như sau:

Chương Ì: Một số vấn đề cơ bản về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế

Chương 2: Vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước trên thế giới

Chương 3: Một số giải pháp đối với Việt Nam về vấn đề chống bán phá giá hàng hóa khi tham gia vào thương mại quốc tế

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Cô giáo PGS.TS Bùi Thị Lý Chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo để em có thể hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này

Trang 8

-Chương Ì

MỘT SÒ VẤN ĐÈ C ơ BẢN VÈ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

TRONG T H Ư Ơ N G MẠI QUỐC TÉ

1.1 Khái niệm, bản chất và mục tiêu của chống bán phá giá

Cùng v ớ i quá trình hội nhập kinh tế đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, số lượng các quốc gia trên thế giới tham gia vào những cam két cát giảm tiến tới xóa bỏ các hàng rào mậu dịch thuế quan và phi thuế quan cũng ngày càng tăng T u y nhiên, song song v ớ i quá trình cờt giảm các hàng rào bảo

hộ truyền thống đó, nhiều biện pháp bảo h ộ m ớ i tinh v i hơn lại được thiết lập

và dần được sử dụng phổ biến trong thương mại quốc tế Chống bán phá giá

là một trong những biện pháp như thế Biện pháp này ra đời v ớ i mục đích ban đầu là nhằm ngăn cản hành v i bán phá giá - một hành v i cạnh tranh không lành mạnh - nhằm duy trì môi trường cạnh tranh công bằng giữa các nước, nhưng càng về sau, k h i nhu cầu về các biện pháp m ớ i thay thế cho hàng rào quan thuế và p h i quan thuế tăng lên, nhiều quốc gia đã lạm dụng biện pháp chống bán phá giá như một hàng rào bảo hộ mậu dịch mới D o đó, chống bán phá giá là một hình thức bảo vệ chính đáng hay m ộ t biện pháp bảo h ộ thiếu công bằng cho các nhà sản xuất nội địa của một nước hiện vẫn còn là một vấn

đề gây nhiều tranh cãi

Hiện nay chưa có định nghĩa thế nào là biện pháp chống bán phá giá trong các văn bản pháp lý quốc gia cũng như quốc tế Thay vào đó người ta định nghĩa thế nào là hành v i bán phá giá và hiểu biện pháp chống bán phá giá

là một công cụ nhằm ngăn chặn và chống lại hành v i này Điều 2 của H i ệ p

định về chống bán phá giá của G A U quy định rõ "Một sản phẩm bị coi là

bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của

Trang 9

sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác tháp hơn mức giá có thế so sánh được của sản phàm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khấu theo các điều kiện thương mại thông thường " T r o n g trường hợp không

thế xác định hành v i bán phá giá thông qua cách so sánh này, các cơ quan điêu tra có thể so sánh giá xuất khẩu sản phẩm v ớ i mức giá có thể so sánh được và mang tính đại diện của sản phẩm tương t ự được xuất khẩu sang một nước t h ứ

ba thích hợp, hoặc được xác định thông qua so sánh v ớ i chi phí sản xuất tại nước xuất x ứ hàng hóa cộng thêm một khoản hợp lý chi phí quản lý, chi phí bán hàng, các chi phí chung và lợi nhuận Bừng cách bán phá giá, nước bán phá giá có thể tăng cường lượng hàng xuất khẩu phá giá vào nước nhập khấu, gây

áp lực cạnh tranh về giá dẫn tới khả năng đè bẹp nền sản xuất sản phẩm tương

tự tại nước nhập khẩu và chiếm lĩnh thị trường của nước này về khía cạnh chính trị, hành v i bán phá giá còn có thể xuất phát từ động cơ muốn gây ảnh hưởng của nước xuất khẩu tới nước nhập khẩu T ừ những nhận định trên, bán phá giá thường bị coi là hành v i thương mại quốc tế không công bừng, và các biện pháp chống bán phá giá chính là những công cụ giúp chính phủ các nước kiêm soát và chống lại hành v i đó nhừm bảo vệ ngành công nghiệp trong nước

v ề bản chất, chống bán phá giá bao g ồ m các biện pháp có tác dụng trong ngắn hạn làm giảm lượng nhập khẩu đối v ớ i hàng hóa được bán phá giá tại nước nhập khẩu K h i nước nhập khẩu chứng m i n h được hành v i bán phá giá có tồn tại và hành v i đó đã gây ra hoặc đe dọa gây ra t ổ n hại cho nền sản xuất nước mình thì nước nhập khẩu được quyền sử dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn hành v i đó Trong đa số các trường họp, biện pháp chống bán phá giá là áp đặt thuế chống bán phá giá lên sản phẩm được bán phá giá

đó M ứ c thuế chống bán phá giá thường tương đương v ớ i phần chênh lệch giữa giá trị thông thường và giá xuất khẩu N h ư vậy, bản chất của thuế chống bán phá giá chính là phần bù cho mức giá đã bị đánh thấp xuống nhừm đưa về đúng mức giá thông thường của sản phẩm D o đó, k h i hàng nhập khẩu bị áp

Trang 10

thuế chống bán phá giá, giá bán của sản phẩm nhập khẩu sẽ tăng lên khiến lượng tiêu thụ sản phẩm nhập khẩu này ở nước nhập khẩu giảm xuống, áp lực cạnh tranh đối với các nhà sản xuất cùng loại sản phẩm ở nước nhập khẩu giảm

đi Điêu này giúp cho các nhà sản xuất tại nước nhập khẩu không những duy trì được hoạt động sản xuất mà còn có thời gian củng cố thêm năng lực cạnh tranh, tăng khả năng chống đỡ với các nhà sản xuất tẳ các quốc gia bên ngoài Tuy nhiên, các biện pháp chống bán phá giá đều chỉ mang tính chất bảo

hộ trong ngấn hạn Chẳng hạn, đối với biện pháp áp thuế chống bán phá giá, theo quy định của WTO, loại thuế này chi được áp dụng trong khoảng thời gian và mức độ cần thiết để chống lại các trường họp bán phá giá gây thiệt hại trong nước nhưng thời hạn áp thuế không được kéo dài quá 5 năm kê tẳ ngày

có quyết định áp thuế hoặc kể tẳ ngày tiến hành rà soát l ạ i , thậm chí nếu trong thời hạn áp thuế nếu các cơ quan chức năng của nước nhập khẩu quyết định rằng việc áp dụng thuế chống phá giá là không còn cần thiết thì thuế này

có thể được ngẳng áp dụng ngay Do vậy, các doanh nghiệp sản xuất trong nước cần tận dụng triệt để khoảng thời gian hiệu lực của các biện pháp chống bán phá giá để tăng cường năng lực sản xuất cũng năng lực cạnh tranh của mình Có như vậy, các biện pháp chống bán phá giá mới phát huy được khả năng bảo vệ thị trường nội địa thực sự của nó

Như phân tích ở trên thì mục tiêu chính của các biện pháp chống bán phá giá được cho là để đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế nhưng trên thực tế không đơn giản như vậy

Mặc dù ra đời với mục tiêu chống lại hành vi bán phá giá nhằm tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa các nước nhưng đến nay, các biện pháp chống bán phá giá đã được nhiều nhà sản xuất áp dụng như một phương thức

sử dụng quyền lực của nhà nước để giành lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ nước ngoài Chúng ta có thể nhận thấy rõ hơn mục đích này thông qua một

1

Điều 11 Hiệp định thực thi điều VI cùa Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - G A T T (1994)

Trang 11

bản báo cáo của Uy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC) " mục đích của

pháp luật chống bán phả giá và chong trợ cấp không phải là bảo vệ người tiêu dùng mà là bảo vệ các nhà sản xuất Thật sự, chức năng của pháp luật chông bán phá giá là đế bảo vệ cho các công ty và những người lao động

ngạc nhiên khi người hưởng lợi từ các lợi ích kinh tế này là các nhà sản xuât,

và ngược lại các chi phí kinh tế sẽ do người tiêu dùng gánh chịu " 2 Trên thực

tế, chống bán phá giá đang được nhiều nước sử dụng như một vũ khí bảo hộ cho các ngành công nghiệp truyền thống như thép, hóa chất, dệt may và những ngành có sức cạnh tranh yếu do nền tảng công nghệ của chính họ

Chống bán phá giá còn được nhiều quốc gia sử dụng như một van an toàn cho nền kinh tế trong nước Trong thồp niên qua, nhiều quốc gia đang phát triển đã tích cực tham gia hội nhồp thương mại toàn cầu, trong số đó nhiều quốc gia đã gia nhồp WTO Hội nhồp đồng nghĩa với việc phải thực thi các cam kết mở cửa nền kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh tự do, và trong nhiều trường họp, điều này cũng đồng nghĩa với nhiều thay đổi quan trọng trong cấu trúc nền kinh tế của các nước này Do đó, nhằm hạn chế những cú sốc kinh tế và những bất ổn xã hội do mở cửa mang lại, nhiều quốc gia đã chọn chống bán phá giá như một chiếc van an toàn - một công cụ bảo đảm khả năng bảo hộ khi cần thiết - cho nền kinh tế nước mình

Bên cạnh những mục tiêu mang tính kinh tế như trên, chống bán phá giá cũng được các nước sử dụng nhằm thực hiện các mục đích chính trị Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang sử dụng chống bán phá giá như một đòn thương mại để trả đũa lại các hành vi bảo hộ mà nước khác đã áp dụng đối với nước mình trước đó Nhiều quốc gia trong các thồp niên 1980 và 1990

là bị đơn trong các vụ kiện chống bán phá giá của Mỹ và EU như Braxin,

2

José Tavares de Araiýo Jr (2001), "Legal and economic interíaces betxveen antidumping and competition

policy", United Nations Publications, Santiago, Chile

Trang 12

Trung Quốc, Ấ n Độ, Mexico, đến nay đã sử dụng chống bán phá giá như một đòn trả đũa lại chính Mỹ và EU Ngay cả khi không nhằm để trả đũa bát

cứ hành vi bảo hộ nào trước đó, chống bán phá giá cũng có thế được sử dụng như một biện pháp trừng phạt nhằm giành các quyền lợi chính trị Chăng hạn, ngày 16/03/2010, Thượng viện Mỹ đã đề xuầt một dự luật yêu cầu Bộ Tài chính Mỹ xác định các nước không định giá gốc tiền tệ của mình và lên danh sách những nước thực hiện chính sách mầt cân bằng trong tiền tệ, trong đó có Trang Quốc Những nước này sẽ phải chịu những biện pháp đáp trả của Mỹ,

và một trong những biện pháp được cho là mạnh tay nhầt chính là Bộ Thương mại Mỹ sẽ áp thuế chống bán phá giá lên các hàng hóa của nước đó được nhập khẩu vào Mỹ

Như vậy, chống bán phá giá được các nước trên thế giới sử dụng nhằm thực hiện cả những mục tiêu kinh tế và mục tiêu chính trị Tuy nhiên, dù vì mục tiêu gì thì tác động cuối cùng của chống bán phá giá cũng là thị trường nội địa của nước nhập khẩu được bảo vệ, áp lực cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu lên các nhà sản xuầt tại nước nhập khẩu giảm đi Song, bảo hộ cũng có mặt trái của

nó và tầt nhiên những biện pháp bảo hộ sẽ không chỉ có tác động một chiều đến nền kinh tế của nước nhập khẩu hay nước xuầt khẩu Điều này sẽ được phân tích

rõ hơn trong mục Ì 3 về tác động của các biện pháp chống bán phá giá

1.2 Các biện pháp cơ bản được áp dụng trong chống bán phá giá

v ề cơ bản, các biện pháp được áp dụng nhằm chống lại hành vi bán phá giá có thể chia làm ba chặng: Các biện pháp tạm thời được áp dụng trong quá trình điều tra, sau khi cơ quan điều tra đã đưa ra được kết luận sơ bộ-Cam kết về giá có thể được nước xuầt khẩu và nước nhập khẩu thỏa thuận áp dụng sau khi biên độ phá giá đã được xác định cụ thể nhưng kết quả điều tra chính thức chưa được công bố; Mọi biện pháp họp pháp cần thiết, phổ biến nhầt là thuế chống bán phá giá sẽ được nước nhập khẩu áp dụng sau khi đã có

Trang 13

kết quả điều tra chính thức cho thấy thực tế đã tồn tại hành v i bán phá giá và nền sản xuất của nước nhập khẩu đã bị thiệt hại bởi hành vi đó

1.2.1 Các biện pháp tạm thời

Trong quá trình điều tra, trước khi có kết luận cuối cùng về hành vi bán phá giá và biện pháp chống bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp tạm thợi với mục đích chủ yếu là để ngăn chặn thiệt hại tiếp tục xảy ra trong quá trình điều tra Tuy nhiên, điều 7 Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADA) có quy định rõ, các biện pháp tạm thợi chỉ có thể được áp dụng khi các điều kiện sau đây được đáp ứng:

- Việc điều tra đã được bắt đầu theo đúng quy định và được thông báo công khai;

- Các bên liên quan đã được tạo đầy đủ cơ hội để đệ trình thông tin và đưa ra bình luận;

- Đã có kết luận sơ bộ của cơ quan có thẩm quyền xác nhận có việc bán phá giá và việc này có dẫn đến thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa;

- Có kết luận của cơ quan có thẩm quyển rằng cần áp dụng các biện pháp này để ngăn chặn thiệt hại đang xảy ra trong quá trình điều tra

Các biện pháp tạm thợi không được phép áp dụng sớm hơn 60 ngày kể

từ ngày bắt đầu điều tra Việc áp dụng các biện pháp tạm thợi sẽ được hạn chế

ở một khoảng thợi gian càng ngắn càng tốt và không quá 4 tháng Khi có yêu cầu của các nhà xuất khẩu đại diện cho một tỉ lệ đáng kể khối lượng thương mại liên quan, cơ quan có thẩm quyền có thể quyết định kéo dài thợi gian áp dụng không quá 6 tháng

Các biện pháp tạm thợi bao gồm:

- Áp đặt thuế chống phá giá tạm thợi;

- Áp dụng biện pháp bảo đảm, thượng là tiền bảo đảm (bond) hoặc đặt cọc (cash deposit) với khoản tiền tương đương với mức thuế chống bán phá

Trang 14

giá được dự tính tạm thời Trên thực tế đây là biện pháp được nhiều nước áp dụng nhất;

- Tạm đình chỉ định giá tính thuế (vvithholding o f appraisement), tức là nước nhập khẩu vẫn cho thông quan hàng hóa nhập khẩu bị nghi ngờ bán phá giá vào nước mình nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và phải nêu rõ mức thuê nhập khẩu thông thường và mức thuế chống bán phá giá d ự kiến sẽ áp dụng Các biện pháp tạm thời nói trên phải tuân thặ yêu cầu chung là không được vượt quá biên độ phá giá được xác định trong kết luận sơ bộ

K ế t thúc quá trình điều tra, nếu cơ quan điều tra kết luận không có dâu hiệu phá giá hoặc quyết định áp thuế chống bán phá giá chính thức không có hiệu lực hồi tố thì m ọ i khoản tiền ký quỹ đã thu trong quá trình thực hiện các biện pháp tạm thời sê được hoàn lại và tất cả các tài sản bảo đảm sẽ được giải phóng ngay N ê u quyết định áp thuế chống bán phá giá chính thức có hiệu lực hồi tố nhưng mức thuế ấn định thấp hơn mức tạm thu theo biện pháp tạm thời thì phần chênh lệch sẽ được hoàn lại, nhưng nếu mức thuế chính thức cao hơn mức tạm thu thì nhà xuất khẩu cũng không phải nộp bổ sung

1.2.2 Cam kết về giá (price undertaking)

Theo quy định cặa ADA, trong quá trình x ử lý, xem xét và điều tra v ụ việc chống bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền và các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài cặa sản phẩm đang bị điều tra có thể thoa thuận v ớ i nhau thực hiện một cam kết về giá Cam kết giá chỉ có thể đưa ra k h i cơ quan có thẩm quyền đã có kết luận sơ bộ khẳng định có việc bán phá giá, biên độ phá giá được xác định cụ thể và việc bán phá giá này là nguyên nhân gây thiệt hại cho ngành công nghiệp cặa nước nhập khẩu

Cam kết về giá là việc nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài cam kết sẽ điều chỉnh giá cặa mình hoặc đình chỉ hành động bán phá giá vào k h u vực đang điều tra để các cơ quan có thẩm quyền thấy được rằng tổn hại do việc

Trang 15

bán phá giá gây ra đã được loại bỏ Khoản giá tăng thêm khi cam kết về giá như vậy không được cao hơn mức cần thiết để có thể loại bỏ biên độ bán phá giá Cam kết giá là một thoa thuận tự nguyện giữa các nhà sản xuất, xuât khấu nước ngoài và ngành công nghiệp nước nhập khẩu Cơ quan có thấm quyền của nước nhập khẩu có thể gợi ý cho nhà xuất khẩu đưa ra cam kết về giá, tuy nhiên nhà xuất khẩu sẽ không bừ buộc phải đưa ra cam kết này Ngược lại, cam kết giá được đưa ra có thể không được chấp nhận và trong trường hợp

đó, các cơ quan có thấm quyền phải cho nhà xuất khẩu biết lý do họ không chấp nhận cam kết về giá đó và trong chừng mực nhất đừnh tạo cơ hội cho các nhà xuất khẩu được phản biện

Các thủ tục điều tra có thể được đình chỉ hoặc chấm dứt mà không áp dụng bất cứ biện pháp tạm thời hay thuế chống phá giá nào nếu như cam kết

về giá được thông qua giữa nước nhập khẩu và nước xuất khẩu Tuy nhiên quá trình điều tra sẽ vẫn được hoàn thành nếu như nhà xuất khẩu muốn và cơ quan có thẩm quyền quyết đừnh như vậy Trong trường hợp đó, nếu như kết luận cuối cùng là không có việc bán phá giá hoặc không có tổn hại thì cam kết

về giá tự động chấm dứt hiệu lực, nhưng cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu duy trì cam kết trong một khoảng thời gian hợp lý phù họp với các qui đừnh của ADA Trường họp ngược lại, cam kết giá được thực hiện bình thường Nếu nhà xuất khẩu không thực hiện đúng cam kết thì nước nhập khẩu

có quyền áp dụng các hành động cần thiết

Phần lớn pháp luật chống bán phá giá của nhiều nước trên thể giới như

EU, Canada, Hàn Quốc, New Zealand, Australia, và cả Việt Nam đều đưa

ra các quy đừnh về cam kết về giá phù họp với các quy đừnh về chống bán phá giá của WTO

Cam kết giá được coi là biện pháp nhân nhượng - hoa giải theo nghĩa rộng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại trong vụ điều tra chống bán phá giá, với những ưu điểm là nhanh chóng hơn và ít tốn kém hơn so với việc

Trang 16

phải hoàn tất cuộc điều tra Đối với bên bị kiện, một ưu điểm rõ ràng là nhà

sản xuất, xuất khẩu nước này sẽ được hưởng phần lớn chênh lệch giữa giá

xuất khẩu trước và sau khi cam kết tăng giá, thay vì khoản tiền đó lại dành

cho việc nộp thuế chống bán phá giá tại nước nhập khẩu Do đó, cam két vê

giá thường được đề xuất trong trường hựp bên bị kiện nhận thấy ít có khả

năng thắng kiện hoặc đạt được một kết quả tích cực trong vụ kiện đó Tuy

nhiên, thực hiện cam kết về giá đồng nghĩa với việc giá bán hàng nhập khẩu

sẽ được nâng lên cao gần hoặc ngang bằng với giá bán sản phẩm sản xuất tại

nước nhập khẩu, tức là nhà xuất khẩu phải chấp nhận lợi thế cạnh tranh về giá

của sản phẩm của hự trên thị trường nước nhập khẩu gần như mất đi Do đó,

bên xuất khẩu phải cân nhắc rất nhiều mặt trước khi đi đến quyết định thực

hiện cam kết về giá với bên nhập khẩu

Theo một nghiên cứu của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), trong

giai đoạn 1995 - 2001 đã có 34 nước tự nguyện đưa ra cam kết giá và được các

nước tiến hành điều tra chấp nhận như EU (14 lần), Ba Lan (9 lần), Hoa Kỳ (8

lần), Ucraina (7 lần), Braxin, Nam phi, Nga mỗi nước đều 6 lần, Cũng trong

giai đoạn điều tra này có 11 nước thành viên WTO đã chấp nhận đề xuất cam kết

giá, bao gồm EU (46 lần), Hàn Quốc (14 lần), Australia (13 lần), Hoa Kỳ ( l o

lần), Argentina ( l o lần), Canada (4 lần), Mexico (4 lần), Braxin (3 lần),

Colombia (2 lần), Nicaragua (Ì lần), và Ba Lan (Ì lần)3

Riêng đối với Việt Nam, trong tất cả các vụ nhà sản xuất, xuất khẩu

Việt Nam bị kiện chống bán phá giá đã có kết luận cuối cùng, chúng ta chưa

lần nào sử dụng biện pháp cam kết giá do nhiều lý do khác nhau, đặc biệt sau

khi các chuyên gia của Bộ Công thương và các bộ, ngành, hiệp hội có liên

quan đã cân nhắc rất kỹ lưỡng các yếu tố về kinh tế, xã hội, lợi thế cạnh tranh,

luật pháp cũng như tính khả thi trong việc áp dụng Tuy nhiên, về lâu dài

3 Nguyễn Thanh Hưng (2003) "Chống bán phá giá - Mặt trái cùa tư do hóa thương mai" Bô Thương mai

Hà Nội (2003)

Trang 17

biện pháp cam kết giá vẫn là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, tham khảo

đế áp dụng khi cần thiết

1.2.3 Thuế chống bán phá giá

Sau khi đã có kết luận cuối cùng khẳng định có việc bán phá giá và hành vi này đã gây thiệt hại đáng kể cho nước nhập khẩu, nước nhập khấu có quyền áp dụng mặi biện pháp cần thiết để kiểm soát hành vi bán phá giá đó Hiệp định của WTO và luật chống bán phá giá của nhiều nước trên thế giới đêu có quy định về các biện pháp chống bán phá giá Khái quát lại có những biện pháp cơ bản như sau:

• Áp đặt thuế chống bán phá giá chính thức lên sản phẩm nhập khẩu được bán phá giá với mức thuế không vượt quá biên độ phá giá;

• Quy định giá bán tối thiểu;

• Quy định hạn ngạch nhập khẩu;

• Xử lý vi phạm hành chính;

• Buộc tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh bán phá giá phải bồi thường thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh bị tổn thất do hành vi bán phá giá gây ra

Thực tế các vụ điều tra chống bán phá giá cho thấy, sau khi có kết luận cuối cùng, biện pháp được hầu hết các nước áp dụng là áp thuế chống bán phá giá lên hàng hóa nhập khẩu được bán phá giá

Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường), do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ban hành, đánh vào sản phẩm nước ngoài bị bán phá giá vào nước nhập khẩu với mục đích ngăn cản sự tiếp diễn của việc bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự ở trong nước

Việc xác định mức thuế chống bán phá giá phải dựa trên cơ sở biên độ phá giá của sản phẩm Biên độ phá giá chính là sự chênh lệch giữa giá xuất

Trang 18

khẩu đang xem xét với giá thông thường của sản phẩm tại thị trường nội địa, hoặc giá xuất khẩu sang nước thứ ba, hoặc giá cấu thành của sản phàm Vê nguyên tắc, mức thuế chống bán phá giá được tính riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu và không được vượt quá biên độ phá giá Trường họp các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài không được lệa chọn để tham gia cuộc điều tra thì mức thuế áp dụng cho họ không cao hơn biên độ phá giá trung bình của tất cả các nhà sản xuất, xuất khấu nước ngoài được lệa chọn điều tra

v ề thời điểm tính mức thuế chính thức, có hai cách xác định như sau:

- Cách tính thuế cho khoảng thời gian sắp tới (EU áp dụng cách này): Mức thuế chính thức sẽ được xác định ngay trong quyết định áp thuế ban hành khi kết thúc điều tra và có hiệu lệc cho hàng hoa liên quan nhập khẩu trong khoảng thời gian sau đó;

- Cách tính thuế cho khoảng thời gian đã qua (Mỹ áp dụng cách này): Mức thuế nêu tại quyết định áp thuế ban hành sau khi điều tra chi là tạm thời; hết mỗi năm kể từ ngày có quyết định này, cơ quan điều tra sẽ xác định biên phá giá thệc tế của các nhà xuất khẩu trong năm đó và quyết định mức thuế chính thức cho họ (nếu mức này cao hơn mức thuế tạm tính thì doanh nghiệp phải nộp bổ sung; nếu thấp hơn sẽ được hoàn trả)

Theo quy định của WTO, dù theo cách tính nào thì cứ tròn Ì năm kể

từ ngày có quyết định áp thuế, các bên liên quan trong vụ kiện đều có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền rà soát lại để điều chỉnh mức thuế Trường hợp các cơ quan chức năng quyết định việc áp dụng thuế chống phá giá là không còn cần thiết thì việc áp thuế cũng được chấm dứt ngay

Khi thuế chống phá giá được áp dụng đối với một sản phẩm nào đó, thuế đó sẽ được thu theo mức họp lý đối với mỗi trường họp, trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng nhập khấu từ tất cả các nguồn bị coi là bán phá giá và gây tổn hại, trừ những nguồn đã có cam kết về giá được chấp nhận Các cơ quan có thẩm quyền sẽ nêu rõ tên các nhà cung cấp sản phẩm

Trang 19

liên quan hoặc, nếu như không thể làm như vậy, thì nêu tên các nước liên quan Quyết định áp thuế chỉ có hiệu lực sau thời điểm ban hành quyết định

và có hiệu lực v ớ i cả các nhà xuất khẩu mới, người chưa hề xuất khấu hàng hoa đó sang nước áp thuế trong thời gian trước đó N h à xuất khẩu m ớ i có thế yêu cầu cơ quan điều tra tính mức thuế riêng cho mình, nhưng trong thời gian chưa có quyết định về mức thuế riêng thì hàng hoa nhập khẩu của nhà xuất khẩu m ớ i vẫn thực hiện quyết định áp thuế ban đầu

v ề thời hừn áp thuế, theo quy định của WTO, việc áp thuế chống bán

phá giá không được kéo dài quá 5 năm kể t ừ ngày có quyết định áp thuế hoặc

kể từ ngày tiến hành rà soát lừi, trừ trường họp các cơ quan hữu quan ra quyết định rằng việc hết hừn hiệu lực của thuế chống phá giá có thế dẫn t ớ i sự tiêp tục cũng như tái phát sinh hiện tượng phá giá và các thiệt hừi cho nước nhập khẩu thì thuế chống bán phá giá có thể được tiếp tục áp dụng

Việc áp dụng hồi tố (áp dụng cho những lô hàng nhập khẩu trước thời điểm ban hành quyết định áp thuế) chỉ được thực hiện trong trường họp đã có xác định thiệt hừi chính thức (không phải ở mức độ đe doa gây thiệt hừi hoặc gây ra các chậm trễ trong sự hình thành của một ngành sản xuất trong nước) hoặc trong trường hợp đã có thể xác định chính thức nguy cơ gây thiệt hừi, theo đó tác động của các hàng hóa nhập khẩu được bán phá giá, trong trường họp không có các biện pháp từm thời, đã dẫn t ớ i việc xác định thiệt hừi cho

nước nhập khẩu 1 1 V 051 %

H ồ i tố có thể được thực hiện dưới hai hình thức như sau: ị 2 0 Á ồ

- H ồ i tố đối v ớ i thời gian áp dụng biện pháp từm thời: C ơ quan có thẩm quyền của nước nhập khấu truy thu thuế đối v ớ i hàng hóa liên quan nhập khẩu vào nước này kế t ừ thời điếm có quyết định áp dụng biện pháp t ừ m thời Vì các nhà sản xuất, xuất khẩu đã phải nộp khoản đảm bảo cho hàng hóa nhập khẩu theo quyết định về áp dụng biện pháp từm thời nên thực chất việc truy thu này là chính thức thu các khoản tiền đảm bảo trước đây nhà sản xuất, xuất

Trang 20

khẩu đã nộp Theo đó, nếu mức thuế chính thức cao hơn mức thu theo biện pháp tạm thời thì nhà xuất khẩu không phải nộp bổ sung, nếu mức thuế chính thức thấp hơn mức thu theo biện pháp tạm thời thì nhà xuất khẩu được hoàn lại khoản chênh lệch hoặc số thuế phải nộp sẽ được tính lại tuy từng trường họp cụ thể

- Hỉi tố đối với khoảng thời gian tính từ 90 ngày trước khi áp dụng biện pháp tạm thời cho đến khi có quyết định chính thức về thuế chống bán phá giá: Hỉi tố loại này chỉ được áp dụng trong những trường hợp rất hãn hữu khi

đã có tiền sử về việc bán phá giá, hàng nhập khẩu được bán phá giá với số lượng lớn và có thể gây ra các thiệt hại nghiêm trọng đến tác dụng điều chỉnh của thuế chống phá giá cuối cùng

1.3 Thủ tục áp dụng biện pháp chống bán phá giá trong thương mại quốc tế

Hiện tượng bán phá giá xuất hiện khá sớm trong thực tiễn thương mại quốc tế Mặc dù đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau song hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều coi đây là một trong những hành vi thương mại không lành mạnh Xuất phát từ quan điểm đó, luật lệ của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) trước đây và Tổ chức thương mại thế giới (WTO) hiện nay đều cho phép các quốc gia áp dụng các biện pháp có tính tự

vệ nhằm chống lại hành vi bán phá giá Trong WTO, các nguyên tắc về chống bán phá giá được quy định tại Điều V I Hiệp định chung về thuế quan và Thương mại (GATT) 1994 và Hiệp định thực thi điều V I của GATT 1994 (The Agreement ôn Implementation of Article V I of GATT 1994), thường được biết đến với tên gọi là "Hiệp định về chống bán phá giá" (Agreement ôn Antidumping Practices - ADA)

Mỗi nước lại có thế có những quy định riêng về vấn đề chống bán phá giá Đối với các nước là thành viên WTO, quy định về chống bán phá giá của

Trang 21

nước đó phải tuân thủ đầy đủ các quy định mang tính bắt buộc và không được trái với các quy định liên quan trong ADA Ngoài ra, WTO còn xây dựng Luật mẫu về chống bán phá giá nhưng đây chỉ là một văn bản mang tính chất gợi ý, khuyên nghị đế các quốc gia tham khảo chứ không có giá trị bắt buộc áp dụng Các vụ kiển chống bán phá giá và viểc áp thuế chống bán phá giá thực

tế ở các nước tuân thủ các quy định của quốc gia đó

Một vụ kiển chống bán phá giá thực chất là tổng hợp các bước điều tra xác minh các yêu cầu trong đơn kiển để kết luận có đủ điều kiển áp dụng các biển pháp chống bán phá giá đối với hàng hoa bị kiển hay không Có thế tóm tắt các bước cơ bản của vụ kiển chống bán phá giá như sau:

Bước 1: Ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nộp đơn kiển kèm

theo chứng cứ ban đầu

WTO quy định các chủ thể có quyền khởi kiển là ngành hoặc đại diển ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu hoặc cơ quan có thấm quyền của nước nhập khẩu Đe các chủ thể khiếu kiển mang tính đại diển cho ngành sản xuất nội địa, WTO quy định yêu cầu tiến hành điều tra phải được

sự ủng hộ của các nhà sản xuất trong nước chiếm tối thiểu 5 0 % tổng lượng sản phẩm tương tự được sản xuất ra bởi tổng số các nhà sản xuất đã bày tỏ ý kiến (tán thành hoặc phản đối) về viểc điều tra; và các nhà sản xuất tán thành cuộc điều tra chiếm tối thiểu 2 5 % tổng sản lượng sản phẩm tương tự được ngành sản xuất trong nước làm ra

Đơn yêu cầu ngoài những thông tin cơ bản về chủ thể nộp đơn, về sản phẩm bị nghi ngờ bán phá giá (giá thông thường, giá xuất khẩu, diễn tiến khối lượng nhập khẩu, ) còn phải cung cấp các bằng chứng về viểc bán phá giá, thiểt hại đối với ngành sản xuất trong nước và mối quan hể nhân quả giữa viểc bán phá giá với thiểt hại đó

Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra

hoặc từ chối đơn kiển, không điều tra

Trang 22

Trước khi ra quyết định bắt đầu điều tra, cơ quan có thấm quyên phải kiểm tra các điều kiện về tính đại diện của chủ thể nộp đơn cũng như kiếm tra tính hợp lý và chính xác của các bằng chứng trong đơn Ngoài trường họp hai điều kiện trên không được đảm bảo, đơn yêu cầu cũng bị tặ chối nêu biên độ bán phá giá không quá mức tối thiểu (thấp hơn 2 % của giá xuất khẩu) hoặc khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá không đáng kể (ít hon 3 % tổng nhập khấu các sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu, trặ trường họp tống lượng sản phẩm tương tự nhập khẩu tặ những nước có lượng nhập khẩu dưới

3 % chiếm trên 7 % nhập khẩu sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu)

Các cơ quan chức năng của nước nhập khẩu có thể tự quyết định bắt đầu một cuộc điều tra mặc dù không có đơn yêu cầu nhưng chỉ trong trường hợp các cơ quan này có đầy đủ các bằng chứng về việc phá giá, về thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá và thiệt hại đó

Trước khi tiến hành bắt đầu quá trình điều tra, các cơ quan có thấm quyền phải thông báo cho chính phủ của nước xuất khấu hàng hóa có liên quan

Bước 3: Các cơ quan chức năng tiến hành điều tra sơ bộ về việc bán

phá giá và về thiệt hại (qua bảng câu hỏi gửi cho các bên liên quan, thu thập, xác minh thông tin, thông tin do các bên tự cung cấp)

Ngay sau khi bắt đầu tiến hành điều tra, các cơ quan có thấm quyền phải cung cấp toàn bộ văn bản của đơn yêu cầu điều tra cho các nhà xuất khẩu, cho cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cũng như sẵn sàng cung cấp cho các bên liên quan khác khi được yêu cầu

Tất cả các bên liên quan, bao gồm nhà sản xuất, xuất khẩu hoặc hiệp hội đại diện cho họ, chính phủ nước xuất khẩu, nhà sản xuất sản phẩm tương

tự tại nước nhập khẩu hoặc hiệp hội đại diện cho họ và các chủ thể khác theo quy định của mỗi quốc gia, phải được thông báo về những thông tin mà cơ quan có thẩm quyền yêu cầu và phải có đầy đủ cơ hội để có thể cung cấp bằng văn bản các các bằng chứng mà họ cho rằng có liên quan đến cuộc điều tra đó

Trang 23

Các nhà sản xuất, xuất khẩu bên bị kiện phải có được ít nhất 30 ngày đê trả lời bảng câu hỏi được sử dụng trong điều tra chống bán phá giá Họ cũng

có thể yêu cầu kéo dài thời hạn trên nhưng phải có lý do hợp lý và được các

cơ quan có thẩm quyền chấp thuận

Trong quá trình điều tra chống bán phá giá, các cơ quan có thấm quyền, khi được yêu cầu, phải tạo điều kiện cho tất cả các bên quan tâm được gộp gỡ

đê trình bày quan điếm cũng như lập luận phản bác quan điểm của nhau

Bước 4: Các cơ quan có thẩm quyền đưa ra kết luận sơ bộ (có thê kèm

theo quyết định áp dụng biện pháp tạm thời như buộc đột cọc, ký quỹ ) Hành vi bán phá giá được xác định là tồn tại nếu giá thông thường lớn hơn giá xuất khẩu của sản phẩm Giá trị thông thường là mức giá có thế so sánh được của sản phẩm tương tự tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường, hoộc giá xuất khẩu của sản phẩm từ nước bị kiện sang một nước thứ ba, hoộc giá trị tính toán của sản phẩm Giá xuất khẩu là giá trong giao dịch mua bán giữa nhà sản xuất, xuất khẩu của nước xuất khẩu với nhà nhập khấu của nước nhập khẩu, hoộc là giá trị tính toán trên cơ sở giá bán sản phẩm nhập khẩu lần đầu tiên cho một người mua độc lập tại nước nhập khẩu, hoộc cũng có thể là một trị giá tính toán trên cơ sở hợp lý do cơ quan thẩm quyền quyết định Biên độ phá giá được tính theo công thức: Biên độ phá giá = (Giá thông thường - Giá xuất khấu) / Giá xuất khấu Biên độ phá giá được tính cho từng nhà sản xuất, xuất khấu liên quan trong vụ điều tra Nêu số lượng các nhà sản xuất, xuất khẩu này quá lớn thì cơ quan có thẩm quyền nước nhập khấu có thế lựa chọn một số lượng thích họp các nhà sản xuất, xuất khấu đế điều tra và sẽ có biên độ phá giá đơn lẻ cho từng chủ thể này, còn đối với các nhà sản xuất, xuất khẩu còn lại, biên độ phá giá sê được tính là bình quân các biên độ đơn lẻ

Bước 5: Việc điều tra về hành vi bán phá giá và thiệt hại tiếp tục được

tiến hành (có thể bao gồm điều tra thực địa tại nước xuất khẩu)

Trang 24

Việc xác định thiệt hại được tiến hành trên hai khía cạnh: Thứ nhất, cơ quan điều tra phải xem xét xem trên thực tế có sự tăng đáng kể khối lượng hàng nhập khẩu bán phá giá so với mức sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng tại nước nhập khẩu hay không, và xem xem có phải việc bán phá giá đã làm giảm giá hoặc ghìm giá hoặc ngăn không cho tăng giá của sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu ụ mức đáng kể hay không Thứ hai, cơ quan điều tra phải đánh giá ảnh hưụng của hàng nhập khẩu được bán phá giá đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu thông qua tất cả các nhân tố và chỉ số có ảnh hưụng đến tình trạng của ngành sản xuất (mức suy giảm thực tế và tiềm ẩn của doanh số, lợi nhuận, sản lượng, thị phần, năng suất, công ăn việc làm, )

về hình thức, thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu

có thể chia làm ba loại: thiệt hại thực tế, nguy cơ gây ra thiệt hại và sự ngăn cản hình thành một ngành sản xuất trong nước về mức độ, các thiệt hại này phải ụ mức đáng kể Tuy nhiên, ADA không quy định rõ thế nào là "thiệt hại đáng kể" nên vấn đề này hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia

về việc chứng minh quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá và thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu, ADA không có quy định chi tiết nên các quốc gia có thể sử dụng những phương pháp khác nhau để xác định mối quan hệ này (ví dụ như sự trùng họp về thời gian giữa việc bán phá giá và thiệt hại xảy ra, các phân tích kinh tế để xác định mức tăng trưụng của ngành sản xuất nội địa nếu như không có việc bán phá giá của hàng nhập khẩu, )

Bước 6: Cơ quan có thẩm quyền đưa ra kết luận cuối cùng

Bước 7: Cơ quan có thẩm quyền đưa ra quyết định áp dụng biện pháp

Trang 25

bao gồm việc tiếp tục áp đặt thuế có cần thiết để bù đắp những thiệt hại do bán phá giá gây ra hay không và liệu thiệt hại có tiếp tục xảy ra hay tái xuất hiện nếu ngừng thu hoặc điều chỉnh mức thuế hay không Nếu kết quả rà soát cho thấy việc áp thuế chống bán phá giá không còn cần thiết nữa thì hiệu lực cợa thuế sẽ chấm dứt ngay mà không cần chờ đến hết thời hạn 5 năm

Bước 9: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành rà soát hoàng hôn

Rà soát hoàng hôn được thực hiện ngay trước khi hết thời hạn 5 năm cợa thuế chống bán phá giá Nêu kết quả rà soát hoàng hôn cho thấy việc chấm dứt

áp thuế chống bán phá giá có thể dẫn tới việc tiếp tục hoặc tái phát sinh hiện tượng bán phá giá và các thiệt hại thì cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định tiếp tục áp dụng thuế chống bán phá giá Khi đó thời hạn 5 năm hiệu lực cợa thuế chống bán phá giá lại được tính bắt đầu từ ngày có quyết định này

Từ bước Ì đến bước 7 cợa một vụ điều tra chống bán phá giá thường kéo dài khoảng 18 tháng đến 2 năm Tuy nhiên, bước 8 và 9 có thể kéo rất dài sau đó Ví dụ, trong vụ kiện cá tra, cá basa cợa Việt Nam ở Mỹ, đơn kiện được nộp ngày 28/6/2002, quyết định áp thuế được ban hành ngày 7/8/2003 Sau đó mỗi năm 2005 và 2006 đều đã có rà soát lần 1,2 đối với một số công

ty xuất khẩu cợa Việt Nam

1.4 Tác động cợa chống bán phá giá đến nước nhập khẩu và nước xuất khẩu trong vụ kiện chống bán phá giá

1.4.1 Tác động của chống bán phá giả đến nước nhập khẩu (nước khởi kiện)

Như đã phân tích tại các mục trên, một khi các biện pháp chống bán phá giá được đưa vào áp dụng, đối tượng hưởng lợi luôn là các nhà sản xuất nội địa cợa nước nhập khẩu Do đó, việc phân tích tác động cợa các biện pháp chổng bán phá giá đối với ngành sản xuất tại nước nhập khẩu sẽ cho thấy vai trò cợa các biện pháp này đối với việc bảo vệ thị trường nội địa cợa nước đó Tuy nhiên

Trang 26

phân tích này cũng sẽ chỉ ra việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá không chỉ có tác động một chiều tới tất cả các chủ thể trong một nền kinh tế Theo điều tra của ủ y ban châu Âu, hàng hóa được bán phá giá thường

có giá rẻ hơn giá của các hàng hóa tương tự sản xuất tại nước nhập khỏu D o

đó, khi các nhà xuất khỏu nước ngoài thực hiện hành v i bán phá giá, áp lực cạnh tranh vê giá lên các sản phỏm tương tự sản xuất trong nước sẽ tăng lên

N ế u các nhà sản xuất trong nước không kịp thời thích nghi và đổi m ớ i công nghệ, hạ giá thành và giá bán của sản phỏm, nguy cơ ngành sản xuất sản phỏm đó trong nước sẽ bị áp đảo và cuối cùng có thế bị đánh bật ra khỏi thị trường là rất cao Điều đó sẽ kéo theo hàng loạt các hệ lụy như người lao động trong ngành bị mất việc làm, các nhà đầu tư vào ngành bị mất vốn, thị trường sản phỏm đó trong nước hoàn toàn bị chi phối bởi nhà sản xuất và xuất khỏu nước ngoài Nghiêm trọng hơn, nếu thị trường bị chiếm trọn bởi chỉ một nhà sản xuất và xuất khỏu nước ngoài thì sẽ dẫn t ớ i tình trạng độc quyền và đối tượng phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất trong trường họp này sẽ chính

là người tiêu dùng tại nước nhập khỏu D o đó, việc áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ thị trường nội địa của nước nhập khỏu trước hành v i bán phá giá là rất cần thiết, và vai trò của các biện pháp chống bán phá giá chính là giúp chính phủ nước nhập khỏu k i ể m soát, ngăn chặn và chống lại hành v i cạnh tranh bất bình đẳng đó V a i trò của các biện pháp chống bán phá giá thể hiện qua tác động của nó, đó là làm cho số lượng hàng hóa nhập khỏu giảm hoặc giá cả hàng hóa nhập khấu tăng lên khiến người tiêu dùng tại nước nhập khỏu quan tâm đến các sản phỏm sản xuất trong nước nhiều hơn, t ừ đó g i ữ được thị phần cho các nhà sản xuất trong nước

Phân tích tác động của thuế chống bán phá giá - biện pháp chống bán phá giá được sử dụng phổ biến nhất - tới các chủ thế trong nền kinh tế nước nhập khỏu sẽ cho thấy vai trò của nó đối với ngành sản xuất của nước đó cũng như tác động mặt trái m à nó gây ra Các tác động đó được thể hiện trong hình sau:

Trang 27

Hình ĩ rác động của thuế chống bán phá giá lên

nền kinh tế nước nhập khấu

Các nhà sản xuất trong nước được hưởng lợi rõ ràng khi thặng dư sản xuất của họ được gia tăng thêm một lượng bằng diện tích tứ giác ABKG Nhà nước cũng được hưởng lợi khi ngân sách thu vào tể thuế nhập khẩu tăng một lượng bằng diện tích hình chể nhật KHMN

Ngoài ra, bản thân quá trình dẫn đến việc áp dụng thuế chống bán phá giá cũng đã có thể bảo vệ thị trường nội địa cho nước nhập khẩu, bởi một khi cuộc điều tra được bắt đầu thì trong tương lai rất có thể thuế chống bán phá

Trang 28

giá sê được áp dụng Điều đó khiến cho sản phẩm là đối tượng điều tra trở nên ít hấp dẫn hơn đối với các nhà nhập khẩu, như vậy phần nào đã ngăn cản dòng hàng hóa nhập khẩu vào thị trường nước nhập khẩu trong vụ điều tra Một điếm đáng lưu ý là mức thuế áp dụng không được vượt quá biên

độ bán phá giá, tức là giá bán của hàng hóa nhập khẩu chự không được thấp hơn giá của sản phẩm đó ở nước xuất khẩu cộng thêm các chi phí liên quan đến xuất khẩu như bảo hiểm, vận tải, môi giới, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Do đó, muốn các biện pháp chống bán phá giá thực hiện tót được vai trò bảo vệ thị trường nội địa của mình thì các nhà sản xuất tại nước nhập khấu vẫn cần nỗ lực để giá sản phẩm do mình sản xuất ra không chênh lệch nhiều

so với mức giá đó Mặt khác, các biện pháp chống bán phá giá không thể bảo

vệ các nhà sản xuất trong nước lâu dài, thứ nhất bởi thời hạn hiệu lực của thuế chống bán phá giá chự là 5 năm, thứ hai là do nhiều nguyên nhân, các nhà sản xuất nước ngoài có thể hạ được chi phí sản xuất và họ vẫn có thể bán được sản phẩm ở mức giá thấp mà không còn bị coi là bán phá giá Do đó, nếu các nhà sản xuất tại nước nhập khẩu quá dựa dẫm vào sự bảo hộ mà không đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, thì về lâu dài họ sẽ dần tự đánh mất khả năng cạnh tranh của mình

Cùng với việc các nhà sản xuất được hưởng lợi từ bảo hộ thì người tiêu dùng lại bị thiệt hại Khi hàng hóa nhập khẩu bán phá giá gây áp lực giảm giá mặt hàng đó trong nước, người tiêu dùng được hưởng lợi nhờ mua được hàng với giá rẻ Nhưng khi thuế chống bán phá giá được áp dụng khiến giá cả hàng hóa tăng lên, lợi ích này của người tiêu dùng bị mất đi Thiệt hại của họ được thể hiện ở thặng dư tiêu dùng bị giảm một lượng bằng diện tích tứ giác ACHG trong hình Ì trên

Do mức giá tăng lên nên một số người tiêu dùng sẽ không thể tiếp tục tiêu thụ mặt hàng đó nữa, dẫn đến toàn xã hội bị thiệt hại một lượng bằng diện tích tam giác B K N cộng với diện tích tam giác CHM

Trang 29

Ngoài ra, áp dụng thuế chống bán phá giá cũng gây ra thiệt hại đôi với những nhà sản xuất sử dụng sản phẩm bị áp thuế làm nguyên liệu cho sản xuất Ví dụ, việc chính phủ Mỹ áp thuế chống bán phá giá đối với thép khiến các nhà sản xuất ô tô của Mỹ gặp khó khăn lớn trong cạnh tranh đối với các đối thủ châu Âu và Nhật Bản do họ phải sử dụng thép với giá cao hơn

Chệch hướng thương mại cũng là mểt tác đểng mà chống bán phá giá

có thế gây ra cho nước khởi kiện Hàng hóa nhập khẩu từ nước bán phá giá giảm đi nhưng lại có thể được thay thế bởi hàng hóa nhập khẩu từ mểt nước thứ ba không bán phá giá nhưng vẫn có mức giá rẻ hơn giá của sản phẩm đó sản xuất tại nước nhập khẩu Khi đó, lợi ích sẽ thuểc về các nhà sản xuất và xuất khẩu của nước thứ ba này Mểt nghiên cứu dựa trên số liệu về chống bán phá giá của châu Âu đã cho thấy, sau ba năm kể từ khi thuế chống bán phá giá được áp dụng, sự chệch hướng thương mại do nó gây ra đã rất rõ ràng với lượng nhập khẩu từ nước bị kiện giảm 6 0 % và lượng nhập khẩu từ các nước không bị kiện tăng xấp xỉ 40%4

1.4.2 Tác động của chống bán phá giá đến nước xuất khẩu (nước bị kiện)

Nước bị kiện trong vụ kiện chống bán phá giá là nước xuất khẩu hàng hóa Vì vậy khi các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng, tất nhiên hoạt đểng thương mại của nước xuất khẩu cũng bị ảnh hưởng

Tác đểng trực tiếp dễ thấy đầu tiên chính là sự sụt giảm trong lượng xuất khẩu đối với mặt hàng bị kiện bán phá giá Nước nhập khẩu hàng hóa có thể sử dụng nhiều biện pháp để chống bán phá giá, từ cấm nhập khẩu, quy định hạn ngạch hay áp thuế chống bán phá giá, nhưng dù là biện pháp nào thì kết quả cuối cùng vẫn là lượng hàng nhập khẩu từ nước bị kiện sẽ giảm

4

Andrea Lasagni (2000), "Does country-targeted anti-dumping policy by the EU create trade diversion?",

Journal of Worĩd Trade, Voi 34

Trang 30

xuống Hệ lụy tiếp theo là nếu nước bị kiện không nhanh chóng tìm được thị trường khác để xuất khẩu thì ngành sản xuất sản phẩm này của nước đó có nguy cơ bị thu hẹp lại, lượng lao động sử dụng cho ngành giảm đi khiên một

số lượng lao động bị mất việc làm

Nghiêm trặng hơn, sự suy giảm còn có thể lan rộng nếu quá trình sản xuất ra sản phàm bị kiện bán phá giá sử dụng nhiều yếu tố đầu vào là sản phẩm của các ngành sản xuất và dịch vụ khác trong nước Hoạt động sản xuất sản phẩm xuất khẩu bị thu hẹp sẽ kéo theo cầu đối với các yếu tố đầu vào và dịch vụ nói trên giảm đi, khiến các ngành sản xuất và dịch vụ này cũng có thể gặp khó khăn, lao động trong các ngành này có nguy cơ bị cắt giảm Tác động này có thế được hình dung như một hiệu ứng đô-mi-nô

Chống bán phá giá còn tác động gián tiếp đến nước xuất khẩu thông qua làm tăng sự hoài nghi của các nhà đầu tư đối với ngành sản xuất sản phàm bị kiện dẫn đến làm giảm đầu tư vào các ngành đó Điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng không thuận lợi tới tương lai của ngành sản xuất đó tại nước xuất khẩu cũng như tương lai của lao động trong ngành và các ngành sản xuất, dịch vụ liên quan

Mặt khác, khi một sản phẩm nhập khẩu từ một nước đã bị kiện bán phá giá, tâm lý nghi ngại của các nhà nhập khẩu tại nước khởi kiện đối với sản phàm đó có thế sẽ gia tăng, dẫn đến việc hặ hoặc ngừng nhập khẩu sản phẩm

đó hoặc chuyển sang nhập khẩu sản phẩm được sản xuất tại một nước khác Kết quả của hành động này là xuất khẩu của nước bị kiện giảm và hiện tượng chệch hướng thương mại xảy ra

Tuy nhiên, đối với những nước xuất khấu có khả năng phản ứng nhanh

để kịp thời ứng phó khi bị kiện, chống bán phá giá lại có thể mang lại cho hặ những cơ hội mới M ỗ i khi một vụ kiện lớn diễn ra, thông qua các phương tiện thông tin, sản phẩm của nước xuất khẩu có cơ hội được biết đến rộng rãi trên thế giới, và với mức giá thấp cũng như chất lượng đáp ứng các yêu cầu

Trang 31

nhập khẩu của nước đang khởi kiện, sản phẩm này dễ dàng thu hút được sự chú ý của các nước khác có nhu cầu về sản phẩm cao Bên cạnh đó, việc lượng hàng hóa xuất khẩu vào nước khởi kiện có nguy cơ giảm sút sẽ tạo động lực thúc đẩy các nhà sản xuất, xuất khẩu của nước bị kiện chủ động tìm thêm các đôi tác mới, mở rộng thị trường xuất khẩu giúp cho hoạt động xuất khâu không quá bị lệ thuộc vào một nước nhập khẩu nào Như vậy, nếu nước

bị kiện linh hoạt ỏng phó, cái lợi mà vụ kiện chống bán phá giá mang lại cho ngành sản xuất, xuất khẩu của nước đó là không nhỏ

Qua những phân tích trên đây có thể thấy, mối đe dọa do hành vi bán phá giá gây ra cho nền sản xuất tại nước nhập khẩu càng lớn thì vai trò của các biện pháp chống bán phá giá đối với việc bảo vệ thị trường nước đó càng

rõ rệt Việc sử dụng các biện pháp chống bán phá giá có tác động không chỉ tới nước nhập khẩu (nước khởi kiện) mà còn tác động cả tới nước xuất khâu (nước bị kiện) và hoạt động thương mại trên thế giới Tác động này cũng không chỉ có một chiều mà nó đều mang lại những hệ quả tích cực và tiêu cực cho mỗi bên Ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu được bảo hộ nhưng chỉ trong ngắn hạn, do đó các nhà sản xuất này cần tích cực tận dùng thời gian hiệu lực của các biện pháp chống bán phá giá để nâng cao năng lực sản xuất

và khả năng cạnh tranh với các đối thủ bên ngoài Ngược lại, ngành sản xuất sản phẩm bị kiện của nước xuất khẩu gặp khó khăn do lượng xuất khẩu mặt hàng này vào nước khởi kiện giảm, nhưng thách thỏc này cũng đi liền với cơ hội quảng bá sản phẩm với chất lượng cao, giá cả thấp và khả năng mở rộng thị trường xuất khấu ra các nước mới

1.5 Sự cần thiết áp dụng các biện pháp chống bán phá giá trong thương mại quốc tế

Ke từ khi ra đời đến nay, các biện pháp chống bán phá giá ngày càng được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới s ố lượng các nước ban hành và áp

Trang 32

dụng các quy định về chống bán phá giá cũng như số vụ điêu tra chông bán phá giá trên thế giới không ngừng tăng lên qua các năm Lý giải cho sự cân thiết của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá trong thương mại quốc tế có hai nguyên nhân: nguyên nhân khách quan do quá trình toàn câu háa kinh tế thế giới khiến cạnh tranh thương mại giữa các nước ngày càng mạnh

mẽ, buộc các nước phải tìm ra công cụ để đối phó với áp lực cạnh tranh đó; nguyên nhân chủ quan do nhiều nước có những ngành sản xuất còn nhỏ và yêu, cần có những "khiên chửn" mới khi môi trường thương mại quốc tế ngày càng thông thoáng do việc cửt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan

Nhân loại trên toàn thế giới đã bước vào ngưỡng cửa của thê kỷ X X I với quá trình hội nhập sâu rộng trên nhiều phương diện, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Đây là thời kỳ mà các quan hệ kinh tế quốc tế đã phát triến tới mức không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển m à không chịu sự tác động của các mối quan hệ ấy Nen kinh tế thế giới đã và đang thay đổi mạnh

mẽ từ một hệ thống gồm các nền kinh tế quốc gia sang một nền kinh tế toàn cầu với các mối liên kết, tính tương tác và số lượng các quy định thống nhất ngày một tăng

Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai, thương mại đã trở thành động năng không thể tách rời của quá trình phát triển kinh tế trên thế giới Các vòng đàm phán tự do hóa thương mại kế tiếp nhau trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) và sau này là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã giúp tái thiết các nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế trên toàn cầu diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, hội nhập có tác động như con dao hai lưỡi đối với nền kinh

tế của mỗi quốc gia Sự thông thoáng nó tạo ra do việc cửt giảm các hàng rào bảo hộ mậu dịch thuế quan và phi thuế quan một mặt tạo ra môi trường thương mại tự do hơn, năng động hơn nhưng đồng thời nó cũng chính là động lực khiến cho cạnh tranh thương mại giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay

Trang 33

gắt v ấ n đề được đặt ra là, trong thương mại quốc tế, hoạt động cạnh tranh bao gồm cả cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh lành mạnh hay cạnh tranh công bằng là sự cạnh tranh dựa trên cơ sở thực tế giá thành, chất lượng, các điều kiện lợi thế hoặc các yếu tố tương tự mà không

sử dụng các "mánh khóe" hay hành vi gian lận đọ giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa Nó chính là động lực mạnh mẽ nhất thúc đấy sản xuất không ngừng phát triọn, khoa học công nghệ không ngừng tiến bộ và tăng cường hoạt động giao lưu thương mại trên toàn thế giới Ngược lại, các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, hay cạnh tranh không công bằng lại có thọ gây ra những tác động tiêu cực như tiêu diệt đối thủ cạnh tranh, triệt tiêu động lực phát triọn của các nhà sản xuất, thậm chí bóp méo các dòng thương mại trên thị trường, Vỉ vậy, đọ đối phó với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ thị trường trong nước bao gồm các ngành sản xuất sản phẩm và các ngành, dịch vụ liên quan đến ngành sản xuất đó, bảo vệ quyền lợi của các chủ thế trong nước (người sản xuất, người tiêu dùng) cũng như bảo vệ các quyền lợi chính trị của quốc gia, nhiều biện pháp bảo hộ đã được các nước quy định và áp dụng Ngay cả

Tổ chức thương mại thế giới WTO, mặc dù được thành lập với một trong những mục tiêu cơ bản là xây dựng một cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ,

ổn định và tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng, trong trường họp cần thiết, WTO vẫn cho phép có sự tồn tại của thuế quan và các biện pháp bảo hộ Các biện pháp đó bao gồm các biện pháp hành chính như cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, hạn ngạch, ; hàng rào thuế quan; hàng rào kỹ thuật; chống trợ cấp; chống bán phá giá; Tuy nhiên, với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế mạnh mẽ, các quốc gia tham gia vào các tổ chức kinh tế và khu vực buộc phải thực hiện các cam kết mậu dịch tư do nên hiện nay, các công

cụ bảo hộ mậu dịch đang chuyọn dần từ những biện pháp truyền thống như thuế quan, hạn ngạch sang các biện pháp hiện đại hơn như các rào cản về kỹ

Trang 34

thuật, chính sách chống bán phá giá, chính sách đảm bảo cạnh tranh và chông độc quyền, biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Chẳng hạn n ă m 2009, khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu n ổ ra, hàng loạt các biện pháp bảo h ộ đã được các nước trên thế giới áp dụng nhằm đảm bảo việc làm và duy trì tăng trưởng kinh tê: chờ trong Ì năm các nước trên thế giới đã thực hiện 257 biện pháp bảo

hộ mậu dịch và còn đến 188 biện pháp nữa đã được hoạch định cho n ă m

2010 Trong đó, đáng lưu ý là số trường họp sử dụng các công cụ hạn chế phi quan thuế, các biện pháp vệ sinh, lệnh cấm nhập khẩu chờ chiếm 1 0 % , sô trường họp áp dụng công cụ thuế quan cũng chờ chiếm 1 4 % , còn đèn hơn

5 0 % trường hợp là sử dụng các biện pháp phân biệt đối x ử nhằm bảo vệ các nhà sản xuất nội địa, trong đó phần lớn là biện pháp chống phá giá N h ư vậy,

có thể thấy, sự phát triển của thương mại toàn cầu cũng như hệ quả của quá trình t ự do hóa thương mại quốc tế đã khiến nhu cầu sử dụng các biện pháp cần thiết để đối phó v ớ i các hành v i cạnh tranh không lành mạnh của các nước tăng lên Là một công cụ bảo vệ thị trường hiệu quả, lại được pháp luật quốc

tế thừa nhận, chống bán phá giá tất yếu đã trở thành công cụ được lựa chọn bởi nhiều nước trên thế giới

Nguyên nhân t h ứ hai dẫn đến sự gia tăng các vụ điều tra chống bán phá giá trên thế giới xuất phát từ chính nhu cầu bảo vệ ngành sản xuất nội địa của một số nước Đây chính là điểm mấu chốt gây r a cuộc tranh luận về vai trò của các biện pháp chống bán phá giá là công cụ bảo vệ cho nền sản xuất nội địa của nước đó hay là một công cụ bảo hộ thiếu công bằng m à nước đó áp dụng nhằm duy trì hoạt động của ngành sản xuất nước mình M ỗ i quốc gia có những l ợ i thế khác nhau nên năng lực sản xuất của cùng một ngành ở m ỗ i nước có thể khác nhau K h i nền sản xuất một sản phẩm nào đó của m ộ t nước yếu k é m hơn so v ớ i nền sản xuất sản phẩm tương t ự ở nước khác, nền sản xuất nước đó tất yếu sẽ không tránh khỏi m ố i đe dọa lớn từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài k h i tham gia vào quá trình hội nhập k i n h tế quốc tế, đặc biệt

Trang 35

khi quá trình hội nhập đó đòi hỏi các rào cản thuế quan và phi thuế quan phải

dần được cắt giảm tiến tới xóa bỏ hoàn toàn Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cho

các nước như vậy phải tìm ra biện pháp một mặt vẫn bảo vệ được thị trường

nội địa cho các nhà sản xuất trong nước mình nhưng mặt khác vẫn đảm bảo

không đi ngược v ớ i các cam kết quốc tế m à nước đó đã tham gia Điều đó lý

giải vì sao k h i hàng rào thuế quan trung bình trên thế giới giảm xuống thì việc

sể dụng các công cụ bảo hộ được thừa nhận rộng rãi, cụ thể trong trường hợp

này là biện pháp chống bán phá giá, lại không ngừng tăng lên như trong hình

dưới đây

Hình 2 Sự thay đổi mức thuế quan trung bình và số vụ

điều tra chống bán phá giá trên thế giới giai đoạn 1980 - 2008

1980 1982 13B< 19BG 1888 I99Ũ 1992 1934 1996 1998 2ŨOŨ 2002 2004 2006 20OB

ị ~- -Thuẽ quan — » — S o vụ CBPGị

(Nguồn: Hylke Vandenbussche (2009), "Antidumping protection hurts goodfirms ")

Hàng loạt các nghiên cứu đã chỉ ra rằng biện pháp chống bán phá giá

đã và đang được ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới sể dụng để bảo vệ thị

trường nội địa của nước mình5

Chống bán phá giá là m ộ t chính sách bảo hộ được thừa nhận rộng rãi và được quy định trong luật pháp quốc tế cũng như

5

Thomas J.Prusa, Susan Skeath (2001), "The economic and strategic motives for antidumping íĩlings"

N B E R W o r k i n g Paper No 8424 August 2001 JEL No F l ;

H Vandenbussche, M a u r i z i o Zanardi (2007), "What Explains the Proliíeration A n t i d u m p i n g Laws?" Paper

presented át the 45th Panel Meeting o f Economic Policy in Frankfurt ( A p r i l

2007)-Michael o Moore, M a u r i z i o Zanardi (2009) "Does antidumping use contribute t o trade liberalization in

developing countries?", Canadian JournaI o f Economics V o i 42, No 2, M a y 2009 0008-4085 / 09 / 4 6 9

-495 / Canadian Economics Association;

Trang 36

trong hệ thống luật pháp của nhiều quốc gia Nhiều tổ chức khu vực và quôc

tế lòn trong lĩnh vực kinh tế cũng có những quy định riêng cho vàn đê này, đặc biệt trong đó Tổ chức thương mại thế giới cũng đã ban hành những quy định về chống bán phá giá, đó là "Hiệp định về thực thi Điều V I GATT 1994" hay thường được gọi với tên "Hiệp định về chống bán phá giá của WTO" (ADA) Đây là một trong những hiệp định thương mại đa biên của WTO và được xếp trong Phả lảc ì A của Hiệp định Maưakech thành lập Tổ chức Thương mại thế giới, có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên của WTO

Tóm lại, bán phá giá bị coi là một trong những hành vi thương mại không lành mạnh và luật pháp quốc tế cho phép các nước thực thi những biện pháp cần thiết để chống lại hành vi đó v ề bản chất, các biện pháp chống bán phá giá đều nhằm làm giảm lượng hàng nhập khẩu được cho là bị bán phá giá

để tạo điều kiện cho các nhà sản xuất sản phẩm tương tự trong nước tiếp tảc duy trì ngành sản xuất đó, đồng thời có thêm thời gian để củng cố năng lực sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài Do

đó, đối tượng được hưởng lợi khi các biện pháp chống bán phá giá được áp dảng chính là các nhà sản xuất sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu Trên bình diện thương mại quốc tê, các biện pháp chống bán phá giá, thủ tảc và trình tự áp dảng các biện pháp đó được quy định tại điều V I Hiệp định chung

về thuế quan và thương mại GATT 1994 và "Hiệp định về thực thi điều V I của GATT 1994" - thường gọi là "Hiệp định về chống bán phá giá của WTO" Trên cơ sở những quy định chung này, mỗi quốc gia có quyền ban hành và áp dảng pháp luật về chống bán phá giá tại nước mình Phân tích lý luận cũng như thực tiễn quan sát đã cho thấy, quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế diễn ra càng mạnh mẽ thì vai trò bảo vệ thị trường nội địa các nước của biện pháp chống bán phá giá càng được thể hiện rõ ràng hơn

Trang 37

Chương 2

VAI TRÒ CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP C H Ó N G

BÁN PHÁ GIÁ NHẰM BẢO VỆ THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

CỦA MỘT SỚ NƯỚC TRÊN THÊ GIỚI

2.1 Lịch sử việc sử dụng biện pháp chống bán giá trong thương mại quốc tế

Ngay từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia trên thế giới đã bắt đầu quan

tâm đến hiện tượng bán phá giá và đưa vào luật pháp những quy định nhằm

chống lại hiện tượng này Đạo luật chống bán phá giá cụ thể đầu tiên được

ban hành ự Canada ngày 10/8/1904, sau đó là tại Newzealand năm 1905,

Australia năm 1906 và Nam phi năm 1914 Mỹ ban hành Đạo luật chống bán

phá giá năm 1916 và đến năm 1921, Pháp, Anh và phần lớn các nước thuộc Khối thịnh vượng chung Anh quốc (British Commonwealth, nay là Commomvealth of Nations) cũng đã có những đạo luật tương tự

Năm 1947, với sự ra đời của Hiệp định chung về thuế quan và thương

mại GATT (General Agreement of Tariffs and Tradè), vấn đề chống bán phá

giá và tự vệ mới được đặt dưới sự chi phối của luật quốc tế, thông qua Điều V I

và Điều I X X của Hiệp định này Tại thời điểm đó, chủ đề chống bán phá giá chưa được đưa ra tranh luận nhiều Chỉ về sau này, khi các dòng chảy thương mại phát triển ngày càng nhanh và số lượng thành viên của GATT cũng đông hơn thì các biện pháp đảm bảo công bằng trong thương mại quốc tế như chống bán phá giá mới thực sự trự thành mối quan tâm ngày càng lớn của các nước

Điều V I GATT 1947 đã có các quy định liên quan đến trường hợp một ngành công nghiệp nội địa cho rằng việc bán phá giá hoặc việc nhập khẩu quá mức đã gây thiệt hại cho hoạt động sản xuất của họ Những điều khoản này cho phép chính phủ được áp đặt "thuế chống bán phá giá" hoặc "thuế tự vệ"

Trang 38

lên hàng hoa nhập khẩu nhằm loại bỏ tác động tiêu cực đó Mức thuế có thế bằng nhưng không lớn hơn biên độ bán phá giá

Cùng với xu hướng giảm dần tỷ lệ thuế quan kể từ khi có Hiệp định GATT 1947 thì việc sở dụng thuế chống bán phá giá cũng tăng lên và Điều

V I đã bộc lộ nhiều điểm sơ hở hoặc không còn phù hợp Ví dụ, điều V I yêu cầu việc xác định thiệt hại đáng kể nhưng không đưa ra bất kì tiêu chí đế xác định nào v ề việc xác định sự tồn tại bán phá giá, điều V I cũng chỉ đưa ra cách thức chung chung, rất khó vận dụng cho từng trường hợp cụ the Hiệp định GATT 1947 cũng không có các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp chống bán phá giá m à mặc nhiên thừa nhận quyền tự do của các quôc gia trong việc xây dựng và áp dụng các thủ tục này Tình trạng đó là nguyên nhân chủ yếu để nhiều nước lợi dụng áp dụng pháp luật chống bán phá giá như là công cụ thực hiện chính sách bảo hộ thái quá cho thị trường nội địa của mình

Do vậy, sau vòng đàm phán Kennedy (1962 - 1967), các bên trong GATT đã ký kết một bản thoa thuận chi tiết hơn liên quan đến chống bán phá giá Thoa thuận này có tên là Hiệp định thực thi chống bán phá giá (Agreement

ôn Anti - Dumping Practices), có hiệu lực năm 1967 Tuy nhiên Hoa Kỳ đã không ký vào Hiệp định này và do vậy Hiệp định ít có giá trị thực tiễn

Két thúc vòng đàm phán Tokyo (1973), các bên đã cho ra đời Hiệp định Tokyo (có hiệu lực từ năm 1980) và Hiệp định này đã cho thấy một sự tiến bộ, thể hiện ở việc cung cấp khá nhiều hướng dẫn cho việc xác định bán phá giá và thiệt hại so với Điều V I GATT 1994 Hiệp định đã đưa ra quy trình, thủ tục tiến hành và các vấn đề cần được hoàn thiện trong giai đoạn điều tra Tuy nhiên Hiệp định cũng vẫn chỉ là một khuôn khổ chung cho các nước tuân theo khi tiến hành điều tra và áp đặt thuế chống bán phá giá N ó còn nhiều điểm m ơ hồ, gây tranh cãi và do đó, khá hạn chế trong việc thực thi Sau vòng đàm phán Uruguay năm 1994, cùng với sự ra đời của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các bên đã ký kết "Hiệp định về thực thi

Trang 39

Điều V I GATT 1994" (The Agreement ôn Implementation of Article V I o f

GATT 1994), thường được gọi với tên "Hiệp định về chống bán phá giá của

WTO" (Anti-dumping Agreement - ADA) Hiệp định này có tính chất buộc

phải thi hành đối với các nước thành viên của WTO, nhưng khi áp dụng trong

thực tế, mỗi nước có thể có thêm một số điều khoản chi tiết để thi hành, dựa

theo thế chế pháp luật riêng của mình

Trong xu thế tự do hoa mậu dịch ngày càng trỡ nên phổ biến, việc từng

bước dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan buộc nhiều nước phải áp dụng

các biện pháp, chế tài đơn phương để bảo hộ sản xuất trong nước Do được WTO

thừa nhận, biện pháp chống bán phá đã và đang trỡ thành lựa chọn của nhiêu

nước Bên canh đó, dưới sức ép mạnh mẽ từ ngành công nghiệp nội địa và với

động cơ chính trị nhằm giành được sự ủng hộ của cử tri trong ngành công nghiệp

nội địa then chốt, chính phủ nhiều nước ngày càng coi trọng các biện pháp bảo hộ

ngành công nghiệp nội địa trong bối cảnh tự do hoa thương mại đang diễn ra

mạnh mẽ Chính vì lẽ đó, hàng loạt các quốc gia trên thế giới đã ban hành và áp

dụng các quy định về chống bán phá giá trong luật pháp của nước mình

Hình 3 Số lượng các quốc gia ban hành luật pháp

về chống bán phá giá trên thế giới tỉnh đến năm 2000

lon ì

(Nguồn: H Vandenbussche, Mauriĩio Zanardi (2007), "ỈVhat Explains the

Proli/eration of Antidumping Laws? ")

Trang 40

Hình 4 Số vụ điều tra và số vụ áp dụng biện pháp chống bán phá giá giai đoạn 1995 - 2008

đã nhanh chóng lan rộng sang nhiều nước khác, đặc biệt là các nước thế giới thứ ba như ẫ n Độ, Argentina, Nam Phi, Brazil, Mexico, N ă m 1987, số vụ kiện do các nước mới áp dụng khởi xướng đã chiếm 2 0 % tống số vụ kiện chống bán phá trong năm và từ năm 1993, con số này luôn ở mức trên 50% Tuy nhiên, xét một cách công bằng, các nước phát triển vẫn là những nước đi đầu trong việc sử dụng các biện pháp này đế bảo vệ thị trường nội địa cho các nhà sản xuất trong nước

Bán phá giá và chống bán phá giá cũng là một nội dung được đề cập đến nhiều trong vòng đàm phán Doha đã được WTO khởi động từ năm 2001 Tại đây, chống bán phá giá bị nhìn nhận như một vấn đề gây chia rẽ giữa một

Ngày đăng: 11/03/2014, 20:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ĩ. rác động của thuế chống bán phá giá lên - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
nh ĩ. rác động của thuế chống bán phá giá lên (Trang 27)
Hình 2. Sự thay đổi mức   thuế quan trung bình và  số vụ - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình 2. Sự thay đổi mức thuế quan trung bình và số vụ (Trang 35)
Hình 3. Số lượng các quốc gia ban hành luật pháp - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình 3. Số lượng các quốc gia ban hành luật pháp (Trang 39)
Hình 4. Số vụ đi ều tra và  số vụ áp dụng  biện pháp chống bán phá giá giai đoạn 1995 - 2008 - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình 4. Số vụ đi ều tra và số vụ áp dụng biện pháp chống bán phá giá giai đoạn 1995 - 2008 (Trang 40)
Hình 5. Số vụ kiện chống bán phá giá trên  thế  giới và tỷ lệ vụ kiện - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình 5. Số vụ kiện chống bán phá giá trên thế giới và tỷ lệ vụ kiện (Trang 41)
Hình 6. Các nước bị kiện trong các vụ kiện chống bán phá giá - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình 6. Các nước bị kiện trong các vụ kiện chống bán phá giá (Trang 42)
Bảng 1. Điều tra chống bán phá giá theo ngành  giai đoạn 1995 - 2008 - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Bảng 1. Điều tra chống bán phá giá theo ngành giai đoạn 1995 - 2008 (Trang 43)
Hình 8. Số vụ điều tra chống bán phá giá của Mỹ - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình 8. Số vụ điều tra chống bán phá giá của Mỹ (Trang 49)
Hình 9. Điều tra chống bán phá giá theo ngành của Mỹ - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình 9. Điều tra chống bán phá giá theo ngành của Mỹ (Trang 50)
Hình 10. Ngành tôm của bang Louisiana có tính mùa vụ cao - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình 10. Ngành tôm của bang Louisiana có tính mùa vụ cao (Trang 53)
Bảng 2. Lượng tôm sản xuất nội địa và lượng tôm nhập khấu của Mỹ - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Bảng 2. Lượng tôm sản xuất nội địa và lượng tôm nhập khấu của Mỹ (Trang 54)
Hình li. Lượng tôm nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ giảm đi - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình li. Lượng tôm nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ giảm đi (Trang 58)
Hình 12. Số vụ điều tra chống bán phá giá và tỷ lệ trong tằng số vụ điều tra - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình 12. Số vụ điều tra chống bán phá giá và tỷ lệ trong tằng số vụ điều tra (Trang 63)
Hình 13. Khối lượng khăn lanh trải giường loại cotton nhập khấu từ - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Hình 13. Khối lượng khăn lanh trải giường loại cotton nhập khấu từ (Trang 69)
Bảng 7. Thống kê số vụ kiện đối với lo ngành bị kiện - vai trò của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước và những vấn đề đặt ra cho việt nam
Bảng 7. Thống kê số vụ kiện đối với lo ngành bị kiện (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w