1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý chi tiêu công ở việt nam

128 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 848,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý có hiệu quả chi tiêu công được đặt ra trong bối cảnh nguồn lực của mỗi quốc gia có sự giới hạn nhất định nhưng phải làm như thế nào để thỏa mãn tốt nhất những nhu cầu cần thiết g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VŨ THỊ HẠNH

Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam

luËn v¨n th¹c sÜ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hµ néi - 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới (từ 1986), Việt Nam đang

ở giai đoạn đẩy mạnh công cuộc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Việc chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN không những đòi hỏi

sự chuyển đổi từ phía khu vực doanh nghiệp mà còn đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ trong khu vực quản lý hành chính nhà nước và quản lý tài chính

công Sự phát triển đó cũng đòi hỏi Nhà Nước cần phải đổi mới chính sách chi tiêu công để phân bổ và sử dụng các nguồn lực xã hội có hiệu quả Chi tiêu công gắn liền với các chức năng quản lý của nhà nước và có liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Quản lý có hiệu quả chi tiêu công được đặt ra trong bối cảnh nguồn lực của mỗi quốc gia có sự giới hạn nhất định nhưng phải làm như thế nào để thỏa mãn tốt nhất những nhu cầu cần thiết gắn

liền với các mục tiêu quản lý kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước là điều cấp bách hiện nay

Chi tiêu công là một trong các công cụ quan trọng nhất của chính phủ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đấu tranh giảm nghèo Bản chất của chi tiêu công là nhằm khắc phục các thất bại thị trường Ngoài ra, Chi tiêu công còn là công cụ để Chính phủ phân phối lại thu nhập, tạo công bằng xã hội Thông qua chi tiêu công, Chính phủ cũng có thể khuyến khích phát triển những hàng hóa

và dịch vụ khuyến dụng hoặc kìm hãm, nghiêm cấm phát triển hàng hóa mà xã

hội không mong muốn

Trong thời gian qua, việc quản lý chi tiêu công ở Việt Nam đã đạt được một số các thành tựu đáng kể Việt Nam được ghi nhận là nước thận trọng trong chính sách tài khóa, với mức thâm hụt ngân sách tương đối nhỏ và tổng

nợ ( cả nợ nước ngoài và nợ trong nước) tương đối thấp và có tỷ lệ chi tiêu công so với tổng GDP bền vững Các xu thế ngân sách phát triển theo hướng

Trang 4

Tuy nhiên, hiện tại việc quản lý chi tiêu của Việt Nam còn bộc lộ nhiều yếu kém Quy trình phân bổ nguồn lực tài chính Nhà nước còn thiếu mối liên kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn với nguồn lực trong khuôn khổ kinh tế vĩ mô được dự báo, còn có nhiều khiếm khuyết trong

hệ thống thông tin quản lý chi tiêu công Những yếu kém trong quản lý chi tiêu công thể hiện nổi bật ở trong tình trạng thất thoát, lãng phí, tham nhũng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản thời gian qua (điển hình như vụ PMU 18) Điều đó cho thấy việc phân tích nghiêm túc thực trạng trong quản lý chi tiêu công ở Việt Nam, làm rõ các vấn đề và nguyên nhân khiến cho hiệu quả chi tiêu công còn nhiều hạn chế, để từ đó chỉ

ra những giải pháp cải thiện tình hình là một đòi hỏi thực tiễn bức xúc Đó là

những lý do tôi chọn đề tài "Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam"

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Chi tiêu công và công tác quản lý chi tiêu công là một phần của chu trình xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách Thông thường, ở các nước đang phát triển, những đánh giá như vậy đều do các nhà tài trợ tiến hành: Ví dụ như, một loạt báo cáo do ngân hàng thế giới thực hiện như Đánh giá chi tiêu công, Đánh giá trách nhiệm tài chính quốc gia, Đánh giá công tác mua sắm quốc gia Tuy nhiên, các đánh giá đó do các cơ quan, tổ chức trong nước tiến hành và được xem là một phần không thể tách rời của chu trình lập kế hoạch và ngân sách của nước họ

 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, một loạt các Đánh giá chi tiêu công đã được tiến hành Đó là; Báo cáo đánh giá chi tiêu công năm 1996 của Ngân hàng thế giới và Chương trình phát triển Liên hiệp quốc, nghiên cứu của Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới năm 1999 mang tên "Tiến tới minh bạch tài chính"; Báo cáo chung đánh giá chi tiêu công của chính phủ và Ngân hàng thế giới năm

Trang 5

báo cáo “Quản lý chi tiêu công để tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo” năm

2004 Các nghiên cứu trong nước về vấn đề này chưa nhiều, tiêu biểu là cuốn sách nghiên cứu "Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" của tác giả Dương Bình Minh, NXB tài chính 2005

Tuy nhiên, các nghiên cứu và đánh giá trên được thực hiện nặng về hình thức các Báo cáo, trong đó, nội dung mới chỉ đưa ra các con số, tổng kết các số liệu thực tế nhằm đưa ra các kiến nghị thực tiễn trực tiếp Trong các báo cáo này, cách tiếp cận có tính chất hệ thống, gắn kết chặt giữa lý thuyết và thực tiễn, mang tính chất học thuật cao phần nào còn mờ nhạt Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện một số vấn đề về quản lý chi tiêu công ở Việt Nam vẫn là một công việc cần thiết và hữu ích

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn:

 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động quản lý chi tiêu công ở Việt Nam trong thời gian gần đây

 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Trong phạm vi khuôn khổ của đề tài, luận văn phân tích hoạt động quản lý chi tiêu công ở Việt Nam dưới góc độ Kinh tế chính trị, không đi sâu nghiên cứu các vấn đề cụ thể, mang tính nghiệp vụ Ngoài ra, có thể đề cập

một số hoạt động quản lý cụ thể trong lĩnh vực chi tiêu công

- Về mặt thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quản

lý chi tiêu công ở Việt Nam từ năm 2002 đến nay

- Về không gian: Khái quát chung về quản lý chi tiêu công và thực trạng chi tiêu công ở Việt Nam

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:

Mục đích: Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý chi tiêu công ở Việt

Nam, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công

 Nhiệm vụ của Luận văn: từ mục đích tổng quát trên, các nhiệm vụ cụ thể được xác định là:

Trang 6

- Khảo sát và phân tích một số kinh niệm quốc tế về quản lý chi tiêu công

- Phân tích, đánh giá về thực trạng của quản lý chi tiêu công của VN, những yếu kém, bất cập và nguyên nhân của chúng

- Xác định phương hướng, mục tiêu và đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của kinh tế chính trị Mác - Lên nin

- Gắn với đối tượng nghiên cứu cụ thể của mình, luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp và khảo sát thực tế

6 Những đóng góp của luận văn:

- Luận văn phân tích một số bài học kinh nghiệm quốc tế về quản lý chi tiêu công, là cơ sở cho việc áp dụng khoa học vào thực tiễn Việt Nam

- Trên cở sở phân tích thực trạng quản lý chi tiêu công ở Việt Nam trong thời gian qua, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công ở Việt Nam trong thời gian tới

7 Kết cấu của Luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về chi tiêu công và quản lý chi tiêu công Chương 2: Thực trạng quản lý chi tiêu công ở Việt Nam Chương 3: Quan điểm và các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý

l chi tiêu công ở Việt Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHI TIÊU CÔNG VÀ QUẢN

LÝ CHI TIÊU CÔNG 1.1 CHI TIÊU CÔNG_ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ:

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chi tiêu công:

1.1.1.1.Khái niệm chi tiêu công:

Nhà nước có vai trò kinh tế chung rất quan trọng Vai trò ấy thể hiện chủ yếu ở chỗ khắc phục thất bại thị trường, điều tiết vĩ mô, nhằm làm cho các hoạt động kinh tế có hiệu quả, công bằng và ổn định Điều này được thể hiện

rõ thông qua quá trình chi tiêu công của Nhà nước Qua quá trình này, Nhà

nước sẽ cung cấp một lượng hàng hoá và dịch vụ công cộng cho xã hội Bên

cạnh đó, Nhà nước còn tham gia vào việc cung cấp một lượng hàng hoá tư nhân, đó là những hàng hoá trong các lĩnh vực mà tư nhân sẽ không đầu tư hoặc đầu tư không hiệu quả, đòi hỏi sự đầu tư của nhà nước Ví dụ như hàng hoá tư nhân chi phí cao ( nước sạch, …) Nhà nước phải đầu tư để sản xuất một

số hàng hoá tư nhân vì lý do chính trị xã hội, mà nếu không có việc sản xuất các loại hàng hoá này thì nền kinh tế sẽ không có hiệu quả

Chi tiêu công phản ánh hoạt động mua sắm của các loại hàng hóa và dịch vụ mà Chính phủ mua vào, để qua đó cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội, nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước

Chi tiêu công tạo ra hàng hóa dịch vụ được cung cấp công cộng mà người dân có nhu cầu có thể dễ dàng tiếp cận Nhà nước có thể cung cấp những loại hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội dưới hình thức: "người hưởng tự do mà không trả tiền" hoặc dưới dạng thu phí, lệ phí - một hình thức thu hồi chi phí đầu tư của Nhà nước, nhưng thường không theo cơ chế giá thị trường

Chi tiêu công còn thực hiện chính sách tái phân phối thu nhập

1.1.1.2 Đặc điểm chi tiêu công

Đặc điểm nổi bật của chi tiêu công là nhằm phục vụ cho lợi ích của cộng đồng dân cư ở các vùng hay trong phạm vi quốc gia Điều này xuất phát

Trang 8

chính trong quá trình thực hiện chức năng đó, nhà nước cung cấp một lượng hàng hóa và dịch vụ công cho nền kinh tế

Thứ đến, Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà Nước thực hiện, nên việc ra quyết định trong chi tiêu công luôn mang tính chất phức tạp Các khoản khi tiêu công

do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhiệm theo nội dung đã được quy định theo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và các khoản chi tiêu này được đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT – XH Trong đó, các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi tiêu công cộng nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia

Một bộ phận quan trọng trong các khoản chi tiêu công cộng là mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp Điều này được thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu từ những hàng hoá và dịch vụ công do Nhà nước cung cấp đều được tính đúng theo khối lượng và giá trị thực tế của nó Nó được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về KT - XH của nhà nước Có thể thấy tất cả các hàng hoá mà khu vực tư nhân cung cấp đều có chung một đặc điểm: người cung cấp hàng hoá đều muốn những người tiêu dùng phải trả tiền và thu lợi nhuận trong quá trình đó Hàng hoá và dịch vụ công cộng không

có chung đặc điểm ấy, mà với chúng việc thu tiền là thứ yếu Vì vậy, khu vực

tư nhân thường quay lưng lại với việc sản xuất hàng hoá công cộng Thí dụ, làm sạch không khí sẽ mang lại lợi ích to lớn, nhưng không có công ty tư nhân nào làm điều đó vì nó không thu được lợi nhuận từ dịch vụ này

1.1.2.Vai trò của Chi tiêu công:

Thứ nhất, Chi tiêu công góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tùy từng thời kỳ, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế khác nhau, Nhà nước có các ưu tiên danh mục đầu tư khác nhau như; đầu tư vào các cơ sở hạ tầng, hỗ trợ kinh doanh, phát triển nguồn nhân lực

Trang 9

Thứ hai, Chi tiêu công là một công cụ điều chỉnh chu kỳ kinh tế Khi kinh tế trong thời kỳ suy thoái, Nhà nước sẽ mở rộng chi tiêu và ngược lại, khi kinh tế trong thời kỳ lạm phát, Nhà nước sẽ thu hẹp chi tiêu

Thưa ba, Chi tiêu công còn có vai trò nổi bật là tái phân phối thu nhập, thực hiện công bằng xã hội

Thứ tư, Chi tiêu công nhằm sửa chữa các thất bại thị trường, khu vục công sẽ cung cấp những hàng hóa thuộc lĩnh vực nhạy cảm, gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội; như Quốc phòng,

an ninh, an sinh xã hội và đồng thời khu vực này cũng cung cấp hàng hóa khu vực tư nhân cung cấp không hiệu quả, hoặc các lĩnh vực cung cấp thông tin không hoàn hảo: như y tế, giao thông

1.1.3 Nội dung và phân loại chi tiêu công:

1.1.3.1 Các nguồn tài trợ cho chi tiêu công: Các nguồn thu của Nhà nước

nhằm tài trợ cho chi tiêu công bao gồm:

 Nguồn thu từ thuế và lệ phí

 Nguồn thu từ đóng góp của các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cư

 Nguồn tài trợ từ bên ngoài

 Các nguồn khác được ghi thu vào ngân sách nhà nước

1.1.3.2 Phân loại chi tiêu công: Chi tiêu công diễn ra trên phạm vi rộng, dưới

nhiều hình thức Căn cứ vào từng loại, có thể phân ra các kiểu chi tiêu công như sau

a Căn cứ vào chức năng vĩ mô của nhà Nước: Chi tiêu công bao gồm

các nhóm chi cho các lĩnh vực sau:

 Xây dựng cơ sở hạ tầng

 Tòa án và viện kiểm soát

 Hệ thống quân đội và an ninh xã hội

 Hệ thống giáo dục, y tế…

Trang 10

 Chi tiêu viện trợ nước ngoài, ngoại giao

 Chi khác

b Căn cứ vào quy trình lập ngân sách:

 Chi tiêu công theo các yếu tố đầu vào

 Chi tiêu công theo các yếu tố đầu ra

Nội dung của quy trình này sẽ được phân tích kỹ trong phần sau

c Căn cứ vào tính chất kinh tế: Trong quản lý tài chính công, chi tiêu

công được chia làm 2 nội dung lớn: Chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển

Chi thường xuyên: Là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của

nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước ngày càng gia tăng, do đó càng làm phong phú nội

dung chi thường xuyên của ngân sách nhà nước

Chi thường xuyên có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, chi thường xuyên mang tính ổn định: Việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính ổn định duy trì cho sự hoạt động của bộ máy nhà nước Tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn định trong từng hoạt động cụ thể của mỗi bộ phận thuộc bộ máy nhà nước

Thứ hai, đó là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội: Các khoản chi thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải các nhu cầu về quản lý hành chính

sự nghiệp nhà nước, về quốc phòng, an ninh và các hoạt động xã hội khác do nhà nước tổ chức

Thứ ba, phạm vi, mức độ chi thường xuyên gắn chặt với cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công Các khoản chi thường xuyên hướng vào việc đảm bảo

sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước, do đó, nếu bộ máy nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên giảm Hoặc những quyết định của nhà nước trong việc lựa chọn những phạm vi, mức độ cung ứng

Trang 11

Nội dung của các khoản chi thường xuyên:

Thứ nhất, chi cho sự nghiệp văn hóa - xã hội: Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội, liên quan đến sự phát triển đời sống tinh thần các tầng lớp nhân dân Chi văn hóa - xã hội gắn liền với chi đầu tư phát triển nhân

tố con người Chi văn hóa - xã hội bao gồm các khoản chi cho các hoạt động

sự nghiệp: sự nghiệp khoa học - công nghệ, sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, nghệ thuật, thể dục - thể thao, thông tấn, báo chí, phát thanh - truyền hình và các họat động khác

Chi quản lý hành chính nhà nước: Với chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội, nên bộ máy hành chính nhà nước được thiết lập từ TW đến địa phương và toàn bộ các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Chi quản lý hành chính của nhà nước nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước Hoạt động chi này bao gồm:

- Chi cho hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước

- Chi cho hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp nhà nước

- Chi cho hoạt động quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội

Tiếp đến, là Chi quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội: Chi quốc phòng an ninh được tính vào khoản chi thường xuyên đặc biệt quan trọng, vì đây là lĩnh vực mà hoạt động của nó đảm bảo sự tồn tại của Nhà nước, ổn định trật tự xã hội và sự toàn vẹn lãnh thổ Khoản chi này được chia làm hai bộ phận

Trang 12

phát triển được thực hiện chủ yếu từ ngân sách TW và một bộ phận của ngân sách địa phương Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô vốn đầu tư của Nhà nước và quy mô vốn trên toàn xã hội Mục tiêu của đầu tư phát triển là đầu tư vào khu vực sản xuất, đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, làm thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội của đất nước Kết quả của chi đầu tư phát triển là tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, làm tăng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo ra của cải vật chất và thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế - xã hội

Như vậy, chi đầu tư phát triển là quá trình nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của ngân sách nhà nước nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển ngành nghề kinh tế, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế

Nội dung chi đầu tư phát triển:

Thứ nhất, Chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn: Là khoản chi lớn của nhà nước nhằm phát triển kết cấu hạ tầng, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là khoản chi đầu tư xây dựng các công trình giao thông, bưu chính viễn thông, điện lực, năng lượng, các công trình trọng điểm phát triển văn hóa xã hội

Thứ hai, Chi đầu tư, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước: Là các khoản chi của ngân sách nhà nước để đầu tư, hỗ trợ cho sản xuất dưới các hình thức: Đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp

để xây dựng mới, cải tạo và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị cho các doanh nghiệp nhà nước

Thứ ba, là chi hỗ trợ cho các quỹ hỗ trợ phát triển: Đây là khoản chi của ngân sách nhà nước góp phần tạo lập quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện việc hỗ

Trang 13

vùng khó khăn theo quy định của chính phủ, nhằm phát triển sản xuất, đảm bảo cân đối giữa các nghành, các vùng trong cả nước

Thứ tư, Chi dự trữ nhà nước: Đó là khoản chi hình thành nên quỹ dự trữ nhà nước nhằm mục đích dự trữ những vật tư, thiết bị, hàng hóa, chiến lược phòng khi nền kinh tế gặp khó khăn, những biến cố bất ngờ về thiên tai, dịch họa đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định

1.2 Quản lý chi tiêu công:

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quản lý chi tiêu công:

1.2.1.1 Khái niệm quản lý chi tiêu công:

Quản lý chi tiêu công là một khái niệm phản ảnh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định của Nhà Nước đối với quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính công nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công, phục vụ lợi ích kinh tế -

xã hội cho cộng đồng

Có thể nói, nếu chi tiêu công trả lời câu hỏi: Chi cho những gì, những hạng mục nào, thì quản lý chi tiêu công trả lời câu hỏi: Chi như thế nào, và làm thế nào để chi có hiệu quả

1.21.2 Đặc điểm quản lý chi tiêu công:

Quản lý chi tiêu công là một hoạt động có tính chủ quan của Nhà nước trong việc tổ chức, điều khiển quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công

Xét về phương diện cấu trúc, quản lý chi tiêu công bao gồm hệ thống các yếu tố sau:

 Mục tiêu quản lý:

+ Mục tiêu tổng quát: Thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững

và ổn định

+ Mục tiêu chi tiết:

- Phân bổ có hiệu quả nguồn lực tài chính của Nhà nước

Trang 14

 Cơ chế quản lý: Là phương thức mà qua đó Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý tác động vào quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính để hướng đạt những mục tiêu đã định

 Công cụ quản lý: Để thực hiện quản lý, nhà nước cần phải sử dụng

hệ thống các công cụ, trong đó bao gồm các yếu tố:

- Các chính sách kinh tế - tài chính

- Các công cụ pháp chế kinh tế - tài chính

- Các chương trình các mục tiêu, các dự án

1.2.2 Nội dung cơ bản của quản lý chi tiêu công:

Quản lý chi tiêu công là việc Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý kết hợp với cơ chế quản lý để thực hiện tốt trong việc phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính công, qua đó nhằm thực hiện tốt vai trò quản lý kinh tế xã hội của mình

Quy trình của quản lý chi tiêu công bao gồm tất cả các thành phần của quy trình hoạch định và phân bổ ngân sách quốc gia:

 Dự toán ngân sách

 Gắn kết ngân sách với việc đưa ra chính sách

 Phân bổ ngân sách

 Kế toán, báo cáo và đánh giá thực hiện

 Kiểm toán từ bên trong

 Giám sát của cơ quan lập pháp và các cơ quan khác

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, quản lý chi tiêu công là một trong những công cụ trọng yếu của chính sách tài chính quốc gia Nó quản lý việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính công sao cho có hiệu quả nhằm đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững

Vấn đề xuyên suốt của quản lý chi tiêu công là tìm ra câu trả lời: Làm thế nào để phân bổ và sử dụng nguồn lực nhà nước một cách trách nhiệm, hiệu lực và hiệu quả Vì vậy, nội dung cơ bản trong chiến lược quản lý chi tiêu công

Trang 15

Đối với một nền kinh tế, nguồn lực tài chính cung ứng để thỏa mãn nhu cầu là có giới hạn, nếu để chi tiêu ngân sách gia tăng sẽ dẫn đến những hậu quả sau:

- Gia tăng gánh nợ cho nền kinh tế trong tương lai

- Gia tăng gánh nợ về thuế

- Phá vỡ cân bằng kinh tế vĩ mô, (cân bằng tiết kiệm - đầu tư, cân bằng cán cân thanh toán…), từ đó ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế

Vì vậy, cần thiết phải giữ kỷ luật tài chính tổng thể để ổn định kinh tế vĩ

mô Kỷ luật tài chính tổng thể đòi hỏi chi ngân sách phải được thiết lập một cách độc lập, trước khi ra quyết định chi tiêu từng phần Giới hạn tổng chi tiêu ngân sách phải được tăng cường trong suốt quá trình thực hiện ngân sách và được duy trì, giữ vững ổn định trong ngắn hạn và dài hạn

Sự giới hạn về tổng chi tiêu phải được thiết lập trước khi chi tiêu những

bộ phận riêng rẽ của ngân sách được quy định và dựa vào các chỉ tiêu tổng thể

vĩ mô như: quy mô GDP, tỷ suất thu/GDP, sự gia tăng chi hàng năm trong tổng GDP, tỷ lệ nợ/ GDP, tỷ lệ tiết kiệm đầu tư/GDP, mức độ thâm hụt cán cân thanh toán Giới hạn tổng thể phải được thiết lập trong khoảng thời gian trung hạn, theo đó những quy định phân bổ nguồn lực cũng phải phù hợp với những

khuôn khổ chi tiêu trung hạn đó Trong quản lý chi tiêu công, cần thiết xác lập một khuôn khổ chi tiêu trung hạn (Medium- term expenditure framework: MTEF) bởi vì;

 MTEF sẽ là cơ sở để đo lường những tác động của những thay đổi

về chính sách, điều kiện kinh tế đến ngân sách, hay cách khác, thông qua MTEF sẽ cung cấp đầy đủ những thông tin thay đổi về chính sách, điều kiện kinh tế đến sự phân bổ nguồn lực tài chính nhà nước

 Thông qua MTEF, chính phủ sẽ kiểm soát chặt chẽ về chi tiêu ngân sách, để giữ được kỷ luật tài chính tổng thể

 Với MTEF sẽ giúp chính phủ tái lập mục tiêu chính sách tài chính

Trang 16

Hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính

Tổng thể chi tiêu phải là con số tổng cộng của từng khoản chi tiêu bộ phận trong ngân sách Do vậy, nếu chính phủ không kiểm soát được những yếu

tố chi tiêu bộ phận trong ngân sách thì cũng không thể kiểm soát có hiệu quả tổng số chi tiêu và giữ được kỷ luật tài chính tổng thể Vì vậy, vấn đề đặt ra là

để kiểm soát chi tiêu đòi hỏi chính phủ phải thiết lập cơ chế phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính Muốn vậy:

 Chi tiêu ngân sách phải dựa vào các khoản mục ưu tiên của chính phủ và tính hữu ích của những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ công cộng

 Hệ thống chi tiêu ngân sách cần có sự linh hoạt, chuyển nhanh sự phân bổ nguồn lực từ những ưu tiên thấp sang ưu tiên cao, từ những dự án, chương trình kém hiệu quả sang chương trình, dự án có hiệu quả cao

Các yêu cầu ngân sách để nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực của ngân sách:

 Giới hạn chi tiêu phải được thiết lập cho từng bộ, ngành Các bộ, ngành được khuyến khích chủ động tái phân phối nguồn lực trong sự giới hạn

đó Và sự tái phân bổ cần dựa vào sự đánh giá, phân tích tính hiệu quả của những chương trình , dự án và kế hoạch phát triển

 Chính phủ có năng lực đủ mạnh để xây dựng những mục tiêu, những

ưu tiên của quốc gia và thực hiện phân phối các ngành phù hợp với khuôn khổ chi tiêu trung hạn Các bộ trưởng các ngành có năng lực đủ mạng để tái phân

bổ nguồn lực cho các lĩnh vực thuộc trách nhiệm quản lý

 Những người quản lý phải tiếp nhận đầy đủ thông tin về tính hữu dụng của những chương trình, dự án đang tiến hành có liên quan đến hoạt động của ngân sách Đồng thời, họ cũng phải có đầy đủ các thông tin về những tác động chi tiêu ngân sách đến từng chương trình, dự án đã phê duyệt, gắn liền với khuôn khổ chi tiêu trung hạn

Hiệu quả hoạt động

Trang 17

Những quy định truyền thống về lập ngân sách đã tạo ra một tiền lệ cho người quản lý tìm mọi cách chi tiêu hết tất cả nguồn lực sẵn có, thậm chí việc chi tiêu đó làm giảm đi hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính Họ cho rằng, nếu không chi tiêu hết ngân sách năm nay, thì họ sẽ bị cắt giảm hoặc bị phân bổ nguồn lực ít hơn trong những năm tiếp theo Hơn thế nữa, những người quản lý hoạt động trong một môi trường bị kiểm soát hết sức cứng Những công cụ truyền thống để thực hiện kiểm soát là định mức và khoản mục hóa các khoản chi tiêu, mua sắm đầu vào Thế nhưng, chính sự kiểm soát đầu vào gây ra tính kém hiệu quả trong hoạt động bởi vì nó không khuyến khích tiết kiệm, không tạo ra sự gắn kết giữa khối lượng chi tiêu với khối lượng đầu vào Thêm vào

đó, những hoạt động của người quản lý chủ yếu được đánh giá dựa vào tính tuân thủ, chấp hành những luật lệ quy định mang tính thủ tục hành chính, chứ không đánh giá dựa vào kết quả mà họ tạo ra

Tính hiệu quả trong hoạt động, quản lý chi tiêu công đòi hỏi:

 Người quản lý được trao quyền tự chủ trong việc điều hành hoạt động của họ và nâng cao tính tự chịu trách nhiệm của họ về kết quả

 Người quản lý có năng lực đủ mạnh trong việc chủ động đề ra những giải pháp để giảm bớt chi phí hoạt động và nâng cao khối lượng hoặc chất lượng đầu ra

 Tạo ra những đòn bẩy kinh tế khuyến khích người quản lý cải thiện

và nâng cao chất lượng hoạt động

Các thể chế cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động là:

 Cần giới hạn chi phí hoạt động Những người quản lý phải được trao quyền tự chủ rộng rãi trong việc sử dụng nguồn lực tài chính của nhà nước, bao gồm quyền chuyển những quỹ chưa sử dụng hoặc chi tiêu một phần chi phí hoạt động của năm kế tiếp Người quản lý phải có năng lực đủ mạnh trong việc quyết định sự hòa hợp của những nguồn lực đang hoạt động trong sự gắn kết với những giới hạn đã được xác lập Và họ phải được trao quyền tự chủ trong

Trang 18

chi phí và nâng cao kết quả hoạt động Trên cơ sở đó, cần tăng cường chế độ khuyến khích vật chất và chịu trách nhiệm vật chất của người quản lý

 Thiết lập hệ thống thông tin minh bạch Kết quả đầu ra của ngân sách cần được chi tiết hóa trước và cần được so sánh với những mục tiêu đã xác lập Những thông tin tài chính và sự thực hiện cần được công khai trong các bản báo cáo hàng năm và trong các tài liệu khác Những bản báo cáo phải được giải trình minh bạch để cung cấp cho công chúng những thông tin cơ bản

về sự đánh giá khối lượng, chất lượng và chi phí phục vụ Tăng cường kiểm toán để đảm bảo sự đánh giá những báo cáo thực hiện một cách trung thực

 Chi tiết hóa kết quả đầu ra Những kết quả cần được chi tiết hóa trong ngân sách và trong những bản báo cáo tài chính có liên quan, qua đó tạo điều kiện cho người quản lý thấy trước kết quả thực hiện và giúp cho chính phủ

so sánh được kết quả mục tiêu và kết quả thực tế

 Phải có sự tách bạch giữa người mua và người cung cấp hàng hóa Đồng thời tăng cường vai trò kiểm soát của thị trường Phải có sự so sánh chi phí giữa mua sắm từ những đại lý riêng của người quản lý với những nhà cung cấp khác trên thị trường để có sự đánh giá và thực hiện

 Tăng cường sự kiểm soát từ bên trong và bên ngoài

Hiệu quả quản lý chi tiêu công

Trong các hoạt động kinh tế - xã hội, hiệu quả là khái niệm tương đối phổ biến, dùng để biểu thị hoạt động tốt của một cá nhân, tổ chức hay một hệ thống trong mối quan hệ so sánh giữa kết quả đầu ra với chi phí đầu vào phù hợp với các mục tiêu đã định

Hiệu quả của quản lý chi tiêu công là một khái niệm vốn có trong phạm trù tài chính công - khâu tài chính gắn liền với chủ thể nhà nước Nó bắt nguồn

từ mục đích thỏa mãn các nhu cầu tất yếu để đạt được mục tiêu quản lý kinh tế

- xã hội của nhà nước trong mối quan hệ khách quan về khả năng tổ chức, khai thác nguồn lực tài chính công và cách thức phối hợp giữa chúng phù hợp với

Trang 19

Đặc trưng cơ bản của hiệu quả quản lý chi tiêu công là nhấn mạnh đến

sự thiết lập có hiệu quả các yếu tố thuộc về quản lý như: tổ chức, xây dựng thể chế, cung cấp thông tin, sử dụng các công cụ để phân bổ nguồn lực tối ưu, tạo

ra các đầu ra và kết quả cuối cùng sao cho phù hợp với mục tiêu tổng thể của chiến lược quản lý, đó là:

 Kỷ luật tài khóa tổng thể, giữ mức chi tiêu trong phạm vi nguồn lực tài chính

 Phân bổ nguồn lực tài chính công phù hợp với các mục tiêu chiến lược ưu tiên của nhà nước

 Đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của các chương trình và cung ứng hàng hóa dịch, vụ

Trong đó, tính hiệu quả, hiệu lực của các chương trình và cung ứng hàng hóa, dịch vụ là các chỉ tiêu có ý nghĩa rất quan trọng để đánh giá hiệu quả

về quản lý chi tiêu công của nhà nước Tính hiệu quả và hiệu lực chi tiêu công được đánh giá theo một quy trình tổng thể sau:

(Hoạt động)

Đầu vào

Tính kinh

tế

Trang 20

Trong sơ đồ trên:

 Kết quả đầu ra: Là hàng loạt hàng hóa và dịch vụ do các cơ quan, đơn vị công tạo ra và cung cấp cho xã hội

Nhìn chung, các thước đo kết quả đầu ra cho các hàng hóa, dịch vụ do khu vực công cung cấp bao gồm một số hay toàn bộ các khía cạnh của kết quả thực hiện sau:

- Số lượng hoặc các mức độ đầu ra cần đạt được

- Chất lượng các đầu ra đạt được

- Chi phí cung cấp các đầu ra

- Kịp thời hoặc thời điểm các đầu ra cung cấp

 Hoạt động: Là quá trình diễn ra để tạo ra kết quả tạo ra

 Đầu vào: Là những nguồn lực được các cơ quan, đơn vị công sử dụng để thực hiện các hoạt động và từ đó tạo nên kết quả đầu ra

 Chi phí: Là số tiền (nguồn lực tài chính) được chi ra (Phân phối và sử dụng)

để trang trải cho đầu vào

 Tính kinh tế: Thường gắn với chi phí của các nhân tố đầu vào được sử dụng Những thước đo về kinh tế có thể được sử dụng để xác định các chi phí đầu vào có ở mức hợp lý hay ko?

 Hiệu quả: Là tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào

 Hiệu lực: Cho biết kết quả đầu ra có mang lại (hay tác động) đến các mục tiêu kinh tế xã hội được mong muốn hay không

 Giá trị tiền tệ: Biểu thị chi phí bỏ ra được chuyển tải thành các tác động mong muốn Thước đo về giá trị tiền tệ chỉ ra những hoạt động nào có thể mang lại những kết quả và mục tiêu mong muốn với chi phí thấp nhất Hiệu quả về chi phí là thước đo để so sánh giữa chi phí về kinh tế và kết quả của những tác động (mục tiêu) mong muốn

1.2.3 Một số phương pháp quản lý cơ bản về quản lý chi tiêu công hiện đại:

Trang 21

Vào trước cuối thế kỷ 19, lập ngân sách ở hầu hết các quốc gia được biểu thị bằng năng lực điều hành yếu kém, ít sự kiểm sóat của trung ương Lập ngân sách danh mục theo truyền thống là một sự cải cách được bắt nguồn từ sự quan tâm về kiểm soát chi tiêu, hiệu quả sử dụng nguồn lực Vì lý do này, những người cải cách ngân sách vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã ủng hộ

hệ thống lập ngân sách theo danh mục nhằm đẩy mạnh tính trách nhiệm qua việc sử dụng chi tiết các nguồn lực

Theo truyền thống, đây là cách quản lý quan tâm tới kiểm soát chi tiêu, hiệu quả sử dụng nguồn lực Tập trung quan trọng nhất của hệ thống ngân sách

là chi tiết hóa chi tiêu ngân sách trong quá trình phân phối với những giới hạn nhất định, để đảm bảo các cơ quan Nhà nước không thể chi tiêu vượt quá nguồn lực được phân phối

Nhược điểm của mô hình này là:

 Chỉ nhấn mạnh đến khâu lập ngân sách với những chỉ tiêu sẵn có được đưa

ra bởi chính phủ

 Ngân sách chỉ được tập trung trong ngắn hạn ( 1 năm)

 Không chú trọng đúng mức tới tính hiệu quả phân bổ nguồn lực và hiệu quả hoạt động trong cung ứng hàng hóa công

1.2 3.2 Lập và quản lý ngân sách theo công việc thực hiện:

Là việc tiến hành, phân phối nguồn lực của Nhà nước gắn liền với những hoạt động của từng đơn vị, cơ quan Nhà nước và đo lường khối lượng công việc trong sự so sánh với chi phí Quản lý ngân sách theo công việc thực hiện đã thực hiện việc chuyển đổi việc lập ngân sách dựa vào sự kiểm sóat chi tiêu đầu vào sang lập ngân sách theo khối lượng công việc Do vậy, trong quản

lý ngân sách, nhà nước thường sử dụng phương pháp phân tích lợi ích - chi phí

để đánh giá việc phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công

Nhược điểm của phương thức quản lý này là:

 Một trong những điểm mạnh của lập ngân sách theo công việc là gắn kết

Trang 22

năm, nhưng đây cũng là điểm yếu cơ bản của nó vì ngân sách chỉ được lập trong ngắn hạn, không gắn với chính sách phát triển kinh tế dài hạn

 Lập ngân sách theo công việc thực hiện được thiết kế hướng vào thực hiện tất cả các mục tiêu, trong khi nguồn lực có giới hạn nên nó ko quan tâm đúng mức tính hiệu quả, hiệu lực của chi tiêu NSNN

1.2.3.3 Lập và quản lý ngân sách theo đầu ra:

Lập ngân sách theo đầu ra là một hoạt động quản lý ngân sách dựa vào

cơ sở tiếp cận những thông tin đầu ra để phân bổ và đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính nhằm hướng vào đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển của chính phủ Lập ngân sách theo đầu ra bao hàm một chiến lược tổng thể nhằm đạt được những thay đổi quan trọng trong việc quản lý và đo lường công việc thực hiện của các cơ quan nhà nước so với mục tiêu đề ra Nó bao gồm nhiều công đoạn như: thiết lập mục tiêu, lựa chọn các chỉ số và kết quả nhắm tới, giám sát công việc thực hiện, phân tích và báo cáo những kết quả này so với mục tiêu đề ra

Lập ngân sách theo đầu ra hướng vào một hệ thống phân bổ một nguồn lực, nhằm tạo nên sự liên kết chi phí với kết quả của những chương trình công cộng Điểm mấu chốt chính là sự lựa chọn các mục tiêu của chính sách cùng với những giải pháp cần thiết để đạt được mục tiêu đó Lập ngân sách theo đầu

ra được thiết lập cho những mục tiêu chương trình dài hơn 1 năm tài khóa Thêm vào đó, lập ngân sách theo đầu ra đòi hỏi phải có những giải pháp hiệu lực để đo lường đầu ra và kết quả của các khoản chi tiêu công

Sức ép về phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập, nhu cầu của xã hội

về nâng cao chất lượng hàng hóa công, đòi hỏi Nhà nước phải đổi mới phương thức quản lý ngân sách theo đầu ra, và điều này là rất cần thiết cho Việt Nam

1.3 Xu hướng và kinh nghiệm của một số nước về quản lý chi tiêu công:

1.3.1 Xu hướng cải cách quản lý chi tiêu công trên thế giới

1.3.1.1.Cải cách quản lý NS theo kết quả đầu ra

Trang 23

Thời gian qua, nhiều nước áp dụng phương thức quản lý truyền thống hay còn gọi là quản lý ngân sách theo khoản mục đầu vào không ngừng hoàn thiện chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính công nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa công cung cấp cho xã hội Thế nhưng, kết quả thực tế mang lại không cao, bởi lẽ khu vực công vẫn duy trì phương thức quản lý truyền thống hay còn gọi là quản lý ngân sách theo các khoản mục đầu vào mà vốn dĩ đã bộc nhiều yếu kém:

 Việc quản lý ngân sách theo khoản mục đầu vào đã không chú trọng đến các kết quả đầu ra trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược ưu tiên của quốc gia Điều này dẫn đến tình trạng, nguồn tài trợ cho những kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội không được quan tâm đúng mức tạo ra sự hụt hẫng về tài chính nên nhiều công trình phải chờ kinh phí Kinh phí đầu tư dàn trải cho nhiều dự án khiến những ưu tiên của Chính phủ không được tài trợ tương xứng với tầm quan trọng của chúng

 Trong quá trình soạn lập ngân sách, kiểm soát các khoản mục đầu vào được coi trọng hơn cải thiện kết quả hoạt động Các thông số về đầu ra cũng như về kết quả thường ít được quan tâm, nên ngân sách thiếu thực tế, dễ bị điều chỉnh và tạo ra kết quả ngoại ý Phân bổ ngân sách theo các khoản mục đầu vào đã tạo ra điểm yếu cơ bản là không khuyến khích đơn vị tiết kiệm ngân sách, vì nó không đặt ra yêu cầu ràng buộc chặt chẽ giữa số kinh phí được phân bổ với kết quả đạt được ở đầu ra do sử dụng ngân sách đó

 Soạn lập ngân sách thiếu mối liên kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn với nguồn lực trong một khuôn khổ kinh tế vĩ mô được dự báo nên dẫn đến các kết quả ngân sách nghèo nàn

Do ngân sách soạn lập theo chu kỳ hàng năm, nên nó không được đánh giá, xem xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương trình phát triển kinh tế xã hội dài hạn Nguồn lực của ngân sách phân bổ mang tính dàn trải, thiếu vắng hệ thống các tiêu chí thích hợp để xác định thứ tự ưu tiên chi tiêu Cách phân bổ ngân sách hiện nay không dựa trên nền tảng lí luận tài chính Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, thiếu chiến lược rõ ràng, không cho phép đạt

Trang 24

Ngân sách soạn lập hàng năm vừa tốn thời gian, nhân lực và tiền bạc vừa không tiên đoán hết mọi biến cố trung hạn có thể ảnh hưởng đến dự toán Ngân sách năm sau được soạn lập trên cơ sở ngân sách năm trước mà không xét tới việc có nên tiếp tục duy trì hoạt động đang được cung cấp tài chính hay không Ngân sách chi thường xuyên và ngân sách chi đầu tư phát triển được soạn lập một cách riêng rẽ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công Tính minh bạch và trách nhiệm không thực hiện nghiêm túc, một số khoản mục chi được đưa vào thực hiện nhưng không công bố, đồng thời hạn chế sự tham gia của xã hội trong quy trình ngân sách

Trước sức ép về phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập, nhu cầu của

xã hội về nâng cao chất lượng hàng hóa công, đòi hỏi Nhà nước phải đổi mới phương thức quản lý ngân sách

Lập và quản lý ngân sách theo đầu ra là một hoạt động quản lý ngân sách dựa vào cơ sở tiếp cận những thông tin đầu ra để phân bổ và đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính nhằm hướng vào đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển của chính phủ Lập ngân sách theo đầu ra (NSĐR) bao hàm một chiến lược tổng thể nhằm đạt được những thay đổi quan trọng trong việc quản

lý và đo lường công việc thực hiện của các cơ quan nhà nước so với mục tiêu

đề ra Nó bao gồm nhiều công đoạn như: thiết lập mục tiêu, lựa chọn các chỉ số

và kết quả nhắm tới, giám sát công việc thực hiện, phân tích và báo cáo những kết quả này so với mục tiêu đề ra

Những đặc điểm cơ bản của phương thức quản lý ngân sách đầu ra

- Ngân sách lập theo tính chất “mở”- công khai, minh bạch;

- Các nguồn lực tài chính của Nhà nước được tổng hợp toàn bộ vào trong dự toán ngân sách

- Ngân sách được lập theo thời gian trung hạn

- Ngân sách được lập dựa vào nhu cầu, hướng tới khách hàng và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội

- Ngân sách hợp nhất chặt chẽ giữa chi thường xuyên và chi đầu tư

- Ngân sách lập dựa trên cơ sở nguồn lực không thay đổi trong trung hạn và do

Trang 25

- Phân bổ ngân sách dựa theo thứ tự ưu tiên chiến lược

- Phi tập trung hóa trong quản lý ngân sách, người quản lý được trao quyền chủ động trong chi tiêu

1.3.1.2.Cải cách quy trình lập dự toán ngân sách dựa theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF)

Quản lý ngân sách theo đầu ra yêu cầu phải thay đổi phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn ((MTEF: Medium-Term Expenditure Framework) nhằm kết nối chính sách, lập kế hoạch và lập ngân sách phù hợp với năng lực của quốc gia

Khuôn khổ chi tiêu trung hạn là một phương pháp soạn lập ngân sách nhà nước được xác định trong một giai đoạn dài hơn, trong đó nó giới hạn nguồn lực tổng thể từ trên xuống và kết hợp với các dự toán kinh phí từ dưới lên hợp thành chính sách chi tiêu được phân bổ phù hợp với các ưu tiên chiến lược đã được Chính phủ chấp nhận

MTEF được xây dựng dựa trên nhận thức nguồn lực tài chính của quốc gia có giới hạn và không tăng trong khoảng thời gian trung hạn, ít ra là 3-5 năm Vì vậy, để đạt được những kết quả cao hơn từ những nguồn lực hiện có đòi hỏi phải thiết lập các công cụ để phân bổ nguồn lực này phù hợp với mục tiêu chiến lược ưu tiên

Nói khác hơn, MTEF yêu cầu:

 Đánh giá mọi nguồn lực sẵn có, ước tính chi phí thực tế của việc thực hiện chính sách

 Tập trung tất cả nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược

 Phân bổ nguồn lực theo các ưu tiên chiến lược của chính sách một cách minh bạch

Mục tiêu của MTEF:

 Khắc phục phương pháp soạn lập ngân sách tăng thêm, cắt giảm tuỳ tiện, tách biệt ngân sách thường xuyên và ngân sách đầu tư, thiếu minh bạch trong

Trang 26

chu kỳ lập ngân sách hàng năm, nhưng đem lại nền tảng cho chính sách tài chính trong quy trình ngân sách hàng năm

 MTEF tạo ra cơ sở chiến lược cho soạn lập ngân sách để hướng các khoản chi tiêu nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, gắn kết tất cả các khoản chi tiêu bao gồm chi đầu tư và chi thường xuyên với tổng thể nguồn lực sẵn có (nguồn lực trong nước và nước ngoài) Quy trình lập ngân sách minh bạch khắc phục việc khởi xướng đưa ra những chính sách phi thực tế về mặt tài chính

 Hướng dẫn phân bổ chi tiêu ngân sách từ trung ương đến địa phương trong sự gắn kết với các ưu tiêu phát triển dựa trên đánh giá nguồn lực tổng thể

và đo lường hiệu quả sử dụng nguồn lực

 Nâng cao tính hiệu quả của chi tiêu bằng việc yêu cầu các cơ quan, đơn vị

sử dụng ngân sách phải xác định nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động và đo lường công việc thực hiện giữa đầu ra với đầu vào và đầu ra với kết quả

 Đưa ra tầm nhìn trung hạn để cho các ngành, các địa phương lập kế hoạch trước và xác định những chương trình có thể được duy trì Ngân sách trung hạn được lập trong giai đoạn 3-5 năm; từng năm một, dự toán ngân sách được đưa vào, và do vậy đảm bảo tính liên tục của của ngân sách trung hạn

1.3.1.3 Cải cách kế toán: thay thế kế toán tiền mặt bằng kế toán dồn tích

Kế toán tiền mặt còn được gọi là kế toán dựa trên dòng tiền (Tiếng Anh

là Cash basis) Thực chất đây là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở thực thu -

thực chi tiền Phương pháp kế toán dựa trên dòng tiền là phương pháp đơn giản nhất Theo phương pháp này thu nhập và chi phí được ghi nhận khi thực nhận tiền và thực chi tiền

Kế toán dồn tích (Accrual basis) là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở

Dự thu - Dự chi Theo hệ thống kế toán dồn tích, doanh thu được ghi nhận khi

nó được thực hiện và chi phí được được ghi nhận khi nó phát sinh Kết quả

hoạt động kinh doanh được xác định trên nguyên tắc phù hợp

Ưu điểm của kế toán dồn tích là cho phép xác định được kết quả hoạt

Trang 27

thông tin về ngân quỹ nhờ vào cách lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp Xuất phát từ ưu điểm này mà hiện nay kế toán dồn tích chiếm

ưu thế hầu hết các nước trên thế giới

1.3.1.4.Tăng cường kiểm toán

Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của Nhà nước (Trung ương, địa phương), các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức khác của Nhà nước và của nhân dân khi cùng tài trợ kinh phí cho các hoạt động công do Chính phủ quản

lý Nội dung đánh giá chi tiêu công là tập trung xem xét các vấn đề về tính bền vững tài chính và tính minh bạch trong quản lý chi tiêu công, phân cấp quản lý chi tiêu công cũng như đi sâu phân tích chi tiêu công trên góc độ tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và bình đẳng giới đồng thời đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm tăng cường hiệu quả cũng như hiệu lực của quản lý chi tiêu công Việc đánh giá chi tiêu công hiện nay đã trở nên cấp thiết, do các cấp chính quyền luôn phải đối mặt với lựa chọn khó khăn trong bố trí các khoản chi tiêu nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định với nguồn kinh phí

có hạn, nhất là khi nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp, nhịp độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt mức mong muốn Điều đó dẫn đến vốn tích luỹ thấp, nguồn lực tài chính hạn hẹp, trong khi nhu cầu chi tiêu cho các ngành các lĩnh vực rất lớn, đó là những thách thức rất lớn đối với cấp chính quyền khi bố trí các khoản chi tiêu Việc đánh giá hiệu quả chi tiêu công cho phép các cấp chính quyền các thông tin về hoạt động có hiệu quả, hoạt động không hiệu quả và thấy được mức độ hữu ích của hoạt động công, từ đó

có phương án phân bổ nguồn lực có hiệu quả hơn Nguồn tài chính để tài trợ cho các hoạt động công phần lớn được hình thành từ sự đóng góp bắt buộc (thuế) và tự nguyện của công chúng, cho nên hiệu quả sử dụng nguồn tài chính phải được công khai và giải trình là một yêu cầu cần thiết

Chức năng của kiểm toán tài chính công là thực hiện kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động, kiểm toán báo cáo tài chính đối với các cấp ngân sách

Trang 28

Kiểm toán tài chính công có chức năng kiểm tra xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp và các đoàn thể, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí do ngân sách cấp (kiểm toán báo cáo tài chính); kiểm tra tình hình chấp hành các chế độ, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, kế toán (kiểm toán tuân thủ); kiểm tra tính hiệu quả trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao (kiểm toán hoạt động) của các đơn vị này Kiểm toán tài chính công có vị trí quan trọng trong quản lý Nhà nước, không thể thay thế bằng công cụ khác Kiểm toán tài chính công tạo niềm tin cho tất cả những ai quan tâm đến tình hình tài chính công Thông qua việc xác nhận tính trung thực, hợp lý của các số liệu tài chính tại các cơ quan có sử dụng vốn ngân sách Nhà nước do kiểm toán tài chính công thực hiện mà những người quan tâm đến tình hình tài chính công có thể tin vào sự đúng đắn của các số liệu được công

bố, và là cơ sở để Nhà nước đánh giá khách quan tình hình quản lý tài chính công ở các đơn vị, đồng thời phát hiện những bất cập về chế độ quản lý tài

chính công, nhằm tìm ra các giải pháp hoàn thiện

1.3.2 Một số ví dụ điển hình chuyển đổi mô hình quản lý chi tiêu công thành công:

1.3.2.1 Các nước thuộc tổ chức OECD:

OECD là nhóm tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, được thành lập vào năm 1960 Trong những năm 1990, hầu hết các nước thuộc tổ chức này đã thực hiện đổi mới quản lý ngân sách theo những nội dung cơ bản sau:

- Chuyển lập ngân sách ngắn hạn sang lập ngân sách trung hạn với giới hạn ngân sách cao hơn

- Thiết lập chế độ kiểm soát chi tiêu công nhằm định hướng sự phân bổ các nguồn lực theo chiến lược ưu tiên

- Lập ngân sách dựa theo đầu ra và kết quả

Theo đó, các nước OECD đã tập trung vào đổi mới các vấn đề then chốt

Trang 29

thông qua cải cách các dịch vụ dân sự và tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, qua đó nhằm giảm bớt chi tiêu công và đạt sự ổn định kinh tế vĩ mô Trước hết là thông qua việc xác định tính hợp lý về sự can thiệp của nhà nước sao cho phù hợp với năng lực quản lý, hai là tăng cường cơ chế trách nhiệm, cung cấp những động lực và đặt các tổ chức nhà nước hoạt động trong môi trường cạnh tranh để nâng cao tính hiệu quả

 Cải thiện việc lập kế hoạch chi tiêu và nguồn lực: Ngân sách truyền thống có khuynh hướng tách rời những quyết định chi tiêu của đơn vị ra khỏi sự xem xét giới hạn tổng thể Để giải quyết vấn đề này, các nước OECD đã đưa vào kế hoạch lập kế hoạch chi tiêu và nguồn lực trung hạn để hướng dẫn quy trình lập ngân sách hàng năm Điểm quan trọng khi áp dụng khuôn khổ chi tiêu trung hạn là đánh giá nguồn hạn các nguồn lực

 Tăng cường sự quản lý: Các nước OECD đều xem hệ thống quản lý chi tiêu công như là công cụ quản lý Quản lý chi tiêu công tốt được đánh giá căn bản dựa trên các khía cạnh: Tính minh bạch của sự ra quyết định và thực hiện chính sách, đi kèm theo nó là tính trách nhiệm của người quản lý về hậu quả của các chính sách Tính minh bạch được xem xét trên các khía cạnh:

- Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của Chính phủ và các tổ chức quản

lý tài chính Những vấn đề nên được phản ảnh trong khuôn khổ quản lý

và luật pháp

- Công khai hóa các thông tin về hoạt động tài chính của chính phủ

- Những tủ tục về điều hành và kiểm soát ngân sách rõ ràng: hệ thống báo cáo ngân sách phải kịp thời

1.3.2.2.Các nước Đông Âu:

Tập trung thay đổi mô hình truyền thống về quản lý các chương trình đầu tư công thông qua chính sách đánh giá đầu tư công và đánh giá chi tiêu

công Ở Estonia, người ta nhấn mạnh về việc nắm bắt vai trò minh bạch của Chính phủ Bungari tập trung vào sàng lọc và tổng hòa quỹ ngoài ngân sách

Trang 30

cảnh toàn thể các chính sách chi tiêu công và gắn kết với cách tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên

Ngoài ra có thể xem xét thêm kinh nghiệm của Latvia làm minh chứng Latvia tiến hành đánh giá chi tiêu công vào 1994 và khuyến khích thiết lập các chương trình đầu tư công cuốn chiếu 3 năm một lần Chính phủ Latvia xem thời gian 3 năm như là một giải pháp tăng cường quản lý chi tiêu công của quốc gia và là bước đi đầu tiên hướng vào phát triển khuôn khổ lập kế hoạch tài chính trung hạn

Hệ thống chương trình đầu tư công được Latvia đề xuất tập trung vào giải quyết các vấn đề chính của chương trình đầu tư công:

 Phát triển và chấp nhận quan điểm rõ ràng về những chiến lược ngành và những ưu tiên chính phủ để hướng tới thành lập chương trình đầu tư công và sự phân phối nguồn lực rõ ràng

 Sàng lọc khắt khe tất cả những dự án đề xuất để đưa vào chương trình đầu

tư công và thông qua chương trình đánh giá, phân tích chi phí - lợi ích và hiệu quả

 Phân phối nguồn lực đầy đủ để bảo dưỡng và bù đắp sự giảm giá tài sản đầu tư

 Gắn kết như cầu đầu tư với nguồn lực sẵn có, dựa vào các cuộc điều tra, xếp loại những dự án ưu tiên cao và vừa với dự toán nguồn lực tài chính có sẵn

 Cải thiện quá trình lập và thực hiện ngân sách hàng năm, bao gồm gắn kết

sự chuẩn bị chương trình đầu tư công với chu kỳ ngân sách hàng năm và yêu cầu ngân sách hàng năm chỉ tài trợ cho những dự án đã đưa vào chương trình đầu tư công

1.3.2.3 Trung Quốc:

Cải cách quản lý chi tiêu công ở Trung Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm trong hơn 20 năm qua Đó là một quá trình cải cách sâu rộng nhất

Trang 31

đúc kết được những lý thuyết hành chính công hiện đại, và phát triển các lý thuyết đó trong điều kiện cụ thể của chính mình Nói một cách ngắn gọn, Trung quốc đã tiến hành theo các điều kiện cụ thể của đất nước với sự tập trung chủ yếu vào việc tinh giảm nguồn nhân lực của các cơ quan chính phủ và

uỷ quyền, phân chia trách nhiệm hợp lý giữa các cơ quan chính phủ Một mặt phải táo bạo trong cải cách và quan tâm đầy đủ tới sự ổn định một cách bền vững và từng bước xây dựng một chính phủ nhỏ gọn, hiệu lực, hiệu quả và trong sạch phù hợp với những yêu cầu của nền kinh tế thị trường Cải cách quản lý chi tiêu công ở Trung quốc tập trung vào các vấn đề sau:

 Phân chia chức năng, nhiệm vụ hành chính và uỷ quyền

Phân chia rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý và uỷ quyền là cốt lõi của cải cách quản lý chi tiêu công Đó là một phương tiện rất quan trọng để có được một hệ thống chính trị dân chủ Đồng thời nó còn là nền tảng về mặt tổ chức cho sự phát triển kinh tế nhanh chóng Mục tiêu chủ yếu và cơ bản nhất của qunar lý chi tiêu công hiệu quả là huy động và nâng cao sức sống, tính hiệu quả và tính tích cực của các ngành, các cấp Sự phân chia quyền lực một cách

mơ hồ, thiếu rành mạch, các chức năng nhiệm vụ như nhau và sự tập quyền quá mức chắc chắn sẽ làm mất đi sức sống và tính tích cực của công cuộc cải cách

 Tiến hành cải cách quản lý chi tiêu công theo những điều kiện cụ thể của đất nước

Các biện pháp cải cách thành công đều bắt nguồn từ sự phát triển về văn hoá, kinh tế, chính trị và xã hội Chính phủ Trung Quốc tiến hành cải cách chi tiêu công theo những điều kiện thực tế nhằm xây dựng và thúc đẩy nền kinh tế thị trường XHCN, bảo đảm gắn liền với sự phát triển kinh tế-xã hội Trung Quốc tiến hành quản lý chi tiêu công phù hợp với nguyên tắc tách chính phủ ra khỏi doanh nghiệp, thay đổi vai trò của chính phủ trong việc quản lý nền kinh

tế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường và trở thành các đối tác

Trang 32

cung cấp thông tin, tổ chức và điều phối, cung cấp dịch vụ, chỉ đạo và tăng cường công tác hoạch định chính sách vĩ mô

 Tinh giản nhằm xây một chính phủ nhỏ

Thiết lập một cơ chế thị trường và khai thác mọi tiềm năng của nó, phát huy tốt nhất hiệu lực và hiệu quả của nền công vụ, tinh giản bộ máy chính phủ

và nguồn nhân lực Thực tiễn đã chứng minh những quan điểm đó là hoàn toàn đúng đắn Thí dụ như sau khi tái cơ cấu lại, nguồn nhân lực của Hội đồng nhà nước đã giảm đi một nửa, nhưng tính hiệu quả lại tăng lên Trong nền kinh tế thị trường XHCN, một số cơ quan của chính phủ không còn có vai trò tích cực

Mà ngược lại, những cơ quan này can thiệp vào hoạt động của thị trường lại tạo ra những tác động tiêu cực Do đó, những cơ quan này phải bị xoá bỏ để nâng cao hơn tính hiệu quả của hoạt động kinh tế thị trường

1.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam:

Xác lập lại vai trò và cấu trúc của Nhà nước Nội dung chiến lược này

là nhằm hướng vào xác lập lại quy mô khu vực công và phạm vi can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế cho phù hợp với năng lực quản lý, thông qua các chính sách cổ phần hóa DNNN, tự do hóa kinh tế, xã hội hóa các hoạt động dịch vụ công

Nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý và đơn vị sử dụng ngân sách Cung cách quản lý tập trung, quan liêu là đặc tính của hệ thống lập ngân sách theo truyền thống mà kết quả của nó là nguồn lực tài chính công sử dụng kém hiệu quả và hiệu lực, các cơ quan nhà nước không chịu trách nhiệm

về hàng hóa, dịch vụ công cung cấp cho xã hội Những người quản lý và sử dụng ngân sách hoạt động trong một môi trường bị kiểm soát hết sức cứng Những công cụ truyền thống để thực hiện kiểm soát là định mức và khoản mục hóa các khoản chi tiêu, mua sắm đầu vào Thế nhưng, chính sự kiểm soát đầu vào đã gây ra tính kém hiệu quả trong hoạt động bởi vì nó không khuyến khích tiết kiệm, không tạo ra sự gắn kết giữa khối lượng chi tiêu với khối lượng đầu

Trang 33

Chuyển sang lập kế hoạch dài hạn với những giới hạn ngân sách bằng việc xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn nhằm ràng buộc các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương sử dụng các nguồn lực tài chính phải gắn liền với các ưu tiên tổng thể của quốc gia

Từng bước chuyển quản lý ngân sách theo đầu vào sang quản lý ngân sách theo đầu ra Một khi đã thay đổi quy trình lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn, thì phương thức quản lý ngân sách cũng phải có những thay đổi nhất định cho phù hợp Quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra là một hoạt động quản lý dựa vào cách tiếp cận thông tin đầu ra qua đó giúp cho chính phủ

và các cơ quan sử dụng ngân sách phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả và hiệu lực hơn So với phương quản lý ngân sách theo đầu vào, quản lý ngân sách theo đầu ra có nhiều ưu điểm

Phát triển hệ thống thông tin quản lý tài chính và hệ thống kế toán công Những vấn đề này là trong số các yếu tố cơ bản góp phần làm nâng cao năng lực của chính phủ để phân phối và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả và

hiệu lực

Trang 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI TIÊU CÔNG Ở VIỆT

NAM

2.1 Khái quát chung về chi tiêu công ở Việt Nam

2.1.1 Các xu hướng trong cơ cấu chi tiêu công

Trong các năm từ 2002 đến 2007, tổng chi ngân sách tăng trung bình hằng năm khoảng 17,8% Tốc độ tăng này đã tạo cho Chính phủ có điều kiện

dễ dàng cơ cấu lại các cấu phần chi tiêu và hợp lý hóa chúng để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo

Tổng quan các xu thế chi ngân sách

Năm 1999 đánh dấu một bước chuyển đổi về quy mô tổng chi ngân sách, sau một thời gian giảm hoặc chững lại trong các năm trước đó, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước trên GDP đã bắt đầu tăng lên khá đều đặn trong giai đoạn

1999 - 2007 Từ mức thấp nhất là 20,5% đến 22,6% GDP năm 2000 và tiếp tục

là 24,2%, 24,1%, 25%, tới 2007 là khoảng 26 % - 27% GDP

Trong giai đoạn từ năm 2002 - 2007, tổng chi ngân sách nhà nước tăng đáng kể với mức tăng trung bình hằng năm gần 17,8%, trong đó chi cho đầu tư phát triển tăng gần 20% một năm Tỷ trọng chi thường xuyên trong GDP tăng

từ 16% năm 2002 lên 18% năm 2007, trong khi chi đầu tư phát triển tăng từ 7,5% lên 19,2% cùng kỳ Chi đầu tư phát triển chiếm tỷ trọng trung bình là 34% trong tổng chi ngân sách trong năm năm qua

Kết quả của các xu thế chi ngân sách được trình bày trong biểu đồ dưới đây cho thấy tình hình bội chi đang ở mức thấp và có thể kiểm soát được Các con số cụ thể về tình hình bội chi ở nước ta giai đoạn (2004 – 2007) chỉ trên dưới 5%, là phù hợp với mức dự toán Nhà nước cho phép

Trang 35

Các xu thế chi ngân sách (Tỷ lệ % trong GDP)

0 10 20 30

Chi thường xuyên Chi ĐTPT Tổng

Biểu 2.1 Các xu thế chi ngân sách (Tỷ lệ % trong GDP)

Nhờ thực hiện định mức phân bổ và cơ chế ổn định đối với ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) giai đoạn

2000 - 2005, tổng thu NSNN tăng 34,2% (bình quân gần 16%/năm), trong đó thu NSTW tăng 40,5% (bình quân 18,5%), thu NSĐP tăng 22,4% (bình quân 10,6%/năm); tổng chi NSNN tăng 46,2% (bình quân 20,4%), trong đó tổng chi cân đối NSĐP tăng gần 40% (bình quân tăng hơn 18%/năm), chi đầu tư phát triển NSĐP tăng hơn 71% (bình quân tăng 31%/năm) Định mức phân bổ NS với hệ thống tiêu chí phân bổ NS cụ thể, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện, dễ kiểm tra đã ưu tiên các địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc có nhiều khó khăn; ưu tiên các địa phương có đóng góp thu về NSTW Đảm bảo tính công bằng, công khai và minh bạch các nhiệm vụ chi NS của từng Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương theo quy định của Luật NSNN Góp phần thúc đẩy tiết kiệm, khuyến khích xã hội hoá, cải cách hành chính trong công tác xây dựng và quản lý dự toán NSNN

Dưới đây sẽ phân tích chi tiết về phân loại hạng mục chi theo chức năng

và theo ngành kinh tế

Phân loại chi tiêu theo loại hình kinh tế

Trang 36

Chi đầu tư, vận hành và bảo dưỡng

Chi đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển Trong những năm qua, kể cả trong những năm kinh tế khó khăn nhất, Việt Nam luôn dành vị trí ưu tiên cho chi đầu tư với nguyên tắc là tốc độ tăng chi đầu tư phải nhanh hơn tốc độ tăng chi thường xuyên

Trong thời gian gần đây, chi đầu tư phát triển từ ngân sách tiếp tục duy trì ở mức cao, kể cả mua sắm tài sản cố định Tỷ lệ chi đầu tư trong tổng chi NSNN tăng từ 27% năm 2000 lên 35% năm 2005 Chi đầu tư đã tăng cao hơn đáng kể so với chi thường xuyên và tổng chi ngân sách Cùng với nó, là cơ cấu đầu tư đã có sự chuyển biến theo hướng tập trung hơn cho các lĩnh vực ưu tiên,

đó là giao thông, thủy lợi, giáo dục

Cũng như một số nước phát triển khác, Việt Nam chưa chú ý đúng mức đến chi tiêu cho vận hành và bảo dưỡng Hậu quả là trong một số ngành, theo ước tính tỷ suất lợi nhuận của chi vận hành và bảo dưỡng cao hơn so với chi đầu tư mới Điều này thể hiện rõ trong nghành Thủy lợi, ngành có khoảng hơn 50% công trình quy mô lớn không mang lại hiệu quả do thiếu duy tu bảo dưỡng Ngành giao thông vận tải cũng là một bằng chứng về khủng hoảng duy

tu bảo dưỡng

Báo cáo đánh giá chi tiêu công năm 2000 đã ghi nhận rằng tăng tỷ lệ ngân sách dành cho chi đầu tư là giảm tỷ lệ dành cho chi vận hành và bảo dưỡng vốn rất cần thiết Từ năm 2000 đến 2005, tỷ lệ của chi vận hành và bảo dưỡng trong ngân sách tiếp tục giảm từ 24% xuống 14% trong tổng chi tiêu

Trang 37

Phân loại chi tiêu theo loại hình kinh tế

Chi thường xuyên khác

VH và BD

Tiền công và lương chi đầu tư

Chi thường xuyên khác VH và BD Tiền công và lương chi đầu tư

Biểu 2.2.Phân loại chi tiêu công theo loại hình kinh tế, tính theo tỷ lệ trong

tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2000 - 2005

Chi tiêu cho Tiền công, lương và chi thường xuyên khác

Tỷ lệ tiền công và lương (bao gồm cả lương hưu) trong tổng chi tiêu đã

có xu hướng gia tăng, dao động khoảng 27 – 35% trong tổng chi tiêu, chiếm khoảng 43 đến 50% chi thường xuyên trong giai đoạn 1997 - 2005 Nhưng còn nhiều tồn tại bất cập trong cơ cấu lương công chức, hệ thống lương hiện nay hết sức phức tạp, thiếu tính khuyến khích, lương dựa trên chức vụ hơn là mức

độ đóng góp thực tế và một hệ thống phúc lợi không rõ ràng

Tuy có nhiều ngạch bậc lương, nhưng mức chênh lệch giữa các bậc không đáng kể, nên hầu như nó không có tác dụng khuyến khích nâng cao trình

độ đội ngũ nguồn nhân lực

Phân loại chi tiêu theo ngành kinh tế

Biểu đồ dưới đây mô tả sự thay đổi cơ cấu chi tiêu theo ngành kinh tế trong hai năm 2002 và 2007

Trang 38

GD & ĐT

Y tế Bảo hiểm XH Văn hoá - TT

KH, CN, MT Chi hành chính Chi trả lãi suất Khác

Biểu 2.3 Cơ cấu chi ngân sách theo ngành kinh tế năm 2002 và năm 2007

Trang 39

Chính phủ đã ưu tiên về chi tiêu ngân sách giáo dục trong cả chính sách

và trên thực tế Thực tế, chi cho giáo dục ở Việt nam năm 2005 chiếm 8,3% GDP, vượt cả Mỹ chỉ có 7,2% GDP Biểu đồ trên thể hiện chi tiêu công cho giáo dục tăng trong cả chi ngân sách nhà nước và trong tổng GDP

Sự phát triển về quy mô và tỷ trọng chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong thời gian qua đã góp phần đem lại một số thành tựu nhất định trong hệ thống giáo dục - đào tạo, cụ thể là:

- Đời sống giáo viên được quan tâm hơn qua các bước cải cách chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ cho giáo viên

- Hoàn thành chương trình xóa mù chữ theo đúng mục tiêu nghị quyết TW2

đề ra, đồng thời đang tiến hành phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước Mặc dù có những chuyển biến tích cực và có những đóng góp nhất định cho việc phát triển sự nghệp giáo dục - đào tạo trong thời gian qua, tuy nhiên thực trạng quản lý chi trong lĩnh vực này vẫn tồn tại một số vấn đề cần giải quyết:

Thứ nhất; Hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam hiện có 4 cấp: Mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông Một điều đáng chú ý là

số lượng giáo viên tiếp tục tăng ở cấp tiểu học trong khi số lượng học sinh lại bắt đầu giảm Hiện tượng này cũng bắt đầu diễn ra ở cấp bậc THCS Điều này vừa là cơ hội lẫn thách thức đối với Việt nam khi sẽ phải tập trung vào nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục, chứ không còn là cố gắng đối phó với

áp lực về số lượng học sinh tăng lên như trước đây Những lựa chọn ưu tiên hiện đang rộng mở, tuy nhiên việc đạt được những thành tựu tiềm năng lại đặt

ra nhiều thách thức mới cho công tác quản lý cũng như đòi hỏi phải sử dụng và phân bổ lại nguồn lực nhằm tối đa hóa tác động của nó

Thứ hai; Hiệu suất trong ngành giáo dục là quan hệ giữa đầu vào và đầu

ra liên quan đến số lượng học sinh và chất lượng giảng dạy họ được hưởng Bảng 2.2 thể hiện xu hướng biến động chi phí trên đầu học sinh từ năm 1999

Trang 40

Bảng 2.2 Chi phí trên đầu học sinh (Nghìn đồng)

Cấp học

Giá hiện hành

Giá hiện

Nguồn: Vụ Kế hoạch và tài chính, Bộ GDDT.

Chi phí nhân công là một bộ phận nổi bật trong chi tiêu cho giáo dục Giáo dục Việt Nam có một đặc điểm là số giờ giảng của giáo viên còn quá thấp, do đó, tuyển dụng và sử dụng nhân sự một cách hiệu quả là những vấn đề quan trọng cần lưu tâm Ở một mức độ nào đó, số giờ giảng trên lớp thấp cho phép giáo viên có cơ hội kiểm thêm thu nhập phụ vào lương vẫn còn thấp của mình Với việc tăng lương gần đây và sắp tới cho giáo viên, thì việc xem xét lại mối quan hệ giữa giáo viên và nhà nước - với tư cách là nhà tuyển dụng cần phải được xem xét lại Một khó khăn tiềm ẩn là các biện pháp nhằm cải tiến tiền lương trong khu vực công đã được khởi động, nhưng lại chưa gắn với việc xác định lại viên chức cần phải làm gì, cũng chưa có sự đánh giá đầy đủ về lợi ích đặc thù của ngành giáo dục (Phụ cấp ngành) so với các ngành khác Cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng những vấn đề này và xác định rõ tăng lương hoặc chính sách phụ cấp sẽ tạo ra những thay đổi gì về chất lượng giáo dục Điều này sẽ tác động một cách cơ bản lên hiệu suất của công tác giáo dục - đào tạo

và việc thực hiện các mục tiêu chính sách trong giáo dục

Ngày đăng: 02/10/2020, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w