Tuy vậy, phương thức soạn lập ngân sách theo khoản mục có những nhược điểm: i chỉ nhấn mạnh đến khâu lập ngân sách với các khoản chi tiêu có tính tuân thủ mà chính phủ đưa ra; ii sự phân
Trang 1QUẢN LÝ CHI TIÊU CÔNG
VÀ NỢ CÔNG
I CÁC PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ CHI TIÊU CÔNG
1 Khái niệm quản lý chi tiêu công
Quản lý chi tiêu công là một khái niệm phản ánh hoạt động
tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định của nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công nhằm cung cấp hàng hóa công tốt nhất cho xã hội.
thuộc tính vốn có khách quan của khâu tài chính công, phản ánh sự phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công của nhà nước
nước chi cho cái gì Còn quản lý chi tiêu công là hoạt động
có tính chủ quan của nhà nước trong việc tổ chức điều khiển quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công để
thỏa mãn nhu cầu Nói khác hơn, quản lý chi tiêu công trả lời câu hỏi nhà nước chi như thế nào.
2 Các phương thức quản lý chi tiêu công
Lập ngân sách là một công cụ quan trọng của quản lý chi
tiêu công, nó tạo nền tảng cho việc quản lý, phân bổ một
cách khôn ngoan các nguồn lực hạn hẹp của quốc gia và
đảm bảo việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực này nhằm
đạt được kết quả theo chiến lược mong muốn của chính
phủ.
trường đã có nhiều nỗ lực trong việc cải cách quản lý chi
tiêu công, đặc biệt là phương thức lập ngân sách để thực
hiện tốt việc kiểm soát, phân phối và sử dụng nguồn lực,
qua đó thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế – xã hội của
mình
Tập trung lại, cho đến nay nền kinh tế thế giới đã trải qua
sự lựa chọn các phương thức cải cách soạn lập ngân sách
trong quản lý chi tiêu công sau:
Quản lý ngân sách theo khoản mục
tiêu ngân sách được khoản mục hóa Những khoản mục này luôn luôn được chi tiết và định rõ số tiền cho một cơ quan cụ thể hoặc cho các tiểu mục được phép chi là bao nhiêu.
định cụ thể mức chi tiêu theo từng khoản mục chi tiêutrong quy trình phân phối ngân sách nhằm bắt buộc các cơ quan, đơn
vị phảichi tiêu theo đúng khoản mục quy định và cơ chế trách nhiệm giải trìnhchú trọng vàoquản lý các yếu tố đầu vào
soát thông qua việc tạo lập các quy trình cụ thể được thiết lập
để ngăn chặn việc chi tiêu quá mức
chi tiêu bằng việc so sánh dễ dàng với các năm trước thông qua việc ghi chép chi tiết các yếu tố đầu vào.
Tuy vậy, phương thức soạn lập ngân sách theo khoản mục
có những nhược điểm:
(i) chỉ nhấn mạnh đến khâu lập ngân sách với các khoản
chi tiêu có tính tuân thủ mà chính phủ đưa ra;
(ii) sự phân phối phối không trả lời được câu hỏi tại sao
tiền phải chi tiêu;
(iii) ngân sách chỉ được lập trong ngắn hạn (một năm);
(iv) không chú trọng đúng mức đến tính hiệu quả phân bổ
nguồn lực và hiệu quả hoạt động trong cung ứng hàng hóa
công
Nhiều cải cách ngân sách tiếp theo sau đó đã cố gắng khắc
phục những thiếu sót của hệ thống lập ngân sách theo khoản
mục Đầu tiên là tập trungquản lý chi tiêu công thông qua
tiếp cận phương thức lập ngân sách theo công việc thực
hiện,sau đótập trung vào chính sách và lập kế hoạch thông
qua việc lập ngân sách theo những chương trình đầy tham
vọng hơn
2.2 Quản lý ngân sách theo chương trình
Lập ngân sách theo chương trình thiết lập một hệ thống phân phối nguồn lực, gắn kết chi phí chương trình với kết quả của những chương trình đầu tư công
trình – một mục tiêu của chính sách công cùng với những bước cần thiết để đạt được nó
hơn là theo những mối quan hệ có tính tổ chức Lập ngân sách
hơn một năm ngân sách Thêm vào đó, lập ngân sách theo chương trìnhyêu cầu phải đo lường tính hiệu lực, nghĩa là đo lường đầu ra và tác động đến mục tiêu.
các quyết định phân phối ngân sách được đưa ra phù hợp với giá trị biên mà có thể có được từ việc thay đổi việc sử dụng những nguồn lực công
Trang 22.2 Quản lý ngân sách theo chương trình
niệm chương trình là khái niệm không hoàn hảo đối với ngân
sách, vìkhông thể tạo ra chương trình cho tất cả các tổ chức
để thực hiện;
chẽ giữa phân phối ngành và những mục tiêu chiến lược ưu
tiên;
Không gắn kết giữa việcthiết lập chương trình công với kế
hoạch chi tiêu thường xuyênđể sử dụng nguồn lực tài chính
công hiệu quả
Lập ngân sách theo chương trình tạo lập nền tảng cơ bản để
tiếp cận phương thức lập ngân sách theo kết quả đầu ra trong
quản lý chi tiêu
Quản lý ngân sách theo kết quả (hay còn gọi
là ngân sách thực hiện)
Lập ngân sách theo kết quả là bước kế tiếp và có tính phân tích hơn đối với phương thức lập ngân sách theo công việc thực hiện và lập ngân sách chương trình thông qua các tiến trình:
Xác định và đo lường chi tiết (nghĩa là đánh giá chi phí đầy đủ và xác định số lượng) và báo cáo những đầu ra (hàng hóa công) được tạo bởi các cơ quan nhà nước
nước và kết quả mong muốn đạt được theo chiến lược phát triển của chính phủ
Báo cáo công khai đầu ra then chốt dựa vào các chỉ tiêu thực hiện chương trình
Quản lý ngân sách theo kết quả (hay còn gọi là ngân sách thực hiện)
quan trọng cho sự lập ngân sách theo kết quả bằng việc
chuyển những báo cáo nhiệm vụ và kế hoạch chiến lược
của các cơ quan nhà nước thành:
và tiểu chương trình
chương trình
báo cáo một cách công khai
3 Chiến lược quản lý chi tiêu công
Khi chuyển sang lập ngân sách theo kết quả thì chính sách quản lý chi tiêu công của nền kinh tế hiện đại đã có những thay đổi quan trọng về chiến lược theo ba cấp độ nhằm tạo
ra một hệ thống ngân sách hoạt động có hiệu quả, đó là:
Kỷ luật tài chính tổng thể
Phân bổ và sử dụngnguồn lực dựa trên chiến lược ưu tiên
Tính hiệu quả và hiệu lựccủa các chương trình cung cấp hàng hóa công
Có thể nói, ba nội dung chiến lược trên là việc tái lập của
ba chức năng – kiểm soát những nguồn lực công, lập kế hoạch cho sự phân bổ nguồn lực, và quản lý nguồn lực –
mà vốn đã được định hướng trong cải cách quản lý chi tiêu công suốt hơn một thế kỷ qua
II NỢ CÔNG
1 Thiết lập mô hình
điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, can thiệp hợp lý và
đúng cách vào nền kinh tế theo hướng kích thích kinh tế
tăng trưởng, khắc phục những khiếm khuyết của cơ chế
thị trường, đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững, bảo
đảm sự công bằng và bảo vệ môi trường trong quá trình
phát triển
kinh tế tài chính vĩ mô, trong đó chi tiêu công là công cụ
quan trọng Trong trường hợp này, chi tiêu công không
thể chỉ bó hẹp trong phạm vi tổng thu trong cân đối được
Ngược lại, tùy bối cảnh cụ thể, nhà nước có thể chấp nhận
có bội chi ngân sách nhà nước
có thể kiểm soát được và sử dụng bội chi một cách hợp
lý, hiệu quả sẽ góp phần kích thích kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm, vừa tạo sự an toàn tài chính
tế đã được nhiều quốc gia áp dụng, mặc dầu mức độ thành công của mỗi nước khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể và khả năng vận dụng của từng nước Sự xuất hiện của bội chi trong trường hợp này là cần thiết, khách quan và chủ động
Trang 3Thật vậy, giữa nợ với tốc độ tăng GDP, tỷ lệ bội chi ngân
sách nhà nước và lãi suất vay nợ có mối quan hệ mật thiết:
Nếu gọi: i là lãi suất đi vay thực
D t: số nợ thực vào đầu năm t
Y t : số GDP thực ở năm t.
g y : tốc độ tăng trưởng GDP.
d t : là tỷ lệ nợ so với GDP năm t ( t
t t D d Y
)
Xét vào đầu năm (t + 1), ta có:
D (t+1) = (1 + i)D t + (B × Y t )
và chia hai vế cho (1 + gy)Yt
(t 1) t t
(t 1)
d
t
( t 1)
d
Suy ra:
Nếu nhà nước muốn ổn định tỷ lệ nợ so với GDP, khi đó:
d(t+1)= dt= d
Biến đổi công thức trên ta có:
y
B d
g i
Dựa vào đẳng thức trên ta thấy, tùy theo tốc độ tăng trưởng kinh tế và lãi suất vay nợ trên thị trường, nhà nước có thể
quyết định mức bội chi để ổn định tỷ lệ nợ vay/GDP Tuy
nhiên, theo số liệu thống kê và kinh nghiệm điều hành ngân sách nhà nước ở nhiều quốc gia, mức thâm hụt ngân sách
nhà nước không nên vượt quá 5% GDP Con số này được
đưa ra dựa trên cơ sở sau:
Từ công thức: (S – I) + (T – G) = (X – M), chia cả hai vế cho GDP, chúng ta có phương trình sau:
S: tiết kiệm tư nhân I: đầu tư tư nhân G: chi tiêu công T; tổng thu thuế
Kinh nghiệm quản lý ở các nước Mỹ Latinh những năm 80,
ở các nước Châu Á những năm 90 cho thấy:nếu tỷ lệ thâm hụt
cán cân ngoại thương khủng hoảng cán cân thanh toán quốc
tế
Còn đối với cân đối (S – I) tức là chênh lệch giữa tiết kiệm
và đầu tư của khu vực tư nhân nên nhà nước khó kiểm soát
một cách trực tiếp; trong khi nhà nước chỉ có khả năng kiểm
soát chặt chẽ cân đối (T – G)
Do vậy, để tạo sự chủ động và thận trọng nhằm kiểm soát
được cán cân ngoại thương, thâm hụt ngân sách nhà nước
không được vượt quá 5% GDP.
Tuy nhiên trên thực tế, tùy tình hình cụ thể của mỗi quốc
gia về khả năng kiểm soát tiết kiệm và đầu tư của khu vực tư
thì 5% GDP thâm hụt cán cân ngoại thương cũng như thâm
hụt ngân sách nhà nước không phải là giới hạn quá “cứng”
Để kiểm soát tỷ lệ thâm hụt/GDP thì mức thâm hụt dự
kiến phải tạo ra mức gia tăng nhu cầu tiêu dùng hoặc đầu tư trực tiếp để kích thích và làm tăng năng lực sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy kinh tế tăng trưởng
Muốn vậy,bội chi ngân sách nhà nước nên được sử dụng vào những công việc khởi đầu của một loạt chu
kỳ sản xuất kinh doanh liên tiếp Lúc này thâm hụt có tác dụng đưa nền kinh tế vào một vòng xoáy tích cực của các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều công ăn việc làm mới, gia
tăng quy mô GDP Nói cách khác, thâm hụt nên được sử dụng cho chi đầu tư phát triển
2 Quan hệ giữa bội chi ngân sách và nợ công
Theo Anwar Shah (2006), mối quan hệ giữa bội chi ngân
sách nhà nước và nợ công có thể biểu thị qua phương trình
số học dưới đây:
e e d d
t t t 1 t t 1 t t 1 t t
e
t
B
d
t
B
t t t 1 t 1 t t 1 t 1 t t 1 t 1 t 1 t t 1 t t
t t t t t 1 t 1 t 1 t t t t t 1 t 1 t t t t t t
PY PY E P Y PY PY P Y PY PY PY
là tổng nợ trong nước tính bằng đồng ngoại tệ,
Etlà tỷ giá hối đoái,
có:
d
t
B
e
e t t t
t t
E B b
P Y
t
t t B b
P Y
t
t t
D d
P Y
t t
X x
P Y
t
t t
s
P Y
Chúng ta đặt:
;
;
;
;
Và gọi g là tỷ lệ tăng trưởng GDP danh nghĩa, tỷ lệ lạm phát
và tỷ lệ mất giá tiền tệ danh nghĩa Sau đó thay các tham
số này vào phương trình trên và thực hiện một vài phép biến đổi có thể viết lại phương trình mối quan hệ giữ bội chi và nợ công như sau:
g
Trong đó, b tlà tỷ lệ nợ (nợ trong nước và nợ nước ngoài) so với GDP Sự
thay đổi tỷ lệ nợ so với GDP có thể tách ra thành 6 thành tố:
Đóng góp tăng trưởng (A);
Thay đổi tỷ giá hoái đoái (B);
Lạm phát trong nước (C);
Bội chi ngân sách nhà nước (D);
Thu từ phát hành tiền (E);
Chi tiêu ngoài ngân sách (F).
Trang 4Từ sự phân tích trên cho thấy, về mặt lý thuyết, bội chi ngân
sách chỉ là một trong sáu nhân tố đóng góp đến sự tích lũy gánh
nặng nợ của chính phủ.
Câu hỏi đặt ra là, sự đóng góp bội chi ngân sách nhà
nước đến sự tích lũy nợ của chính phủ có liên quan gì đến các
yếu tố khác Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể tiếp cận đến
khái niệm bội chi ẩn – đo lường những thay đổi về gánh nặng
nợ của chính phủ ngoài phát hành tiền và bội chi ngân sách Bội
chi ẩn được tính bằng tổng cộng của ba thành tố: B + C + F.
(Đóng góp tăng trưởng (A); Lạm phát trong nước (C); Chi tiêu
ngoài ngân sách (F)).
Để đánh giá thâm hụt ẩn như đã được định nghĩa ở trên,
chúng ta ước lượng mức giả thiết nợ công mà Chính phủ tích
lũy sẽ không có khoản lời hay lỗ vốn từ các công nợ của Chính
phủ (do lạm phát, giảm giá tiền tệ…) và không phải gánh chịu
bất kỳ khoản chi tiêu nào ngoài phạm vi ngân sách Vì vậy,
chúng ta đặt = 0; є = 0 và x1= 0, rồi viết lại phương trình trên
1
Trong đó là tỷ lệ nợ công giả thiết mà Chính phủ phải gánh
chịu (nếu như thâm hụt và phát hành tiền quá khứ chỉ là 2
nguồn duy nhất tài trợ nợ) Lưu ý g là tỷ lệ tăng trưởng GDP
danh nghĩa;lập lại theo thời gian để diễn tả như đầu, tất cả chia cho sản lượng hiện hành:
h t b
h t b
t 1 t 1 h
t 1 t 1
1
Y
Nợ ẩn tích lũy lại được tính bằng tỷ lệ nợ thực tế trừ đi tỷ lệ nợ công giả thiết/dự báo Trên cơ sở đó, có thể tính đóng góp thâm hụt ngân sách và phát hành tiền đến tổng số nợ bằng việclấy tỷ lệ
nợ công giả thiết chia cho tỷ lệ nợ thực tế Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, các nước phát triển đóng góp thâm hụt và phát hành tiền đến tổng nợ hơn 65% (1979 – 1996), còn ở các nước đang phát triển thì khác nhau, như Philippines: 77%; trong khi Hàn Quốc và Thái Lan: 26% (1976 – 1996)
Dtlà thâm hụt ngân sách
Htthu phát hành tiền được tính bằng đồng nội tệ
B : tỷ lệ bội chi ngân sách/GDP
3 Nguồn gốc nợ ẩn của Việt Nam
Đối với Việt Nam, từ năm 1997 đến nay Chính phủ đã loại trừ
cơ chế phát hành để cân đối ngân sách, cho nên quy mô nợ ẩn
của Việt Nam không chịu ảnh hưởng bởi nguồn phát hành tiền
Trong khi đó, có một số yếu tố có thể đóng góp đến thâm hụt
ẩn của Việt Nam, về cơ bản đó là nợ bất thường và ngầm định:
chi phí tái cấu trúc ngân hàng, doanh nghiệp; chi phí xử lý các
khoản nợ bất thường; khoản lỗ do tăng/giảm giá ngoại tệ từ
ngân sách; các khoản hỗ trợ, trợ cấp từ các chương trình cổ phần
hóa… Kiểm soát nợ ẩn cũng nghĩa là kiểm soát các khoản nợ
ngầm định, bất thường
Sự không minh bạch của Ngân hàng Nhà nước và hệ thống
báo cáo tài chính ảnh hưởng không nhỏ đến kiểm soát các khoản
nợ ngầm định nợ bất thường
Tính chất ràng buộc Nợ trực tiếp Nợ bất thường Công khai:
Nợ của chính phủ được xác lập bởi Luật pháp
Nợ trong nước và ngoài nước của chính phủ.
Các khoản chi theo Luật NSNN.
Các khoản lương hưu theo Luật định.
Bảo lãnh của chính phủ đối với DNNN.
Những khoản bảo lãnh khác.
Các khoản trợ giá (xăng dầu, điện nước…)
Ngầm định:
Các khoản ràng buộc có tính đạo đức và sức ép từ phía công chúng.
Các khoản chi thường xuyên trong tương lai liên quan đến khu vực công.
Chương trình an sinh xã hội không theo Luật định (người già yếu và trẻ em không nơi nương tựa).
Chi chăm sóc y tế không theo Luật định.
Các khoản viện trợ quốc tế.
Các khoản tài trợ cho các đơn vị thuộc khu vực công.
Tài trợ các khoản lỗ cho các công
ty nhà nước (cà phê, cao su…)
Các khoản tài trợ cho cơ quan liên đoàn lao động, Đảng cộng sản Việt Nam…
Các khoản hỗ trợ nhân đạo.
Chi phí môi trường.
Chi phí cổ phần hóa DNNN.
Các khoản hỗ trợ thiên tai vượt quá quỹ dự trữ nhà nước.
Hỗ trợ khu vực tư.
CÁC RÀNG BUỘC NGHĨA VỤ NỢ CỦA CHÍNH PHỦ
Hậu quả của một khoản thâm hụt lớn rất khó đo
lường, trong khi việc đo lường đó có tầm quan trọng
tiềm tàng Và ngay cả nếu chúng ta biết chính xác hậu
quả là gì thì những hàm ý của chính sách nợ còn phục
thuộc vào quan niệm đạo đức liên quan đến việc phân
phối thu nhập giữa các thế hệ.
Từ những xem xét trên, việc đánh giá các hoạt động
kinh tế của khu vực công chỉ dựa vào đánh giá quy mô
bội chi thì không đủ ý nghĩa.
Điều quan trọng hơn là liệu mức độ dịch vụ do
chính phủ cung cấp có tối ưu không, đặc biệt là phải
xem xét tới chi phí bảo đảm các nguồn lực cần có để
cung cấp những dịch vụ này
III QUẢN LÝ NỢ CÔNG
Nợ công vừa là kết quả của tình trạng bội chi ngân sách, vừa có thể là nguyên nhân là gia tăng bội chi ngân sách trong tương lai.
Bội chi ngân sách và nợ công có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Bội chi ngân sách gia tăng sẽ làm gia tăng nợ chính phủ và nợ công Và ngược lại, quản lý nợ công không tốt sẽ làm gia tăng các khoản nợ bất thường, tạo ra áp lực không nhỏ làm gia tăng bội chi ngân sách nhà nước trong dài hạn.
Trang 5Quản lý nợ công là một tiến trình lập và thực hiện chiến
lược quản lý nợ của một quốc gia nhằm tạo được lượng vốn
theo yêu cầu, đạt được các mục tiêu về rủi ro và chi phí cũng
như các mục tiêu khác mà nhà nước đặt ra
Trong khuôn khổ kinh tế vĩ mô, vấn đề quan trọng nhất
của quản lý nợ công là chính phủ phải đảm bảo quy mô và
tốc độ tăng trưởng của nợ công phải bền vững, có khả năng
thanh toán trong nhiều tình huống khác nhau mà vẫn đáp ứng
được các mục tiêu về rủi ro và chi phí
Xét về phương diện cấu trúc, quản lý nợ công bao gồm hệ
thống các yếu tố sau:
Chủ thể quản lý
Đối tượng quản lý
Mục tiêu quản lý
Công cụ quản lý
Khuôn khổ và thể chế quản lý
2 Ý nghĩa quản lý nợ công
hòa tối ưu về mục đích với các bộ phận của chính sách kinh tế vĩ mô.
- Cải thiện tình trạng của cán cân thanh toán quốc tế
- Ổn định kinh tế – tài chính trong nước
Tạo sựphối hợp nhịp nhàng và sự dung hòa tối ưu về mục đích
với các bộ phận của chính sách kinh tế vĩ mô
Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền
tệ với chính sách quản lý nợ công là hết sức cần thiết Hậu quả
của các chính sách kinh tế vĩ mô không hợp lý thường đem lại
những cơ cấu nợ đầy rủi ro; ngược lại, chính sách quản lý nợ
công cũng ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách tài khóa, chính
sách tiền tệ
Chẳng hạn, chính sách quản lý nợ công kém có thể làm cho nợ
công gia tăng
Vay nợ tạo áp lực buộc nhà nước phải tăng thuế trong tương lai
để trả nợ vay, gây tổn thất về tính hiệu quả của việc đánh thuế
Chính sách quản lý nợ công tốt có thể tạo điều kiện thiết lập và
duy trì thị trường chứng khoán nhà nước hiệu quả Điều này một
mặt làm giảm thiểu rủi ro và chi phí trong quản lý nợ công trung
và dài hạn; mặt khác giúp chính phủ có cơ sở tài trợ chi tiêu của
mình mà không cần dựa vào NHTW để bù đắp bội chi ngân sách
nhà nước
Trong một số trường hợp, mâu thuẫn giữa chính sách quản lý nợ công và chính sách tiền tệ cũng có thể nảy sinh do có những mục đích khác nhau – quản lý nợ tập trung vào việc hóa đổi giữa chi phí và rủi ro, trong khi chính sách tiền tệ lại hướng tới đạt được sự ổn định về giá cả
Ví dụ, ngân hàng trung ương muốn chính phủ phát hành những khoản nợ dựa theo tỷ lệ lạm phát, hoặc vay bằng đồng ngoại tệ để tạo sự tin cậy đối với đồng nội tệ, nhưng các nhà quản lý nợ lại tin rằng các khoản nợ bằng ngoại tệ có thể tạo ra rủi ro lớn hơn cho công nợ
Chính sách quản lý nợ công tốt sẽ tạo điều kiện để dung hòa tối ưu mâu thuẫn nói trên
Cải thiệntình trạng của cán cân thanh toán quốc tế
Chính sách quản lý nợ công ảnh hưởng trực tiếp đến mức vay nợ
nước ngoài Nếu mức vay nợ nước ngoài gia tăng trước mắt sẽ làm
cho đồng nội tệ tăng giá, từ đó gây bất lợi đến hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu lại tăng do giá hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn, kết
quả là làm trầm trọng hơn tình trạng của cán cân vãng lai
Còn xét về lâu dài, gia tăng vay nợ nước ngoài sẽ tạo áp lực lớn
đối với cán cân thanh toán quốc tế và nguy cơ khủng hoảng nợ
Mặc dầu chính sách quản lý nợ công chưa hẳn đã là nguyên nhân
duy nhất, thậm chí chưa hẳn là nguyên nhân chính đưa đến các
khủng hoảng nợ, nhưng cơ cấu nợ bất hợp lý đã góp phần làm cho
những khủng hoảng này thêm trầm trọng
Ngay cả khi có môi trường chính sách kinh tế vĩ mô tốt, các
biện pháp đầy rủi ro trong quản lý nợ công cũng sẽ làm tăng khả
năng tổn thương của nền kinh tế đối với các cú sốc kinh tế – tài
chính từ bên ngoài
Ổn địnhkinh tế – tài chính trong nước Khủng hoảng kinh tế tại nhiều nước cho thấy, nợ không được cơ cấu tốt về thời hạn thanh toán, tiền tệ và lãi suất, cùng các công nợ bất thường và không có nguồn chi trả là
một trong những nguyên nhân quan trọng.
Trên thực tế, dù ở cơ chế lãi suất nào, dù vay nợ bằng ngoại tệ hay nội tệ, khủng hoảng thường nảy sinh khi nhà nước quá tập trung vào việc tiết kiệm chi phí đối với một lượng lớn các khoản vay ngắn hạn
Và kết quả là uy tín tín dụng của quốc gia bị giảm sút khi phải chuyển hạn nợ Tương tự như thế, phụ thuộc quá nhiều vào nợ bằng ngoại tệ có thể dẫn đến những áp lực và tỷ giá và tiền tệ Mặt khác, nợ công thường là danh mục nợ lớn nhất của một quốc gia, ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định tài chính trong nước
Trang 6Quản lý nợ công không hợp lý, chính phủ vay nợ trong
nước quá nhiều thì phần vốn cung ứng cho khu vực doanh
nghiệp và dân cư sẽ giảm sút
Hậu quả là gây ra sự mất cân đối trong đầu tư giữa khu vực
công và khu vực tư; mặt khác, sẽ làm lãi suất tín dụng tăng
lại chèn ép đầu tư của khu vực tư
Chính sách quản lý nợ công tốt có thể làm giảm sự lây
nhiễm và rủi ro tài chính thông qua việc tạo điều kiện phát
triển thị trường tài chính
Chẳng hạn, thị trường các chứng khoán nợ trong nước phát
triển có thể thay thế cho tài trợ từ ngân hàng khi nguồn này
cạn đi và ngược lại, giúp cho nền kinh tế có thể chịu được
các cú sốc về tài chính
Do nợ công tác động lớn đến cán cân thanh toán quốc tế, sự ổn định tài chính quốc gia, tính hiệu quả của chính sách tài khóa và tiền tệ, nên quản lý nợ công trở nên chính sách được ưu tiên hàng đầu đối với nhiều nền kinh tế đang chuyển đổi từ những năm đầu của thập niên 80.
Khi khủng hoảng nợ xảy ra vào năm 1982, chính phủ của nhiều nền kinh tế thực hiện chính sách quản
lý nợ công với đặc điểm nổi bật là tập trung kiểm soát nợ nước ngoài trung và dài hạn trực tiếp của khu vực công, ít có chú ý đến việc kiểm soát khoản
nợ bảo lãnh cho khu vực tư và các khoản nợ ngắn hạn.
Cách tiếp cận này đã không còn phù hợp vào những năm 90,
đặc biệt vào những năm cuối thập niên 90, khi môi trường tài
chính quốc tế có nhiều thay đổi
Nếu như trước đây, khối lượng và kỳ hạn các khoản nợ của
khu vực tư tùy thuộc vào sự ràng buộc của chế độ kiểm soát
ngoại hối; sự vay mượn nợ chỉ được tiến hành sau khi các hợp
đồng nợ được phê chuẩn của cấp có thẩm quyền, thì vào những
năm cuối của thập niên 90, các nền kinh tế lại dần chuyển sang
thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn, loại bỏ sự kiểm
soát và chấp nhận nợ nước ngoài của khu vực tư Các cuộc khủng
hoảng tài chính – tiền tệ Mêhicô, Đông Á năm 1997, Nga, Brasil
và đặc biệt là ở Áchentina trong những năm gần đây lại càng làm
cho chính phủ các nền kinh tế nhận thấy rằng, để chính sách quản
lý nợ công có hiệu quả cần phải quản lý nợ của cả khu vực công
và khu vực tư
Chính phủ phải chịu trách nhiệm đối với sự vay mượn nợ của khu vực công và khu vực tư
Chính phủ phải chịu trách nhiệm đối với sự vay mượn nợ của khu vực tư bởi vì sự vỡ nợ sẽ ảnh hưởng đến thứ tự xếp hạng tín nhiệm của quốc gia
Chính phủ cần phải dự tính tổng số nợ nước ngoài của khu vực tư không được bảo lãnh Mức độ nợ bất thường cũng là mối quan tâm lớn của nhiều chính phủ sau cuộc khủng hoảng
Đây là những khoản nợ nảy sinh do những tình thế không lường trước Chính sách tự do hóa của chính phủ sẽ làm gia tăng nợ của khu vực tư và kéo theo đó là sự gia tăng các khoản nợ bất thường
Nói tóm lại, với sự loại bỏ chính sách kiểm soát
vốn, khu vực công tư có nhiều cơ hội lựa chọn
gia tăng nguồn vốn từ thị trường trong nước và
ngoài nước; thị trường trong nước phát triển đầy
đủ hơn, có nhiều công cụ vay mượn nợ.
Những thay đổi này loại trừ sự phân biệt nợ
trong nước và ngoài nước và làm cho chính sách
quản lý nợ quốc gia nói chung và nợ công nói
riêng được quan tâm nhiều hơn.
3 Khuôn khổ quản lý nợ công
và sự phối hợp giữa các chính sách
trong quản lý nợ công
ALM (Assets and Liabilities Model)
Trang 7- Xác lập mục tiêu quản lý nợ công
Xác lập mục tiêu quản lý nợ công là một trong
những nội dung quan trọng của khuôn khổ quản lý nợ
công vì nó sẽ định hướng cho hoạt động quản lý, tạo
cơ sở để phối hợp chính sách quản lý nợ công với
chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
Theo kinh nghiệm của các nước trong tổ chức
OECD, có bốn mục tiêu mà quản lý nợ công cần phải
đạt được:
Đảm bảo nguồn lực tài trợ nhu cầu vốn của chính
phủ.
Giảm thiểu chi phí vay nợ.
Kiểm soát rủi ro ở mức chấp nhận được.
Hỗ trợ phát triển thị trường tài chính trong nước.
Thật ra, cùng một lúc khó mà đạt được tất cả các mục tiêu quản
lý nợ công đối với mọi nền kinh tế Các nền kinh tế phát triển,
do đã tiếp cận và hội nhập hoàn toàn vào thị trường vốn quốc tế, thị trường vốn nội địa phát triển ở trình độ cao, nên bốn mục tiêu trên là có khả năng đạt được
Còn đối với các nền kinh tế đang phát triển, tùy theo trình độ phát triển kinh tế và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế mà chính phủ có thể lựa chọn các mục tiêu quản lý nợ công cho thích hợp
tiên hàng đầu là tìm kiếm và huy động các nguồn lực tài chính
để thỏa mãn nhu cầu vốn của khu vực công ở mức chi phí thấp nhất
Khi tiếp cận thị trường vốn quốc tế, mục tiêu cần phải tập trung
là quản lý rủi ro Đến khi thực hiện chính sách tự do hóa tài chính, thì mục tiêu ưu tiên lúc này là tăng cường và phát triển độ sâu thị trường vốn trong nước để tạo nên sự ổn định và phát triển bền vững
- Sự phối hợp giữa chính sách quản lý nợ công với chính sách
tài khóa và chính sách tiền tệ
+ Giữa bộ phận quản lý nợ công, cơ quan tài chính và ngân
hàng trung ương nên có sự hợp tác và chia sẻ với nhau về mục tiêu
quản lý nợ, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong sự
tương tác lẫn nhau giữa các công cụ chính sách Ngân hàng trung
ương cần nắm rõ thông tin về mức độ ảnh hưởng của nợ công đến
việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ Vay nợ có giới
hạn và thực hiện chính sách quản lý rủi ro nợ hợp lý sẽ giúp cho cơ
quan tài chính giữ vững sự cân đối nguồn lực, duy trì khả năng trả
nợ quốc gia
+ Cần tăng cường tính độc lập giữa chính sách tiền tệ và quản lý
nợ để giảm thiểu những mâu thuẫn tiềm ẩn Nếu như nhu cầu vay
nợ chủ yếu dựa vào quy mô bội chi của chính sách tài khóa và nhu
cầu phát triển kinh tế, thì chính sách tiền tệ cần phải thực hiện một
cách độc lập với chính sách quản lý nợ và chính sách tài khóa để
khắc phục những hạn chế hay sai lầm do các chính sách này gây
ra
+ Bộ phận quản lý nợ, cơ quan tài sản và ngân hàng trung
ương nên thường xuyên chia sẻ thông tin về nhu cầu thanh toán nợ trong hiện tại và tương lai của chính phủ.
Chính sách tiền tệ chủ yếu được tiến hành thông qua phối hợp sử dụng các công cụ tài chính (tín phiếu, trái phiếu chính phủ…) và hoạt động thị trường nợ của chính phủ
Từ đó, việc lựa chọn công cụ và cách thức thực thi chính sách tiền tệ sẽ ảnh hưởng tới thị trường nợ chính phủ Ngược lại, để điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả, ngân hàng trung ương phải nắm bắt những luồng tài chính ngắn hạn và dài hạn của chính phủ
Điều này cũng có nghĩa là, các cán bộ quản lý nợ, tài khóa
và tiền tệ phải gặp gỡ để thảo luận những vấn đ ề chính sách
và chia sẻ thông tin để có sự phối hợp nhịp nhàng
- Đối với nợ trong nước
Được dự báo chủ yếu dựa vào phân tích quy mô bội chi ngân
sách hàng năm (Bd) trên cơ sở phân tích 2 tham số:
d
trungöông
B
2
vay nợ trong nước để cân đối ngân sách trên cơ sở quán triệt
quan trọng
.
1
d
ñòa phöông
B
phương được giới hạn trong phạm vi mà Luật Ngân sách
nhà nước quy định (không quá 30% chi đầu tư của địa
phương trong năm)
Vậy, công thức dự báo nợ công trong nước dựa vào bội
chi ngân sách được xác định như sau:
t trung öông t 1 t trung öông t ñòa phöông t
liên quan đến nợ ngầm định/nợ ẩn mà chính phủ phải có trách nhiệm chi trả cuối cùng Thông thường, khoản chi này được dự toán 5% nợ công trong nước
t 1
D
- Đối với nợ nước ngoài
Có nhiều phương pháp để dự báo, nhưng có lẽ đơn giản nhất là mô hình Harrod-Domar Mô hình được sử dụng nhiều trong tính toán của các chuyên gia IMF, WB dự báo
ICOR
Y
K
Y
:Tỷ lệ đầu tư so với sản lượng ICOR: Tỷ lệ gia tăng tư bản – đầu ra (sản lượng)
Trang 8Trong nền kinh tế mở: I = S + (T – G) + (EX – IM) với S: tiết
kiệm; T: thuế, G: chi tiêu chính phủ, EX: kim ngạch xuất khẩu, IM:
kim ngạch nhập khẩu Nói cách khác: S – I = (G – T) + (IM – EX) =
FI Nếu như (G – T) > 0; IM > EX dẫn đến S < I, nghĩa là nền kinh
tế cần phải huy động một lượng vốn nước ngoài nhất định (FI:
Foreign inflow) nhằm cân đối tiết kiệm và đầu tư Dựa vào công
thức này và xu thế vốn chảy vào trong quá khứ để tiến hành việc dự
báo nợ nước ngoài theo các bước:
(i) Dựa vào tỷ lệ tăng trưởng GDP và ICOR, tính mức đầu tư (I).
(ii) Dựa vào bội chi ngân sách (G, T), kim ngạch xuất – nhập
khẩu (EX, IM), dự kiến dòng tiền nước ngoài và tiền lãi vay để tính
FI Tiếp theo đó dựa vào đẳng thức tích lũy và đầu tư (S – I), tính
tổng tiết kiệm (S).
(iii) Tách S ra thành 2 phần: DS (tiết kiệm trong nước) và FS (tiết
kiệm nước ngoài), ước tính được FS trên cơ sở S và DS Vì FS =
ODA + FDI + NFDI (vay thương mại, phần đầu tư gián tiếp…).
Căn cứ vào xu thế trước đây và giả định về những cam kết ODA,
FDI chúng ta ước tính được NFDI Sau đó căn cứ vào ước tính tiền
lãi và gốc phải trả, chúng ta ước tính được nghĩa vụ phải trả
(iv) Tính NPV của nợ nước ngoài so với GDP.
Tính minh bạch trong quản lý nợ công được thiết lập dựa vào hai tiền đề chủ yếu:
(1) nếu các mục tiêu và công cụ của chính sách quản lý nợ được phổ biến công khai trên thị trường tài sản và các cam kết mà chính phủ đưa ra để thực hiện có tính khả thi cao thì tính hiệu quả của chính sách quản lý nợ có thể phát huy và tăng cường;
(2) tính minh bạch sẽ tăng cường tính trách nhiệm và năng lực quản lý của các bộ phận liên quan đến quản lý nợ công.
Tính minh bạch và trách nhiệm yêu cầu:
Xác định rõ ràng vai trò, trách nhiệm và mục tiêu của
các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nợ.
Các mục tiêu quản lý nợ công cần được định nghĩa rõ
ràng để loại bỏ những yếu tố không chắc chắn; các giải
pháp về chi phí và rủi ro cần được giải thích đầy đủ trên
các phương diện định tính và định lượng.
Các hoạt động quản lý nợ công cần phải được kiểm
toán viên độc lập kiểm toán hàng năm.
Công khai các thông tin về chính sách quản lý nợ:
Bội chi ngân sách.
Thành phần nợ và các tài sản tài chính, gồm các loại
tiền tệ, kỳ hạn, và cơ cấu lãi suất.
Các chỉ số phản ánh thực trạng nợ công.
- Về mặt quản trị
Ở khía cạnh quản trị có hai vấn đề lớn cần quan tâm Thứ nhất, khuôn khổ pháp lý cần phải xác định rõ cơ quan có thẩm quyền vay nợ, phát hành nợ mới và đảm trách thực hiện các giao dịch vay nợ công Đây là cơ sở rất quan trọng để thiết lập kỷ luật tổng thể về quản lý nợ công
Thứ hai, về mặt tổ chức, khuôn khổ quản lý nợ nên chi tiết hóa rõ ràng mối quan hệ hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan có thẩm quyền vay nợ và các bộ phận quản lý
nợ công
Các bảng báo cáo nợ công cần gia tăng trách nhiệm của các cơ quan, bộ phận có liên quan đến quản lý nợ công, bao gồm trách nhiệm giải trình và trách nhiệm hậu quả
- Tổ chức hoạt động nội bộ
Cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý nợ và mối quan hệ giữa các bộ
phận trong cơ quan này phải hợp lý, giao trách nhiệm cụ thể cho từng
cán bộ, có chính sách kiểm soát và giám sát, quy trình báo cáo rõ
ràng
Các hoạt động quản lý nợ cần được hỗ trợ bằng một hệ thống thông
tin chính xác và toàn diện Những quốc gia mới bắt đầu quá trình xây
dựng năng lực quản lý nợ cần dành nhiều ưu tiên cho việc phát triển
các hệ thống ghi chép và báo cáo nợ chính xác
Quản lý nợ công yêu cầu phải có một đội ngũ cán bộ quản lý nợ
vừa phải có các kỹ năng nghiệp vụ về thị trường tài chính như kỹ
năng quản lý danh mục đầu tư và phân tích rủi ro, vừa phải có những
hiểu biết về chính sách công cộng
Bất kể cơ cấu tổ chức quản lý nợ như thế nào, năng lực cán bộ
quản lý nợ đóng vai trò quan trọng góp phần làm giảm thiểu rủi ro
quản lý nợ Yêu cầu này đôi khi lại là một thách thức lớn đối với
nhiều nước, đặc biệt là ở những nước mà có sự khác biệt lớn về mức
lương giữa khu vực tư và khu vực công hoặc là thiếu hẳn những
người có đủ những yêu cầu đó
- Tôn trọng kỷ luật tài chính tổng thể
Đối với một nền kinh tế, nguồn lực tài chính cung ứng để thỏa mãn các nhu cầu là có giới hạn, nếu để quy mô nợ công gia tăng sẽ dẫn đến những hậu quả:
(i) gia tăng gánh nặng về thuế;
(ii) phá vỡ cân bằng kinh tế, đó là cân bằng về tiết kiệm – đầu tư, cân bằng cán cân thanh toán, từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế
Vì vậy, cần thiết phải giữ kỷ luật tài chính tổng thể để ổn định kinh tế vĩ mô Kỷ luật tài chính tổng thểyêu cầu giới hạn quy mô nợ phải được thiết lập dựa vào các chỉ tiêu tổng thể vĩ
năm trong tổng GDP; tỷ lệ tiết kiệm đầu tư/GDP; mức độ bội chi cán cân thanh toán… Giới hạn quy mô nợ phải được tăng cường trong suốt quá trình thực hiện ngân sách và được duy trì, giữ vững ổn định trong dài hạn
Trang 9- Mức vay phải phù hợp với khả năng tiếp nhận vốn của nền kinh tế Thực hiện đánh giá mức độ an toàn vay
nợ cần phân tích các chỉ tiêu sau:
Tăng trưởng kinh tế: là chìa khóa cơ bản để nới lỏng trần tín dụng Nếu chỉ tiêu này cao liên tục thì nhà
nước có thể gia tăng vay nợ nước ngoài Song, đây chỉ là điều kiện cần mà heieju quả mới là điều kiện đủ để
đảm bảo an toàn tín dụng Nếu hệ số ICOR quá cao, có nghĩa là đồng vốn sử dụng còn kém hiệu quả thì cần
hạn chế vay nợ.
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu: xuất khẩu là nguồn cung cấp vốn duy nhất để trả nợ nước ngoài Muốn nâng
cao năng lực trả nợ và hạn chế những rủi ro tác động từ bên ngoài đòi hỏi xuất khẩu tăng trưởng cao trong sự
đa dạng về cơ cấu Hiện tại, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam còn phụ thuộc khá nhiều vào mặt hàng dầu thô thì
cần cảnh giác hơn với việc vay nợ.
Mức dự trữ ngoại tệ quốc gia: Vay và trả nợ luôn chịu áp lực trước những rủi ro về lãi suất, tỷ giá và thu
nhập xuất khẩu, vì vậy nền kinh tế cần duy trì mức dự trữ đủ mạnh để đối phó với những cơn sốc do những
rủi ro xảy ra.
- Khả năng hấp thu vốn vay và khả năng hoàn trả nợ nước ngoài.
Khả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài (K) = tổng nợ nước ngoài/GDP.
Tỷ lệ trả nợ (Tr) = tổng mức trả nợ/kim ngạch xuất khẩu hàng năm.
Khả năng hoàn trả nợ vay nước ngoài (HT) = tổng mức nợ nước ngoài/tổng kim ngạch xuất khẩu hằng năm.
Giữa các chỉ tiêu này chế ước lẫn nhâu Theo kinh nghiệm quốc tế, nếu K > 50% thì nền kinh tế rơi vào tình
trạng báo động về nợ Khi đó cần phải kiềm chế tổng mức vay nợ và bố trí cơ cấu nợ vay hợp lý theo hướng
đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu để giữ tỷ lệ T r < 20%, H T < 150%, tức là đảm bảo khả năng trả nợ.
- Phân bổ và sử dụng nợ vay theo những ưu tiên của
chiến lược.
Sau khi đã xác định tính kỷ luật tài chính tổng thể, vấn
đề quan trọng trong quản lý nợ là làm thế nào để ưu tiên hóa những nhu cầu hay mục tiêu có tính cạnh tranh với nguồn lực tài chính khan hiếm
Nói khác đi, đối với một nền kinh tế, do nguồn lực vay nợ có giới hạn, cho nên chính phủ cần phải đánh đổi
và lựa chọn giữa các mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội
Thử thách ở đây là cấu trúc sắp xếp thể chế như thế nào để tạo ra động lực cho sự phân bổ và sử dụng các khoản nợ vay theo các ưu tiên chiến lược chặt chẽ và nâng cao chất lượng thông tin cần thiết để thực hiện điều
đó có hiệu quả
Đây là chiến lược có ý nghĩa khá quan trọng đối với chính sách
quản lý nợ công Những cuộc khủng hoảng tài chính trong thập
nhiên 90 cho thấy nguyên nhan sâu xa của khủng hoảng ít nhiều có
liên quan đến chính sách quản lý rủi ro nợ yếu kém của chính phủ
Chiến lược này yêu cầu chính phủ cần phát triển một khuôn khổ
để cho phép các bộ phận quản lý nợ xác định và quản lý sự đánh
đổi giữa chi phí và rủi ro mong đợi trong danh mục quản lý nợ
công Rủi ro trong quản lý nợ công gồmrủi ro thị trường, rủi ro
thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán…Hậu quả của các
loại rủi ro này dẫn đến nảy sinh chi phí nợ công
Chi phí nợ công bao gồm:
(1) chi phí tài chính mà điển hình nhất liên quan đến chi phí trả
nợ vay trong thời gian trung hạn và
(2) chi phí tiềm năng về những tổn thất kinh tế nảy sinh từ khủng
hoảng tài chính nếu như chính phủ gặp phải khó khăn thanh toán
nợ Chi phí mong đợi của nợ công cần phải được dự toán theo
khuôn khổ trung và dài hạn, dựa vào giả thuyết lãi suất và tỷ giá
hối đoái trong tương lai
RỦI RO TRONG QUẢN LÝ NỢ CÔNG
Rủi ro thị trường: Đây là loại rủi ro gắn liền với những thay đổi giá cả
thị trường, như là tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa… ảnh hưởng đến chi phí thực hiện dịch vụ nợ của chính phủ.
Rủi ro chuyển hạn: là rủi ro trong đó khoản nợ phải chuyển hạn với chi
phí cao bất thường hoặc không thể chuyển hạn được, làm nghiêm trọng thêm tình hình khủng hoảng nợ, qua đó gây nên những tổn thất kinh tế thực sự ngoài những tác động tài chính đơn thuần khi lãi suất cao.
Rủi ro thanh khoản: loại rủi ro này xảy ra khi vốn dự trữ bằng tiền và
các tài sản có tính thanh khoản cao không đủ để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ đến kỳ hạn.
Rủi ro tín dụng: rủi ro này phát sinh khi người đi vay không thực hiện
nghĩa vụ thanh toán hoặc bên đối tác không thực hiện hợp đồng tài chính.
Loại rủi ro này thường gặp trong các trường hợp: (1) các khoản nợ bất thường của khu vực tư mà chính phủ phải gánh chịu do chính sách bảo lãnh hoặc (2) trong trường hợp các chủ thể tham gia đấu thầu trái phiếu chính phủ trúng thầu nhưng không thực hiện hợp đồng.
Rủi ro thanh toán: đây là tổn thất tiềm ẩn mà chính phủ gánh chịu do
kết quả mất khả năng thanh toán bởi một đối tác khác.
Rủi ro hoạt động: gồm rủi ro nghiệp vụ phát sinh trong các giai đoạn
điều hành và ghi chép kế toán; rủi ro do luật pháp gây ra, thảm họa thiên nhiên…
(Assets and Liabilities Model)
phương pháp ALM để quản lý nợ công
ro tài chính của doanh nghiệp để thiết lập bảng cân đối
của chính phủ, qua đó cho phép chính phủ tối đa hóa tiềm
năng hệ thống phòng chống rủi ro và cung cấp nền tảng
đánh giá sự đánh đổi chi phí và rủi ro trên phương diện
tổng thể
hiện, giám sát và điều chỉnh chiến lược quản lý tài sản và
nợ để đạt được mục tiêu quản lý nợ trong giới hạn rủi ro
nhất định
TÀI SẢN
1 Tài sản tài chính
- Tiền mặt và tiền gởi.
- Các khoản tạm ứng.
- Các khoản đầu tư, cho vay và phải thu khác.
- Các khoản góp vốn.
- Tài sản tài chính khác.
2 Tài sản phi tài chính
- Đất.
- Nhà cửa.
- Nhà máy, công cụ và cơ sở hạ tầng.
- Tài sản vật kiến trúc.
- Tài sản khác.
NỢ PHẢI TRẢ
- Các khoản tiền gởi của xã hội.
- Các khoản nhận tạm ứng.
- Chứng khoán chi phí.
- Các khoản vay ODA.
- Nghĩa vụ nợ dự phòng.
- Các khoản nợ về phụ cấp lương hưu.
- Các khoản phải trả cho người lao động.
- Các khoản nợ khác có tính chuyển giao.
(1) Giá trị thuần = tổng tài sản – tổng nợ phải trả.
(2) Nợ thuần được tính toán bằng tổng tiền gởi của xã hội, các khoản tạm ứng, chứng khoán chính phủ, các khoản vay ODA, nghĩa vụ nợ dự phòng (–) trừ đi các khoản tiền mặt và tiền gởi, các khoản tạm ứng, các khoản đầu tư, cho vay và phải thu khác.
Bảng cân đối của chính phủ
Trang 10Bên trái của bảng cân đối phản ánh các khoản nợ
và vay của chính phủ được gọi chung là nợ phải trả
Phía bên phải của bảng cân đối phản ánh danh mục
tài sản của chính phủ được hình thành từ các khoản
nợ
Danh mục tài sản của chính phủ có thể chia thành
tài sản tài chính và tài sản phi tài chính, phục vụ cho
những hoạt động khác nhau của chính phủ Những
hoạt động khác nhau này của chính phủ luôn phải
hướng vào đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế –
xã hội của quốc gia
Tuy nhiên trong tiến trình này, chính phủ phải gánh
chịu những rủi ro tín dụng và tài chính liên quan đến
cả hai bên của bảng cân đối (tài sản và nợ phải trả)
Sử dụng khuôn khổ ALM để quản nợ có thể xem là cách tiếp cận có ý nghĩa hét sức thực tiễn Nó tạo nền tảng phân tích rủi ro – chi phí về danh mục nợ của chính phủ trong sự gắn kết với phân tích thu nhập mà chính phủ sử dụng để thanh toán các khoản nợ, cụ thể là nguồn thu thuế
Phương pháp ALM cho phép chính phủ thấy được các loại hình khác của danh mục nợ và tài sản thuộc phạm vi mà chính phủ quản lý, bên cạnh nguồn thu thuế và danh mục nợ trực tiếp
Đánh gái những rủi ro chính liên quan đến danh mục nợ có thể giúp cho chính phủ thiết kế chiến lược tổng thể qua đó giảm thiểu rủi ro liên quan đến danh mục nợ và tài sản trong bảng cân đối
Phương pháp ALM cũng cung cấp khuôn khổ hữu ích để cân nhắc các thỏa thuận nhằm quản lý bảng cân đối chính phủ Chẳng hạn, nó bao gồm việc đưa ra quyết định liệu là chính phủ nên duy trì quyền lợi sở hữu trong việc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công và cơ cấu tổ chức tốt nhất nhằm quản lý tài sản mà chính phủ mong muốn đạt được