Một chuyên đề hay về các phương pháp điều trị mộng thịt. Chuyên đề có trích dẫn full Endnote tiện lợi làm tài liệu tham khảo cho sinh viên cao học y khoa. Chuyên đề gồm các phần: 1. Định nghĩa mộng thịt 1 2. Hình thái học của mộng thịt 1 3. Cấu tạo giải phẫu học của mộng thịt 2 3.1. Sự biến đổi lớp biểu mô kết mạc bên ngoài của mộng thịt 2 3.2. Sự biến đổi mô liên kết bên trong của mộng thịt 2 4. Điều trị nội khoa mộng thịt 3 5. Điều trị bằng phẫu thuật 3 5.1. Kỹ thuật cắt mộng lộ củng mạc trần 3 5.2. Ghép đầu mộng thịt 5 5.3. Kỹ thuật đóng kết mạc nguyên phát 5 5.4. Kỹ thuật nắp kết mạc xoay 5 5.5. Kỹ thuật ghép kết mạc tự thân 6 5.6. Kỹ thuật ghép tự thân vùng rìa kết mạc 9 5.7. Kỹ thuật ghép màng ối 12 5.8. Kỹ thuật ghép phiến giác mạc 13 5.9. Kỹ thuật ghép màng nhầy và ghép da 13 6. Điều trị hỗ trợ tái phát mộng thịt 14 6.1. Sử dụng thiotepa 14 6.2. Sử dụng Mitomycin C 15 6.3. Kỹ thuật laser 16 6.4. Sử dụng bức xạ tia beta 16 6.5. Sử dụng costicosteroid 17
Trang 31 Định nghĩa mộng thịt
Mộng thịt (MT) được định nghĩa là sự tăng sinh sợi mạch của kết mạc (KM) bị tổnthương, có dạng hình tam giác, đỉnh hướng vào trung tâm giác mạc (GM), và đáy hướng vềnếp bán nguyệt ở góc mắt trong, vượt qua vùng rìa vào GM ở vị trí 3 giờ và 9 giờ
2 Hình thái học của mộng thịt
Theo trình tự hướng từ GM ra KM, MT bao gồm các phần sau đây:
− Đỉnh mộng: Là mảng màu xám nhạt, vô mạch nằm trên biểu mô GM, có hình dạng như nửavầng trăng bao xung quanh đầu mộng Đỉnh mộng giúp xác định được mộng đang tiến triểnhoặc đang tình trạng ổn định Mộng đang tiến triển khi có những chấm loét biểu mô GM bắtmàu fluorescein, lớp chất nền bên dưới hơi mờ Mộng đang ổn định khi biểu mô không bắtmàu fluorescein, lớp chất nền bên dưới trong Đường Stocker là một đường dạng nửa vầngtrăng, màu vàng nâu ở phía trước đỉnh mộng Nó được hình thành bởi sự tích lũy sắc tố sắt ởmàng Bowman Đường này có ý nghĩa là sang thương mạn tính và không phát triển
− Đám Fuch: Là những chấm nhỏ màu xám đục, không đều nằm dưới biểu mô, trước đầumộng, được quan sát ở giai đoạn mộng thịt ổn định
− Đầu mộng: Là phần MT xâm nhập vào GM, màu trắng, gồ và dính chặt GM bên dưới Trongtrường hợp mộng ổn định, đầu mộng sát GM, màu trắng và rất ít mạch máu Trong trườnghợp mộng tiến triển, đầu mộng gồ lên, đỏ và có nhiều mao mạch nhỏ thông nối với mạchmáu rìa
− Cổ mộng: Là phần MT ở vùng rìa, nối với thân mộng
− Thân mộng: Là một nếp hay một dãi mô có nhiều mạch máu, có dạng hình thang trải vàogóc trong mắt đến nếp bán nguyệt, dễ tách khỏi lớp thượng củng mạc bên dưới Trongtrường hợp mộng ổn định, thân mộng hồng và gồ nhẹ, các mạch máu thẳng Trong trườnghợp mộng tiến triển, thân mộng đỏ và gồ dày, các mạch máu giãn và thông nối với nhau
3 Cấu tạo giải phẫu học của mộng thịt
Về mặt giải phẫu học, MT được cấu tạo bởi một lớp biểu mô KM bao phủ một cấutrúc nhiều mạch máu và mô liên kết dạng sợi lỏng lẻo bên trong Khi các cá nhân cảm nhiễm
Trang 4tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ như ánh sáng mặt trời, môi trường khô, bụi, hoặc các sangthương liên tục ở mắt sẽ có nhiều nguy cơ dẫn đến sự hình thành MT Khi đó tại vị trí bị tổnthương sẽ có sự biến đổi lớp biểu mô bên ngoài (mỏng đi hoặc đôi khi dày lên) đi kèm với
sự thoái hóa đàn hồi và khả năng bắt màu thuốc nhuộm kiềm của mô liên kết bên dưới lớpbiểu mô
3.1 Sự biến đổi lớp biểu mô kết mạc bên ngoài của mộng thịt
Nhiều nghiên cứu cho thấy trong cấu trúc của lớp biểu mô bao phủ bên ngoài MT tồntại những tế bào bất thường làm biến đổi cấu trúc của lớp biểu mô này Chính sự tồn tại củacác tế bào này với sự bất thường trong tăng sinh và biệt hóa tế bào làm cho lớp biểu mô bịbiến đổi về mặt hình dạng (dày lên hoặc mỏng đi) Một loại tế bào bất thường phổ biến tronglớp biểu mô MT chính là các tế bào biểu mô biến dạng nằm phân tán hoặc tập trung tạothành các tuyến ngay bên trong lớp biểu mô
3.2 Sự biến đổi mô liên kết bên trong của mộng thịt
Sự biến đổi mô liên kết bên trong MT phức tạp hơn rất nhiều so với lớp biểu mô kếtmạc bên ngoài Theo một số nhà khoa học, biến đổi đầu tiên của mô liên kết chính là hiệntượng trong suốt hóa cục bộ, một quá trình xảy trong đó các collagen bị thoái biến và vậtchất hạt được hình thành do sự thoái biến của các thành phần khác của mô liên kết Ngoài ra,các công trình nghiên cứu mô bệnh học còn cho thấy có sự hiện diện quá trình viêm tại môliên kết của MT cũng như các phản ứng miễn dịch trong suốt diễn tiến bệnh của MT Năm
1984, Pinkerton và cộng sự báo cáo sự thâm nhiễm của các tế bào lympho và các tế bàoplasma trong mô liên kết của MT và các kỹ thuật nhuộm fluorescence miễn dịch cho thấy có
sự hiện diện của cả IgG và IgE Các tác giả này cho rằng chính các yếu tố nguy cơ bên ngoàinhư bụi, bụi phấn gây tăng tiết IgG từ đó kích hoạt quá trình viêm nhiễm tại mô liên kết MT.Các tác giả khác cũng ủng hộ giả thuyết này và bổ sung thêm ánh sáng tia cực tím có thể gây
ra các tổn thương bề mặt nhãn cầu từ đó gây ra phản ứng viêm nhiễm dẫn đến hiện tượngtăng sinh bất thường sợi mạch, là cơ sở hình thành nên MT
4 Điều trị nội khoa mộng thịt
Có hai mục đích trong điều trị nội khoa là giảm triệu chứng và ngăn ngừa MT tiếntriển Nếu bệnh nhân có các triệu chứng khó chịu, rát, hoặc ngứa mắt có thể cho bệnh nhân
Trang 5sử dụng nước mắt nhân tạo Nếu các triệu chứng trên còn kèm theo tình trạng viêm nhiễm
MT, thì các thuốc corticosteroids chẳng hạn fluoromtholone 0,1% có thể được chỉ định dưới
sự giám sát của bác sĩ nhãn khoa Để ngăn ngừa MT tiến triển, một số tác giả đề nghị sửdụng các kính chống tia tử ngoại, hoặc mũ có lưỡi trai rộng
5 Điều trị bằng phẫu thuật
Chỉ định phẫu thuật chỉ áp dụng cho bệnh nhân khi có các dấu hiệu sau đây: nhãn cầu
bị kích thích quá độ không thể giảm thiểu bằng thuốc, MT gây mất thẩm mỹ nghiêm trọngcho bệnh nhân, loạn thị gây ảnh hưởng thị lực đáng kể, đe dọa ảnh hưởng đến vùng nhậnsáng, bệnh nhân mắc song thị
5.1 Kỹ thuật cắt mộng lộ củng mạc trần
Là phương pháp đơn giản được thực hiện bằng cách gọt và cắt đầu mộng khỏi vùngrìa GM, lấy đi thân mộng và mô sợi mạch dưới KM, để lại củng mạc trần tự do tăng sinhbiểu mô sau phẫu thuật Kỹ thuật này lần đầu tiên được D’Ombrain giới thiệu vào năm 1948.Trước đây nhiều nghiên cứu ủng hộ phương pháp này, tuy nhiên kết quả nghiên cứu không
đề cập đến tỷ lệ tái phát MT Chỉ có một nghiên cứu của Youngson khảo sát 100 ca cắt mộngđơn thuần và thấy rằng tỷ lệ tái phát lên đến 37% Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệtái phát có thể dao động từ 24 – 89% Chính vì khuyết điểm này nên hiện nay cắt mộng đơnthuần chỉ được dùng để phẫu thuật cho mộng nguyên phát độ 1-2, và giai đoạn mộng thoáitriển
Trang 6Hình 1 Cắt mộng lộ củng mạc
trần Phần GM xung quang MT được
rạch Đường rạch cần phải theo góc
cạnh và đủ sâu để bóc toàn bộ phần đáy
MT
Hình 2 Cắt mộng lộ củng mạc trần Đầu MT sau đó được nâng lên và cắt lát bằng dao phẫu thuật Phần củng mạc đáy cần được làm sạch
Hình 3 Cắt mộng lộ củng mạc
trần Đầu MT và phần mô sợi mạch bên
dưới được cắt hoàn toàn bằng kéo phẫu
thuật
Hình 4 Cắt mộng lộ củng mạc trần Phần thân MT cũng được cắt dần ởcạnh trên và dưới
Trang 7Hình 5 Các mạch máu nằm gần vùng ngoại biên phần củng mạc trần sẽ được đốt để tạo một vùng vô mạch kế GM
5.2 Ghép đầu mộng thịt
Một số kỹ thuật ra đời vào thế kỷ 19 chuyển hướng đầu của MT ra khỏi GM để ngănngừa tái phát MT Những thủ thuật này được thực hiện bằng cách tách đầu MT và sau đó vùiđầu MT dưới rìa KM Tuy nhiên những kỹ thuật này có tỷ lệ tái phát rất cao từ 30-75% Vìvậy những kỹ thuật ghép đầu MT hiện nay đã không còn được sử dụng vì cho tỷ lệ tái phátcao và thiếu thẩm mỹ
5.3 Kỹ thuật đóng kết mạc nguyên phát
Nguyên tắc của kỹ thuật này là sau khi cắt bỏ MT, phẫu thuật viên bóc phần KM khỏemạnh trên và dưới khu vực MT và sau đó đắp các cạnh đã cắt rời của KM khỏe mạnh lại vớinhau Thủ thuật này lần đầu tiên được thực hiện bởi Terson vào năm 1911 Thủ thuật này có
tỷ lệ tái phát dao động từ 2,1-88% Những bệnh nhân có độ tuổi < 40 và MT đang trong giaiđoạn tiến triển khi thực hiện thủ thuật này có thể sẽ có tỷ lệ tái phát cao
5.4 Kỹ thuật nắp kết mạc xoay
Kỹ thuật nắp KM xoay lần đầu tiên được thực hiện từ những năm 1940 Aratoon vàonăm 1967 báo cáo tỷ lệ của phương pháp này < 1% Tuy nhiên nghiên cứu của Aratoon lạikhông có nhóm chứng vì vậy không thể xác thực được tính giá trị của phương pháp này.Wilson và Bourne báo cáo một kỹ thuật nắp KM xoay mới dựa trên kỹ thuật của Stoker.Wilson và Bourne gọi kỹ thuật này là kỹ thuật nắp z tức là xoay đầu của một mảnh KM lànhđến vị trí thượng củng mạc trần sau cắt MT và xoay đầu MT đã được bóc tách vào vùng
Trang 8KM Mặc dù tỷ lệ tái phát không được báo cáo nhưng hai tác giả cho rằng kỹ thuật này cólợi điểm là có thể ngăn ngừa tái phát MT bằng cách sử dụng phần KM lành chặn ngang phầnrìa GM không co MT tái phát đồng thời vẫn giữa được mảnh KM lành để sử dụng cho các
kỹ thuật tự ghép KM Ngoài kỹ thuật nắp z, McCoombes báo cáo một kỹ thuật nắp trượt KMcho tỷ lệ tái phát chỉ 3.2%
Hình 6 Hình minh họa kỹ thuật nắp z được đề xuất bởi Wilson và Bourne
5.5 Kỹ thuật ghép kết mạc tự thân
Kỹ thuật ghép KM tự thân được sử dụng trong điều trị mộng tiên phát và thường dùngphối hợp với áp MMC 0.02% trong phẫu thuật trong vòng 2 phút để điều trị mộng tái phát.Phương pháp này được cho là khá an toàn và hiệu quả, là chuẩn vàng nếu so với các phươngpháp khác Thủ thuật này phục hồi tính thẩm mỹ cho bệnh nhân rất tốt
Trang 9Hình 7 Mắt bệnh nhân sau 8 tuần phẫu thuật ghép tự thân kết mạc
Thủ thuật bao gồm lấy một mảnh KM tự thân, thường là ở KM thái dương trên vàghép mảnh tự thân vào đáy củng mạc lộ ra sau khi đã cắt bỏ MT Quy trình thực hiện thủthuật như sau:
− Gây tê cục bộ phối hợp với thuốc nhỏ mắt (Sublingual Ativan (1 mg) + tetracaine 0.5%).Tetracaine có thể được sử dụng thêm trong lúc phẫu thuật nếu cần Nếu mắt có biểu hiện
di chuyển bất thường, có thể khâu cố định thượng củng mạc theo một hướng nhất địnhtrong quá trình phẫu thuật để giảm sự di động của mắt Đánh dấu vùng cần phẫu thuật
− Tách đầu mộng và thân mộng: sử dụng dao Beaver 69 hoặc 57 tách phần đầu mộng vớimục đích làm sạch hoàn toàn phần mô MT vô mạch cho đến lớp màng Bowman Sử dụngkéo Wescott để tách nông phần KM của MT, sau đó tách hoàn toàn phần thân KM Sửdụng dao Beaver 69 để làm sạch vùng rìa GM Đốt cầm máu nếu có xuất huyết Kíchthước của vùng củng mạc trần lộ được đo bằng compa Castrovejo
− Phẫu tích lấy mảnh ghép KM: Sử dụng kéo Wescott lấy một mảnh ghép KM mỏng vàkhông có lớp Tenon Khi tách mảnh ghép, đầu kéo Wescott cần được soi đèn để tránh gâytổn thương KM Mảnh ghép KM cần phải đủ lớn để khớp với vị trí củng mạc trần đã bộc
lộ
− Khâu mảnh ghép vào vùng mộng vừa cắt bằng chỉ nylon 10.0, khâu đúng rìa của miếngghép với vùng rìa GM vừa được cắt mộng, khâu vào lớp củng mạc, xác định mặt biểu mônằm trên
Trang 10Hình 8 Sau khi cắt MT, vùng GM
và vùng rìa được làm sạch bằng dụng
cụ đặc biệt
Hình 9 Vị trí lấy mảnh ghép là ở khu vực thái dương trên Mảnh ghép được bóc lên từ phía dưới bằng kéo Westcott
Hình 10 Quá trình bóc tách mảnh
ghép được thực hiện từ từ
Hình 11 Mảnh ghép KM tự thân được đặt vào vùng thân mộng Mảnh ghép được khâu bằng chỉ nylon 10-0
Mặc dù thủ thuật này mang lại kết quả rất tốt nhưng nó đòi hỏi phẫu thuật viên phải
có tay nghề cao Chính vì vậy tỷ lệ mổ thành công thường rất dao động, có thể rất thấp (2%)lên đến rất cao (39%) Biến chứng ít khi xảy ra, và để đạt kết quả tối ưu, Stark và cộng sựnhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc cắt bỏ cẩn thận mô Tenon từ mảnh ghép KM và đáycủng mạc ghép, phải xử lý khéo léo các mô và định hướng chính xác cho mảnh ghép [14].Lawrence và cộng sự khuyến cáo sử dụng đường mổ lớn trong việc cắt bỏ MT và dùngmảnh ghép lớn, kết quả cho thấy tỷ lệ tái phát rất thấp khi áp dụng kỹ thuật này [10]
Trang 11Ngoài thủ thuật ghép KM tự thân nguyên bản, hiện nay có một số thủ thuật cải tiếnkhác bao gồm ghép KM tự thân xoay và ghép KM tự thân hình khuyên.
5.6 Kỹ thuật ghép tự thân vùng rìa kết mạc
Vào năm 1989, Kenyon và Tseng lần đầu tiên mô tả hàng loạt ca ghép tự thân vùngrìa KM để điều trị bệnh bề mặt nhãn cầu một bên với kỹ thuật ghép lớp biểu mô vùng rìakhỏe mạnh của mắt còn lại không bị tổn thương vào vùng tổn thương bên mắt bị ảnh hưởng.Kết quả của nghiên cứu này mang tính khả quan vì bệnh nhân sau khi phẫu thuật có tỷ lệlành cao và tỷ lệ biến chứng thấp
Vào thập niên 1990, cấu trúc của vùng rìa GM và sự tồn tại của các tế bào gốc biểu
mô GM đã được công bố Đối với biểu mô GM, dân số tế bào gốc được định vị nhiều nhất ởrìa biểu mô Tác dụng của các tế bào gốc này là biệt hóa thành các tế bào tăng sinh và bù đắplại các tế bào bị mất ở biểu mô GM Đối với biểu mô KM, các tế bào gốc tồn tại và phân bốkhắp toàn bộ KM Sự chuyển tế bào gốc KM thành các tế bào tăng sinh KM chịu ảnh hưởngcủa mạch máu Như vậy tế bào gốc chỉ có ở biểu mô của KM và GM vùng rìa, chúng có khảnăng tăng sinh rất nhanh để phục hồi biểu mô giống GM và đồng thời ngăn chặn sự xâmnhập vào GM của biểu mô KM
Với sự tiên phong thành công của Kenyon trong việc thử nghiệm phương pháp ghép
tự thân vùng rìa và kiến thức về tế bào gốc tại vùng rìa, phương pháp ghép kết mạc rìa tựthân được chấp nhận và áp dụng rộng rãi trong điều trị nhiều tình trạng bệnh lý hốc mắt nhưphỏng do nhiệt hoặc hóa chất một bên mắt, ung thư tế bào vảy kết mạc, hội chứng Stevens –Johnson và trong đó có điều trị MT tiến triển hay tái phát[13] Sau khi điều trị cho MT táiphát, nhiều nghiên cứu nhận thấy phương pháp này còn có thể áp dụng trong điều trị MTnguyên phát
Theo Lucio Buratto, quy trình ghép kết mạc rìa tự thân trong điều trị mộng thịt gồmcác bước sau đây[11]:
− Đo kích thước ở cổ mộng ngay rìa GM bằng compa;
− Tách đầu mộng, thân mộng khỏi GM và thượng củng mạc;
− Làm sạch mô xơ, sợi mạch trên thượng củng mạc và vùng rìa, để lại lớp củng mạc láng;
− Bóc tách và lấy mô xơ, sợi mạch nằm dưới KM thân mộng bằng kéo tù;
Trang 12− Cắt thân mộng thịt rộng: cắt mô mộng phải lấy bỏ đủ rộng ở chu biên, không để sót tếbào mộng;
− Đốt cầm máu: hạn chế đốt nhiều, chỉ đốt ngay những điểm đang chảy máu vì đốt nhiều
sẽ tạo ra mô sẹo trầm trọng hoặc gây thiếu máu khu trú rìa;
− Phẫu tích lấy mảnh ghép KM: ở thái dương trên hoặc thái dương dưới Tiêm thuốc têdưới kết mạc (trên lớp Tenon) Bóc tách KM thật cẩn thận bằng kéo GM, lấy KM mỏng,không có lớp Tenon, không được rác, có dạng hình thang, kích thước vừa đủ, trung bình
là 6 – 8 mm Cắt mảnh ghép sát rìa trước GM bằng dao số 15, lấy đi một phần GM rìa.Nếu miếng ghép dày còn sót lớp Tenon dễ dẫn đến thất bại do co kéo miếng ghép, cuộn
bờ mảnh ghép trong giai đoạn hậu phẫu sớm làm lộ củng mạc trần ở bờ ghép, và dễ dẫnđến tái phát do thuận lợi cho KM trượt vào GM Mảnh ghép khi ghép xong phải kín,không có tồn tại các khe hở giữa các chỗ nối Mảnh ghép được làm rất nhẹ nhàng, cẩnthận, không để rách hoặc tổn thương mảnh ghép
− Khâu mảnh ghép vào vùng mộng vừa cắt bằng chỉ nylon 10.0, khâu đúng rìa của miếngghép với vùng rìa GM vừa được cắt mộng, khâu vào lớp củng mạc, xác định mặt biểu mônằm trên
Hình 12 Hình minh hoạc kỹ thuật ghép tự thân kết mạc vùng rìa
Mặc dù được cho là một kỹ thuật cải tiến của ghép KM tự thân, nhưng tỷ lệ tái phátcủa thủ thuật này vẫn tương tự như ghép KM tự thân Sau đây là một số nghiên cứu ở cả ViệtNam và thế giới về kỹ thuật ghép KM rìa tự thân và tỷ lệ tái phát kèm theo:
Trang 13Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường Xuân vào năm 2004 tại bệnh viện Mắt thànhphố Hồ Chí Minh trên 76 bệnh nhân bị MT nguyên phát với mục đích so sánh hiệu quả điềutrị của phương pháp ghép màng ối đông khô và ghép kết mạc rìa tự thân Kết quả nghiên cứucho thấy ở nhóm bệnh nhân ghép kết mạc rìa tự thân có tỷ lệ tái phát là 4,8%, trong khi tỷ lệnày ở nhóm ghép màng ối đông khô là 2,6% [3].
Nghiên cứu của Trần Tuấn Huy vào năm 2006 tại bệnh viện Mắt – Tai Mũi Họng –Răng Hàm Mặt tỉnh An Giang đánh giá phương pháp điều trị mộng thịt tái phát bằng ghép
KM rìa tự thân kết hợp áp và không áp Mitomycin-C Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ táiphát ở nhóm không áp Mitomycin-C là 28,1% còn ở nhóm áp Mitomycin-C là 6,1% [1]
Nghiên cứu của Đinh Thị Bích Thanh khảo sát hiệu quả của phẫu thuật ghép kết mạcrìa tự thân trên 199 bệnh nhân bị MT từ năm 2004 – 2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệbệnh nhân tái phát MT là 3,1% Không có biến chứng trầm trọng nào xảy ra trong mổ cũngnhư trong thời gian hậu phẫu Hầu hết bệnh nhân chỉ than phiền là có cảm giác xốn cộm như
dị vật và sợ sáng trong vài ngày sau khi mổ[2]
Nghiên cứu của Ahmed MAE vào năm 2006 tại Ai Cập khảo sát về hiệu quả củaphương pháp ghép kết mạc rìa tự thân Sau khi phẫu thuật cho bệnh nhân, có 3,3% bệnhnhân tái phát sau khi phẫu thuật 2 tháng Ngoài ra các bệnh nhân còn có các triệu chứng như
sợ ánh sáng, đau, nhạy cảm với vật thể lạ tuy nhiên tỷ lệ mắc rất thấp[4]
Nghiên cứu của Ashok KN tại Pakistan năm 2010 khảo sát các kết cục của phươngpháp ghép kết mạc rìa tự thân phiếm mỏng tự do kết hợp với Mitomycin – C Tỷ lệ tái pháttrong nghiên cứu này là 4,6% Các biến chứng quan sát được bao gồm u kết mạc (3,1%),hoại tử mảnh ghép (3,1%), phù nề mảnh ghép (4,6%), thay mảnh ghép (4,6%) Nghiên cứukết luận rằng phương pháp ghép kết mạc rìa tự thân phối hợp Mytomycin – C có thể làmgiảm tỷ lệ tái phát và các biến chứng sau phẫu thuật MT[5]
Nghiên cứu của Mashhoor năm 2002 tại Mỹ so sánh độ an toàn và hiệu quả củaphương pháp ghép kết mạc tự thân và ghép kết mạc rìa tự thân trong điều trị mộng tiến triển
và tái phát Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 3 năm theo dõi, có 33,3% bệnh nhân ghép kếtmạc tự thân có tái phát MT trong khi nhóm bệnh nhân ghép kết mạc rìa tự thân không có canào tái phát Kết luận của nghiên cứu là cả hai phương pháp đều hiệu quả trong điều trị các
ca MT tiến triển nguyên phát (p > 0,05) Tuy nhiên phương pháp ghép kết mạc rìa tự thânhiệu quả hơn phương pháp ghép tự do trong điều trị mộng tái phát[12]