Nhận thức của cộng đồng về đột quỵ, tănghuyết áp và các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi đối với bệnh tim mạch ởNkonya-Wurupong cho thấy 35% tin rằng tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ củ
Trang 1CHU THỊ HOÀNG ANH
ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH
DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP THUỘC CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ NGOẠI TRÚ - KHOA KHÁM BỆNH – BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA NĂM 2019
Chuyên ngành : Điều dưỡng
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Bs Nguyễn Hữu Tú
HÀ NỘI – 2019
Trang 21 THA Tăng huyết áp
2 ĐQN Đột quỵ não
3 TBMMN Tai biến mạch máu não
4 WHO Tổ chức y tế thế giới
5 WSO Hội đột quỵ thế giới
6 ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh tăng huyết áp 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Phân độ tăng huyết áp 3
1.1.3 Một số yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp 3
1.1.4 Dịch tễ học tăng huyết áp 4
1.1.5 Biến chứng của tăng huyết áp 7
1.3 Biến chứng đột quỵ não 12
1.3.1 Triệu chứng gợi ý đột quỵ 12
1.3.2 Biểu hiện lâm sàng 12
1.3.3 Hậu quả của đột quỵ 14
1.3.4 Nguy cơ gây đột quỵ 14
1.4 Kiến thức, thực hành dự phòng đột quỵ não 16
1.4.1 Kiến thức dự phòng đột quỵ não 16
1.4.2 Thực hành dự phòng đột quỵ não 18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 20
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20
2.2 Địa điểm nghiên cứu 20
2.3 Thời gian nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21
2.4.3 Các biến số nghiên cứu 22
2.4.4 Sai số và biện pháp khắc phục 24
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 24
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 24
Trang 42.7 Đạo đức nghiên cứu 28
2.8 Một số hạn chế của nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 29
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 29
3.1.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Kiến thức, thái độ của người bệnh 30
3.1.1 Kiến thức về dự phòng đột quỵ não 30
3.1.2 Thực hành dự phòng đột quỵ 33
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ biến chứng đột quỵ 34
3.3.1 Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với kiến thức dự phòng biến chứng của đối tượng nghiên cứu 34
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 35
4.1 Kiến thức, thực hành dự phòng đột quỵ não của người bệnh tăng huyết áp 35
4.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 35
4.1.2 Kiến thức dự phòng biến chứng đột quỵ não của người bệnh tăng huyết áp 35
4.1.3 Thực hành dự phòng biến chứng đột quỵ não của người bệnh tăng huyết áp 35
4.2 Một số yếu tố liên quan dự phòng đột quỵ não của người bệnh tăng huyết áp 35
KẾT LUẬN 36
KIẾN NGHỊ 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Bảng 3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 29Bảng 3.2 Tần số, tỉ lệ các đặc điểm về kiến thức 30Bảng 3.3 Đánh giá mức độ kiến thức dự phòng đột quỵ 33Bảng 3.4 Tần số, tỉ lệ về kiểm soát huyết áp và tuân thủ điều trị và thay đổi
hành vi lối sống dự phòng đột quỵ 33Bảng 3.5 Đánh giá mức độ thực hành dự phòng đột quỵ 34Bảng 3.6 Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với kiến thức dự
phòng biến chứng của đối tượng nghiên cứu 34
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong thứ 3 trên thế giới sau các bệnh lýtim mạch và ung thư, là nguyên nhân chính của tình trạng tàn tật kéo dài, gâynên gánh nặng lớn về tinh thần, cảm xúc và kinh tế cho bệnh nhân, gia đình
và xã hội [1]
Theo dự báo của Tổ chức Đột quỵ Thế giới, nếu năm 2010 trên thế giới
có khoảng 16 triệu người bị đột quỵ lần đầu, tử vong là 5,9 triệu (35%) thìđến năm 2030, tỷ lệ này là 22 triệu và tử vong là 7,8 triệu (34%) [2] Đột quỵ
có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân: bệnh lý (đái tháo đường, tăng huyết áp, cholesterol máu,…), hành vi (hút thuốc lá, uống rượu,…), hay do di truyền và
lịch sử gia đình [3] nhưng tăng huyết áp là nguyên nhân chính dẫn đến độtquỵ [4] Theo thống kê của WHO trong số 9,4 triệu ca tử vong do biến chứngtăng huyết áp, chịu trách nhiệm cho ít nhất 45% tử vong do bệnh tim và 51%trường hợp tử vong do đột quỵ [5] Nhận thức của cộng đồng về đột quỵ, tănghuyết áp và các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi đối với bệnh tim mạch ởNkonya-Wurupong cho thấy 35% tin rằng tăng huyết áp là một yếu tố nguy
cơ của đột quỵ và chỉ có 26% hiện đang được điều trị tăng huyết áp Kiếnthức về hậu quả tăng huyết áp bao gồm bệnh tim mạch và đột quỵ thay đổiđáng kể cùng với các nguồn giáo dục và nhận dạng đột quỵGhana [56]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy tăng huyết áp gây biến chứng độtquỵ chiếm tỉ lệ 62%, người bị tăng huyết áp không được kiểm soát thì nguy
cơ đột quỵ tăng 7 lần [6] Theo Nguyễn Lân Việt, tăng huyết áp là nguy cơhàng đầu dẫn đến đột quỵ não với tỉ lệ 79.17%, người bị tăng huyết áp giaiđoạn II không được kiểm soát thì nguy cơ đột quỵ tăng 4 lần [7] Nghiên cứucủa Lý Thị Kim Thương về nhận thức về các yếu tố nguy cơ và biểu hiệncảnh báo đột quỵ não của người dân phường Tây Sơn thành phố Pleiku
Trang 7(2016) cho thấy tỉ lệ người dân có nhận thức về các biểu hiện cảnh báo nguy
cơ đột quỵ não không đạt chiếm 58.8%, người có nhận thức đạt chỉchiếm12.4% [8] Nghiên cứu của Trịnh Thị Thủy Hồng năm (2015) cho thấy
có tới 64,2% đối tượng nghiên cứu không có kiến thức đạt và 70,6% đốitượng nghiên cứu không có thực hành đạt để dự phòng biến chứng của bệnhtăng huyết áp [9]
Tiến hành khảo sát nhanh về kiến thức, thái độ và một số yếu tố liênquan dự phòng biến chứng đột quỵ não của 10 bệnh nhân được chẩn đoántăng huyết áp đến khám định kì tại khoa khám bệnh – BVĐK Tỉnh ThanhHóa phát hiện thấy chỉ có 03 bệnh nhân biết về biến chứng đột quỵ não có thể
bị gây nên bởi tăng huyết áp nhưng thái độ chủ quan, đồng thời không rõ vềcác yếu tố liên quan đến nguy cơ gây nên biến chứng này
Nhận thấy việc cung cấp thông tin để giúp những bệnh nhân tăng huyết
áp có kiến thức, thái độ đúng đắn, cũng như tăng cường sự hiểu biết về một sốyếu tố liên quan đến nguy cơ gây biến chứng đột quỵ não trên bệnh nhân tăng
huyết áp, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá kiến thức và thực hành dự
phòng đột quỵ não của người bệnh tăng huyết áp thuộc chương trình quản lý ngoại trú - Khoa khám bệnh – Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2019” với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành dự phòng đột quỵ não của người bệnh tăng huyết áp thuộc chương trình quản lý ngoại trú - Khoa khám bệnh – Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2019
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành dự phòng đột quỵ não của người bệnh tăng huyết áp thuộc chương trình quản lý ngoại trú - Khoa khám bệnh – Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2019
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh tăng huyết áp
1.1.1 Định nghĩa
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính, phổ biến ở các quốc giađang phát triển trong đó có Việt Nam WHO cho thấy có khoảng 40% dân sốtoàn cầu bị tăng huyết áp, con số này vẫn tiếp tục tăng lên do tình trạng giàhóa dân số đang diễn ra ở hầu hết quốc gia trên thế giới
Tăng huyết áp được định nghĩa là khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHgvà/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg [10]
1.1.2 Phân độ tăng huyết áp
Tăng huyết áp được phân loại thành hai loại là THA nguyên phát vàTHA thứ phát Có gần 90% số ca được phân loại "tăng huyết áp nguyênphát", dùng để chỉ các trường hợp không tìm thấy nguyên nhân gây tănghuyết áp (vô căn) Chỉ có khoảng 5–10% số ca là tăng huyết áp thứ phát gây
ra bởi các bệnh tại các cơ quan khác như thận, động mạch, tim và hệ nội tiết[10] [11]
Tăng huyết áp không được điều trị và kiểm soát tốt sẽ dẫn đến tổnthương nặng các cơ quan đích và gây các biến chứng nguy hiểm như tai biếnmạch não, nhồi máu cơ tim, phình tách thành động mạch chủ, suy tim, suythận … thậm chí dẫn đến tử vong [10]
1.1.3 Một số yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp
1.1.3.1 Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được
- Tuổi (nam giới ≥ 55, nữ giới ≥ 65)
- Giới tính (nam hoặc nữ đã mãn kinh)
- Tiền sử gia đình có cùng huyết thống bị tăng huyết áp
- Chủng tộc
Trang 91.1.3.2 Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
- Chế độ ăn nhiều muối
- Hút thuốc lá
- Rối loạn Lipid máu
- Đái tháo đường
- Béo phì(BMI > 23)
- Ít vận động thể chất
1.1.4 Dịch tễ học tăng huyết áp
1.1.4.1 Trên thế giới
Theo thống kê của WHO, trên toàn thế giới, tăng huyết áp ước tính gây
ra 7,5 triệu ca tử vong, khoảng 12,8% tổng số ca tử vong Trên khắp các khuvực của WHO, tỷ lệ mắc bệnh huyết áp tăng cao nhất ở châu Phi, tỷ lệ huyết
áp tăng thấp nhất là ở Khu vực Châu Mỹ [12] Năm 2010, 31,1% (khoảng tincậy 95%, 30,0-32,2%) người trưởng thành trên thế giới bị tăng huyết áp;28,5% (27,3-29,7%) ở các nước thu nhập cao và 31,5% (30,2-32,9%) ở cácnước thu nhập thấp và trung bình [13]
CHÂU PHI: Báo cáo tình trạng tăng huyết áp ở Châu Phi cho thấy cókhoảng 80 triệu người trưởng thành bị tăng huyết áp ở châu Phi cận Sahara vàonăm 2000 và con số này sẽ tăng lên 150 triệu vào năm 2025 Dù vẫn còn trẻ hơntất cả các châu lục khác, Châu Phi sẽ chứng kiến sự tăng trưởng gấp 13 lần vềquy mô dân số già - từ 56 triệu ngày nay lên 716 triệu vào cuối thế kỷ Sự giatăng này sẽ dẫn đến tỷ lệ mắc các bệnh mãn tính và tăng huyết áp sẽ tiếp tụcđược đẩy lên trong những thập kỷ tới vì sự thay đổi nhân khẩu học [14]
CHÂU ÂU: Tỷ lệ tăng huyết áp tự báo cáo cao nhất (người trưởng thành
≥15 tuổi) được ghi nhận ở Hungary (32%), Bulgaria (30%), Latvia (29%),Đức (29%) và Litva (28%), Na Uy (13%), Pháp (14%), Thụy Điển (16%),Vương quốc Anh (16%) và các quốc gia Benelux (tất cả dưới 17%) [15]
Trang 10Hiểu biết về tăng huyết áp ở Ba Lan sau Tháng đo lường tháng 5 năm
2017 cho 5834 người dân, có 35,3% người dân bị tăng huyết áp Trong sốnhững người được dùng thuốc huyết áp, có tới 535 người (49,1%) khôngkiểm soát được huyết áp [16]
CHÂU MỸ: Nghiên cứu ở Mỹ về gánh nặng tăng huyết áp ở ngườitrưởng thành ở Hoa Kỳ 1999 đến 2000 cho kết quả: Tỷ lệ người mắc THAchiếm tỉ lệ 31.3%, trong đó 28.4% sử dụng thuốc hạ huyết áp, 2.9% trong số
đó ít nhất hai lần có cơn tăng huyết áp không nhận biết được [17]
Nghiên cứu khảo sát kiểm tra sức khỏe và dinh dưỡng ở thành phố NewYork, 2013: Tỷ lệ tăng huyết áp chung ở người trưởng thành ở thành phốNew York là 33,9% và tăng theo tuổi [18] Một nghiên cứu về tỷ lệ, nhậnthức, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp ở Bồ Đào Nha cho thấy, trong số cácđối tượng tăng huyết áp, chỉ có 46,1% biết về huyết áp cao của họ, 39,0%đang dùng thuốc hạ huyết áp và 11,2% được kiểm soát huyết áp (<140/90mmHg) [19]
CHÂU Á: Gánh nặng chăm sóc sức khỏe của bệnh cao huyết áp ở châu
Á : WHO ước tính từ năm 2000 đến 2025, số bệnh nhân được chẩn đoán mắctăng huyết áp sẽ tăng khoảng 60% lên tới 1,56 tỷ và châu Á sẽ đóng góp vàomột tỷ lệ lớn trong số bệnh nhân này [20]
Tại Trung Quốc và Ấn Độ, tổng số bệnh nhân tăng huyết áp dự kiến sẽtăng lên hơn 500 triệu vào năm 2025 Mức tăng tuyệt đối của Ấn Độ và TrungQuốc lần lượt là 95,3 triệu và 117,6 triệu [21]
Tỷ lệ tăng huyết áp từ các nghiên cứu mới nhất là: Bangladesh: 17,9%;Bhutan: 23,9%; Ấn Độ: 31,4%; Maldives: 31,5%; Nepal: 33,8%; Pakistan:25%; và Sri Lanka: 20,9% [21]
ĐÔNG NAM Á: Tại Singapore, Khảo sát Y tế Quốc gia năm 2010 chothấy tỷ lệ hiện mắc theo tuổi cụ thể đối với tăng huyết áp tăng rõ ràng từ 40
Trang 11tuổi trở đi và, với dân số già, quốc gia này vẫn phải tiếp tục đối mặt vớinhững thách thức trong phòng ngừa và kiểm soát tăng huyết áp [22]
Nghiên cứu về Tăng huyết áp ở Malaysia nhìn chung, có xu hướng tăng
tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành ≥30 tuổi: 32,9% năm 1996, 42,6%năm 2006 và 43,5% trong năm 2011 [23]
1.1.4.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc THA đang gia tăng một cách nhanh chóng.Theo thống kê, năm 1960, tỷ lệ THA ở người trưởng thành phía bắc Việt Nam
là 1%, 30 năm sau (1992) theo điều tra trên toàn quốc của Viện Tim mạch tỷ
lệ này đã đạt11,2%, tăng lên hơn 11 lần Điều tra của Viện Tim mạch năm2001- 2002 trên 5012 người trưởng thành trên 25 tuổi tại 4 tỉnh phía Bắc chothấy, tỷ lệ tăng huyết áp là 16,3% [24]
Theo kết quả điều tra năm 2008, tỷ lệ tăng huyết áp ở người độ tuổi 25
-64 là 25,1% Năm 2015, có 18,9% người trưởng thành trong độ tuổi 18-69tuổi bị tăng huyết áp, trong độ tuổi 18-25 tuổi tỷ lệ tăng huyết áp tăng từ15,3% năm 2010 lên 20,3% năm 2015 Như vậy là cứ 5 người trưởng thành25-64 tuổi thì có 1 người bị tăng huyết áp [25]
Nghiên cứu về mô hình bệnh tật tại bệnh viện và trạm y tế xã tại ĐồngTháp năm 2008 cho kết quả THA là nguyên nhân thứ hai nhập viện tại cácbệnh viện huyện và cũng là 1 trong 10 nguyên nhân nhập viện nhiều nhất tạibệnh viện tỉnh [26]
Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng biến chứng ở bệnhnhân tăng huyết áp của Phạm Hương Lan 2017, kết quả cho thấy kiến thứccủa ĐTNC về các biến chứng trong bệnh THA: Có 59,4% ĐTNC có kiếnthức đạt và 40,6% ĐTNC có kiến thức không đạt, có 42,8% ĐTNC có thái độtốt về dự phòng biến chứng và 57,2% ĐTNC có thái độ chưa tốt về dự phòngbiến chứng trong bệnh THA [27]
Trang 12Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính có thể gây biến chứng trên hầu hếtcác cơ quan trong cơ thể Một trong những giải pháp tốt nhất để ngăn ngừa vàgiảm thiểu thiệt hại do các biến chứng này gây ra là cung cấp kiến thức, thayđổi thái độ của bệnh nhân giúp kiểm soát tốt huyết áp, có lối sống khoa học,lành mạnh, tuân thủ thuốc điều trị của bác sỹ, nhằm nâng cao chất lượng cuộcsống cho người bệnh.
1.1.5 Biến chứng của tăng huyết áp
Bệnh THA tiến triển lâu ngày sẽ gây ảnh hưởng xấu đến nhiều cơ quantrong cơ thể, được gọi là các cơ quan đích và gây nhiều biến chứng nặng nề.Theo báo cáo của WHO (2002), THA ước tính là nguyên nhân gây tử vongcho 7,1 triệu người trẻ tuổi và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu(64 triệu người sống trong tàn phế) [69] Theo báo cáo về các yếu tố nguy cơsức khỏe toàn cầu của WHO năm 2009, THA là một trong những yếu tố nguy
cơ hàng đầu gây ra tử vong toàn cầu (13%) cao hơn cả hút thuốc lá (9%) [67].Ước tính chi phí trực tiếp và gián tiếp cho THA của Mỹ năm 2003 đã lên tới65,3 tỷ USD [52]
Các biến chứng thường gặp của THA là: Tai biến mạch máu não (độtquỵ); Suy tim, nhồi máu cơ tim; Phình tách thành động mạch; Suy thận; Tổnthương mắt [9],[10],[44]
1.1.5.1 Đột quỵ não (Tai biến mạch máu não)
Các động mạch trong hộp sọ nhất là các động mạch trong não cũng rất
dễ bị tổn thương do bệnh THA Các động mạch bị dày lên, mất độ đàn hồi,biến dạng và dễ làm hình thành các túi phồng nhỏ, cả động mạch lẫn túiphồng nhỏ đều có nguy cơ bị vỡ khi xảy ra cơn THA kịch phát hoặc khi HAtăng rất cao và kéo dài Cơn THA kịch phát quá cao còn có thể gây phù não
và các tổn thương vi thể khác làm ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động của não
Trang 13Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với đột quỵ [15].Vào đầu thế kỷ 21, tỷ lệ đột quỵ chuẩn hóa theo độ tuổi ở châu Âu dao động
từ 95 đến 290 / 100.000 mỗi năm, với tỷ lệ tử vong trong một tháng là từ 13đến 35% Ngoài ra, do dân số già, số lượng đột quỵ tuyệt đối dự kiến sẽ tăngmạnh trong những năm tới: đến năm 2025, 1,5 triệu người châu Âu sẽ bị độtquỵ mỗi năm [32] Thống kê của các tác giả trên thế giới đã cho thấy tần suấtTBMMN tăng rất rõ ở những bệnh nhân THA, tần suất đó là 17% ở nam, 8%
ở nữ, tăng lên 51% ở nam và 35% ở nữ Nếu là bệnh nhân THA theo nghiêncứu của Kannel và cộng sự (hội nghị quốc tế về tuần hoàn não lần thứ 4 họp ởToulouse Pháp năm 1985) còn cho là bệnh THA làm tăng nguy cơ TBMMNlên 7 lần so với người không có bệnh đó, nguy cơ này tăng dần theo tuổi vàmức HA cao nhất [40]
Đăng ký đột quỵ dựa trên dân số được thành lập tại 6 quốc gia châu Âu:Pháp (Dijon); Ý (Sesto Fiorentino); Litva (Kaunas); Vương quốc Anh (LuânĐôn); Tây Ban Nha (Menorca); và Ba Lan (Warsaw), tổng cộng có 2129 bệnhnhân bị đột quỵ đầu tiên đã được đăng ký và sự khác biệt về các yếu tố nguy
cơ trước đột quỵ đã được tìm thấy giữa các nhóm dân số có tỷ lệ tăng huyết
áp cao nhất ở Warsaw và Kaunas (76% và 67%) [33]
Theo Nguyễn Quang Tuấn, khoảng 60% bệnh nhân bị đột quỵ có tiền sửTHA trong quá khứ và hiện tại đang bị THA và khoảng 78% bệnh nhânkhông được kiểm soát THA một cách phù hợp Xét tất cả các yếu tố nguy cơthì THA là yếu tố nguy cơ cao nhất gây ra đột quỵ (RR là 4,0 ở lứa tuổi 40 –
50 và giảm xuống 2,0 ở độ tuổi 70 – 80) và là yếu tố nguy cơ mạnh nhất trongdân số (40% ở lứa tuổi 40 – 50 30% ở độ tuổi 70 – 80) [44].Theo NguyễnVăn Đăng và cộng sự thuộc Bộ môn Thần kinh, trường Đại học Y Hà Nội đãđiều tra 1.707.609 người dân và cho thấy THA là nguyên nhân chính (59,3%)gây ra tai biến mạch máu não [10] Theo niên giám thống kê của Bộ Y tế, tỷ lệ
Trang 14mắc TBMMN là 47,6/100.000 dân Như vậy, hàng năm có khoảng 39.980 ca bịTBMMN và chi phí trực tiếp để điều trị bệnh này là 144 tỷ VND/năm trong đóhậu quả do THA gây ra là 85,4 tỷ VNĐ Có khoảng 15.990 người bị liệt, tànphế, mất sức lao động do TBMMN/ năm Theo Viên Văn Đoan (2003) tỷ lệbệnh nhân THA được điều trị đã có biến chứng TBMMN chiếm 11,6% trong
đó TBMMN xảy ra trong quá trình đang điều trị chiếm 0,67% [11]
1.1.5.2 Suy tim, nhồi máu cơ tim
Tăng huyết áp làm cho tim, nhất là thất trái phải làm việc trong điều kiện
có áp lực máu cao ở trong các động mach lớn nên buộc phải tăng co bóp đểthắng lực cản nhằm đưa được máu qua động mạch chủ nghĩa là phải tăngcông của cơ tim để duy trì tuần hoàn Nếu HA tăng liên tục như trong bệnhTHA thì sẽ gây quá tải liên tục cho tim Để đảm bảo cho việc tăng công đó,tim mà trước hết là thất trái buộc phải thích ứng nghĩa là phải dày, to ra dần;Tuy nhiên thất trái to cũng chỉ đến một giới hạn nhất định, nếu không điều trịthì chức năng co bóp sẽ bị tổn thương, thất dần dần sẽ bị giãn, giảm khả năngtống máu đi và sẽ xuất hiện suy tim Trong suy tim, máu tống đi trong thì tâmthu không hết nên ứ lại trong thất trái rồi phía trên thất như trong nhĩ trái rồitrong tĩnh mạch phổi, mao mạch phổi, từ đó thấm vào tổ chức kẽ xung quanhcác phế nang và vào cả phế nang, cản trở việc trao đổi oxy và thán khí, làmbệnh nhân khó thở [2]
Tai biến mạch vành như cơn đau thắt ngực sẽ xuất hiện khi một khu vựccủa cơ tim bị thiếu máu nặng Nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cũng xảy ra khi cóthêm biến chứng đông máu làm tắc mạch đó đột ngột THA đã được coi làmột trong những yếu tố nguy cơ quan trọng trong bệnh thiếu máu cơ tim dovữa xơ động mạch, người ta đã thấy nguy cơ tai biến mạch vành tăng songsong với mức THA, nghiên cứu của Framingham (Hoa Kỳ) đã cho thấy nguy
cơ đó tăng lên đến 4 lần nếu HA tâm thu từ 120 lên 180 mmHg Nhiều nghiên
Trang 15cứu ở các nước trong những năm qua cũng khẳng định chỉ riêng thất trái to dobệnh THA cũng làm tăng tỷ lệ tai biến tim và tăng tỷ lệ tử vong do nguyênnhân tim mạch [9].
Một phân tích tổng hợp các số liệu từ 61 nghiên cứu tiến cứu cho thấymối liên quan chặt chẽ giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương với nguy
cơ bị bệnh mạch vành trong 5 nhóm tuổi khác nhau, từ nhóm tuổi 40-49 tớinhóm 80-89 tuổi [44]
Theo Nguyễn Quang Tuấn, huyết áp là một yếu tố chính gây suy tim.Nguy cơ suy tim tăng lên gấp 2 lần ở nam giới THA và gấp 3 lần ở nữ Có90% các ca suy tim mới trong nghiên cứu Framingham Heart Study có tiền sửTHA Nguy cơ này liên quan chặt chẽ với huyết áp tâm thu hơn là huyết áptâm trương Điều trị THA ở người lớn tuổi làm giảm tỷ lệ mới mắc suy timxuống khoảng 50% [44] Theo điều tra dịch tễ học suy tim và một số nguyênnhân chính tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam năm 2003 do Viện Tim mạch ViệtNam phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện cho thấy nguyên nhânhàng đầu gây suy tim tại cộng đồng là do THA (chiếm 10,2%) [43]
1.1.5.3 Phình tách thành động mạch
Áp lực tăng thường xuyên của dòng máu khi qua các động mạch sẽ làmthay đổi cấu trúc các thành mạch, lớp cơ của thành mạch sẽ dầy lên, các tổchức liên kết phát triển nhằm làm cho thành mạch chắc hơn đủ sức chịu đựng
áp lực tăng cao của dòng máu Tuy vậy, sự thích nghi đó cũng dẫn đến nhữnghậu quả xấu là làm hẹp lòng động mạch và làm giảm tính đàn hồi, mạch máu
bị xơ cứng nhất là đối với các tiểu động mạch cản trở máu đến các tổ chức,ngoài ra lại làm tăng sức cản ngoại vi và càng làm tăng thêm huyết áp [2]
Áp lực tăng của dòng máu còn gây ra tổn thương cho lớp nội mạc thànhmạch, các tế bào dễ bị thương tổn hoặc làm giảm chức năng bảo vệ thànhmạch, dễ bị vữa xơ động mạch ở các động mạch lớn và vừa Ở động mạch
Trang 16chủ nếu có mảng vữa xơ bị loét, dòng máu có áp lực cao do bệnh nhân THA
có thể làm cho máu lọt vào giữa các lớp của thành mạch, tách dọc các lớp đó
ra và gây nên biến chứng phồng tách động mạch rất nguy hiểm đến tính mạngbệnh nhân [9]
1.1.5.4 Suy thận
Các tổn thương thận xuất hiện chậm hơn và cũng kín đáo hơn, thườngchỉ bộc lộ ở giai đoạn cuối của bệnh Ngay trong giai đoạn đầu người ta đãthấy giảm cung lượng thận, nhưng độ lọc cầu thận vẫn giữ được do có cơ chế
bù trừ Về lâu dài, khi tổn thương xơ các mạch thận phát triển, thận bị teo nhỏthì suy thận mới thấy rõ [9]
Một nghiên cứu ở Nhật Bản trên 100.00 nam và nữ cho thấy mối liênquan giữa mức độ THA và nguy cơ phát triển bệnh thận mạn tính trong vòng
17 năm theo dõi Cũng như vậy, nguy cơ bệnh thận mạn tính tăng lên ở nhữngbệnh nhân có huyết áp bình thường cao so với nhóm có huyết áp tối ưu(<120/80 mmHg) Những bệnh nhân THA mà không thể kiểm soát được, chothấy sự suy giảm nhanh chóng chức năng thận Kết quả phân tích nghiên cứutiến cứu MRFIT cũng cho thấy sự liên quan mật thiết giữa THA và bệnh thậngiai đoạn cuối, nhưng cho dù ở bất cứ mức độ nào của huyết áp thì nguy cơnày cũng tăng 2 lần ở những người Mỹ gốc Phi so với người da trắng [44].Theo khuyến cáo của Hiệp hội Thận học quốc tế, huyết áp mục tiêu ởbệnh nhân có bệnh thận và đái tháo đường phải thấp hơn các trường hợphuyết áp khác (130/80 mmHg so với 140/90 mmHg), vì người ta cho rằngmối liên quan giữa huyết áp với các kết cục lâm sàng sẽ chặt chẽ hơn ở nhữngngười có các bệnh này [44]
1.1.5.5 Tổn thương mắt
Tổn thương đáy mắt và bệnh lý võng mạc trong bệnh THA liên quantrực tiếp với sự gia tăng HA THA gây hẹp động mạch võng mạc lan tỏa
Trang 17nhưng không đều, tiến triển gây xuất huyết và phù gai thị Về chức năng thịlực không phụ thuộc nhiều vào dạng tổn thương cũng như vị trí của nó: xuấthuyết và xuất tiết ở điểm vàng có thể dẫn đến sự giảm thị lực trầm trọng,trong khi phù gai thị chỉ làm giảm thị lực, nhiều khi nó lan đến điểm vàng.Đối với bệnh tăng huyết áp sự hiện diện của phù gai thị và xuất huyết hai bên
có tiên lượng xấu: Tỷ lệ sống đến 10 năm là dưới 50% ở người tăng huyết áp
đã điều trị tích cực giữa năm 1963 và 1983 [9]
1.3 Biến chứng đột quỵ não
1.3.1 Triệu chứng gợi ý đột quỵ
- Có bất thường về lời nói hoặc sự hiểu biết
- Bất thường về nhìn ở một hoặc cả hai bên mắt
- Mất thăng bằng, chóng mặt hoặc phối hợp động tác
- Đau đầu dữ dội mà không rõ căn nguyên
1.3.2 Biểu hiện lâm sàng
- Liệt, rối loạn cảm giác ½ cơ thể, mặt
- Hội chứng tiểu não, hội chứng tiền đình trung ương
- Rối loạn lời nói, rối loạn thị giác
- Liệt dây thần kinh sọ
- Hội chứng màng não
Trang 181.3.3 Hậu quả của đột quỵ
Khó khăn trong giao tiếp: Mất ngôn ngữ là khái niệm được dùng để
mô tả tập hợp sự thiếu hụt về giao tiếp, bao gồm gặp vấn đề khi nói,hiểu, đọc và viết
Rối loạn cảm xúc: Biểu hiện không kiểm soát, không lý giải đượccủa hành động khóc, tức giận hoặc cười mà có thể ít có liên hệ đếntrạng thái cảm xúc hiện tại của bệnh nhân Những biểu hiện nàythường đến và đi nhanh chóng và có thể giảm dần theo thời gian.Trầm cảm: Lo âu (đặc biệt là về khả năng gặp một cơn đột quỵ khác)
và trầm cảm là những biểu hiện thường gặp sau đột quỵ
1.3.4 Nguy cơ gây đột quỵ
1.3.4.1 Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được
* Tuổi
- Di truyền:Tiền sử gia đình có cùng huyết thống bị đột quỵ
- Chủng tộc / Dân tộc
- Giới tính
1.3.4.2 Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
Yếu tố bệnh lý Thói quen, lối sông
- Tăng huyết áp - Hút thuốc lá
- Đái tháo đường - Chế độ ăn nhiều muối
- Cholesterol máu cao - Không hoặc ít hoạt động thể chất
- Đau ngực - Thừa cân / béo phì và phân phối mỡ cơ thể
- Cơn thiếu máu não thoáng qua
(TIA)
- Uống rượu, bia
- Thường xuyên bị lạnh đột ngột
* Theo JNC VII:
Trang 19Việc thay đổi lối sống là một cách phòng ngừa bệnh tăng huyết áp cũngnhư biến chứng của bệnh [51].
- Giảm cân: Duy trì trọng lượng cơ thể bình thường (BMI: 18,5 - 24,9)
- Hạn chế uống rượu: Uống rượu không quá 2 ly nhỏ mỗi ngày tươngđương 30 ml ethanol, 720 ml bia, 300 ml rượu vang, hoặc 90 ml whisky mỗingày Với nữ giới và người nhẹ cân, liều lượng giảm chỉ còn một nửa
- Hoạt động thể lực: Đi bộ nhanh ít nhất 30 phút mỗi ngày và hầu hết cácngày trong tuần
- Giảm lượng muối < 100 mmol mỗi ngày (2,4 g natri hoặc 6 g muối)
- Duy trì đủ lượng kali trong khẩu phần (khoảng 90 mmol mỗi ngày)
- Duy trì chế độ ăn uống đủ lượng canxi và magie cho sức khỏe nói chung
- Ngừng hút thuốc và giảm lượng chất béo bão hòa và cholesterol trongkhẩu phần cho sức khỏe tim mạch tổng thể
* Tại Việt Nam:
Theo hướng dẫn chẩn đoán, điều trị THA của Bộ Y tế áp dụng các biệnpháp tích cực thay đổi lối sống cho mọi bệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển,giảm được HA, giảm số thuốc cần dùng và giảm các biến chứng của bệnhTHA cho người bệnh [52]:
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
+ Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày).+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi
+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axit béo no
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ sốkhối cơ thể (BMI: Từ 18,5 – 22,9 kg/m2)
- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80 cm ở nữ
- Hạn chế uống rượu, bia: Số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), íthơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít
Trang 20hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với
330 ml bia hoặc 120 ml rượu vang, hoặc 30 ml rượu mạnh
- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: Tập thể dục, đi bộ hoặcvận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 – 60 phút mỗi ngày
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh, cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉngơi hợp lý
- Tránh bị lạnh đột ngột
1.4 Kiến thức, thực hành dự phòng đột quỵ não
1.4.1 Kiến thức dự phòng đột quỵ não
Theo Đại điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý kiến thức là: Điềuhiểu biết do tìm hiểu, học tập mà nên: kiến thức khoa học, kiến thức văn hóa,kiến thức xã hội [49]
Kiến thức hay tri thức của mỗi người được tích lũy dần qua quá trình họctập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống Mỗi người có thể thu được kiếnthức từ nhiều nguồn khác nhau như từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồngnghiệp, những người xung quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đạichúng cung cấp
Kiến thức là một trong các yếu tố quan trọng giúp con người có các suynghĩ và tình cảm, thái độ đúng đắn, từ đó dẫn đến những hành vi hay thựchành phù hợp trước mỗi sự việc hay tình huống cụ thể
Mặc dù phát hiện sớm và điều trị đột quỵ là hiệu quả nhất nhưng kiếnthức về các yếu tố nguy cơ trong hành vi lối sống sẽ giúp phòng ngừa và giảmbớt hậu quả của đột quỵ
Một số nghiên cứu về kiến thức cơ bản chung về các yếu tố nguy cơ độtquỵ còn thấp (Biederman, et al.2012): 39% người bệnh biết huyết áp cao làyếu tố nguy cơ của đột quỵ, 52% nhận thức được bệnh tiểu đường và đột quỵ,
Trang 2144% phản ứng với chế độ ăn uống kém, 44% không biết và 33% xác địnhcăng thẳng là yếu tố rủi ro Tương tự, một nghiên cứu khảo sát năm 2010 của
cư dân người Mỹ gốc Phi ở Mississippi về kiến thức về yếu tố đột quỵ pháthiện ra rằng nhiều người không biết các yếu tố lối sống như thiếu hoạt độngthể chất, uống quá nhiều rượu, tiểu đường, hút thuốc và cholesterol cao gópphần vào nguy cơ đột quỵ (Sallar et al., 2010) Phát hiện trong 1 báo cáonghiên bởi Koenig, Whyte, O hèDonnell, Skidmore, Penrod, & 2007 và 15năm trước bởi Kothari, Saubbeck et al 1997 về kiến thức tối ưu về các yếu tốnguy cơ đột quỵ cho thấy có đến 52% người bệnh không thể kể tên được mộtyếu tố nguy cơ đột quỵ
Một nghiên cứu khác ở châu Á vào năm 2005 của tác giả Pandian JD vàcộng sự tiến hành ở bang Punjab Ấn Độ cho thấy 21% trong số dân ở đâykhông kể được một YTNC nào của ĐQN [56]
Ở Việt Nam, số lượng các nghiên cứu về hiểu biết bệnh ĐQN trong cộngđồng còn rất ít Nguyễn Văn Triệu đánh giá tình trạng hiểu biết của người dân
ở tỉnh Hải Dương về ĐQN cho thấy hiểu biết của người dân về các YTNC và
dự phòng ĐQN còn hạn chế, 11,5% người dân cho rằng ĐQN không thể dựphòng được, 34,7% người dân không cho rằng béo phì dễ bị ĐQN [57].Theotác giả Bùi Đức Long, tại Hải Dương tình trạng bệnh THA và ĐQN phải vàoviện điều trị ngày càng tăng, nam nhiều hơn nữ, 55,8% nam và 44,2% nữ Sốlượng bệnh nhân ĐQN nội trú nhiều hơn bệnh nhân THA trong cùng khoảngthời gian [58] Một nghiên cứu của Trần Văn Tuấn tại tỉnh Thái Nguyên năm2000- 2003 cho thấy, tỷ lệ mắc ĐQN ở khu vực thành phố cao hơn ở khu vựcnông thôn, sự khác nhau ở 2 khu vực có ý nghĩa thống kê p < 0,05; ĐQN gặpnhiều ở những người có trình độ văn hóa phổ thông trung học trở xuống Tỷ
lệ tử vong tăng dần theo tuổi Tuổi trung bình của bệnh nhân ĐQN tử vong là67,96 ± 10,86, nhóm tuổi trên 60 có tỷ lệ tử vong cao nhất.Bệnh ĐQN xảy ra
Trang 22ở bất kỳ giờ nào trong ngày, nhưng nhiều nhất là vào thời gian từ 4 giờ đến 12giờ, và xảy ra nhiều nhất ở các tháng 2, 5, 11 trong năm [52].
1.4.2 Thực hành dự phòng đột quỵ não
Theo đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, thực hành là:
- Làm để áp dụng lý thuyết vào thực tế: Lí thuyết đi đôi với thực hành.Hay: Thi hành, thực hiện: Thực hành nghiêm túc các quy chế của cơ quan[46]
- Thực hành là biến các kiến thức, hiểu biết thành các hành động cụ thể
để đạt được những mục đích nhất định Trong cuộc sống các hoạt động thựchành không thể thiếu được để đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống từ thấp đếncao
- Thực hành các biện pháp chăm sóc sức khỏe, phòng chống bệnh tật làcác thực hành thiết yếu để giúp cho mỗi người có sức khỏe và phòng, chốngđược các bệnh tật
- Hoạt động thực hành phòng chống bệnh tật rất đa dạng và phong phú
Để có các thực hành phòng, chống bệnh tật đúng đắn trước tiên phải đạt đượccác cơ sở kiến thức, hiểu biết về vấn đề sức khỏe bệnh tật và đạt được ở đốitượng các thái độ quan tâm tích cực, đúng mức đến vấn đề sức khỏe, bệnh tật
- Cụm từ “thực hành” trong đời sống thực tế về chăm sóc sức khỏe rất đadạng và phong phú, vì thế các cá nhân và cộng đồng cần được giáo dục vàhướng dẫn thực hành về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho cá nhân và cho cộngđồng Như vậy nhu cầu đào tạo thực hành đúng đắn về phòng bệnh, chữabệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho mỗi người, mỗi gia đình và cho cảcộng đồng là rất cần thiết Như vậy “thực hành” với nghĩa là làm cho mọingười dân thực hành phòng, chống bệnh tật, chăm sóc nâng cao sức khỏe có ýnghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của mỗi cá nhân và của cộng đồng
Trang 23Có bằng chứng mạnh mẽ cho thấy việc thay đổi các yếu tố rủi ro đối vớiđột quỵ sẽ làm giảm đáng kể tỷ lệ đột quỵ tới 80% (Howard,Cushmann,Kissela, Kleindorfer, McClure, & Saffoord, 2011 & Meschia và cộng sự,2014), việc hành vi lối sống không được kiểm soát và chăm sóc sức khỏekhông hợp lý sẽ làm gia tăng tỉ lệ đột quỵ(Lackland et al., 2013).
Nghiên cứu của Siraj Ahmad và cộng sự tiến hành trên 354 bệnh nhânTHA tại Ấn Độ, cho thấy: 31,4% ĐTNC vẫn hút thuốc, 15,5% ĐTNC vẫnuống rượu Có tới 72,3% ĐTNC có kiến thức chưa đạt, 77,7% ĐTNC có thái
độ chưa đạt và 82,8% có thực hành chưa đạt về dự phòng biến chứng củabệnh tăng huyết áp [57] Nghiên cứu của Malik A và cộng sự tiến hành trên
209 bệnh nhân THA điều trị nội trú của một bệnh viện ở Samarkand,Uzbekistan năm 2012 cho thấy: Có 44% bệnh nhân theo dõi HA tại nhà,42,5% theo dõi cân nặng của mình và 81,8% đã giảm lượng mối ăn hàngngày, 82,8% ĐTNC hạn chế uống rượu, 80,9 % ĐTNC không hút thuốc [59].Bùi Thị Thanh Hòa (2012) cho kết quả: 48,3% ĐTNC có kiến thức chưađạt về dự phòng biến chứng THA [62] Nghiên cứu của Ngô Thị Hương Giang(2013) cho thấy: Chỉ có 50,4% số ĐTNC điều trị THA là dùng thuốc kết hợpvới thay đổi lối sống, vẫn còn 49,6% Số ĐTNC vẫn thực hiện sai nguyên tắcđiều trị [63] Trịnh Thị Hương Giang (2013) cho kết quả: 17,8% ĐTNC có kiếnthức chưa đạt về phòng biến chứng THA, có 21,1% ĐTNC vẫn sử dụng rượu,bia; 42,9% ĐTNC không giảm lượng muối, nước mắm khi chế biến thức ăn;64,7% thực hành không đạt để phòng biến chứng TBMMN [64]
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán tăng huyết áp thuộc chương trìnhquản lý ngoại trú - Khoa khám bệnh – Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóanăm 2019
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân THA đã có biến chứng tai biến mạch máu não
- BN đang nhiễm trùng nặng như viêm phổi, viêm não, màng não,
- Bệnh nhân đang mắc các bệnh cấp tính nội, ngoại khoa
- BN có tiền sử rối loạn tâm thần
- BN không hợp tác nghiên cứu
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại phòng khám bệnh ngoại trú - Khoa khámbệnh – Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa
2.3 Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2019 đến hết tháng 7/2020
Thời gian Nội dung hoạt động Ghi chú
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Trang 25- Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- n: cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
- α = 0.05 tương ứng với độ tin cậy là 95%
- Hệ số giới hạn tin cậy Z 1−α/2
Trang 26- Mỗi bệnh nhân đến xếp sổ khám bệnh THA sau khi khám bệnh trongthời gian chờ kết quả xét nghiệm được hỏi ý kiến, mời tham gia vào nghiêncứu cho đến khi đủ mẫu nghiên cứu.
- ĐTV phát phiếu điều tra cho người bệnh, quan sát cách người bệnhđiền bộ câu hỏi và không giải thích gì thêm
2.4.3 Các biến số nghiên cứu
2.4.3.1 Biến số cơ bản về đối tượng nghiên cứu
- Đặc điểm cá nhân: tuổi, giới, dân tộc (kinh hoặc khác), tôn giáo
- Trình độ học vấn bao gồm các mức độ: Không đi học, phổ thông, trungcấp/cao đẳng/dạy nghề, đại học/sau đại học
- Nghề nghiệp: Nông nghiêp, lao động tự do, cán bộ/công chức/viênchức, công nhân/nông dân, nghề khác (hưu trí, làm thuê, thủ công,…)
- Tình trạng hôn nhân: Độc thân / chưa lập gia đình, sống chung vớivợ/chồng, ly dị/ly thân, góa
- Điều kiện kinh tế gia đình: Cận nghèo, hộ nghèo, trung bình, khá/giàu
- Chiều cao, cân nặng của người bệnh, tính chỉ số BMI
- Chỉ số huyết áp đo lần gần đây nhất
- Một số tiền sử về bệnh, dùng thuốc của người bệnh và thói quen củangười bệnh trong lối sống hang ngày
2.4.3.2 Biến số cho mục tiêu 1: Kiến thức, thực hành dự phòng đột quỵ của
người bệnh tăng huyết áp
- Kiến thức dự phòng đột quỵ
+ Loại đột quỵ não phổ biến nhất
+ Điều nào sẽ tăng gấp đôi nguy cơ đột quỵ
+ Nhóm tuổi nào có nguy cơ bị đột quỵ cao nhất
+ Các dấu hiệu cảnh báo về thời gian cơn thiếu máu não thoáng qua(TIA) biến mất
Trang 27+ Dấu hiệu cảnh báo đột quỵ
+ Mục đích chính của điều trị và chăm sóc
+ Những thói quen lối sống có thể gây nguy cơ đột quỵ cao hơn
+ Nguy cơ đột quỵ khi đã bị một cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA)+ Phương pháp điều trị nào dành cho những người bị đột quỵ
+ Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất được biết đến đối với đột quỵ
+ Hậu quả của đột quỵ
+ Cần làm gì để tránh nguy cơ đột quỵ
+ Thời điểm nên gọi xe cứu thương 115 khi phát hiện người có dấu hiệuđột quỵ
- Thực hành dự phòng đột quỵ:
+ Kiểm soát huyết áp và tuân thủ chế độ điều trị
+ Thực hành thay đổi hành vi lối sống dự phòng đột quỵ
2.4.3.3 Biến số cho mục tiêu 2: Một số yếu tố liên quan dự phòng biến chứng
ĐQN trên người bệnh tăng huyết áp
* Mối liên quan giữa các yếu tố với kiến thức dự phòng đột quỵ
- Mối liên quan giữa một số đặc điểm cá nhân: tuổi, giới tính, dân tộc vớikiến thức về bệnh ĐQN
- Mối liên quan giữa nghề nghiệp với kiến thức dự phòng đột quỵ
- Mối liên quan giữa trình độ học vấn với kiến thức dự phòng đột quỵ
- Mối liên quan giữa tình trạng kinh tế với kiến thức dự phòng đột quỵ
- Mối liên quan giữa tiền sử bệnh lý, tiền sử dùng thuốc của người bệnhvới kiến thức dự phòng đột quỵ
* Mối liên quan giữa các yếu tố với thực hành dự phòng đột quỵ
- Mối liên quan giữa nghề nghiệp với việc kiểm sóat huyết áp và thay đổihành vi lối sống dự phòng đột quỵ
Trang 28- Mối liên quan giữa trình độ học vấn với việc kiểm sóat huyết áp vàthay đổi hành vi lối sống dự phòng đột quỵ
- Mối liên quan giữa tình trạng kinh tế với việc kiểm sóat huyết áp vàthay đổi hành vi lối sống dự phòng đột quỵ
- Mối liên quan giữa tiền sử bệnh lý, tiền sử dùng thuốc của người bệnhviệc kiểm sóat huyết áp và thay đổi hành vi lối sống dự phòng đột quỵ
2.4.4 Sai số và biện pháp khắc phục
- Sai số nhớ lại
- Điều tra viên làm không cẩn thận
- Đối tượng nghiên cứu không tìm thấy đủ tài liệu
Biện pháp khắc phục:
- Thiết kế phiếu điều tra, hướng dẫn phỏng vấn rõ ràng dễ hiểu
- Hướng dẫn chi tiết về thu thập thông tin cho điều tra viên
- Thử nghiệm và chỉnh sửa bộ câu hỏi trước khi chính thức thu thập số liệu
- Giám sát chặt chẽ trong suốt quá trình nghiên cứu
- Làm sạch số liệu và nhập kép trước khi phân tích
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
* Bộ công cụ được xây dựng dựa trên những bộ câu hỏi về kiến thức, thực hành của các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam trước đó Bao gồm
Phần 1: Bộ câu hỏi kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng độtquỵ(Stroke Risk Factor Knowledge and Perception Questionnaire) trongnghiên cứu kiến thức về yếu tố nguy cơ đột quỵ, thái độ, thực hành phòngngừa và đột quỵ (Stroke Risk Factor Knowledge, Attitude, PreventionPractices, and Stroke) của tác giả Adaku Ngozika Madubuko - WaldenUniversity
Trang 29Phần 2: Bộ câu hỏi về kiến thức đột quỵ (Stroke Knowledge TestQuestionnaire) được xây dựng bởi Karen Sullivan, PhD & Natalie Dunton, 2001Phần 3: Bộ câu hỏi “ Hiệu quả truyền thông giáo dục sức khỏe tới kiếnthức, thái độ và thực hành của người dân trong phòng chống bệnh tăng huyết
áp và đột quỵ não tại xã An Lão, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam” của tác giả
Lê Thanh Huyền, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng, trường Đạihọc Y tế công cộng
* Nội dung của bộ công cụ gồm 3 phần
- Phần 1: Nhân khẩu học, bao gồm các thông tin liên quan đến ngườibệnh như tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn,…
- Phần 2: Kiến thức về đột quỵ và dự phòng đột quỵ
Trang 30Điểm từ 0 – 4 điểm : không đạt
Điểm từ 4 – 7 điểm: đạt
Điểm từ 8 – 13 điểm: tốt
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
* Tổ chức trước khi tiến hành thu thập số liệu
- Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu: Bộ câu hỏi sau khi xâydựng xong được điều tra thử trên 10 bệnh nhân tăng huyết áp, sau đó chỉnhsửa nội dung của bộ câu hỏi cho phù hợp, in thành 400 bộ phục vụ điều tra vàtập huấn
* Tập huấn điều tra viên
- Đối tượng tập huấn: Điều tra viên là các sinh viên điều dưỡng năm thứ
ba – học tại trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa
- Nội dung tập huấn: Mục đích, kế hoạch cuộc điều tra, kỹ năng phỏngvấn và ghi phiếu thu thập số liệu, kỹ năng tiếp xúc và làm việc với người bệnhđến khám tại khoa khám bệnh – BVĐK Tỉnh Thanh Hóa
- Hướng dẫn điều tra viên (ĐTV) biết kỹ năng giao tiếp, cách phỏng vấnngười bệnh
- Hướng dẫn ĐTV cách điền thông tin vào phiếu điều tra, xử lí các vấn
đề phát sinh trong quá trình thu thập thông tin
- Thời gian: 01 ngày (Sáng: 8h00 – 11h00, chiều: 13h30 – 16h30)
- Địa điểm: Phòng học 104 – Nhà C1 – Trường CĐ Y tế Thanh Hóa
* Các bước tiến hành thu thập số liệu
- Bước 1: Tiếp cận đối tượng cần thu thập số liệu là những bệnh nhânđến khám tại khoa khám bệnh - BVĐK tỉnh Thanh Hóa được chẩn đoán THA
- Bước 2: ĐTV giới thiệu về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu, giảithích cho ĐTNC về tính bảo mật của thông tin mà đối tượng cung cấp và xinđược chấp thuận tham gia nghiên cứu của người bệnh
Trang 31- Bước 3: ĐTV phát phiếu điều tra cho người bệnh để người bệnh điềnthông tin
- Bước 4: Cảm ơn người bệnh đã tham gia điều tra và hợp tác trongnghiên cứu
* Thu thập phiếu điều tra
- Nghiên cứu viên (NCV) quan sát trực tiếp ĐTV phỏng vấn 5 ĐTNC để
hỗ trợ kịp thời những thiếu sót trong quá trình điều tra
- Sau mỗi ngày điều tra các ĐTV nộp phiếu điều tra cho NCV
- NCV tổng hợp và kiểm tra lại các phiếu phỏng vấn, làm sạch phiếuđiều tra
- NCV tập huấn cho ĐTV về cách phỏng vấn người bệnh qua bộ câu hỏichuẩn bị trước
- Hướng dẫn chi tiết cho ĐTV cách xử lí các vấn đề xảy ra khi phỏngvấn, thu thập số liệu sau mỗi ngày thu thập số liệu
2.6 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được làm sạch trong quá trình kiểm tra phiếu, nhập liệu và kiểmtra bằng các phần mềm thống kê
- Nhập liệu: Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1
- Phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích số liệu.Phân tích mô tả được thưc hiện nhằm mô tả các đặc điểm nhân khẩu học,kiến thức, thái độ dự phòng biến chứng ĐQN ở những người bệnh được chẩnđoán THA
Phân tích mối liên quan: Phân tích đơn biến, sử dụng kiểm định Khi bìnhphương, T - test để xác định mối liên quan đơn biến giữa các biến độc lập gồm:Nhóm biến nhân khẩu học, kiến thức dự phòng ĐQN; thái độ dự phòng ĐQN
Trang 322.7 Đạo đức nghiên cứu
- Các đối tượng tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện, họ đượccung cấp đầy đủ thông tin về mục đích và nội dung của nghiên cứu
- Các thông tin thu thập được chỉ dành cho mục đích nghiên cứu khoahọc, phục vụ cho lợi ích chăm sóc sức khỏe người bệnh chứ không sử dụngcho mục đích nào khác
- Thông tin cá nhân về các đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn toàn đượcgiữ bí mật, không có bất kỳ điều gì ảnh hưởng đến cá nhân, gia đình hay cộngđồng của họ
- Trong quá trình phỏng vấn các đối tượng có quyền từ chối bất cứ câuhỏi nào mà họ không muốn trả lời, người nghiên cứu cũng không gây áp lựcnào đòi hỏi hoặc cố gắng thuyết phục đối tượng để lấy thông tin và họ có thểdừng cuộc phỏng vấn bất cứ khi nào họ muốn
- Báo cáo kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi lại với bệnh viện đượctriển khai thực hiện đề tài nghiên cứu này, để góp phần chăm sóc sức khỏecho người bệnh
2.8 Một số hạn chế của nghiên cứu
- Vì thời gian và nguồn lực hạn chế nên chúng tôi không đi sâu mô tả cáchoạt động liên quan đến thực hành mà chỉ đánh giá kiến thức, thái độ và một
số yếu tố liên quan đến biến chứng ĐQN trên những bệnh nhân tăng huyết ápđến khám tại khoa khám bệnh – BVĐK tỉnh Thanh Hóa
- Chúng tôi cũng chưa đi sâu phân tích được các hoạt động liên quan đếnhành vi lối sống của người bệnh tăng huyết áp để can thiệp, làm thay đổinhững hành vi có hại thành hành vi có lợi, từ đó nâng cao chất lượng cuộcsống cho người bệnh