I. TÓM TẮT NỘI DUNG HỒ SƠTrong giai đoạn 19911996, UBND xã Thượng Đạt có bán đất ở thu tiền trái thẩm quyền lấy tiền xây dựng Trụ sở UBND xã và Trường mầm non cho 30 hộ gia đình với diện tích 5.207m² là đất ao, trong đó có Hộ gia đình bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Can (cha mẹ của anh Nguyễn Văn Nguyệt)Năm 1991, bà Nguyễn Thị Thoa là mẹ của anh Nguyệt có nộp tiền mua một suất đất diện tích 200m² với giá 1.500.000đ.Năm 1999 anh Nguyễn văn Nguyệt kết hôn với chị Nguyễn Thị Hảo, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, Tp.Hải Dương ngày 2631999. Cũng trong năm đó, vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo được cha mẹ anh Nguyệt cho ở trên thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 mà bà Thoa ông Cang đã mua của UBND xã Thượng Đạt. Vợ chồng anh Nguyệt sinh sống trên mãnh đó đất từ năm 1999 đến nay không có bất cứ tranh chấp với ai về mốc giới, quyền sử dụng đất.Ngày 2272002, UBND huyện Nam Sách có Quyết định số 5632002QĐUB về việc xử lý giao đất trái thẩm quyền cho 30 hộ gia đình cá nhân, trong đó có thửa đất mà anh Nguyệt chị Hảo đang sử dụng. Căn cứ vào các quyết định của cơ quan cấp trên, UBND xã Thượng Đạt lập danh sách 30 hộ dân để tiến hành đo vẽ, lập bản đồi địa giới hành chính, niêm yết công khai, sau đó gởi hồ sơ lên UBND huyện Nam Sách để hợp thức hóa. Ngày 31122005 UBND Huyện Nam Sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 496 tờ bản đồ số 01 cho anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo.Trong quá trinh chung sống từ năm 1999 đến nay, vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo thường xuyên có mâu thuẫn không thể hàn gắn được dù đã nhiều lần hòa giải ở địa phương nhưng không thành. Trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có 2 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04012000 và cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 1362007. Đến năm 2014 vợ chồng anh Nguyệt đã sống ly thân, cháu Nhi đang ở với chị Hảo, còn cháu Đức Anh đang ở với anh Nguyệt.Ngày 02012016 chị Hảo có đơn khởi kiện anh Nguyệt ra Tòa án nhân dân Tp.Hải Dương yêu cầu ly hôn, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và nuôi con không cần cấp dưỡng. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỐ TỤNG CƠ BẢN1 Xác định quyền khởi kiện và tư cách tố tụng của các đương sự: Nguyên đơn: Theo khoản 2, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm”. Qua nội dung hồ sơ thì chị Hoàng Thị Hảo là người có đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự, năng lực hành vi tố tụng dân sự và chị có mong muốn ly hôn chồng. Do vậy chị Hảo có quyền khởi kiện xin ly hôn đơn phương bằng cách nộp đơn khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền là Tòa án nhân dân TP. Hải Dương yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản khi ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt. Do đó chị Hoàng Thị Hảo là nguyên đơn trong vụ án trên. Bị đơn: Theo khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện.” Như vậy, trong vụ án này bị đơn là anh Nguyễn Văn Nguyệt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Theo khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy khanh khởi kiện, khanh bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.” Trong vụ án này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được xác định gồm bà Nguyễn Thị Thoa, ông Nguyễn Văn Cang; UBND Tp.Hải Dương.2 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:Theo nội dung hồ sơ thể hiện thì đối tượng tranh chấp là quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyệt và Chị Hảo, tranh chấp về nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn. 3 Xác định về thẩm quyền của Tòa án: Xác định thẩm quyền theo vụ việc: Tranh chấp trong vụ việc này là ly hôn, tranh chấp về con nuôi và tài sản chung khi ly hôn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sư 2015 thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Xác định thẩm quyền theo cấp Tòa: Căn cứ tại Điểm a, Khoản 1, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện. Qua nội dung hồ sơ thì Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương có thẩm quyền giải quyết. Xác định thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ tại Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình. Qua nội dung hồ sơ thì bị đơn là anh Nguyễn Văn Nguyệt có địa chỉ cư trú là Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, Tp.Hải Dương. Do đó thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân Tp.Hải Dương.4 Xác định thời hiệu khởi kiện:Theo Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 160 Bộ luật dân sự 2005 đối với những tranh chấp liên quan đến nhân thân thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tranh chấp trong vụ án này là về hôn nhân cho nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện.5 Luật áp dụng để giải quyết vụ án: Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.6 Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hảo cung cấp cho Tòa án những tài liệu chứng cứ đây: 1 Sổ hộ khẩu gia đình, Giấy khai sinh của Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh.2 Giấy đăng ký kết hôn của anh Nguyệt và chị Hảo.3Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Nam Sách cấp ngày 31122005.4 Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí.
Trang 1BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HỒ SƠ SỐ 07 (Bảo về quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn)
I TÓM TẮT NỘI DUNG HỒ SƠ
Trong giai đoạn 1991-1996, UBND xã Thượng Đạt có bán đất ở thu tiền trái thẩm quyền lấy tiền xây dựng Trụ sở UBND xã và Trường mầm non cho 30 hộ gia đình với diện tích 5.207m² là đất ao, trong đó có Hộ gia đình bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Can (cha mẹ của anh Nguyễn Văn Nguyệt)
Năm 1991, bà Nguyễn Thị Thoa là mẹ của anh Nguyệt có nộp tiền mua một suất đất diện tích 200m² với giá 1.500.000đ
Năm 1999 anh Nguyễn văn Nguyệt kết hôn với chị Nguyễn Thị Hảo, có đăng
ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, Tp.Hải Dương ngày 26/3/1999 Cũng trong năm
đó, vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo được cha mẹ anh Nguyệt cho ở trên thửa đất số 496,
tờ bản đồ số 01 mà bà Thoa ông Cang đã mua của UBND xã Thượng Đạt Vợ chồng anh Nguyệt sinh sống trên mãnh đó đất từ năm 1999 đến nay không có bất cứ tranh chấp với ai về mốc giới, quyền sử dụng đất
Ngày 22/7/2002, UBND huyện Nam Sách có Quyết định số 563/2002/QĐ-UB
về việc xử lý giao đất trái thẩm quyền cho 30 hộ gia đình cá nhân, trong đó có thửa đất
mà anh Nguyệt chị Hảo đang sử dụng
Căn cứ vào các quyết định của cơ quan cấp trên, UBND xã Thượng Đạt lập danh sách 30 hộ dân để tiến hành đo vẽ, lập bản đồi địa giới hành chính, niêm yết công khai, sau đó gởi hồ sơ lên UBND huyện Nam Sách để hợp thức hóa Ngày 31/12/2005 UBND Huyện Nam Sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 496
tờ bản đồ số 01 cho anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo
Trong quá trinh chung sống từ năm 1999 đến nay, vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo thường xuyên có mâu thuẫn không thể hàn gắn được dù đã nhiều lần hòa giải ở địa phương nhưng không thành Trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có 2 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000 và cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/6/2007 Đến năm 2014 vợ chồng anh Nguyệt đã sống ly thân, cháu Nhi đang ở với chị Hảo, còn cháu Đức Anh đang ở với anh Nguyệt
Trang 2Ngày 02/01/2016 chị Hảo có đơn khởi kiện anh Nguyệt ra Tòa án nhân dân Tp.Hải Dương yêu cầu ly hôn, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và nuôi con không cần cấp dưỡng
Trang 3II MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỐ TỤNG CƠ BẢN
1/ Xác định quyền khởi kiện và tư cách tố tụng của các đương sự:
- Nguyên đơn: Theo khoản 2, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
“Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm” Qua nội dung
hồ sơ thì chị Hoàng Thị Hảo là người có đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự, năng lực hành vi tố tụng dân sự và chị có mong muốn ly hôn chồng Do vậy chị Hảo có quyền khởi kiện xin ly hôn đơn phương bằng cách nộp đơn khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền là Tòa án nhân dân TP Hải Dương yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản khi ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt Do đó chị Hoàng Thị Hảo là nguyên đơn trong vụ án trên
- Bị đơn: Theo khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Bị đơn là
người bị nguyên đơn khởi kiện.” Như vậy, trong vụ án này bị đơn là anh Nguyễn Văn
Nguyệt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Theo khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì: “Người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy khanh khởi kiện, khanh bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa
họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.” Trong
vụ án này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được xác định gồm bà Nguyễn Thị Thoa, ông Nguyễn Văn Cang; UBND Tp.Hải Dương
2/ Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:
Theo nội dung hồ sơ thể hiện thì đối tượng tranh chấp là quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyệt và Chị Hảo, tranh chấp về nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn
3/ Xác định về thẩm quyền của Tòa án:
- Xác định thẩm quyền theo vụ việc: Tranh chấp trong vụ việc này là ly hôn,
tranh chấp về con nuôi và tài sản chung khi ly hôn Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sư 2015 thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
- Xác định thẩm quyền theo cấp Tòa: Căn cứ tại Điểm a, Khoản 1, Điều 35 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp
Trang 4huyện Qua nội dung hồ sơ thì Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương có thẩm quyền
giải quyết
- Xác định thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ tại Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có thẩm
quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình Qua nội dung hồ sơ thì bị đơn là anh Nguyễn Văn Nguyệt có địa chỉ cư trú là
Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, Tp.Hải Dương Do đó thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân Tp.Hải Dương
4/ Xác định thời hiệu khởi kiện:
Theo Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 160 Bộ luật dân sự 2005 đối với những tranh chấp liên quan đến nhân thân thì không áp dụng thời hiệu khởi
kiện Tranh chấp trong vụ án này là về hôn nhân cho nên không áp dụng thời hiệu khởi
kiện
5/ Luật áp dụng để giải quyết vụ án:
- Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành
6/ Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hảo cung cấp cho Tòa án những tài liệu chứng cứ đây:
1/ Sổ hộ khẩu gia đình, Giấy khai sinh của Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh 2/ Giấy đăng ký kết hôn của anh Nguyệt và chị Hảo
3/Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Nam Sách cấp ngày 31/12/2005
4/ Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí
Về các chứng cứ Tòa án nhân dân Tp.Hải Dương thu thập:
1/ Biên bản lấy khai các đương sự
2/ Các biên bản hòa giải tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương
3/ Các Công văn UBND xã Thượng Đạt
Trang 54/ Biên bản định giá tài sản.
5/ Công văn của Phòng tài nguyên và môi trường Tp.Hải Dương
Trang 6III PHẦN TRÌNH BÀY CỦA LUẬT SƯ SAU KHI KẾT THÚC THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát,
Kính thưa các vị Luật sự đồng nghiệp cùng toàn thể quý vị có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay
Tôi là luật sư…., thuộc Công ty Luật Hoàng Gia – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội Theo đơn mời luật sư từ phía chị Hoàng Thị Hảo và được sự chấp thuận từ phía Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, hôm nay tôi tham dự phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là chị Hoàng Thị Hảo trong
vụ án ly hôn đơn phương giữa chị Hoàng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt
Anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Vũ Thị Hảo đăng ký kết hôn vào năm 1999 ở UBND xã Thượng Đạt và chung sống hạnh phúc với nhau từ thời điểm đăng ký kết hôn đến năm 2014 thì nảy sinh mâu thuẫn, sau đó vợ chồng sống ly thân hơn 01 năm
Trong quá trình chung sống với nhau, vợ chồng anh Thắng và chị Hảo có 02 con chung là cháu cháu Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2005 và Nguyễn Đức Anh sinh năm
2009 và cùng tạo lập được khối tài sản chung là thửa đất số 496 tờ bản đồ số 01 diện tích 216 m2 tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương được Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/12/2005
Sau khoảng thời gian chung sống hòa thuận với nhau thì vợ chồng chị Vũ Thị Hảo phát sinh mâu thuẫn không thể hóa giải được làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được Do vậy ngày 02/01/2016, chị Vũ Thị Hảo khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xin ly hôn anh Nguyễn Văn Nguyệt với những yêu cầu cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Hảo yêu cầu được ly hôn với chồng là anh Nguyễn
Văn Nguyệt
- Về con cái: chị Hảo yêu cầu được nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi
và Nguyễn Đức Anh, không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng
- Về tài sản: chị Hảo yêu cầu được chia ½ thử đất số 496, tờ bản đồ số 01 tại xã
Thượng Dương, cụ thể là 108 m2 và xin được lấy phần không có tài sản Ngoài
ra chị không đồng ý yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyệt
Những tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là hợp pháp:
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26/03/1999
- Sổ hộ khẩu gia đình số 270056469
Trang 7- Giấy Khai sinh của cháu Nhi số 73 quyển số 2014
- Giấy Khai sinh của cháu Đức Anh số 38 quyển số 2007
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 496
- Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí
IV KẾ HOẠCH HỎI CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TÒA:
Là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn: Luật sư cần
tập trung hỏi về Quyền sử dụng đất trên thực tế, xoay quanh việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Nam Sách cấp cho thửa đất đang tranh chấp mang tên vợ chồng và điều kiện nuôi con của chị Nguyễn Thị Hảo
3.1 Hỏi nguyên đơn: Chị nguyễn Thị Hảo
- Chị và anh Nguyệt đã khanh còn chung sống với nhau từ khi nào?
- Hiện nay chị làm gì và tổng thu nhập hàng tháng là bao nhiêu?
- Hiện nay cháu Nguyễn Thị Nhi đang học nghề hay làm canh việc gì? Có thu nhập hàng tháng hay khanh?
- Chị cho biết vì sao chị cho rằng thửa đất số 496 tờ bản đồ số 1 là tài sản chung của
vợ chồng chị?
- Chị nói chamẹ chồng đã cho vợ cho vợ chồng chị thửa đất bằng miệng Trong gia đình có những ai biết việc này?
3.2 Hỏi bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nguyệt
- Anh cho biết anh và chị Hảo sinh sống trên mảnh đất đó từ khi nào?
- Quá trình sinh sống trên thửa đất đó, gia đình anh có tranh chấp với ai về quyền sử dụng đất hay không?
- Anh cho rằng đất đó là của cha mẹ anh, vậy anh có giấy tờ gì chứng minh là cha mẹ anh là người sử dụng hợp pháp thửa đất trên?
- Anh và chị Hảo là người trực tiếp sử dụng thửa đất trên liên tục, lâu dài, không tranh chấp từ năm 1999 đến nay phải không?
- Anh cho HĐXX biết, hàng ngày anh có dùng chất kích thích rượu bia thuốc kkông?
- Anh trả lời sao về việc đã từng có hành vi bạo lực gia đình trong quá khứ?
3.3 Hỏi Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
a, Hỏi đại diện UBND Tp.Hải Dương
Trang 8- Anh/chị cho biết căn cứ nào mà UBND cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Nguyệt chị Hảo?
- Quy trình cấp giấy của UBND huyện Nam sách có đúng theo trình tự thủ tục luật định hay không?
b, Hỏi bà Nguyễn Thị Thoa
- Bà cho biết năm nay bà bao nhiêu tuổi? Hiện ở với ai?
- Bà cho Hội đồng xét xử biết, bà có khiếu nại gì về Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện Nam Sách cho anh Nguyệt chị Hảo không?
- Tại sao bà không khiếu nại khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất của
bà lại đứng tên vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo?
IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát
Kính thưa các vị Luật sự đồng nghiệp cùng toàn thể quý vị có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay
Căn cứ vào toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung phần thẩm vấn công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hảo trong vụ án “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con, chia tải sản khi ly hôn”, tôi cho rằng những yêu cầu của thân chủ tôi là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp các quy định của pháp luật Bởi các lẽ sau:
1 Về yêu cầu ly hôn
Anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Vũ Thị Hảo đăng ký kết hôn trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện vào năm 1999 tại Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương (BL 02 - Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn) Như vậy, tại thời điểm chị Vũ Thị Hảo khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi con và phân chia tài sản thì chị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt có mối quan hệ hôn nhân trên thực tế
Do đó chị Hảo có quyền khởi kiện trong vụ án này
Cuộc hôn nhân của chị Hoàng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được
Trang 9Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “1.
Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Trong Biên bản lấy lời khai ngày 18/01/2016 (BL 18), anh Nguyễn Văn Nguyệt trình bày “ Nay cô Hảo xin ly hôn tôi đồng ý”, tương tự tại BL24 – Bản tự khai ngày 20/01/2016 anh Nguyệt cũng khẳng định “Tôi không còn tình cảm vợ chồng Cô Hảo xin ly hôn tôi đồng ý”
Như vậy, cả chị Hoàng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đều đồng ý việc ly hôn như trình bày trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai cũng như phần trả lời tại phiên tòa ngày hôm nay
2 Về yêu cầu nuôi con chung
Hai anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi sinh năm 2000 và cháu Nguyễn Đức Anh sinh năm 2007 Hiện nay cháu Nhi đang ở với chị Hảo, cháu Đức Anh đang ở với anh Nguyệt Chị Hảo ly yêu cầu được nuôi cả 02 con, không yêu cầu anh Nguyệt phải cấp dưỡng Yêu cầu của chị Hảo là hoàn toàn chính đáng, xuất phát
từ tình mẫu tử sâu nặng bởi lẽ không một người mẹ nào muốn rời xa con mình, đặc biệt con ở chung với bố nhưng anh Nguyệt là chồng chị, là cha của các bé mà lại ngăn cản việc chị Hảo thăm con là một điều khó chấp nhận
Chị Hảo là người tốt nhất để nuôi cả 02 cháu khôn lớn trưởng thành Chị Hảo
có chỗ ở ổn định, ở chung với mẹ đẻ nên các cháu nhận được tình cảm, sự chăm sóc từ
bà Cháu Đức Anh còn nhỏ, đang trong độ tuổi dậy thì, tâm sinh lý vô cùng nhạy cảm nên cần sống trong môi trường có tình yêu thương của mẹ, của bà Hơn nữa còn có chị gái của cháu thì cháu sẽ có điều kiện phát triển tinh thần tốt hơn là ở một mình với bố
Chị Hảo có thu nhập ổn định để nuôi các con Việc anh Nguyệt không cho chị Hảo gặp con, nếu chị gặp thì sau đó cháu bị bố đánh Điều này thể hiện ở BL61-Biên bản lấy lời khai của chị Hảo ngày 23/02/2016 và BL73 – Biên bản xác minh tại UBND
xã Thượng Đạt ngày 09/3/2016 Anh Nguyệt có hành vi bạo hành con, việc anh Nguyệt cấm đoán cháu Đức Anh không cho gặp mẹ được chính quyền và bà con hàng xóm láng giềng đều biết Hành động này của anh Nguyệt chứng tỏ là một người bố nhưng không đảm bảo về mặt đạo đức, tư cách để nuôi nấng, dạy bảo con nên người
Ly hôn là việc riêng của hai vợ chồng, là một người chồng anh có quyền không gặp chị Hảo nhưng không được làm ảnh hưởng tới các con Bố mẹ ly hôn, không còn chung sống dưới một mái nhà đã là một sự thiệt thòi rất lớn đối với các cháu nhỏ, các cháu rất cần tình yêu của cả cha và mẹ Anh Nguyệt, chị Hảo đều có quyền gặp cháu,
Trang 10yêu thương chăm sóc cháu mà bên kia không được phép ngăn cấm Điều này được quy định tại khoản 3 Điều 82 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau
khi ly hôn Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 như sau: “3 Sau khi ly hôn, người
không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.”Anh Nguyệt không những không tạo điều kiện cho chị Hảo không được nhận
thăm cháu Đức Anh mà còn cản trở là làm trái quy định pháp luật Như vậy, anh Nguyễn Văn Nguyệt không đủ điều kiện để nuôi con sau khi ly hôn Cháu Đức Anh cần được sống với mẹ thì mới có sự phát triển cả về thể chất lẫn đời sống tinh thần
Hơn nữa, hai cháu đều xin được ở với mẹ theo BL30 - Đơn đề nghị của cháu Nguyễn Thị Nhi và BL 31 – Đơn đề nghị của cháu Nguyễn Đức Anh
Do vậy, ý kiến của các cháu cần được Hội đồng xét xử xem xét theo khoản 2 Điều 81 “Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn” Luật
Hôn nhân gia đình năm 2014 “trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết
định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
Như vậy, nguyên đơn chị Hoàng Thị Hảo có đủ điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần cũng như là cơ sở pháp lý để được nuôi nấng hai cháu nên người
3 Về yêu cầu chia tài sản.
Thứ nhất, thửa đất số 496 tờ bản đồ 01 tại xã Thượng Đạt là tải sản chung của vợ chồng.
Tại các biên bản lời khai trước đây và tại phần hỏi đáp ở phiên tòa ngày hôm nay, các đương sự đều khẳng định sau khi thân chủ tôi kết hôn với anh Nguyệt thì hai
vợ chồng đã ở trên thửa đất này, cùng nhau xây dựng nhà cửa trồng trọt từ năm 1999 đến nay Bố mẹ anh Nguyệt đã nói cho vợ chồng anh thửa đất này nên vợ chồng anh chị đã tiến hành xây nhà trên đất, sinh sống ổn định lâu từ năm 1999, không có tranh chấp về mốc giới, quyền sử dụng đất với bất kì ai Đến ngày 31/12/2005 thì UBND huyện Nam Sách cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng anh chị Như vậy, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng chị Hảo đối với thửa đất trên được xác lập
kể từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền canh nhận quyền sử dụng đất bằng hành vi cấp giấy chứng nhận
Ông Nguyễn Văn Bích là Cán bộ địa chính xã Thượng Đạt tại BL76 - Biên bản xác minh ngày 09/3/2016 có ý kiến rằng “Vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo ở ổn định trên mảnh đất đó từ trước đến nay không có tranh chấp về mốc giới, quyền sử dụng đất”
Việc cha mẹ anh Nguyệt tuyên bố cho vợ chồng chị đất bằng miệng, không có văn bản nào chứng minh cho việc tặng cho đó, thế nhưng chuyện UBND huyện Nam Sách cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng chị, chuyện vợ