Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu vềtuân thủ điều trị của người bệnh điều trị vảy nến, cho thấy tầm quan trọngcủa việc tuân thủ điều trị và hiệu quả điều trị, bên cạnh đó cũng đề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1-TỔNG QUAN 2
1.1 Tổng quan về bệnh vảy nến 3
1.2 Tầm quan trọng của tuân thủ điều trị trong điều trị bệnh vảy nến 11 1.3 Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị bệnh vảy nến 12
1.4 Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị vảy nến 14 1.5 Khái quát về Bệnh viện Da liễu Trung ương 20 Chương 2 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Thiết kế nghiên cứu 22
2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 23
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.6 Các biến số nghiên cứu 23
2.7 Phân tích số liệu 24
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 25
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 25
Chương 3 – DỰ KIẾN KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 26
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Tiếp cận y tế 27
3.3 Kiến thức về tuân thủ điều trị 28
3.4 Thực hành về tuân thủ điều trị 29
Trang 43.5 Liên quan giữa một số yếu tố đến kiến thức thực hành tuân thủ điều trị 31
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 34
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG Bảng 3 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 26
Bảng 3.2 Đặc điểm về tiền sử mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 27
Bảng 3.3 Tiếp cận y tế 27
Bảng 3.4 Kiến thức về tuân thủ điều trị 28
Bảng 3.5 Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc điều trị trong vòng 1 tháng 29
Bảng 3.6 Tỷ lệ người bệnh tuân thủ vệ sinh trong điều trị vảy nến 29
Bảng 3.7 Thực hành người bệnh khi không tuân thủ điều trị thuốc 30
Bảng 3.8 Thực hành của người bệnh khi không sử dụng thuốc 30
Bảng 3.9 Một số yếu tố với tỷ lệ kiến thức đạt về tuân thủ điều trị 31
Bảng 3.10 Một số yếu tố với tỷ lệ thực hành đạt về tuân thủ điều trị 32
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh vảy nến là một bệnh da mạn tính thường gặp chiếm khoảng 2-3%dân số thế giới tuy nhiên cũng có sự khác nhau tuỳ theo địa phương và chủngtộc Tỷ lệ mắc trung bình ở châu Á là khoảng 0 4% ở Bắc Âu là 2% ở Mỹ là 22-2,6%, trong đó người da trắng có tỷ lệ mắc gấp đôi người da đen và người
ta đã không phát hiện ra trường hợp vảy nến nào khi khám tầm soát 26.000người da đỏ ở Nam Mỹ [1] Ở Việt Nam tỷ lệ bệnh vảy nến chiếm khoảng15% dân số và chiếm khoảng 64% tổng số bệnh nhân da liễu điều trị nội trú[2] Cho đến nay bệnh vảy nến chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Hiện nay chưa
có phương pháp nào có thể điều trị khỏi hoàn toàn bệnh vảy nến, mục tiêuchính của điều trị là giảm viêm và kiểm soát tình trạng tăng sinh tế bào da,giúp người bệnh kéo dài thời gian ổn định của bệnh cũng như ngăn ngừa vàhạn chế tối đa các biến chứng của bệnh Do đó, người bệnh cần tuần thủ theo
sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa cũng như cần biết những việc nên làm
và không nên làm hàng ngày nhằm giúp kiểm soát và chúng sống hòa bìnhvới bệnh được tốt hơn Theo nghiên cứu trong việc nghiên cứu tuân thủđiều trị ở bệnh nhân vảy nến cho thấy tới 40% người không tuẩn thủ đúngtheo chỉ định về thuốc [3] Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu vềtuân thủ điều trị của người bệnh điều trị vảy nến, cho thấy tầm quan trọngcủa việc tuân thủ điều trị và hiệu quả điều trị, bên cạnh đó cũng đề cập tớimột số yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị [3], [4], [5] Tuy nhiên,ởnước ta đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và hiệuquả một số phương pháp điều trị bệnh vảy nến nhưng chưa có nghiên cứu nào
đề cập đến kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của bệnh nhân vảy nếnmột cách toàn diện về chế độ dùng thuốc, vệ sinh và chế độ dinh dưỡng.Nghiên cứu của chúng tôi nhằm tìm hiểu về kiến thức của người bệnhđiều trị vảy nến về tuân thủ điều trị, cách thực hành và các lý do không
Trang 6tuân thủ điều trị nhằm có những khuyến nghị phù hợp giúp người bệnhquản lý tình trạng bệnh của bản thân Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị vảy nến của người bệnh tại Bệnh viện Da liễu Trung Ương năm 2017 và một số yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh vảynến tại bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2017
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về tuân thủđiều trị của người bệnh vảy nến tại bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2017
Trang 7ta đã không phát hiện ra trường hợp vảy nến nào khi khám tầm soát 26.000người da đỏ ở Nam Mỹ Ở Việt Nam tỷ lệ bệnh vảy nến chiếm khoảng 1 5%dân số và chiếm khoảng 6 4% tổng số bệnh nhân da liễu điều trị nội trú Tỷ lệnam nữ mắc bệnh là như nhau [6].
Vảy nến là một bệnh da mạn tính, tiến triển từng đợt, dai dẳng suốt đời.Bệnh khá phổ biến, gặp ở mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc và bất kỳ ở đâu Theothống kê, tỷ lệ bệnh vảy nến khác nhau tùy theo từng nước, từng châu lục,song dao động trong khoảng 2-3% dân số Mặc dù được nghiên cứu từ lâunhưng cho đến nay căn sinh bệnh học của bệnh vẫn còn nhiều điều chưa đượcsáng tỏ Yếu tố di truyền và tự miễn đã được đề cập Nhiều tác giả cho rằngvảy nến là bệnh do rối loạn miễn dịch và có yếu tố di truyền
Đặc điểm nổi bật nhất của bệnh là tiến triển dai dẳng, hay tái phát sau nhữngđợt tạm thờ ổn định Tổn thương cơ bản (TTCB) của bệnh là các dát đỏ có vảytrắng như nến, nhưng trong nhiều trưòng hợp bệnh còn có các thương tổn ở móng
và khớp
1.1.2 Sinh bệnh học
Trang 8Vảy nến là sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố di truyền, khiếm khuyếtmàng bảo vệ da, và rối loạn điều hòa hệ thống miễn dịch bẩm sinh và miễndịch mắc phải Hầu hết các nghiên cứu cho rằng vảy nến là bệnh được điềukhiển bởi tế bào lympho T Vai trò của các tế bào lympho cũng như cytokinetrong hóa hướng động, tập trung và hoạt hóa các tế bào viêm đã được nghiêncứu rất rõ, từ đó giúp phát triển những loại thuốc điều trị mới [2], [7]
có HLA-B13, B17) Có 7 gen liên quan đến vảy nến, phân ra 4 týp: týp 1 ở
Trang 9cánh ngắn NST số 6 liên quan vảy nến là HLA-CW6 Týp 2: ở cánh dài NST
số 17 Týp 3: gen ở NST số 4 Týp 4: gen ở NST số 1, cánh ngắn NST số 2,cánh dài NST số 8 và 16 [1]
- Cơ chế miễn dịch: có sự thay đổi miễn dịch trong bệnh vảy nến Các tếbào miễn dịch được hoạt hóa tiết ra các cytokin tiền viêm IL-∞, IL-β và TNF-
∞ có tác dụng thúc đẩy tăng sinh, làm rối loạn quá trình biệt hóa tế bào sừng
- Các yếu tố thuận lợi:
+ Tuổi: tuổi hay gặp nhất lúc phát bệnh lần đầu là lứa tuổi 20 - 40
+ Giới: nam và nữ có tỷ lệ mắc ngang nhau
+ Có bệnh nhiễm khuẩn, bệnh mạn tính
+ Chấn thương thượng bì
+ Stress: chấn thương tâm lý có thể làm khởi phát bệnh hoặc làm nặngbệnh thêm
+ Rối loạn nội tiết
+ Rối loạn chuyển hóa
+ Nghiện rượu
+ Thay đổi khí hậu, môi trường
Những yếu tố trên là yếu tố thuận lợi góp phần làm khởi phát bệnh hoặclàm cho bệnh nặng thêm [1]
Vai trò của yếu tố khởi phát bên ngoài:
Thuốc: lithium, chẹn beta (beta-blockers), kháng sốt rét, kháng viêmkhông steroid (NSAIDs), tetracycline, glucocorticoids toàn thân
Nhiễm trùng: nhiễm liên cầu ở amidan, nhiễm trùng da và/hoặc tiêu hóa
do Staphylococcus aureus, Malassezia và Candida albicans Một số trường
hợp nhiễm HIV cũng có thể làm tình trạng vảy nến nặng hơn
Trang 10Chấn thương da, bỏng nắng (hiện tượng Koebner), stress, rối loạn nộitiết, chuyển hóa, nghiện rượu, hút thuốc lá cũng là những yếu tố khởi pháthoặc làm vảy nến trở nặng.
1.1.3 Triệu chứng lâm sàng
Tổn thương da
Thương tổn da điển hình là dát đỏ có vảy hình tròn hoặc bầu dục, hoặcthành mảng có nhiều vòng cung với các đặc điểm sau: Ấn kính mất màu, ranhgiới rõ với da lành, có vảy trắng khô, dễ bong, nhiều tầng xếp lên nhau Khicạo hết các lớp vảy nền da phía dưới đỏ tươi
Vị trí khu trú chủ yếu ở vùng tỳ đè: khuỷu tay, đầu gối, xung quanh rìatóc mặt duỗi các chi, nói chung có tính chất đối xứng
Kích thước: to nhỏ khác nhau từ 0,5 – 10cm đường kính
Cạo vảy theo phương pháp Brocq: đây là phương pháp đặc hiệu dùng đểxác định thương tổn vảy nến Cách làm như sau: Dùng một thìa nạo cùn cạovảy nhẹ nhàng, nhiều lần (khoảng 20 - 40 - 100 lần), cạo thong thả cho vảybong từng lớp sẽ thấy: đầu tiên là các lớp vảy bong ra và cuốì cùng có mộtmàng mỏng trắng, hoặc màng rách từng mảng (gọi là dấu hiệu màng bong).Dưới màng bong là bề mặt đỏ, nhẵn, bóng Cạo thêm một vài lần nữa thì thấyxuất hiện các đốm chảy máu nhỏ li ti Đây là dấu hiệu giọt sương máu củaAuspitz (Auspitz’s sign) [8]
Tổn thương móng
Khoảng 30 - 50% tổng số bệnh nhân vảy nến có thương tổn ở móng tay,móng chân Nếu chỉ có thương tổn móng đơn thuẩn thfi khó chuẩn đoán, phảisinh thiết móng
Trang 11Thương tổn móng thường gặp là: mặt móng có những chấm lõm hoặcnhững vân ngang, có những đốm trắng hoặc thành viền màu vàng đồng.Bong móng ở bở tự do, quá sừng dưới móng cùng với dày móng và mùn.
Có thể biến mất toàn bộ móng để lại gường móng bong vảy sừng Kết hợpvới đỏ da bong vảy xung quanh móng Vảy nến mụn mủ dưới móng hoặcxung quanh móng
Tổn thương khớp
Chiếm khoảng 10-20% tổng số bệnh nhân vảy nến Gồm các biểu hiệnđau các khớp, hạn chế và viêm một khớp, viêm đa khớp vảy nến hình ảnh lâmsàng giống như đa khớp dạng thấp, viêm khớp cột sống vảy nến hiếm gặp hơn
so với viêm da đa khớp, khó phân biệt với viêm cột sống dính khớp
X.quang thấy hiện tượng mất vôi đầu xương, hủy hoại sụn, xương, dính khớp
Tổn thương niêm mạc
Thường gặp ở niêm mạc qui đầu là vết màu hồng, không thâm nhiễm, giớihạn rõ, không hoặc có ít vảy, tiến triển mạn tính Ở lưỡi, giống viêm lưỡi hìnhbản đồ hoặc viêm lưỡi phí đại tróc vảy Ở mắt, hình ảnh viêm kết mạc, viêmgiác mạc, viêm mí mắt [6]
Trang 12thước thương tổn 1-3cm) thể mảng (kích thước thương tổn từ 5-10cm) thể toànthân (thương tổn lan toả khắp toàn thân còn ít vùng da lành).
+ Tuỳ theo vị trí khu trú thương tổn người ta chia ra các thể: thể đảo ngược(vị trí thương tổn ở các kẽ hốc tự nhiên: nách bẹn cổ…) niêm mạc (thương tổn
ở quy đầu môi mắt) ở đầu chi (thương tổn ở lòng bàn tay bàn chân đầu ngóntay) ở da đầu ở mặt
- Thể đặc biệt:
+ Thể mủ: có 2 thể là mụn mủ toàn thân, mụn mủ khu trú gồm mụn
mủ ở lòng bàn tay và viêm da đầu chi liên tục của Hallopeau Ngoài racòn có một số thể đặc biệt: mụn mủ toàn thân ở phụ nữ có thai mụn mủhình nh n ở trẻ em
+ Thể khớp: có thể chỉ có biểu hiện viêm khớp đơn thuần (khoảng 10%)hoặc phối hợp với biểu hiện da của bệnh (khoảng 10-20%)
+ Đỏ da toàn thân: Thể này thường là biến chứng của bệnh vảy nến thôngthường do h u quả của việc sử dụng thuốc không hợp lý đặc biệt là corticoidđường toàn thân nhưng đôi khi lại là tiến triển tự nhiên từ một vảy nến thôngthường hoặc cũng có thể là biểu hiện đầu tiên của bệnh [8],[6]
1.1.5 Biến chứng
Chàm hóa, lichen hóa, bội nhiễm, ung thư da
Đỏ da toàn thân
Thể khớp có thể làm biến dạng khớp cứng khớp nhất là cột sống
Trang 131.1.6 Chuẩn đoán
Hình 1.2: Sơ đồ chuẩn đoán và điều trị vảy nến [7]
Chuẩn đoán xác định
Thương tổn da dát đỏ giới hạn rõ với da lành, trên phù vảy trắng dễ bong
Cạo vảy theo phương pháp Brocq dương tính
Hình ảnh mô bệnh học (khi tổn thương lâm sàng không điển hình)
Chuẩn đoán phân biệt
Giang mai thời kỳ thứ II: thương tổn cơ bản là các sẩn màu hồng, thâm
Trang 14nhiễm xung quanh có vảy trắng, cạo vảy theo phương pháp Brocq âm tính.Xét nghiệm tiro xuất trùng tại thương tổn, phản ứng huyết thanh giang maidương tính
Lupus ban đỏ kinh: thương tổn cơ bản là dát đỏ, có teo da, vảy da dínhkhô bong
Á vảy nến: thương tổn cơ bản là các sẩn
1.1.7 Điều trị
Điều trị vảy nến thể thông thường tùy theo mức độ bệnh cần kết hợpnhiều loại thuốc kết hợp điều trị tại chỗ và điều trị toàn thân
* Tại chỗ:
Thuốc tiêu sừng, bong vảy: M salicylic 2-10% có tác dụng tiêu sừng bong
vảy Thuốc có nguy cơ nhiễm độc nếu bôi trên 20% diện tích cơ thể [1]
Thuốc thử: nhóm này gồm có các thuốc như Goudron (hắc ín) Anthraline
(dioxyanthranol) Crysarobin Tar hiện nay ít được sử dụng [6]
Thuốc ức chế miễn dịch: Corticoid có tác dụng chống viêm mạnh Nhược
điểm gây teo da rạn da trứng cá nhiễm khuẩn tại chỗ đặc biệt có thể gâyhiện tượng “phản hồi” (khi ngừng thuốc bệnh có thể tái phát nặng hơn trước)nên việc dùng thuốc cần thận trọng [6]
Vitamin D và dẫn uất: chế phẩm Vitamin D3-Calcipotriol Tác dụng ức chế
tăng sinh biểu bì điều hòa miễn dịch tại chỗ chống viêm Thuốc có tác dụnglàm bệnh đ nhanh tránh được hiện tượng nhờn thuốc và hiện tượng “phản hồi”[11]
Trang 15Tazarotene: là một retinoid có tác dụng tốt trong điều trị vảy nến nhưng
hay gây kích ứng Tuy nhiên nếu kết hợp với corticoid bôi tại chỗ thì hiệu quảđiều trị tăng lên và tính kích ứng tại chỗ giảm đi [11]
và sinh dục, đây là những vùng dễ bị kích ứng bởi các loại thuốc bôi khác.Corticosteroid được bào chế dưới nhiều dạng khác nhau từ mỡ, kem, dung dịchđến gel, xà phòng và dầu gội; nói chung, dạng mỡ có hiệu quả cao nhất Trảiqua nhiều năm, đặc tính kháng viêm của corticosteroid bôi đã được cải thiệnbằng cách tăng tính ái mỡ nhờ chặn nhóm 16- hay 17-hydroxy ưa nước haybằng cách đưa các gốc acetonide, valerate hay propionate vào chế phẩm Sửdụng thuốc dưới dạng băng kín bằng chất dẻo hay hydrocolloid cũng gia tăngđáng kể tính thấm của thuốc Bôi thuốc 1 lần/ngày cũng cho hiệu quả như 2lần/ngày, và có thể duy trì kết quả lâu dài bằng bôi cách ngày
Thuốc ức chế phân bào: Methotre ate
Methotrexate là một thuốc ức chế phân bào do ức chế quá trình hấp thuacid folic d n đến giảm tổng hợp AND ARN Thuốc có hiệu quả tốt trong điềutrị toàn thân bệnh vảy nến lan rộng và vảy nến thể khớp [12] Tuy nhiên sửdụng Methotrexate có nhiều tác dụng phụ đặc biệt với gan và tủy xương
Vitamin A acid
Trang 16Vitamin A acid thế hệ thứ hai như Etretinate, Acitretin đã được chứngminh có hiệu quả trong điều trị vảy nến thể nặng Cơ chế tác dụng củaVitamin A acid là bình thường hóa tăng trưởng và biệt hóa tế bào ức chế sựnhiễm sừng ở các tế bào còn nhân.
Thuốc ức chế miễn dịch: Cyclosporin
Cyclosporin A là thuốc ức chế miễn dịch chọn lọc tác dụng lên tế bàoLangerhans Lympho T yếu tố tăng trưởng tế bào làm ức chế quá trình bài tiếtIL2 d n đến ức chế tăng sản tế bào thượng bì Thuốc tác dụng kém hơnMethotraxate nhưng ít tác dụng phụ hơn [1]
Chế phẩm sinh học
Các chế phẩm sinh học đã bước đầu được đưa vào sử dụng và đang tiếptục được nghiên cứu phát triển giúp điều trị các thể vảy nến nặng không đápứng với điều trị thông thường Các chế phẩm được dùng cho vảy nến làEfalizumab Alefacept cho kết quả tốt nhưng giá thành còn cao
1.2 Tầm quan trọng của tuân thủ điều trị trong điều trị bệnh vảy nến
Bệnh vảy nến là một bệnh da mạn tính thường gặp do tăng sinh tế bào vàviêm Hiện nay chưa có phương pháp nào có thể điều trị khỏi hoàn toàn bệnhvảy nến, mục tiêu chính của điều trị là giảm viêm và kiểm soát tình trạng tăngsinh tế bào da, giúp người bệnh kéo dài thời gian ổn định của bệnh cũng nhưngăn ngừa và hạn chế tối đa các biến chứng của bệnh Do đó, người bệnh cầntuần thủ theo sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa cũng như cần biết nhữngviệc nên làm và không nên làm hàng ngày nhằm giúp kiểm soát và chúngsống hòa bình với bệnh được tốt hơn Theo nghiên cứu của Richard và các
Trang 17cộng sự trong việc nghiên cứu tuân thủ điều trị ở bệnh nhân vảy nến chothấy tới 40% người không tuẩn thủ đúng theo chỉ định về thuốc, việc nàyliên quan có ý nghĩa tới các diễn biến lâm sàng và hiệu quả điều trị bệnh.Nghiên cứu đề xuất 4 khía cạnh cụ thể trong việc tối ưu hóa sự tuân thủđiều trị của bệnh: mối liên quan giữa bác sĩ- bệnh nhân có hiệu quả, lạcquan trong việc điều trị theo quy định, hướng dẫn tuân thủ điều trị đượccung cấp và các sử dụng [3] Vệc đề xuất các chiến lược khác nhau giúpgiải quyết tuân thủ điều trị là rất quan trọng bằng cách tăng cường sự hiểubiết của người bệnh về tuân thủ điều trị đồng thời cải thiện niềm tin củangười bệnh và quản lý tốt tình trạng bệnh của mình
Nghiên cứu của chúng tôi nhằm tìm hiểu về kiến thức của người bệnhđiều trị vảy nến về tuân thủ điều trị, cách thực hành và các lý do khôngtuân thủ điều trị nhằm có những khuyến nghị phù hợp giúp người bệnhtuân thủ điều trị hướng tới cải thiện tình trạng bệnh của bản thân
1.3 Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị bệnh vảy nến
1.3.1 Khái niệm tuân thủ điều trị
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Tuân thủ điều trị là mức độ hành vi của mộtngười - uống thuốc theo một chế độ ăn và / hoặc thay đổi lối sống - tương ứngvới các khuyến nghị từ nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế
1.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị bệnh
Do thuốc điều trị: Bệnh nhân phải uống quá nhiều thuốc trong một
ngày, đặc biệt với những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc uống kết hợpvới thuốc bôi và phải dùng ít nhất 2 loại thuốc trở lên thì với số lượngthuốc và thời gian dùng thuốc kéo dài suốt đời kèm theo tâm lý chán nảnkhi điều trị là những rào cản lớn tác động đến sự tuân thủ
Trang 18Những hạn chế về chế độ ăn liên quan đến sử dụng thuốc: Thời
điểm sử dụng nhiều loại thuốc điều trị có liên quan mật thiết tới bữa ăn:
có thuốc phải uống sau bữa ăn có thuốc phải uống xa bữa ăn có thuốcphải bôi vào đúng giờ qui định
Hơn nữa một số thuốc điều trị còn yêu cầu người bệnh phải ngừng uốngrượu bia tuyệt đối Điều này sẽ gây ra khó khăn nhất định cho bệnh nhân
Do thời gian: Nhiều người bệnh quá bận, đôi khi không có thời gian
hoặc quên dẫn tới không tuân thủ điều trị thuốc [13]
Do thiếu hỗ trợ (gia đình, bạn bè): Sự hỗ trợ của cán bộ y tế người thân
trong gia đình và bạn bè của người bệnh là yếu tố quan trọng đảm bảo việctuân thủ của họ Những người thân và bạn bè sẽ chia sẻ an ủi động viên nhắcnhở giúp đ người bệnh uống đủ số lượng thuốc đủ liều đúng giờ và bôi thuốcthường xuyên cũng như giúp bệnh nhân thực hiện chế độ dinh dư ng hợp lý đảmbảo chế độ vệ sinh đúng cách vì trên thực tế nhiều bệnh nhân không thể tự mìnhbôi thuốc hoặc không tự giác nhớ được cách sử dụng thuốc theo đúng chỉ định củathầy thuốc… đặc biệt khi bệnh nhân là người cao tuổi
Do gánh nặng về tài chính : Quá trình mắc bệnh kéo dài phải chi trả cho
cuộc sống cũng như theo dõi điều trị trong khi bệnh nhân không có khả năngtạo ra thu nhậ p (ở những người cao tuổi) sẽ là gánh nặng tài chính không chỉcho bệnh nhân mà còn cho cả những người khác trong gia đình Những khókhăn và thiếu thốn trong cuộc sống hàng ngày sẽ không đảm bảo cho sứckhỏe thể chất và dễ làm cho bệnh nhân có những sang chấn về tinh thần dẫnđến chán nản và tuyệt vọng
Do mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân: Khi bác sĩ giao tiếp tốt
với bệnh nhân chỉ rõ ích lợi của các biện pháp điều trị nhắc lại nhiều lần
th t rõ ràng cho bệnh nhân và báo trước các tác dụng phụ có thể có hoặc
Trang 19khích lệ bệnh nhân thì việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tốt hơn nhiều.
Do hệ thống chăm sóc y tế: Hệ thống chăm sóc y tế có thuận tiện cho
bệnh nhân không? giờ giấc cung cấp thuốc và các dịch vụ y tế có thuậntiện cho bệnh nhân không? (vd: bệnh nhân vảy nến thường phải mất buổisáng thậm chí cả ngày để chờ khám làm xét nghiệm chờ lấy kết quả cũngnhư nhận thuốc trong khi đó bệnh nhân rất bận) hay bệnh nhân có tintưởng vào hệ thống chăm sóc y tế đó không? Tất cả các lý do trên đềuảnh hưởng tới sự tuân thủ của bệnh nhân
Khi bệnh nhân không được giúp để vượt qua những rào cản trên thì họthường không tuân thủ điều trị dẫn tới một loạt những hậu quả nặng nề làmtăng tỷ lệ người bệnh phải nhập viện và tử vong
1.4 Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị của người bệnh vảy nến 1.4.1 Trên thế giới
Trên thế giới nghiên cứu về tuân thủ điều trị bệnh nhân vảy nến khôngphải là vấn đề mới Trong một nghiên cứu tổng quan về tuân thủ điều trị bệnhvảy nến năm 2012, kết quả trên 22 nghiên cứu được lựa chọn Có 12 bài báo
về tấn số sử dụng các phương pháp ứng dụng khác nhau trong điều trị tại chỗtrong các thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy có sự tuân thủ khác nhau với các tỉ
lệ 55% và 100% Liên quan đến số lượng sử dụng sản phẩm, 4 nghiên cứucho thấy bệnh nhân áp dụng giữ 35% và 72% liều được đề nghị trong thờigian điều trị 14 ngày đến 8 tuần Những lý do được đề cập thường xuyên nhấtcho người không tuân thủ điều trị tại chỗ là hiệu quả thấp, tiêu thị thời gian vàthẩm mỹ tại chỗ kém Bệnh nhân gặp các vấn đề tuân thủ điều trị chủ yếu ởngười trẻ, nam giới cao hơn nữa giới, người có độ tuổi trẻ hơn lúc khởi phátbệnh có mức độ tự đánh giá cao hơn Để cải thiện sự tuân thủ, các chiến lượcđược khuyến nghị: đề nghị cũng cấp cho người bệnh những thông tin về bệnh
Trang 20vảy nến về điều trị, giúp người bệnh nhận ra các tác động liên quan đến xã hộitrong việc cải thiện tình trạng bệnh, cung cấp các tài liệu hướng dẫn để họ sửdụng như một kế hoạch chăm sóc, giải thích cho họ những tác dụng phụ củacác phương pháp điệu trị tại chỗ để người bệnh có thể lựa chọn điều trị và chú
ý đến tính thẩm mỹ trong phương pháp khi thực hiện Nghiên cứu cũng chothấy dữ liệu về tuân thủ điều trị tại chỗ là không đồng nhất và có rất ít Nângcao nhận thức và hướng dẫn rõ ràng về việc sử dụng thuốc là điều cần thiết đểcải thiện sự tuân thủ điều trị đối với bệnh vảy nến [13]
Trong một nghiên cứu của Gokdemir và các cộng sự về tầm quan trọngcủa tuân thủ điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh nhân vảy nến ởThổ Nhĩ Kỳ cho biết, trong 109 bệnh nhân bị bệnh vảy nến trong 8 tuần đượcthực hiện phỏng vấn để hoàn thành bộ câu hỏi, kết quả cho thấy 103/109 hoànthành, tỷ lệ tuân thủ điều trị đạt 75% Trong đó những người độc thân hoặc đã
ly hôn thực hiện tuân thủ điều trị cao hơn đáng kể so với những người lập giađình Mức độ hài lòng trung bình là 44,3% và sự tuân thủ ở nhóm người hàilòng cao hơn có ý nghĩa thống kê với những người không hài lòng Hai lý dochính của sự không tuân thủ điều trị là do quá bận (25,45%) hoặc chán nản(21,81%) [4]
Nghiên cứu của Bewley năm 2011 về phát huy tối đa sự tuân thủ điều trịtrong hiệu quả điều trị bệnh vẩy nến cho biết sự tuân thủ điều trị lâu dài củabệnh và những yếu tố xung quanh ảnh hưởng tới kết quả điều trị Bài viếtđược dựa trên một bài thuyết trình của các tác giả tại hội nghị tổ chức trongQuốc hội 19 tại Viện hàn lâm châu Âu về Da liễu năm 2010, tại GotthenBurg,Thụy Điển Việc tuân thủ dùng thuốc bôi là một vấn đề lớn trong bệnh vảynến Do tính chất của bệnh, người bệnh phải chịu đựng hình ảnh mất thẩm mỹ
và cảm thấy bị kì thị, đặc biệt khi bệnh vảy nến hiện nay được thể hiện rõ trên
Trang 21các biểu hiện lâm sàng có thể nhìn thấy rõ ràng Do đó, tác động tiêu cực củabệnh vảy nến đối với chất lượng cuộc sống là nguyên nhân dẫn tới các vấn đềtrong tuân thủ điều trị Việc giải quyết các khía cạnh tâm lý cũng quan trọngnhư việc điều trị triệu chứng bệnh Cải tiến các lĩnh vực liên quan đến quản lýbệnh viện có thể giúp ích trong việc nâng cao sự tuân thủ dùng thuốc nhằmtăng hiệu quả điều trị Bên cạnh đó cũng cho thấy điều dưỡng đóng vai tròquan trọng trong việc giáo dục người bệnh và cung cấp các dịch vụ chăm sócsức khỏe [14].
Một số nghiên cứu khác đã tiến hành việc tuân thủ điều trị kết hợp giữatuân thủ dùng thuốc và chế độ dinh dưỡng Nghiên cứu của Zaghloul SS,Goodfield MJ, nghiên cứu trên 201 bệnh nhân Mục tiêu của nghiên cứu nàynhằm đánh giá sự tuân thủ dùng thuốc và chế độ dinh dưỡng của bệnh nhân.Nghiên cứu được tiến hành tại phòng khám da liễu bệnh nhân ngoại trú bằngphỏng vấn trực tiếp Kết quả cho thấy 60,6% bệnh nhân nhận thức được tầmquan trọng của việc điều trị thuốc và chế độ dinh dưỡng Nghiên cứu nàycũng chỉ ra một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị như: Nữ giới, nhữngngười có việc làm ổn định và không phải trả tiền thuốc thì tuân thủ tốt hơn.Nguyên nhân chính làm bệnh nhân không tuân thủ là uống rượu, chán nảnđãng chí và quá bận rộn Nghiên cứu kết luận rằng một số yếu tố có liên quanđến xã hội có thể ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị bệnh bảy nến, có mối tươngquan nghịch giữa chất lượng cuộc số với yếu một số yếu tố thể chất và tinhthần cũng như nhận thức về tuân thủ điều trị bệnh vảy nến [5]
Trong một nghiên cứu của Chimenti MS và các cộng sự về sự tuân thủmột chương trình tập thể dục đối với các bệnh nhân viêm khớp vảy nến năm
2012 cho thấy, yếu tố hành vi sức khỏe có ảnh hưởng tích cực tới sức khỏe,chất lượng cuộc sống, sự điều trị của người bệnh vảy nến Hơn một nửa trong
Trang 22số tất cả các bệnh nhân bị viêm khớp vảy nến (PSA), kết hợp với suy giảmchức năng nặng và khuyết tật tâm lý xã hội Việc giáo dục người bệnh cóhành vi sức khỏe cụ thể có hiệu quả hơn trong việc khuyến khích bệnh nhân
để tăng cường hoạt động thể chất của họ Mục đích của nghiên cứu là đánhgiá những lợi ích của chương trình tập tại nhà dựa trên hoạt động bệnh và chấtlượng cuộc sống ở bệnh nhân MDA-PSA được điều trị bằng thuốc chống khối
u yếu tố hoại tử (TNF) và liệu pháp DMARD Các nhà nghiên cứu quan sátthấy một tỷ lệ tuân thủ tự khai tập thể dục tại nhà của 76,6% và số liệu chothấy tác động của các chương trình tập thể dục về sức khỏe tự báo cáo vàđánh giá tinh thần Một mối quan hệ tích cực giữa bệnh nhân và bác sĩ chuyênkhoa là rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng của các hoạt động, hỗ trợtinh thần, và tăng động lực trong bệnh nhân điều trị vảy nến [15]
1.4.2 Tại Việt Nam
Hiện nay, tai Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu về bệnh vảy nến tuy nhiênchúng tôi chưa tìm thấy có nghiên cứu nào liên quan đến sự tuân thủ điều trịcủa người bệnh mắc vảy nến
Năm 2014, tác giả Đinh Thị Phương đã nghiên cứu về tuân thủ điều trịcủa người bệnh điều trị vảy nến tại bệnh viện Da liễu Trung ương trên cỡ mẫu
200 đối tượng Kết quả nghiên cứu cho thấy, kiến thức đạt chung về tuân thủđiều trị của đối tượng nghiên cứu là không cao chiếm 40 5% trong đó: 34%bệnh nhân biết được cả 3 biện pháp điều trị bệnh vảy nến; 47 5% bệnh nhân
có kiến thức về hậu quả của việc không tuân thủ điều trị (biến dạng khớp vàcứng khớp); 62,0% bệnh nhân có kiến thức đúng về tuân thủ dùng thuốc; 69%bệnh nhân có kiến thức đúng về tuân thủ vệ sinh; 75 5% bệnh nhân có kiếnthức đúng về tuân thủ dinh dưỡng Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ đúng theo
Trang 23khuyến cáo về chế độ dinh dưỡng chiếm đa số là 62% Trong khi đó tỷ lệbệnh nhân tuân thủ đúng chế độ dùng thuốc và chế độ vệ sinh khá thấp (lầnlượt là 41% và 46 5%) Tổng hợp chung về tuân thủ điều trị của bệnh nhâncho thấy kết quả đạt tương đối thấp chỉ có 22 5% bệnh nhân tuân thủ cả 3biện pháp điều trị.Trong khi đó có tới 10% bệnh nhân không tuân thủ bất cứmột chế độ điều trị nào Có mối liên quan giữa số lần dùng thuốc trong ngàymức độ thường xuyên nh n được thông tin từ CBYT với tuân thủ dùng thuốc(p < 0 05) Có mối liên quan giữa giới trình độ học vấn các bệnh mạn tính đikèm mức độ thường xuyên nh n được thông tin từ CBYT với tuân thủ chế độdinh dư ng (p < 0 05) Có mối liên quan giữa giới trình độ học vấn mức độthường xuyên nh n được thông tin từ CBYT với tuân thủ vệ sinh (p < 0 05)[16].
Theo nghiên cứu của Phan Huy Thục và Phạm Văn Thức: Vảy nến là bệnh
da mạn tính, gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới Bệnh chiếm 1-4% dân số thế giới,khoảng 5-7% tổng số bệnh nhân da liễu đến khám tại các phòng khám da liễu.Sinh bệnh học bệnh vảy nến còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng nhưng đến nay đa
số các tác giả đều thống nhất vảy nến là bệnh có yếu tố di truyền và rối loạnmiễn dịch Bệnh được khởi động bởi nhiều yếu tố như stress, chấn thương,nhiễm khuẩn, thuốc, thời tiết, thức ăn… Bệnh có liên quan chặt chẽ đến thayđổi miến dịch tại mô tổn thương cũng như trong máu mà vai trò là các lympho
T, nhưng vai trò chủ yếu là Th1 Tổn thương cơ bản trong bệnh vảy nến là dát
đỏ, to nhỏ khác nhau từ các chẩm nhỏ có đường kính vài mm đến các tổnthương hàng chục cm đường kính Ranh giới tổn thương rõ với da lành, trên cóphủ vảy da trắng dễ bong Bệnh nhân thường ngứa ít, khoảng 20-40% cáctrường hợp, có thể ngứa tăng ở giai đoạn bệnh tiến triển mạnh do liên quan đếncác yếu tố khởi động gây kích thích tại chỗ làm bệnh khởi phát hoặc đợt tái
Trang 24phát mới Vị trí tổn thương hay gặp ở những vùng tỳ đè như mặt trước cẳngchân, mặt duỗi cẳng tay, đầu…thường có tính chất đối xứng [11].
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Trọng Hảo nghiên cứu 128 bệnh nhânvảy nến trong thời gian từ tháng 01/2011 đến 12/2014 cho thấy Tuổi khởiphát bệnh trung bình là 34,2 Có 10,9% (14/128) bệnh nhân có tiền sử giađình mắc bệnh vảy nến, trong đó 3,1% (4/128) có cha mắc bệnh, 1,6% (2/128)
có mẹ mắc bệnh và 6,3% (8/128) có anh chị em mắc bệnh Stress tâm lý làyếu tố thường gặp nhất gây khởi phát, tái phát hay làm vảy nến trở nặng,chiếm 43,8% (56/128) Tỷ lệ bệnh nhân vảy nến có rối loạn lipid máu là53,9% (69/128), trong đó tăng cholesterol là 25% (32/128), tăng TG là 25%(32/128), tăng LDL-C là 14,8% (19/128), giảm HDL-C là 21,9% (28/128) và
tỷ lệ cholesterol TP/HDLc > 5 là 20,3% (26/128) Ngoại trừ LDL-C, cácthành phần lipid còn lại đều có tỷ lệ rối loạn lipid máu cao hơn có ý nghĩathống kê so với nhóm chứng Nồng độ TG và tỷ lệ cholesterol TP/HDL-Cnhóm vảy nến cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng Không có mốiliên quan giữa nồng độ các loại lipid máu với những yếu tố như giới tính (ngoạitrừ HDL-C), thời gian bệnh, thể lâm sàng, BSA và PASI Thể lâm sàng: vảy nếnthông thường chiếm tỷ lệ cao nhất là 78,1% (100/128), các thể còn lại lần lượt làvảy nến đỏ da toàn thân 8,6% (11/128), vảy nến mủ 7% (9/128), viêm khớp vảynến 6,3% (8/128) Cách phân bố thương tổn: đối xứng 62,5% (80/128), ở dađầu 74,2% (95/128), móng 46,9% (60/128), vùng nếp gấp 3,1% (4/128) Cómối liên quan giữa độ nặng của bệnh (PASI) với thời gian mắc bệnh [17]
Trần Thị Minh Hoa khi nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cậnlâm sàng của bệnh viêm khớp vẩy nến chẩn đoán và điều trị tại khoa khớpbệnh viện Bạch Mai (2005-2010 Với mục tiêu khảo sát các đặc điểm lâm
Trang 25sàng, cận lâm sàng và chỉ định thuốc điều trị cơ bản của bệnh nhân viêm khớpvẩy nến Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chỉ định điều trị của 48bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị bệnh vẩy nến trong 5 năm (2005-2010)tại khoa Khớp Bạch mai được khảo sát Kết quả: 48 bệnh nhân viêm khớp vẩynến có tuổi 38,7+14,5, với bệnh nhân nam chiếm tỷ lệ 64,6% Có 29,2% bệnhnhân xuất hiện các triệu chứng viêm khớp ngoại vi trước khi có tổn thươngvẩy nến với 64,6% bệnh nhân viêm nhiều khớp, 45,8% bệnh nhân có viêmcác điểm bám gân, các bệnh nhân đều có bilan viêm dương tính và 60,4%bệnh nhân tăng acid uric máu, 66,7% bệnh nhân có viêm khớp cùng chậu.Thuốc điều trị cơ bản hay đựơc chỉ định nhất trong điều trị bệnh viêm khớpvẩy nến trong nghiên cứu này là methotrexat chiếm tỷ lệ 93,4% Như vậybệnh viêm khớp vẩy nến là một bệnh khá thường gặp trong nhóm bệnh lý cộtsống thể huyết thanh âm tính có các tổn thương đặc thù ở da và ở các khớpngoại vi [18].
1.5 Khái quát về Bệnh viện Da liễu Trung ương
Bệnh viện Da liễu Trung ương - số 15A, phố Phương Mai, Đống Đa, HàNội, là Bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về Phong- Da liễu của cả nước.Bệnh viện nằm cạnh bệnh viện Bạch Mai và các tuyến đường lớn nên giao thôngkhá thuận tiện Bệnh viện được xếp là bệnh viện hạng I nên theo quy định của Bộ
Y tế, Bệnh viện Da liễu Trung ương có 07 chức năng và nhiệm vụ chính, đó là:Khám, chữa bệnh; Đào tạo cán bộ; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến; Phòngbệnh; Hợp tác quốc tế và Quản lý kinh tế trong bệnh viện [19]
Trang 26Tiền thân của Bệnh viện Da liễu Trung ương là Khoa Da liễu của Bệnhviện Bạch Mai Vào tháng 03/2006, Bộ Y tế cho ra quyết định thành lập Viện
Da liễu Quốc gia trực thuộc Bộ Y tế Năm 2009, Viện Da liễu Quốc gia đượcđổi tên thành Bệnh viện Da liễu Trung ương trực thuộc Bộ Y tế [20]
Các hoạt động chính của Bệnh viện Da liễu Trung ương được thể hiện ởhình dưới đây:
Hình 1.3: Các hoạt động chính của Bệnh viện Da liễu TW.
Để thực hiện được các hoạt động trên, hiện tại Bệnh viện có các khoa phòng chức năng sau:
- Các phòng chức năng: gồm có các phòng là Phòng tổ chức cán bộ,Phòng Hành chính; Phòng đào tạo và nghiên cứu khoa học; Phòng hợptác quốc tế; Phòng chỉ đạo ngành; Phòng
- tài chính kế toán; Phòng kế hoạch tổng hợp, Phòng quản trị-vật tư vàthiết bị y tế, Phòng Điều Dưỡng, Phòng công nghệ thông tin và truyềnthông giáo dục y tế, Phòng Công tác Xã hội
Các hoạt động của Bệnh viện
Da liễu TW
Chỉ đạo tuyến, HTQ, NCKH, Đào tạo
Khám bệnh
da thông thường, điều trị nội trú
Các bệnh LTQĐTD HIV/AIDS
Phẫu thuật chỉnh hình, tạo hình, Laser
Tế bào gốc
và chống lão hóa da
Trang 27Laser-phẫu thuật (gồm có phòng bệnh nhân phong nội trú, phòng vật lýtrị liệu, UVA-UVB, phòng Laser, phòng phẫu thuật và phòng chăm sóc
da thẩm mỹ); khoa điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em; Khoa điều trịbệnh da nam giới, Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa Dinh dưỡng vàtiết chế
- Các khoa cận lâm sàng: Khoa dược; Khoa xét nghiệm (phòng Vi nấm, phòng giải phẫu bệnh, phòng huyết thanh, phòng sinh hóa-huyếthọc và phòng miễn dịch); Khoa Chẩn đoán hình ảnh
sinh-Các khoa phòng luôn thống nhất, phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau trong cáchoạt động tạo nên một dây chuyền khám, chữa bệnh nhuần nhuyễn, đem lạihiệu quả cao cho công tác chăm sóc sức khỏe, thỏa mãn nhu cầu của ngườibệnh
Trang 28Chương 2 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh được chuẩn đoán mắc bệnh vảy nến và đang điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương trong thời gian nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người bệnh được chuẩn đoán mắc vảy nến đang được điều trị và táikhám ít nhất lần thứ 2 trở lên tại bệnh viện Da liễu Trung ương
- Đảm bảo sức khỏe tâm thần bình thường, có khả năng giao tiếp và trảlời phỏng vấn
- Người bệnh đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh không đảm bảo sức khỏe tâm thần để tham gia nghiên cứu
- Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 12/2016 - Tháng 07/2017, thời gian thu
thập số liệu tại thực địa là từ 5/2017 đến 6/2017
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Da liễu Trung ương.
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng về kiến thức và thực hành về sự tuânthủ điều trị của người bệnh đang điều trị bệnh vảy nến Ngoài ra cũng các
Trang 29định một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ trong sử dụng thuốc như: yếu
tố cá nhân, kiến thức về bệnh hoặc tuân thủ điều trị
2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu.(cân nhắc phù hợp)
Sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ tất cả đối tượng nghiên cứu làngười bệnh vảy nến đang điều trị tại bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng12/2016 đến tháng 5/2017 tham gia nghiên cứu
Cỡ mẫu dự kiến: 300-350 người bệnh
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Các cuộc khảo sát định lượng được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực
tiếp đối tượng, sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc, được thiết kế sẵn (Phụ lục )
Bộ câu hỏi được tiến hành thử nghiệm trên 10 người bệnh đang điều trịvảy nến tại BV Da liễu TW bởi nhóm nghiên cứu Sau đó bộ câu hỏi đượchoàn chỉnh lại trước khi điều tra chính thức
Quy trình thu thập số liệu
- Tiến hành lập danh sách toàn bộ đối tượng có đủ tiêu chuẩn lựa chọntham gia nghiên cứu trong thời gian nghiên cứu
- Sau khi tiến hành tập huấn và thử nghiệm phiếu điều tra, điều tra viên(ĐTV) sẽ tiến hành phỏng vấn Sau khi kết thúc phỏng vấn, ĐTV nộp phiếucho giám sát viên kiểm tra chất lượng ngay tại thực địa vào cuối mỗi ngàyđiều tra
Trang 302.6 Các biến số nghiên cứu
Biến số, chỉ số cho mục tiêu 1: Mô tả kiến thức và thực hành về tuân
thủ điều trị vảy nến của người bệnh tại bệnh viện Da liễu Trung ương năm2017
Thông tin về đối tượng nghiên cứu: tuổi, dân tộc, nơi sống, trình độ họcvấn, thu nhập bình quân, số con
Kiến thức về tuân thủ điều trị: Kiến thức về tuân thủ dùng thuốc kiến thức
về tuân thủ chế độ ăn kiến thức về tuân thủ chế độ vệ sinh kiến thức về cácbiện pháp tuân thủ kiến thức về hậu quả không tuân thủ điều trị
Thực hành tuân thủ điều trị: Nhóm biến số về tuân thủ chế độ ăn, chế độdùng thuốc, chế độ vệ sinh
Biến số, chỉ số cho mục tiêu 2: Mô tả kiến thức và thực hành về tuân thủ
điều trị vảy nến của người bệnh tại bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2017
Nhóm biến số về một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thuốc:
- Biến phụ thuộc: thực hành về tuân thủ điều trị thuốc
- Biến độc lập:
o Cá nhân: tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, thunhập, BHYT