1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài thu hoạch diễn án dân sự hồ sơ 07 ly hôn Nguyệt Hảo

10 148 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 101,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN TƯ PHÁPCƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

🙣🙣🙣

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN MÔN: KỸ NĂNG THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

HỒ SƠ SỐ: LS.DS.07 TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN

Trang 2

BỐ CỤC BÀI THU HOẠCH

1 Tóm tắt nội dung tranh chấp

2 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện

2.1 Phần trình bày của nguyên đơn

2.2 Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

3 Câu hỏi dự kiến tại Tòa án

3.1 Kế hoạch hỏi nguyên đơn

3.2 Kế hoạch hỏi bị đơn

3.3 Kế hoạch hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

4 Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Trang 3

1 TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP

a Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hảo, sinh năm 1978

HKTT: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương

Trú tại: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, Tp Hải Dương

b Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976

HKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương

c Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị Thoa, sinh năm 1944

- Ông Nguyễn Văn Cang, sinh năm 1933

Cùng trú tại: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương Nội dung vụ án:

Ngày 26 tháng 03 năm 1999, Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt đã có với nhau 02 (hai) người con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2000) và Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/6/2007)

Từ năm 2002 (02 năm sau khi kết hôn) đến thời điểm cuối năm 2014, ông Nguyệt

và bà Hảo liên tục có phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân mâu thuẫn từ phía bà Hảo cho rằng do ông Nguyệt hay đi chơi, về đánh chửi vợ con, khả năng hàn gắn là không thể Về phía Ông Nguyệt cho rằng nguyên nhân là do bà Hảo hay ghen, thường bỏ về nhà bố mẹ

vợ mỗi khi có cãi nhau với Ông Nguyệt

Ngày 02 tháng 01 năm 2016, bà Hảo khởi kiện ly hôn với chồng là ông Nguyệt, nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề như sau:

(i) Về quan hệ hôn nhân: Cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng sống

ly thân hơn 01 năm Vì vậy, bà Hảo đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyệt

(ii) Về con chung: bà Hảo đề nghị được nuôi 02 cháu và không yêu cầu ông Nguyệt

phải cấp dưỡng

(iii) Về tài sản chung: các bên tranh chấp tài sản chung như sau:

● Vấn đề đối với đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, Bà Hảo đề nghị được chia ½ diện tích đất trên

● Về tài sản trên đất có nhà và một số công trình phụ, bà Hảo không đề nghị chia

Trang 4

● Về thửa đất ruộng ao khoán tọa lạc tại địa chỉ: Bãi Nam, Khu dân cư số 02 Thượng Trệt, xã Thượng Đạt, Tp Hải Dương với diện tích là 1965 m2 để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng Bà Hảo có đề nghị được thuê khoán lại một nửa diện tích đất trên, các tài sản trên đất thuộc về đất thuê khoán của bên nào thì bên đó được sử dụng

(iv) Về nợ chung: Nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi

nhánh Hải Dương số tiền là 20.000.000 đồng và lãi suất phát sinh Bà Hảo đồng ý chịu một nửa số tiền nợ chung

Đối với các yêu cầu trên của nguyên đơn, bị đơn – anh Nguyệt có những ý kiến như sau: (i) Về quan hệ hôn nhân: Đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị Hảo

(ii) Về con chung: Ông Nguyệt đề nghị được nuôi cả hai cháu, không yêu cầu bà Hảo

phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung Riêng cháu Nguyễn Đức Anh xin được ở với ông Nguyệt

(iii) Về tài sản chung:

● Vấn đề đối với đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, ông Nguyễn Văn Nguyệt không đồng ý là tài sản chung mà cho rằng đó là tài sản của bố mẹ

● Về tài sản trên đất có nhà và một số công trình phụ, ông Nguyệt thống nhất giá trị về các tài sản trên đất với bà Hảo và xin được chia đôi tài sản này

● Về thửa đất ruộng ao khoán của UBND xã Thượng Đạt, ông Nguyệt không đồng ý đề nghị chia đôi một nửa diện tích đất này với bà Hảo

(iv) Về nợ chung: ông Nguyệt không yêu cầu bà Hảo trả số nợ chung

2 YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN VÀ CHỨNG CỨ CHỨNG MINH CHO YÊU CẦU KHỞI KIỆN

2.1 Phần trình bày của nguyên đơn

Yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương giải quyết cho những yêu cầu sau đây:

- Yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt

- Yêu cầu được nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/1/2000) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/6/2007) và không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng

Trang 5

- Yêu cầu chia tài sản chung là đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, TP Hải Dương Tôi yêu cầu chia đôi đất bằng hiện vật Chị Hảo nhận 108 m2

2.2 Các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

● 01 (một) bản sao giấy chứng nhận đăng kí kết hôn

● 01 (một) bản sao giấy khai sinh của cháu Nguyễn Đức Anh

● 01 (một) bản sao giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Nhi

● 01 (một) bản sao hộ khẩu

● 01 (một) đơn đề nghị của cháu Nhi

● 01 (một) đơn đề nghị của cháu Anh

● 01 (một) Biên bản lấy lời khai của bà Thoa

● 01 (một) biên bản xác minh của cán bộ địa chính xã

● 06 (sáu) biên bản Hòa giải cơ sở

3 CÂU HỎI DỰ KIẾN TẠI PHIÊN TÒA

3.1 Kế hoạch hỏi nguyên đơn

1 Bà làm việc tại Công ty may được bao lâu rồi? Hiện nay bà còn làm tại Công ty đó không? Ngoài thu nhập đó, bà còn thu nhập nào khác không?

2 Ông Nguyệt có đóng góp gì phụ bà để chăm lo gia đình và các cháu hay không?

3 Bà Hảo cho biết, ông Nguyệt có chơi lô đề, cờ bạc, rượu chè không?

4 Bà ghen tuông chồng bà có căn cứ nào không?

5 Từ trước đến nay, ông Nguyệt có chửi bới, đánh đập bà không?

6 Mâu thuẫn giữa 2 vợ chồng diễn ra từ khi nào? Khi mâu thuẫn xảy ra, ông Nguyệt có đuổi bà ra khỏi nhà không?

7 Tại sao bà thường xuyên bỏ về nhà mẹ đẻ khi hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn?

8 Theo như trong lời khai thì bà nói hai vợ chồng thực tế đã sống li thân từ cuối năm 2014, xin bà giải thích điều đó có nghĩa là như thế nào?

9 Bà có còn tình cảm với ông Nguyệt không?

10 Ngoài lý do ông Nguyệt chửi bới ra còn lý do nào khác khiến bà yêu cầu

Trang 6

11 Bà có căn cứ nào cho rằng ông Nguyệt đánh, hành hạ cháu Đức Anh nếu như cháu Đức Anh gặp chị không? Nếu như chị gặp cháu Anh thì Ông Nguyệt sẽ

có hành xử như thế nào với 2 mẹ con?

12 Bà có lường trước những khó khăn nếu sau khi được ly hôn một mình phải gánh vác nuôi 2 con nhỏ, nuôi dạy chăm lo cho con ăn học trở thành người có ích cho xã hội? Bà có điều kiện gì để đảm bảo rằng khi 2 cháu ở với chị sẽ có đầy đủ điều kiện để phát triển về mặt thể chất, năng lực và được học hành?

13 Bà xác định là thửa đất số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, đất tại

xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương có nguồn gốc từ đâu?

14 Chi phí làm nhà, cải tạo nhà đất trên thửa số 496 là của ai bỏ ra?

15 Bà và ông Nguyệt có làm đơn đề nghị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương không?

16 Còn về thửa đất với diện tích 1965 m2 thì chị có mong muốn và yêu cầu gì?

17 Về khoản nợ vay NH Agribank 20 triệu đồng, hướng giải quyết của chị như nào?

3.2 Kế hoạch hỏi bị đơn

1 Ông cho biết mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ khi nào?

2 Ông cho biết ông có từng bao giờ đánh Bà Hảo không? Tại sao?

3 Sau khi bà Hảo bỏ nhà đi, ông có tìm cách liên hệ với bà Hảo không?

4 Anh có cho bà Hảo gặp cháu Nguyễn Đức Anh không?

5 Theo biên bản xác minh 09/03/2016 của ông Đỗ Văn Tự - cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt ghi nhận có phải khi cháu Anh gặp mẹ ruột là chị Nguyệt về bị hành hạ, ông có ý kiến gì về lời ghi nhận này không?

6 Anh cho rằng thủ tục cấp GCN QSDĐ là không đúng theo quy định pháp luật thì tại sao anh lại không làm đơn khiếu nại tại thời điểm lúc bấy giờ?

7 Theo như Biên bản số 24/BB-UBND ngày 08/6/2016 mà UBND xã Thượng Đạt cung cấp cho Tòa án, ông và bà Hảo có làm đơn đề nghị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương không?

8 Chi phí xây nhà, cải tạo đất do ai bỏ ra?

9 Ông cho biết hiện tại ông làm gì? Thu nhập của ông là bao nhiêu? Có ổn định không? Có đảm bảo đầy đủ cuộc sống tốt cho cháu Đức Anh không?

10 Cháu Đức Anh năm nay bao nhiêu tuổi? Ý kiến của cháu Đức Anh muốn ở với ai sau khi ông ly hôn với Bà Hảo?

Trang 7

11 Trong thời gian chung sống, ai là trụ cột tạo nguồn thu nhập cho gia đình?

12 Ông có đóng góp cho gia đình và chăm sóc nuôi dạy các con ông hay không?

3.3 Kế hoạch hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan

1 Bà Nguyễn Thị Thoa: Vào thời điểm UBND cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng anh Nguyệt – chị Hảo, bà có biết không? Bà có biết anh Nguyệt và chị Hảo đứng tên trên GCN không? Lúc đó, bà có ý kiến phản đối gì không?

2 Đại diện UBND thành phố Hải Dương: Ông/bà có ý kiến gì đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ đứng tên ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo?

3 Đại diện Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam: Ông/bà có ý kiến gì về thỏa thuận trả nợ của nguyên đơn và bị đơn?

3

Trang 8

4 BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN

Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa vị đại diện VKS và các luật sư đồng nghiệp

Tôi, luật sư ………, thuộc Công ty ………., đến từ Đoàn luật sư TP Hồ Chí Minh Hôm nay tôi tham dự phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo trong vụ án vụ án dân sự thụ lý số 20/2016/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2016 về việc "ly hôn, nuôi con, chia tài sản"

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ có liên quan, thông qua theo dõi diễn biến phần xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin đưa ra một số quan điểm bảo vệ như sau:

Về phần trình bày về quá trình hôn nhân của ông Nguyệt và Bà Hảo, bên nguyên đơn xin phép không trình bày lại một lần nữa Theo đó, tôi xin được trình bày các ý kiến

và quan điểm bảo vệ cho nguyên đơn như sau:

Thứ nhất, Yêu cầu xin ly hôn của Bà Hảo là hoàn toàn có căn cứ pháp luật theo quy định Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và các bằng chứng, lời khai của các đương sự tại phiên tòa hôm nay cho thấy hai bên đã tiến hành hòa giải nhưng không thành, tình trạng của vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được

Tại biên bản xác minh ngày 09/3/2016 với ông Bích cán bộ địa chính xã và biên bản lời khai của ông Quyết ngày 21/3/2016, bà Nguyệt chịu khó làm ăn, vun vén gia đình, tham gia cày cấy cùng chồng, làm kinh tế thêm cho gia đình Và qua các biên bản lấy lời khai, biên bản Hòa giải, lời khai tại Tòa ngày hôm nay của ông Nguyệt và Bà Hảo đã cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa ông Nguyệt và bà Hảo thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do không hợp về lối sống, quan điểm bất đồng dẫn đến cãi nhau và hoàn toàn không thể hàn gắn được, ông Nguyệt thường xuyên chửi bới Bà Hảo, buộc Bà Hảo phải bỏ về nhà mẹ đẻ Cuối 2014, Bà Hảo dọn ra ở riêng và từ đó đến thời điểm hiện tại cả hai đã ly thân với nhau

Kính thưa Hội đồng xét xử, qua những bằng chứng xác thực nêu trên đủ để chứng minh rằng tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Hảo thật sự trầm trọng, thực chất là họ đã không còn sống với nhau từ năm 2014 đến nay, chính vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xét cho thân chủ tôi được ly hôn theo như mong muốn

Thứ hai, Bà Hảo nếu ly hôn với ông Nguyệt thì Bà Hảo là người có quyền nuôi dưỡng cháu Đức Anh và Nhi là hợp tình, hợp lý, đúng nguyện vọng thỏa đáng của hai cháu, cũng như bảo đảm được lợi ích cho sự phát triển của cháu Đức Anh và Cháu Nhi.

Cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04 tháng 01 năm 2001 (15 tuổi) và cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13 tháng 6 năm 2007 (8 tuổi 6 tháng) là con chung trong thời kỳ hôn nhân của Bà Hảo và ông Nguyệt Hiện tại thì cháu Nhi đang sống với Bà Hảo, cháu Đức Anh đang sống cùng với ông Nguyệt Theo hồ sơ vụ án bản lấy lời khai của cháu Đức Anh

Trang 9

muốn được ở cùng với Bà Hảo Như vậy, nguyện vọng của hai cháu là muốn được ở cùng người mẹ, để nuôi nấng chăm sóc cho cháu, như vậy thiết nghĩ Tòa cần xem xét kĩ điều này bởi sự mong muốn, nguyện vọng của con trẻ chính là căn cứ có giá trị hơn cả khi xem xét chọn ra người thích hợp yêu thương quan tâm cho cháu Bởi hơn ai hết con trẻ là người cảm nhận rõ nét nhất so sánh đúng nhất tình thương của cha mẹ Ngoài ra, với thu nhập cố định hàng tháng là 5 đến 6 triệu đồng so với với mặt bằng sinh hoạt chung tại địa phương và hiện nay bà Hảo đang ở tại nhà bố mẹ Bà Hảo, với chỗ ở ổn định thì Bà Hảo có thể đủ điều kiện để nuôi dạy hai cháu khôn lớn Với số tiền này, trước đến nay, Bà Hảo đã vun vén, lo cho sinh hoạt gia đình, ngoài ra còn phụ thêm cho ông Nguyệt trả tiền khoán đất ruộng, chăn nuôi làm ăn kinh tế cho gia đình, trả nợ ngân hàng Nay không vì lý do gì

mà không thể nuôi các cháu khôn lớn một cách đầy đủ và toàn diện Bên cạnh đó, trong gia đình, người gần gũi và thường xuyên chia sẻ tâm tư tình cảm của hai cháu là Bà Hảo

Có thể khẳng định, Bà Hảo nuôi hai cháu là đảm bảo mọi điều tốt nhất cho cháu, bởi bà có đầy đủ điều kiện về mặt vật chất và tinh thần để chăm sóc và quan tâm cháu một cách hoàn toàn cho đến khi các cháu trưởng thành Đồng thời, hai cháu là anh em, đang tuổi còn nhỏ, nếu được chung sống, quan tâm, đùm bọc giúp đỡ, yêu thương nhau thì tình cảm anh em mới gắn kết Do đó, Bà Hảo có nguyện vọng được nuôi hai con đến lúc trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật Đề nghị Quý Tòa xem xét, cân nhắc

Thứ ba, về các tài sản chung để phân chia khi ly hôn.

Theo biên bản lời khai của bà Hảo và ông Nguyệt, Biên bản thỏa thuận giá trị tài sản ngày 20/6/2016, các Biên bản hòa giải và lời khai tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyệt

và bà Hảo có tài sản chung gồm:

● Về nhà ở: có 01 căn nhà ở cấp 4 được xây dựng trên thửa số 496 tờ bản đồ số 01,

bể nước, giếng, tường bao Tổng giá trị là 4.100.000 đồng

● Về đất đai: thửa đất số 496 tờ bản đồ số 01 với 216m2 đất, trong đó có 200m2 đất ở

và 16m2 đất cây lâu năm Giá đất ở là 3.000.000 đồng/m2; giá đất cây lâu năm là 300.000 đồng/m2

Theo Điều 14 Luật HNGĐ 1986, thì tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung

Đối với nhà ở và tài sản gắn liền đã được ông Nguyệt và bà Hảo thống nhất và xác định là do hai vợ chồng cùng xây dựng, tạo lập sau khi kết hôn, hai vợ chồng cùng chung sống tại căn nhà nêu trên Do đó, căn cứ theo Điều 14 Luật HNGĐ 1986, nhà ở và tài sản gắn liền là tài sản chung, công sức đóng góp của vợ chồng

Đối với thửa đất số 496 tờ bản đồ số 01, với diện tích 216m2 đất, trong đó có 200m2

Trang 10

đồng/suất năm 1991 Năm 1999, bà Hảo và ông Nguyệt kết hôn, sau đó được ông Cang,

bà Thoa và các anh chị em trong gia đình thống nhất đồng ý cho ra ở riêng, làm nhà trên đất đó Năm 2005, UBND huyện Nam Sách đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh chị Mặc dù, bà Thoa, ông Cang, các anh em trong gia đình (ông Chiến, ông Quyết, ông Cương) biết giấy chứng nhận được cấp cho hai vợ chồng ông Nguyệt, bà Hảo nhưng không phản đối (vì theo lời khai của các anh em ông Nguyệt, ông Nguyệt và

bà Hảo có sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay tiền tại ngân hàng cho anh em trong gia đình, nên các anh em đều biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho cả hai vợ chồng) Vì đất có nguồn gốc của cha mẹ ông Nguyệt, được cha mẹ ông Nguyệt cho ở và xây dựng nhà ở ổn định, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các thành viên trong gia đình biết nhưng không phản đối nên điều đó thể hiện

ý chí của gia đình bà Thoa và ông Cang là đã cho ông Nguyệt và bà Hảo diện tích đất nêu trên Do đó, việc bà Thoa và ông Nguyệt khai rằng UBND huyện Nam Sách tự ý kê khai giấy tờ đất cho hộ gia đình ông Nguyệt và bà Hảo, bà Thoa không biết là không có cơ sở chấp nhận Như vậy, có căn cứ xác định lời khai của bà Hảo về việc gia đình bà Thoa đã cho ông bà diện tích đất trên, là có cơ sở

Vì vậy, căn cứ Điều 42 Luật HNGĐ 1986, thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình

và công sức đóng góp của mỗi bên; khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp Do

đó, việc chia tài sản chung của vợ chồng sẽ được xem xét dựa trên công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản và nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụng tài sản đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết chia đôi tài sản chung là căn nhà, đất và tài sản gắn liền trên đất cho cả hai bên, có xem xét dành phần ưu tiên nhiều hơn vì lợi ích của người vợ và các con chưa thành niên

Với những căn cứ như trên, kính đề nghị HĐXX chấp nhận:

1 Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Hảo;

2 Giao 2 cháu Đức Anh và cháu Nhi cho Bà Hảo trực tiếp nuôi dưỡng;

3 Cân nhắc quyết định phân chia nhà và đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại địa chỉ xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương là tài sản chung của Bà Hảo và ông Nguyệt, dành phần ưu tiên nhiều hơn vì lợi ích của người vợ và các con chưa thành niên

Trên đây là phần trình bày bản luận cứ của tôi, kính mong Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo quy định pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho thân chủ tôi cũng như các đương sự tham gia phiên tòa

Xin cám ơn ý lắng nghe Hội đồng xét xử

Ngày đăng: 21/08/2021, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w