Theo giáo trình Tài chính công – Đại học Ngoại thương: Tài chính công làcác hoạt động thu, chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh các quan hệ phân phối dướihình thức giá trị phát sinh tron
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 4
1 Lý do lựa chọn đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Bố cục bài tiểu luậ n 5
B DANH MỤC BẢNG 6
C DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7
D NỘI DUNG 8
Chương I: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu: 8
1.1 Khái niệm và vai trò chi tiêu công 8
1.1.1 Khái niệm tài chính công 8
1.1.2 Khái niệm chi tiêu công 8
1.1.3 Phân loại chi tiêu công 10
1.1.4 Vai trò của chi tiêu công 11
1.2 Tiếp cận cơ bản về quản lý chi tiêu công 13
1.2.1 Khái niệm quản lý chi tiêu công 13
1.2.2 Cấu trúc của quản lý chi tiêu công 13
1.3 Phương pháp nghiên cứu 14
Chương II: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 14
2.1 Cuộc cải cách tài chính công ở Vương quốc Anh 14
2.1.1 Cơ cấu chính phủ và mô hình quản lý công ở Vương quốc Anh 14
2.1.2 Nguyên nhân diễn ra c ải cách quản lý công 19
2.1.3 Nội dung c ải cách 20
2.2 Cuộc cải cách bộ máy quản lý chi tiêu công ở Kosovo 29
Trang 22.2.1 Bối cảnh đất nước 29
2.2.2 Quá trình c ải cách tổ chức quản lý chi tiêu công 31
2.3 Cải cách bộ máy quản lý chi tiêu công ở Việt Nam giai đoạn sau đổi mới đến nay 33
2.3.1 Nền tảng hệ thống quản lý công ở Việt Nam 33
2.3.2 Cải cách bộ máy quản lý chi tiêu công ở Việt Nam 36
2.3.2.1 Tổng quan quá trình cải cách 36
2.3.2.2 Quá trình nhận thức để thực hiện cải cách 36
2.3.2.3 Quá trình cải cách bộ máy quản lý chi tiêu công ở Việt Nam 42
Chương III: Đánh giá cải cách – Đề xuất phương hướng tiếp tục đổi mới bộ máy quản lý chi tiêu công cho Việt Nam 53
3.1 Đánh giá quá trình cải cách quản lý chi tiêu công ở Việt Nam 53
3.2 Đề xuất phương hướng tiếp tục cải cách hệ thống bộ máy quản lý chi tiêu công cho Việt Nam 55
E Lời kết 59
F Danh mục tài liệu tham khảo 60
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trước kia, trong nền kinh tế cổ điển, Chính phủ chỉ đóng vai trò là “cảnhsát” giữ trật tự xã hội, điều đó dẫn đến tài chính cổng cổ điển chỉ là công cụ tàichính đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước Do đó, tàichính công cổ điển có đặc điểm nổi bật là tính trung lập cao với sự thăng bằngđặc biệt giữa thu và chi
Tuy nhiên, đối với kinh tế học hiện đại ngày nay, do sự xuất hiện của nhữngthất bại trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Chính phủ không chỉ dừng lại ở giữtrật tự xã hội mà còn phải can thiệp vào thị trường để điều tiết nên kinh tế khi cầnthiết Chính vì vậy tài chính công hiện đại không còn giữ được tính trung lập màtrong đó mối quan hệ giữa thu công và chi tiêu công cũng không còn cân bằng.Chính phủ và nhà nước giờ đây phải thu để chi chứ thay vì chi theo thu như trước.Đồng thời, các khoản chi tiêu công bây giờ cũng không mất đi mà lại tạo ra sự táiphân phối giữa các khu vực trong nền kinh tế
Đây chính là lí do việc quản lý chi tiêu công hiệu quả là bài toán được đặt ra ở
mọi quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ Theo “Báo cáo đánh
giá chi tiêu công Việt Nam” được thực hiện bởi Ngân hàng Thế giới và Chính phủ
Việt Nam: Hiện nay, Việt Nam đang có bội chi ngân sách kéo dài ở mức cao dẫn tới
lo ngại về khả năng bền vững tài khóa trong trung hạn Bên cạnh đó, tốc độ mở cửa
và phân cấp nhanh chóng khiến cho việc quản lý kinh tế – tài chính trở nên phức tạphơn Để đối phó với tất cả những thách thức này, Việt Nam cần củng cố tình hình tàikhóa, đảm bảo bền vững tài khóa nhưng ít ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, thôngqua duy trì mức độ chi tiêu hợp lý cho đầu tư phát triển và đảm bảo các mục tiêu xãhội Để đạt được những mục tiêu này cần có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu đểtăng cường huy động thu, tái cơ cấu và nâng cao hiệu suất chi tiêu, sử dụng có hiệuquả các tài sản hiện có, quản lý nợ công và giám sát rủi ro tài khóa một cách chủđộng hơn
Việt Nam giờ đây đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình
Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu thấy được tầm quan trọng của việc nghiên cứu mô hình tổ chức bộ máy quản lý nợ công ở Việt Nam và các nước
Trang 4trên thế giới, đồng thời đề ra những khuyến nghị, đổi mới cũng như những gì ViệtNam có thể học tập từ việc đổi mới mô hình tổ chức bộ máy quản lý nợ công trên thếgiới Chính vì sự cần thiết đó, cùng với những kiến thức được học trong môn học Tàichính công và sự tìm hiểu thông tin bên ngoài, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài:
“Đổi mới bộ máy quản lý nợ công ở Việt Nam”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của tiểu luận là nghiên cứu bộ máy quản lý nợ cônghiện nay ở Việt Nam, nghiên cứu việc đổi mới bộ máy quản lý nợ công ở một
số quốc gia trên thế giới; từ đó đề ra một số khuyến nghị để cái thiện bộ máyquản lý nợ công ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bộ máy quản lý nợ công ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Khoảng thời gian từ năm 2012 đến 2017
4 Bố cục bài tiểu luận
Tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương 1 (Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu): Trình bày các
lý thuyết, công trình nghiên cứu liên quan hỗ trợ tiểu luận
Chương 2 (Kết quả nghiên cứu và thảo luận): Tóm tắt những kết quảnghiên cứu, diễn giải phân tích kết quả, những ưu điểm
Chương 3 (Kết luận kèm theo gợi ý chính sách và kiến nghị giải pháp):Tổng kết tóm lược những kết quả thu được từ nghiên cứu, đưa ra các gợi ýchính sách và kiến nghị giải pháp
Trong quá trình làm bài tiểu luận, dù đã rất cố gắng nhưng nhóm nghiêncứu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót về hiểu biết và phương pháp thu thập
dữ liệu Vì vậy, nhóm nghiên cứu kính mong nhận được sự góp ý của cô đểgiúp bài tiểu luận hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 5B DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Chỉ số vĩ mô của Kosovo 2007-2012
Trang 6C DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7D NỘI DUNGChương I: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu:
1.1 Khái niệm và vai trò chi tiêu công
1.1.1 Khái niệm tài chính công
Để hiểu rõ được về khái niệm chi tiêu công, nhóm nghiên cứu cho rằng chúng ta cần bắt đầu bằng việc hiểu khái niệm bao hàm nó – khái niệm tài chính công
Tài chính công đến nay không còn một khái niệm quá xa lạ và có rất nhiềuhọc giả, nhà chính sách từng thử định nghĩa khái niệm này
Từ những năm 1983 David N.Hyman đã khẳng định: Tài chính công là lĩnhvực kinh tế học nghiên cứu các hoạt động của chính phủ và các phương tiện để tàitrợ cho chi tiêu chính phủ
Harvey S.Rosen lại cho rằng: Tài chính công thuộc lĩnh vực kinh tế học phântích chính sách thuế và chính sách chi tiêu của chính phủ
Nhìn vào hai khái niệm trên, có thể nói ngay từ những nghiên cứu ban đầucủa tài chính công đều đã rút ra được sự gắn bó mật thiết của phạm trù này với sựtồn tại của nhà nước – chính phủ Tuy nhiên, cả hai khái niệm này đều không nêulên được mục đích, chức năng của tài chính công
Theo giáo trình Tài chính công – Đại học Ngoại thương: Tài chính công làcác hoạt động thu, chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh các quan hệ phân phối dướihình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ củaNhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước mà không nhằm mục đíchlợi nhuận
Nhóm nghiên cứu cảm thấy khái niệm nay đã tổng hợp được toàn bộ được ýnghĩa thực sự của phạm trù tài chính công
1.1.2 Khái niệm chi tiêu công
Trang 8Như đã nói ở phía trên, chi tiêu công là một bộ phận của tài chính công, đồngthời, đây cũng là công đoạn thể hiện rõ nhất chức năng tái phân phối thu nhập củatài chính công.
Có thể nói chi tiêu công phán ảnh những lựa chọn chính sách của Chính phủtrong việc quyết định cung cấp những loại hàng hóa, dịch vụ nào; với khối lượng,chất lượng và thời gian cung cấp được xác định Đây cũng là khâu phản ánh địnhhướng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của chính phủ trong từng giai đoạn.Nếu tiếp cận như vậy, chúng ta có thể hiểu chi tiêu công dưới hai góc độ:
- Thứ nhất, hiểu theo nghĩa hẹp: Chi tiêu công chính là chi tiêu chính phủ Khi
đó, chi tiêu công là toàn bộ những chi phí cho việc cung cấp hàng hóa, dịch
vụ thông qua ngân sách công, tức là lượng tiền mà Chính phủ trích ra từ ngânsách nhà nước để đáp ứng những khoản chi tiêu Ví dụ: Chính phủ trích ngânsách để chi cho quốc phòng, giao thông vận tải,…
- Thứ hai, hiểu theo nghĩa rộng: Chi tiêu công không chỉ bao gồm chi tiêuchính phủ mà còn phải tính cả những chi phí phát sinh khi bất cứ quyết địnhhay chính sách ngân sách nào được thông qua Cách tính này sẽ giúp phánảnh được hết những tác động của một quyết định công tới toàn bộ nền kinh tếquốc dân vì mọi quyết định của Chính phủ, dù trực tiếp hay gián tiếp thì cũng
sẽ ảnh hưởng đến chi tiêu của khu vực tư nhân, từ đó ảnh hưởng đến sự phân
bổ nguồn lực chung của nền kinh tế Ví dụ: Khi chính phủ thông qua quyđịnh về tăng thuế GTGT (đây chỉ là ví dụ) thì quyết định đó sẽ buộc khu vực
tư nhân phải bỏ ra một khoản chi phí để tiến hành áp dụng mức thuế mới,đồng thời phải chi trả các khoản chi phí để đưa ra các mức giá mới trên thịtrường tiêu dùng
Như vậy, ngoài việc hiểu đơn giản chi tiêu công là sự phân phối và sử dụng nguồn tài chính của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng của Nhà nước thì khái quát hơn ta có thể hiểu: Chi tiêu công là tổng hợp các khoản chi của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương; các doanh nghiệp nhà nước và toàn dân khi cùng trang trải kinh phí cho các hoạt động do Chính phủ quản lý.
Trang 9Tuy nhiên, do những khó khăn rất lớn trong việc lượng hóa những chi phítheo nghĩa rộng này nên hầu hết trong các nghiên cứu mà nhóm nghiên cứu thamkhảo cũng như toàn bộ phần nội dung trong tiểu luận này sẽ đề cập đến chi tiêucông theo nghĩa hẹp.
Theo cách hiểu này thì về cơ bản chi tiêu công thể hiện các khoản chi NSNNhàng năm đã được Quốc hội thông qua (ngoài ra còn có các khoản chi đến từ cácquỹ ngoài ngân sách) Chi tiêu công phản ánh trị giá của các hàng hóa mà chính phủmua vào để cung cấp cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước vàchính sách tái phân phối thu nhập xã hội
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển, nhà nước chỉ giữ vai trò như
“cảnh sát giữ trật tự xã hội” do đó mọi khoản chi tiêu công đều là chi mang tính chất tiêudùng của nhà nước, không có giá trị hoàn lại cho xã hội Vì vậy cần phải giới hạn tối đamọi khoản chi tiêu của chính phủ để tránh lãng phí nguồn lực đất nước
Tuy nhiên, ở kinh tế học hiện đại, chúng ta đều thừa nhận nhà nước giữ nhiều vaitrò khác bên cạch việc giữ trật tự xã hội Một trong những vai trò đó là điều tiết nền kinh tế,khắc phục những thất bại của nền kinh tế thị trường Với vai trò như vậy, Nhà nước giờ đâytrở thành trung tâm của việc tái phân phối lại thu nhập xã hội Chính thông qua các khoảnchi tiêu công, Nhà nước cung ứng lại cho xã hội những phần thu nhập đã lấy đi từ việc thuthuế dưới dạng hàng hóa công, dịch vụ công cần thiết mà khu vực tư nhân không thể cungứng hoặc cung ứng không hiệu quả Với cơ chế này, Nhà nước thực hiện tái phân phối lạithu nhập xã hội theo hướng công bằng hơn, khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thịtrường Do đó, việc đánh giá khoản chi tiêu công sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với chi tiêucông trong kinh tế học cổ điển bởi vì giờ đây, những người ra quyết định chi tiêu công phải
so sánh giữa chi phí và những giá trị trừu tượng mà những khoản chi ấy đem lại chứ khôngchỉ đơn thuần là tính toán về mặt con số xem có phù hợp với ngân sách năm nay haykhông
1.1.3 Phân loại chi tiêu công
Trang 10Có nhiều cách phân loại chi tiêu công tuy nhiên trong nội dung của tiểu luận này, nhóm nghiên cứu chỉ đưa ra hai cách phân loại phổ biến nhất
a) Phân loại theo chức năng:
Có thể nói đây là cách phân loại chi tiêu công phổ biến và dễ hình dung nhấttrong các cách phân loại
Cách phân loại này thường được sử dụng trong đánh giá phân bổ nguồn lựccủa Chính phủ nhằm thực hiện các hoạt động và mục tiêu khác nhau Theo cáchphân loại này, chi tiêu công bao gồm:
- Chi thường xuyên: Đây là nhóm chi phát sinh thường xuyên, cần thiết chohoạt động của các đơn vị khu vực công Chi thường xuyên bao gồm chilương, chi nghiệp vụ, chi quản lý các hoạt động
Nhà nước Chi đầu tư phát triển gồm có chi xây dựng cơ bản hạ tầng, đầu tư hỗ trợcác doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực then chốt của nền
kinh tế có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước; chi hỗ trợ cho các quỹ hỗ trợTài chính của Nhà nước; chi dự trữ quốc gia
b) Phân loại theo quy trình lập ngân sách :
- Chi tiêu công theo các yếu tố đầu vào: Nhà nước xác lập mức kinh phí chocác khoản chi tiêu công dựa trên danh sách liệt kê các khoản mua sắm, nhữngphương tiện cần thiết cho hoạt động của các cơ quan, đơn vị Thông thường
có các khoản mục cơ bản sau: chi mua tài sản cố định, chi mua tài sản lưuđộng, chi tiền lương và các khoản phụ cấp, chi bằng tiền khác
- Chi tiêu công theo kết quả đầu ra: Kinh phí phân bổ cho một cơ quan, đơn vịkhông căn cứ vào các yếu tố đầu vào, mà dựa trên khối lượng công việc đầu
ra và kết quả tác động đến mục tiêu hoạt động của đơn vị
1.1.4 Vai trò của chi tiêu công
Chi tiêu công đóng góp vai trò quan trọng trong chính sách kinh tế Hầu hết các khoản chi của chính phủ đều nhằm vào một trong ba mục tiêu chính, gồm: Phân
Trang 11bổ nguồn lực, phân phối lại thu nhập và ổn định kinh tế vĩ mô Vì vậy chi tiêu công
có một số vai trò cơ bản như sau:
a) Vai trò phân bổ nguồn lực:
Một trong những vai trò quan trọng của Chỉnh phủ là can thiệp vào nền kinh
tế thị trường để khắc phục những khuyết tật của thị trường Tuy nhiên khôngphải can thiệp nào của Chính phủ cũng đem lại sự hiệu quả vì những canthiệp này cũng có những hạn chế nhất định và cũng đi kèm với các chi phí
Vì thế, một trong những tiêu chí để đánh giá độ hiệu quả của quyết định côngchính là chính sách đó phải mang lại cho xã hội những lợi ích lớn hơn nhữngchi phí phát sinh mà xã hội phải gánh chịu
b) Vai trò phân phối lại thu nhập:
Đây là một mục tiêu quan trọng đứng sau nhiều chính sách của Chính phủ.Chính phủ có thể thực hiện mục tiêu này bằng nhiều cách nhưng cách thứctrực tiếp thường dùng nhất là đánh thuế lũy tiến sau đó chi trợ cấp bằng tiềncho các đối tượng cần thiết Như Samuel Johnson nói: “Cung cấp tử tế chongười nghèo là đánh giá sự thật về nền văn minh” Nghệ thuật của Chính phủthể hiện ở chỗ lấy được nhiều tiền có thể được từ một giai cấp trong xã hội đểchuyển cho một giai cấp khác nhằm tạo ra sự công bằng xã hội
Việc Chính phủ cung cấp các dịch vụ y tế, nhà ở, giáo dục và các dịch vụ xãhội khác cũng là những trọng tâm của chính sách phân phối lại thu nhập.Ngoài ra các hoạt động điều tiết, bảo vệ người tiêu dùng, chống độc quyền,bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh thực phẩm,… cũng mang hàm ý phân phốilại Tuy nhiên đứng sau mỗi mức độ phân phối lại đó là sự chấp nhận đánhđổi giữa hiệu quả và công bằng vì việc phân phối lại giúp cho xã hội côngbằng hơn nhưng đi kèm với đó là sự phi hiệu quả khi những người sử dụngvốn hiệu quả hơn lại phải giảm phần vốn của họ và chuyển phần vốn đó sangnhững người sử dụng vốn ít hiệu quả
c) Vai trò ổn định hóa nền kinh tế:
Trang 12Các chính sách chi tiêu của Chính phủ thường giữ vai trò thiết yếu trong việcđạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô như cải thiện cán cân thanh toán, nângcao tốc độ tăng trưởng dài hạn nền kinh tế.
Chính sách kinh tế vĩ mô nhằm ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế baogồm các chính sách tài khóa (thuế và chi tiêu Chính phủ) cũng như chính áchtiền tệ (mức cung tiền, lãi suất, tín dụng) Bằng việc sử dụng một cách cẩnthận hai chính sách này, Chính phủ có thể tác động tới tổng chi tiêu xã hội,tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản lượng, tỷ lệ lao động có việc làm, mứcgiá cũng như tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế
1.2 Tiếp cận cơ bản về quản lý chi tiêu công
1.2.1 Khái niệm quản lý chi tiêu công
Quản lý chi tiêu công là một khái niệm phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển vàđưa ra quyết định của nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực tài chínhcông nhằm thực hiện tốt các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước
Khái niệm trên cho thấy chi tiêu công là một trong những thuộc tính vốn có,khách quan của khâu tài chính công, phản ánh sự phân phối và sử dụng nguồn lực
tài chính công của nhà nước Nếu chi tiêu công trực tiếp trả lời cho câu hỏi nhà nước chi cho cái gì thì việc quản lý chi tiêu công là hoạt động có tính chủ quan của nhà nước nhằm tổ chức, điều khiển quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công để thỏa mãn nhu cầu Nói cách khác, quản lý chi tiêu công trả lời cho câu hỏi nhà nước chi như thế nào.
1.2.2 Cấu trúc của quản lý chi tiêu công
Quản lý chi tiêu công gồm hệ thống các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: Nhà nước trực tiếp tổ chức, điều khiển quá trình phân phối,
sử dụng nguồn lực tài chính công
tổng quát của quản lý chi tiêu công là nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững và đẩynhanh tốc độ giảm nghèo Mục tiêu cụ thể bao gồm đảm bảo phân bổ
Trang 13có hiệu quả nguồn lực tài chính của Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và thực hiện công bằng xã hội.
- Công cụ quản lý: Gồm các chính sách kinh tế - tài chính, pháp chế kinh tế - tài chính và chương trình hóa các mục tiêu dự án
- Nội dung quản lý chi tiêu công:
Bao gồm tất cả những thành phần sau:
Dự báo thu nhập và chi tiêu (được thiết lập trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn) Gắn kết ngân sách với việc đưa ra chính sách
Lập ngân sách
Quản lý tiền mặt và kiểm soát chi tiêu ngân sách
Mua sắm hàng háo công và tài sản
Thực hiện kiểm tra bên trong và kiểm toán
Kế toán và báo cáo
Đánh giá thực hiện
Kiểm toán từ bên ngoài
Giám sát của cơ quan lập pháp và các cơ quan khác
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận này được thực hiện chủ yếu dựa vào phương pháp nghiên cứu địnhtính và suy luận diễn dịch Dựa vào lý thuyết cũng như kinh nghiệm từ các quốc giakhác, xem xét tình hình Việt Nam rồi cuối cùng đưa ra khuyến nghị hoàn toàn dựatrên suy luận logic của người viết
Chương II: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1 Cuộc cải cách tài chính công ở Vương quốc Anh
2.1.1 Cơ cấu chính phủ và mô hình quản lý công ở Vương quốc Anh
Vương Quốc Anh lập nền trên thể chế quân chủ lập hiến với thủ tướng đảmnhiệm vị trí đứng đầu chính phủ Quyền hành pháp thuộc về chính phủ Quyềnlập pháp được trao cho cả chính phủ và lưỡng viện Quốc hội: Viện Thứ dân (Hạviện) và Viện Quý tộc (Thượng viện) Nhánh tư pháp độc lập với hai nhánh cònlại - hành pháp và lập pháp
Trang 142.1.1.1 Vương quyền
Nguyên thủ quốc gia, trên lý thuyết cũng như trên danh nghĩa nắm quyềnlực hành pháp, tư pháp và lập pháp, là Vương quyền Anh, hiện nay là Nữ hoàngElizabeth II
Song, kể từ năm 1689 khi ban hành Đạo luật Declaration of Rights, quyềnlực tối thượng này không còn thuộc về vua Anh, mặc dù nhà vua vẫn được côngnhận là nguyên thủ quốc gia Ngày nay, vương quyền chỉ còn thủ giữ vai trònghi lễ, dù vẫn còn duy trì ba quyền căn bản: quyền được tư vấn, quyền tư vấn
và quyền cảnh cáo Do đó, Thủ tướng vẫn phải có các phiên họp mật hằng tuần
để nghe Nữ hoàng bày tỏ quan điểm của mình Tuy nhiên, nữ hoàng vẫn duy trìmột số quyền lực được sử dụng với sự cân nhắc cẩn thận Nữ hoàng có thể từchối phê chuẩn các đạo luật đe dọa quyền tự do hoặc sự an toàn của công dân.Ngoài ra, nữ hoàng còn là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, và các lực lượngnày phải tuyên thệ trung thành với nữ hoàng
đa là 5 năm) Mỗi nghị viên Hạ viên được bầu bởi một khu vực bầu cử và đạibiểu cho khu vực ấy
Cho tới năm 2009, Viện Quý Tộc cũng giữ quyền lực về tư pháp và được coi là Tòa ánchung thẩm của Anh quốc, quyết định của Thượng viện được coi là phán quyết cuối
thẩm Thường nhiệm (hay Quý tộc Luật) Nhưng từ
Trang 15ngày 1 tháng 10 năm 2009, quyền tối cao tư pháp ở Anh được giao cho Tối caoPháp viện Anh Quốc
vị dịch vụ công hoạt động như là các cơ quan hành pháp, đó là các tổ chức điềuhành riêng lẻ chịu trách nhiệm với các bộ của chính phủ
2.1.1.4 Cơ quan tư pháp
Quan Chưởng ấn (The Lord Chancellor) là người đứng đầu nhánh tư pháp tại
Anh và xứ Wales, bổ nhiệm thẩm phán cho các tòa hình sự trên danh nghĩa củavương triều Quan Chưởng ấn đảm nhiệm các chức trách trong cả ba nhánh củachính quyền – hành pháp, lập pháp và tư pháp Đây là nét đặc thù trong vòngcác nền dân chủ của thế giới hiện đại Tuy nhiên, Đạo luật Cải cách Hiến phápnăm 2005 dời bỏ nhiều quyền hạn của chức danh này để trao cho các chức danhkhác trong chính quyền nước Anh bằng cách thành lập chức vụ Bộ trưởng Hiếnpháp Sự vụ, trong khi đó một phần trong các chức trách của quan chưởng ấn tạiViện Quý tộc được giao cho Chủ tịch Viện Quý tộc
Trang 16- Hỗ trợ nội các
- Củng cố nền công vụ
2.1.1.6 Chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương ở Vương Quốc Anh có 2 cơ cấu khác nhau
- Hệ thống 1 cấp hội đồng ( Hội đồng thống nhất ): chịu trách nhiệm ở tất cả cácnhiệm vụ của một chính quyền địa phương, bao gồm: xứ Scotland, Wales, Northern Ireland và một phần nước Anh
- Hệ thống 2 cấp hội đồng: Hội đồng County và hội đồng quận huyện, hội đồng
xã, thị trấn nằm ở cấp dưới chia sẻ trách nhiệm
Chính quyền địa phương ở Vương Quốc Anh chịu trách nhiệm chính vềgiáo dục, an ninh xã hội, nhà ở, đường xá, vệ sinh, vận tải công cộng, môitrường, cảnh sát, dịch vụ y tế và hệ thống y tế
Về nguồn thu ngân sách, chính quyền địa phương có hai nguồn thu chính:
từ trợ cấp của Chính phủ trung ương và thu thuế từ hội đồng, phí và lệ phí dodân đóng góp Về chi ngân sách, phần lớn được chi cho lương nhân lực, muasắm đầu tư trang thiết bị, chi phí công sở, chi cho các tổ chức và công ty thựchiện các hoạt động, dịch vụ cho chính quyền địa phương
2.1.1.7 Nền công vụ
Ở Anh, thuật ngữ công chức thường ám chỉ những người làm việc trongnền hành chính của chính phủ trung ương, cho rằng nghĩa vụ và bổn phận chínhcủa các công chức đó là đối với các bộ trưởng thuộc Hoàng gia mà các côngchức đang làm việc Tuy nhiên đã có những chuyển đổi những quy định vềnghĩa vụ của công chức đối với toàn dân, đối với luật pháp, Luật công vụ Anh
đã quy định cụ thể như sau:
Trang 17 Nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ trước Quốc hội và người dân về chính sách,quyết định và các hoạt động của chính Phủ, không được lừa dối và làm sai lệchcác quyết định của Quốc hội và Nhân dân
Không được dùng nguồn công lực cho mục đích của các Đảng phái chính trị,phải đảm bảo duy trì sự trung lập về mặt chính trị của nền công vụ và khôngđược hành động xungd đột với các quy định của Luật công vụ
Tính đến năm , có khoảng 200 Bộ trưởng và các cố vấn chính trị, 4000viên chức cấp cao, 5000 công chức làm việc ở bộ máy hàn chính thuộc chínhphủ và 4.5 triệu nhân viên toàn bộ khu vực công(Nguồn: Gary Hallsworth, Lawand Governance, British Council page 10)
2.1.1.8 Quản lý nền công vụ
Ở Vương quốc Anh cho đến năm 1968, Kho bạc chưa thể thực hiện đượcđầy đủ vai trò quản lý và tuyển dụng nhân sự đối với nền công vụ do có quá ítđội ngũ viên chức được đào tạo chuyên môn mang tính hệ thống Do đó, Ủy banFulton đã đề xuất việc thành lập một bộ trực thuộc Chính phủ chuyên trách trựctiếp với nền công vụ Vào ngày 1 tháng 11 năm 1968, Bộ công vụ được thànhlập với chức năng chính là trách nhiệm trả lương và quản lý từ Kho bạc và Ủyban công vụ, trong khi đó công việc quản lý nền công vụ cho đến năm 1968luôn do Kho bạc đảm trách, tiếp nhận 900 công chức từ Kho bạc chuyển sang
Bộ công vụ, và thứ trưởng Kho bạc William Amstrong , vốn là thứ trưởng Khobạc, nay chuyển sang đứng đầu Bộ công vụ
Trong những năm 1970, hoạt động của Bộ công vụ chưa thực sự được hiệuquả Vì vậy, Hạ viện đã tiến hành điều tra khảo sát và nhận thấy rằng một số chức năngcủa Bộ công vụ nên được chuyển lại cho Kho bạc Tuy nhiên, Thủ tướng đương thờiJames Cahhaghan đã không cho thấy bất kỳ một động thái nào phản ứng lại đề xuấtnày và cũng không có bất kỳ một điều chỉnh nào đối với chức năng và vai trò của Khobạc và Bộ công vụ Vào năm 1980-1981, đề xuất này lại một lần nữa được đưa ra, Thủtướng Magaret Thacher đã đưa ra cam kết cải thiện
18
Trang 18chức năng của Bộ công vụ và Kho bạc, chức năng của hệ thống hành chính, thu gọn bộ máy quản lý nền công vụ và phân bổ lại chức năng như sau:
cơ quan viễn thông và máy tính trung ương, tổ chức phục vụ nền công vụ và
Văn phòng thông tin khu vực công được giao cho Kho bạc chịu trách nhiệm
- Vài trò quản lý, tổ chức, tính hiệu quả của công chức và chính sách nhân sự baogồm tuyển dụng và đào tạo được giao cho một văn phòng nhân sự và quản lýmới được thành lập trực thuộc Văn phòng nội các đảm trách
Tính từ năm 1981 cho đến nay, việc quản lý nền công vụ của Vương quốc Anh do cả Kho bạc và Văn phòng nội các quản lý
2.1.1.9 Chính phủ và các Đảng phái chính trị
Vương quốc Anh có hệ thống chính trị đa Đảng, trong đó Đảng Lao động
và Đảng Bảo thủ là hai Đảng lớn nhất thay nhau cầm quyền Sau các cuộc bầu
cử chung, Đảng thắng cử sẽ chiếm đại đa số ghế trong thành viên Hạ viện sẽ cấuthành nên Chính phủ Người lãnh đạo Đảng là Thủ tướng và do các thành viêntrong Đảng và các nghị sĩ bầu Các Đảng đều có vai trò quan trọng trong điềuhành quản trị của Nhà nước Khi đó, Đảng lớn thứ hai được gọi là phe đối lập,hình thành nên nội các ngầm và luôn đưa ra tranh cãi và phê bình đối với cácchính sách của Chính phủ Các cuộc thảo luận giữa Chính phủ và Đảng đối lậpluôn được phân bổ trong các chương trình nghị sự của Hạ viện Sự tồn tại giữacác thế lực đối lập này lại là động lực cho sự thay đổi và phát triển, bởi cácĐảng đều muốn thể hiện quan điểm, nâng cao tầm ảnh hưởng, vị thế của mìnhtrong các chính sách
2.1.2 Nguyên nhân diễn ra cải cách quản lý công
Cải cách khu vực công và quản lý công ở Vương quốc Anh là một quá trình lâudài có sự kế thừa và phát triển Những cải cách đầu tiên xuất hiện vào những năm
1960, tuy nhiên cho đến cuối những năm 1970, các cải cách mới thực sự đem lại thayđổi rõ rệt Trong suốt những năm 1960 -1970, tiêu chuẩn sống tiếp tục tăng, trong khi
đó nền kinh tế của Vương quốc Anh liên tục sụt giảm so với tầm trung của các nướctrong khối OECD, và những can thiệp của Chính phủ để
Trang 19khắc phục nền kinh tế không đạt hiệu quả do cán cân thanh toán thâm hụt và lợithế cạnh tranh còn yếu kém Nghiêm trọng hơn là chi tiêu của Chính phủ quálớn làm tăng gánh nặng về ngân sách nhà nước, dẫn tới hậu quả phải nhận việntrợ từ quỹ tiền tệ thế giới IMF vào năm 1968.
Từ khi Đảng bảo thủ lên nắm quyền vào năm 1979, các cải cách mạnh
mẽ đã được thực hiện, các chức năng của Nhà nước bị thu hẹp, cắt giảm chi tiêucông, các chính sách chi tiêu rõ ràng, chính sách tư nhân hóa, áp dụng kinhnghiệm quản lý của khu vực tư vào khu vực công, bởi tình trạng bộ máy quản lýkhu vực công thời đó khá cồng kềnh, nhiều nhân viên, tốn kém chi phí, lạikhông hiệu quả bằng khu vực tư
Từ năm 1998 cho đến nay, Chính phủ Công Đảng lên năm quyền vẫntiếp tục thực hiện cải cách để khắc phục những bất cập vẫn còn tồn tại trong hệthống quản lý công, theo đó có những vấn đề được tập trung cải thiện: khắcphục các chính sách mang tính ngắn hạn, chưa có tầm nhìn dài hạn và chiếnlược, chưa đa dạng hóa cách tiếp cận đa ngành đa nghề; nền công vụ tuy đã cảicách nhưng chưa thể hiện được tính năng động, chuyên nghiệp, chưa thực sự đổimới rõ rệt; một số lĩnh vực cung cấp dịch vụ công còn tồn tại nhiều khuyết điểm
là y tế giáo dục, giao thông
2.1.3 Nội dung cải cách
2.1.3.1 Cải thiện vai trò của Chính phủ
Hiệu quả của khu vực công thể hiện ở việc sử dụng nguồn lực có hiệu quả đểphân phối các dịch vụ công một cách hợp lý, tối đa hóa phúc lợi xã hội, gia tăng
tỉ trọng sản phẩm công đầu ra trên một đơn vị đầu vào
a) The Financial Management Initiative ( Sáng kiến quản lý tài chính )
Sáng kiến quản lý tài chính này được ra đời vào năm 1982 bởi các Đơn vịhiệu quả được thành lập dưới chính quyền bà Thatcher nhằm gia tăng hiệu quả
và loại bỏ lãng phí trong bộ máy Chính phủ
Sáng kiến này đã đem lại những thay đổi quan trọng và rõ ràng trong bộ máycông vụ, có cái nhìn rõ ràng hơn về mục tiêu và hệ thống đánh giá hiệu quả của
bộ máy khu vực công, xác định rõ trách nhiệm và quản lý đầu ra chặt chẽ nhằm
sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất, đào tạo nhân lực và tham vấn các
Trang 20chuyên gia để nâng cao năng lực bộ máy quản lý công, nhằm thực hiện tráchnhiệm một cách hiệu quả.
Không chỉ vậy, sáng kiến còn đem lại những tác động không nhỏ đối vớicuộc sống của các công chức, vì vấn đề nắm giữ và lên kế hoạch cụ thể chi tiêungân sách được chú ý thắt chặt, điều mà vốn trước đây họ không phải thườngxuyên chú trọng cân nhắc
b) Tư nhân hóa
Kể từ năm 1981, chính quyền của bà Thatcher đã đưa kinh nghiệm quản lýcủa khu vực tư nhân vào khu vực công, và tư nhân hóa cũng là một chươngtrình cải cách ưu tiên Như đã đề cập, giai đoạn 1960 -1970, Vương quốc Anh làmột trong những khu vực có nên kình tế trì trệ nhất trong khối OECD, dẫn tớithúc đẩy quá trình tư nhân hóa khu vực công
Quá trình tư nhân hóa ở Vương quốc Anh diễn ra trong 3 giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất thông qua việc bán những tài sản thuộc sở hữu Nhà nước dưới hình thức nhà ở dân cư
- Giai đoạn hai tập trung vào bán đứt các ngành độc quyền thuộc sở hữu Nhànước hướng tới nỗ lực tự do cạnh tranh và phi quốc hữu hóa khu vực độc quyềncông cộng Giai đoạn này thành lập các cơ quan điều tiết chuyên trách các lĩnhvực quan trọng đã được tư nhân hóa
- Giai đoạn ba vẫn tập trung vào quá trình tư nhân hóa, nhưng tập trung vào cácdoanh nghiệp nhà nước còn yếu kém, dẫn tới không thể bán được do gần nhưkhông thể tạo ra doanh thu Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã tìm đếnphương pháp thuê ngoài, hoặc thu phí người sử dụng hoặc các biện pháp mangtính định hướng khách hàng nhằm thúc đẩy hoạt động hiệu quả trở lại với nhữngdoanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước gặp khó khăn này
Đến năm 1997, dưới thời cầm quyền của Đảng lao động, quá trình tư nhân hóatạm thời bị gác lại và không được tập trung chú trọng Với mọi nỗ lực tư nhân hóa, tínhđến năm 1991, khu vực tư chiếm tới 11.9% GDP của Vương quốc Anh, xếp thứ haitrong số các quốc gia thuộc khối OECD và chỉ sau NewZealand ( 14%), thu hútkhoảng 650000 lao động, làm thay đổi hẳn mối quan hệ giữa khu vực công của Nhànước Vương quốc Anh với khu vực tư nhân
Trang 21c) Sáng kiến tài chính cá nhân
Chính phủ cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng có thể thiếu hiệu quả
do không nắm bắt kịp thời thông tin nhu cầu người dân, thiếu tính kiểm soátphản ứng cá nhân, và tính cạnh tranh không hiệu quả bằng khu vực tư nhân Do
đó hợp tác giữa tư nhân và khu vực công là một trong những giải pháp nhằmcung cấp dịch vụ hàng hóa hiện đại và chất lượng, mang tính cạnh tranh cao,khiến chất lượng được cải thiện đáng kể, phát huy được tiềm năng của cả khuvực tư và khu vực Nhà nước Theo đó, có 3 biện pháp đưa ra để tăng cường hợptác giữa hai khu vực: đưa sở hữu tư nhân vào các doanh nghiệp nhà nước,khuyến khích áp dụng sáng kiến tài chính cá nhân, mở rộng thị trường dịch vụ
và đa dạng các hình thức hợp tác
Để huy động vốn cho các dự án cơ sở hạ tầng công cộng, Vương quốc Anh đãđưa ra một số biện pháp để hình thành các tổ hợp đấu thầu cung cấp một sốcông trình công cộng như đường xá, bệnh viện, trường học, , không chỉ xâydựng mà họ còn được trao quyền đưa vào vận hành và đánh phí sử dụng, vàchuyển giao công trình cho Chính phủ sau một thời gian nhất định
2.1.3.2 Tăng tính thực thi và tập trung hóa trong các chính sách Chính Phủ
a) Thành lập các cơ quan thừa hành
Bên cạnh biện pháp tư nhân hóa để tái cơ cấu khu vực công, mặt khác củng cốlại các chức năng của bộ máy Nhà nước.Bản báo cáo được đề ra năm 1993 tập trunglàm rõ các chức năng của các bộ, buộc các bộ phải xem xét và đánh giá lại các hoạtđộng của mình Theo đó, chức năng chính của nền công vụ là cung ứng dịch vụ công;kết quả và hiệu quả đầu ra chưa được tập trung chú trọng; nền công vụ còn quá lớn vàcồng kềnh để có thể quản lý một cách thống nhất và do đó thiếu tính năng động, chủđộng trong việc thực thi c ác chính sách
Do đó, các cơ quan thừa hành được thành lập tách rời các Bộ, với mụctiêu tách chức năng điều hành và chức năng cung ứng dịch vụ, cũng như tạo một
bộ máy chính quyền rõ ràng và chuyên trách hơn, gia tăng mức độ tự chủ trongcác hoạt động Các cơ quan này chịu trách nhiệm với các bộ về kết quả đầu ra.Nhân viên các cơ quan thừa hành vẫn là các công chức, quản lý các cơ quanthừa hành là giám đốc điều hành
Trang 22Biện pháp này đã cải thiện chất lượng dịch vụ với những chỉ tiêu hiệuquả cao, hằng năm thu thập báo cáo để đối chiếu và được điều chỉnh tiến độ phùhợp trong hoạt động của các cơ quan này
b) Phân cấp và phân quyền
Dưới quyền lãnh đạo của Đảng Lao động năm 1997, Chính phủ nhậnthức được rằng chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm trong việc cungccấp các dịch vụ giáo dục, phúc lợi xã hội, giao thông công cộng.Do đó cần tăngcường nhận thức và năng lực của địa phương
- Thứ nhất, làm giảm được sự tùy ý trong vấn đề tài chính của chính quyền địaphương, tăng cường kiểm tra rà soát tài chính thông qua hệ thống đánh giá chitiêu tiêu chuẩn
- Thứ hai, cắt giảm chi phí, tinh lọc bộ máy quản lý bằng cách loại bỏ một số hộiđồng quản lý đô thị, thành lập chính quyền địa phương thống nhất, cắt giảm sốlượng chính quyền địa phương
nhiệm của chính quyền địa phương, tăng cường năng lực giúp chính quyền
địa phương đến gần dân hơn
2.1.3.3 Cải thiện cung ứng dịch vụ công
Một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ là cải tiến cung cấp dịch
vụ công nhằm đáp ứng phúc lợi xã hội, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân.Tầm quan trọng và tính hiệu quả của Chính phủ và khả năng đáp ứng nhu cầu của người dân đối với các sản phẩm dịch vụ công được đặc biệt chú trọng dưới thời Thủ tướng Tony Blair Các chương trình “ Cải cách dịch vụ công, đưa nguyên tắc vào thực tiễn” vào năm 2002 đã xác định thay đổi cung ứng dịch vụ công hướng tới mục tiêu trọng tâm là khách hàng với bốn nguyên tắc:
- Nguyên tắc thực hiện trên các tiêu chuẩn: có các chuẩn quốc gia và xác định rõtrách nhiệm và quyền lợi của người dân dù là ở đâu cũng đều có quyền đượcnhận dịch vụ công có chất lượng
- Nguyên tắc phân cấp, phân quyền nhằm nâng cao tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan địa phương trực tiếp tiếp xúc với dân
Trang 23- Nguyên tắc linh động khuyến khích sự năng động trong hoạt động của các tổchức công để tối đa hóa sự đa dạng trong dịch vụ và thích ứng kịp thời với nhucầu và phản hồi từ phía dân.
- Thứ tư, đặt ra nhiều tiêu chuẩn cho sự lựa chọn của khách hàng, điển hình là cơquan chuyên môn về y tế National Institute for Clinical Excellence đã đưa ra hệthống tiêu chuẩn về dịch vụ y tế đối với các nhóm bệnh liên quan ( với tim, ungthư, tâm thần, )
Thêm vào đó, để tăng cường cải thiện chất lượng dịch vụ công, một sốđơn vị phối hợp trung ương đã được thành lập Tuy nhiên trong quá trình hoạtđộng, những đơn vị này còn bộc lộ nhiều yếu kém, nên dẫn tới việc sáp nhập tất
cả các đơn vị này vào đội Delivery and Reform Team Có 7 thành viên tất cảtham gia vào đơn vị này…
a) “ Đấu thầu cạnh tranh “ và “ Giá trị tốt nhất “
Biện pháp “ Đấu thầu cạnh tranh “ được chủ trương bãi bỏ dưới thời chính
quyền Đảng bảo thủ vào năm 1979-1997 với mục tiêu đưa cơ chế thị trường vàohoạt động trở lại ở khu vực công và đẩy nhanh quá trình tư nhân hóa Tác độngchung cuộc làm giảm độc quyền của Nhà nước, tăng cường đưa các kỹ thuậtquản lý kinh doanh của khu vực tư nhân để tăng tính thích ứng hơn với kháchhàng và đạt được lợi thế cạnh tranh lớn hơn
Tuy nhiên, những nỗ lực này cũng chỉ đem lại kết quả không khả quan,
đó là các nhà thầu của Nhà nước luôn thắng thầu và ít dịch vụ được chuyển sangkhu vực tư Do đó vào năm 1999, biện pháp này đã bị bãi bỏ và thay thế bằngbiện pháp “ Giá trị tốt nhất” , với mục tiêu là lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất dù
là tư nhân hay kết hợp tư nhân với nhà nước, nghĩa là cạnh tranh về giá trị đượcxem xét một cách nghiêm túc
“ Giá trị tốt nhất “ được đánh giá xem xét dựa trên 5 nguyên tắc tiêu chuẩn:
- Dịch vụ rõ ràng, bảo gồm cả chi phí và chất lượng
- Đặt mục tiêu cải thiện liên tục
- Tập trung hướng về much tiêu người sử dụng dịch vụ
- Giám sát và kiểm toán độc lập
- Biện pháp xử lý khi có sai phạm
Trang 24b) Hiện đại hóa Chính phủ
Kể từ năm 1999, Chính phủ điện tử và ứng dụng các dịch vụ công nghệthông tin hiện đại vào trong quản lý tài chính công được đưa vào hoạt động.Cổng giao dịch của Chính phủ cung cấp các dịch vụ điện tử Chính phủ với mụctiêu là vào năm 2005, toàn bộ các giao dịch được thực hiện bằng điện tử Điềunày cũng có nghĩa là lượng công chức trong bộ máy chính quyền sẽ bị cắt giảm
c) Tôn trọng nhân dân
Nguyên tắc “ Phục vụ trên hết” được thủ tướng Tony Blair đặt ra vào năm
1997, yêu cầu các cơ quan cung cấp dịch vụ công phải công bố các tiêu chuẩn dịch vụ
và đặt ra các chính sách dự phòng nếu trong quá trình cung ứng hàng hóa có vấn đề.Trong đó các nguyên tắc cung ứng hàng hóa công phải có đó là:
- Đặt ra những tiêu chuẩn đói với kết quả và thường xuyên đánh giá kết quả đạt được so với tiêu chuẩn đề ra
- Cung cấp thông tin rõ ràng về dịch vụ
- Thực hiện tư vấn đối với những người sử dụng dịch vụ
- Đối xử với khách hàng với thái độ lịch sự và nhiệt tình Sẵn sàng sửa lỗi khi cóvấn đề, kể cả bồi thường về mặt tài chính
- 42 Hiến chương được thành lập cho các dịch vụ công và các ngành phục vụcông cộng được tư nhân hóa, nổi bật là “ Hiến chương dành cho người nộpthuế” của Sở thuế Nội địa
- Các cơ quan thừa hành cũng đã lập ra các Hiến chương
- Khoảng 10000 Hiến chương được lập ra ở các địa phương
- 913 tổ chức được trao “ Chứng nhận về Hiến chương” do đáp ứng được tiêu chuẩn dịch vụ
Các cơ quan công cũng thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ khách hàngcũng như nhằm kịp thời tiếp nhận phản hồi của khách hàng để đưa ra các phảnứng nhạy bén thành lập các lực lượng chuyên trách các khiếu nại và thành lậpcác thủ tục quy trình khiếu nại một cách hệ thống
2.1.3.4 Công tác quản lý nhân lực
Trang 25Hầu hết các công chức nhà nước của Vương quốc Anh đều xuất thân từucác gia đình trung lưu, được giáo dục tốt Vào những năm 1960, những chỉ tríchđối với bộ máy quản lý công vụ ngày càng lên cao và bị xem như là nguyênnhân gây ra sự kém hiệu quả của các chính sách dẫn đến sự suy giảm đáng kểcủa nền kinh tế Vương quốc Anh.
Dưới thời kỳ thủ tướng Margaret Thatcher đã có những thay đổ i quan trọng:giảm 37% công chức ở cấp Trung ương; thành lập 138 cơ quan thực thi thuộc các Bộvới nhiệm vụ trọng tâm là cung cấp dịch vụ; phân cấp phân quyền rõ ràng đối với các
cơ quan quản lý tài chính nhân sự, về ngạch bậc và tiền lương
Bên cạnh việc kế thừa và phát huy những cải cách hành chính từ thờitrước, đến thời thủ tướng cầm quyền Tony Blair đã tập trung thực hiện thêm cảicách 3 vấn đề dựa trên thông qua chương trình hiện đại hóa Chính phủ, đó là:
Khắc phục các chính sách chưa mang tính chiến lược, tầm nhìn chưa đa ngành, chưa đặt trọng tâm vào chú ý đến người sử dụng dịch vụ
Nền công vụ sau cải cách chưa có những thay đổi rõ rệt, chưa chuyên nghiệp, năng động và chưa áp dụng thành tựu công nghệ vào quản lý
Tập trung cải cách các lĩnh vực công còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém như y tế, giáo dục và giao thông
Nhìn chung nền công vụ với những thể chế, thủ tục hành chính, cơ chếquản lý và nguồn nhân lực chưa thực sự năng động, nhanh nhạy phản ứng vớinhững thay đổi của thời đại Để thay đổi hệ thống này theo hướng năng động vàlinh hoạt hơn, khu vực công đã đưa vào phong cách và kinh nghiệm quản lý củakhu vự tư Theo đó, khu vực công tăng cường đánh giá hoạt động của công chứctheo kết quả đầu ra, thay vì đánh gia dựa vào đầu vào Bộ Tài chính ký kết cácthỏa thuận với các Bộ khác về công vụ, quy định rõ mục tiêu và nhiệm vụ củacác Bộ, các chỉ số phải đạt được, nâng cao chất lượng phục vụ dân, đẩy mạnh hệthống Chính phủ điện tử; các chương trình mục tiêu trong 3 năm được cụ thểhóa nguồn lực phân bổ
Mục đích của các thỏa thuận trên là cụ thể hóa chi tiêu trong Ngân sách, khôngcho phép tăng ngân sách chi tiêu nếu không chứng minh được kết quả đầu ra, giúp các
Bộ tập trung chủ yếu vào các vấn đề trọng điểm đã đặt ra và phân bổ
Trang 26nguồn lực cho các cơ quan thuộc Bộ một cách có hiệu quả trong khuôn khổ giớihạn Ngân sách quản lý chặt chẽ.
Đối với một số nhiệm vụ không nhất thiết phải điều dộng công chức làm,như bảo vệ, vệ sinh, căng tin, thì tiến hành hợp đồng ra bên ngoài Ngoài ra,các viện nghiên cứu, các trường Đại học công cũng được cho phép chủ động kýkết nhận thêm các công việc ngoài để tăng thêm kinh phí hoạt động
Tạo sự cạnh tranh giữa các khu vực công với nhau và giữa các khu vực
tư để nâng cao hiệu quả hoạt động và đẩy mạnh đổi mới
Tìm kiếm người giỏi từ khu vực tư nhân, khu vực phi Chính phủ và các
tổ chức xã hội vào hoạt động trong khu vực tư, tham gia vào quá trình hoạchđịnh chính sách ở các cơ quan Chinh phủ, đặc biệt là Văn phòng nội các nhằmmục tiêu đề ra các chính sách chiến lược và thực tiễn hơn
Các cơ quan thừa hành ( Executive Agencies) thực thi các chính sách đượcthành lập vào năm 1998 dưới thời thủ tướng Thatcher, dưới thời thủ tướng Tony Blair,các cơ quan trên vẫn được tiếp tục triển khai với tên gọi cơ quan thực thi
Cơ quan thực thi không phải được lập mới hoàn toàn, mà vốn là các cơquan đã có Các dịch vụ công do các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ bao gồm:
- Dịch vụ cung cấp cho các cơ quan thuộc hệ thống hành chính, cho các đơn vịtrong một bộ và do đó phạm vi thực hiện của các cơ quan thực thi này là nội bộ
- Dịch vụ cung cấp cho dân, tổ chức ngoài xã hội và do đó phạm vi hoạt động của
cơ quan là bên ngoài
cơ quan thực thi có quyền tự chủ về tài chính, tổ chức và nhân sự, với nguồn kinh phíđược cung cấp Giám đốc điều hành các cơ quan thực thi được tuyển dụng ở cả khuvực công và khu vực tư, có nhiệm vụ kiểm tra, giám
Trang 27sát việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ ,nhất là các dịch vụ công mà các cơ quan này cũng cấp cho các tổ chức, cá nhân.
Có 3 cơ chế tài chính được áp dụng cho loại hình quản lý này:
- Cấp phát tài chính toàn phần, toàn bộ phần thu và chi phí của cơ quan thực thi đều chịu sự kiểm tra
- Cấp phát tài chính phần cứng
- Qũy thương mại: cho phép sử dụng phần thu thêm được qua hoạt động rất linh hoạt
Thực tế hoạt động của các cơ quan thực thi còn tồn tại nhiều bất cập:
cơ quan thực thi chưa thực sự sát với mục tiêu định hướng hoạt động của Bộ
- Sự tham gia của các cơ quan thực thi vào xây dựng chính sách pháp luật của Bộchưa được quan tâm đúng mức
- Các cơ chế, chính sách áp dụng cho các cơ quan thực thi vẫn là chưa đủ độ linh hoạt, chưa mang tính tự chủ cao, nhất là cơ chế tài chính
- Thời gian thỏa thuận của các cơ quan thực thi và các Bộ là một năm, thời gian
đó là quá ngắn để thực thi các chính sách có tầm nhìn dài hạn
Đối với công chức, cơ chế cạnh tranh và đào tạo được chú trọng quantâm, cử các công chức đi học tại các trường học , kể cả trường tư có đủ khảnăng đào tạo tốt Bên cạnh đó, một số quan điểm mới nổi bật được áp dụngtrong công tác quản lý công chức được áp dụng:
- Không đặt vấn đề giảm biên chế
- Chuyển sang đánh giá công chức theo kết quả đầu ra Tiến hành kiểm tra, đánhgiá công chức hằng năm, và chuyển kết quả đánh giá cho Hội đồng lương đểtiến hành đưa ra các quyết định nâng lương công chức, thực sự tạo động lực chocông chức phấn đấu làm việc
- Tập trung phát triển năng lực đội ngũ công chức, nhất là công chức cao cấp để
đủ sức tham mưu cho Thủ tướng trong hoạch định chính sách, chiến lược, phápluật Lần đầu tiên trong lịch sử Vương quốc Anh, các Bộ trưởng phải có nghĩa
vụ tham dự các khóa học bồi dưỡng tại trường hành chính công nhằm bồidưỡng và đào tạo thêm kiến thức
Trang 282.1.3.5 Cải cách quá trình hình thành và thực thi chính sách công
Sự sụt giảm về kinh tế cuối những năm 1970, Chính phủ phản ứng theo hai cách:
- Chính phủ trực tiếp áp đặt chính sách Theo quan điểm của thời kỳ Thactcher,không phải mọi vấn đề được giải quyết bằng vấn đề thỏa thuận
- Chính phủ nỗ lực hướng tới tiếp cận một cách có dự tính và chủ động giải quyếtcác vấn đề
Sự hợp tác giữa tư nhân và công cộng dựa trên mục tiêu lựa chọn khuvực cung cấp dịch vụ công tốt nhất, đó có thể là khu vực tư nhân, khu vực côngcộng hoặc có cả sự phối hợp giữa các khu vực này dựa trên mối quan hệ tintưởng lẫn nhau, trong đó sự lựa chọn có tùy thuộc vào cân nhắc về bản chất đặcbiệt của tùy từng dịch vụ
Về cam kết chính trị và lãnh đạo, đã có nhưng xu hướng cải cách chínhsau:
- Tuân theo sự chỉ đạo của Thủ tướng kế nhiệm
- Lên kế hoạch và kiểm soát cải cách được thực hiện qua Nội các, Kho bạc, Văn phòng cải cách Chính phủ
Quan trọng đối với sự thành công của các chính sách cải cách là thái độ cam kếttrong lãnh đạo và thực thi của cả bộ máy quản lý tài chính công cùng với trách
nhiệm và quyết tâm trong công việc của bộ máy hành chính 2.2.
Cuộc cải cách bộ máy quản lý chi tiêu công ở Kosovo
Đến ngày 17/2/2008 chính phủ Kosovo thông qua quyết định tuyên bố độc lập Lúcbây giờ quyết định của Kosovo đã gây ra những phản ứng trái chiều mạnh mẽ trên thế giới
Mỹ và một số nước Tây Âu (Anh, Pháp, Đức) gần như ngay lập tức
Trang 29đồng tình và công nhận quốc gia trẻ nhất của châu Âu này Ngược lại Serbia và Ngaphản đối một cách quyết liệt: Ngay trong lòng châu Âu - Tây Ban nha, Hy Lạp, Síp,Rumania và Slovakia -ít nhất họ không tránh khỏi "động lòng" khi nghĩ tới nhữngkhuynh hướng li khai hiện diện trong lòng quốc gia mình Chính vì bối cảnh nhưvậy nên dù là một quốc gia non trẻ, Kosovo thu hút sự quan tâm rất lớn từ khắp mọinơi trên thế giới.
2.2.1.1 Tình hình kinh tế
Kể từ cuối cuộc xung đột năm 1999, Kosovo đã có sự tăng trưởng kinh tế đều đặn.Bắt đầu từ mức tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp, điều này ban đầu được thúcđẩy bởi nỗ lực tái thiết của các nhà tài trợ khổng lồ và ngày càng được hỗ trợ bởi sựtăng trưởng về kiều hối và sự hồi phục dần dần trong hoạt động kinh tế (WorldBank, 2010a) Hơn nữa, cuộc suy thoái năm ngoái ở châu Âu chỉ có một tác độngkhiêm tốn tới nền kinh tế, cảm thấy qua chuyển tiền, xuất khẩu và đầu tư trực tiếpnước ngoài (IMF, 2010a, World Bank, 2010a)
Bảng 2: Chỉ số vĩ mô của Kosovo 2007-2012
2.2.1.2 Tình hình tài chính công
Trang 30- Các hệ thống chi tiêu công của Kosovo còn tương đối trẻ Ở thời điểm 1999khi chính quyền mới được thành lập, Kosovo chưa có hệ thống quản lý tàichính công Trước đây khi còn chịu sự điều hành của Liên bang Nam Tư,Kosovo cũng chỉ có cơ quan quản lý một số chức năng tài chính công nhưquản lý các chính sách, quản lý tiền tệ địa phương Tuy nhiên sau khi tách ra
tự trị các cơ quan này không còn được duy trì
- Có thể nói Kosovo vừa thiếu bộ máy vật lý để quản lý tài chính công, vừa thiếu nhân lực có kinh nghiệm để quản lý
luật liên quan đến tài chính công Tuy nhiên, thay vì hồi phục lại bộ máy tổ chức tàichính công như dưới thời còn chịu sự điều hành của Nam Tư, chính quyền Kosovoxây dựng cơ chế tài chính của mình dựa trên sự tham khảo từ các quốc gia trên thếgiới cũng như mô hình hệ thống thông lệ tốt nhất (best practice) Chính quyềnKosovo đã để Dự án phụ hồi kinh tế USAID hỗ trợ xây dựng bộ máy tài chínhcông Cụ thể Dự án USAID này chịu trách nhiệm thiết lập các quy định, thủ tục và
cơ chế quản lý tài chính công, và làm như vậy đã giúp thành lập cơ quan tài chínhtrung ương và các cấu trúc của nó Hệ thống này chủ yếu dựa trên mô hình Anglo-Saxon Cục Quản lý Thuế đã được thành lập như là một thực thể riêng biệt, cũngnhư Dịch vụ Hải quan, bao gồm cả cơ
quan ngân hàng quy định của Ngân hàng Trung ương Kosovo
2.2.2 Quá trình cải cách tổ chức quản lý chi tiêu công
- Giai đoạn cải cách bộ máy tổ chức quản lý tài chính công nói chung và chitiêu công của Kosovo có thể xem như chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn đoạn1: 1999-2001; giai đoạn 2: 2002/2003-2007; giai đoạn 3: 2008 cho đến nay
- Xuyên suốt cả ba giai đoạn đó và cho đến nay, có thể nói điều mà chính phủKosovo tập trung nhất trong suốt quá trình xây dựng và tổ chức bộ máy quản
lý chi tiêu công của quốc gia này đấy chính là xây dựng được một dâychuyền lên kế hoạch vàngân sách chi tiêu rồi tiến hành chi tiêu theo ngânsách rất mạch lạc:
- Đối với việc xây dựng ngân sách chi tiêu công: