1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN DÂN SỰ HỒ SƠ 07 về HNGĐ

12 398 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 67,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Diễn án môn dân sự cơ bản Hồ sơ số 07 về Hôn nhân gia đình LS.DS 07. Bài thu hoạch được viết trên quan điểm là Luật sư tham gia bảo vệ cho phía Nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo trong vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản”.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ việc dân sự

Mã hồ sơ: LS.DS 07/ B4.TH4-DA1/HNGĐ

Diễn án lần:

Ngày diễn:

Giảng viên hướng dẫn:

Họ và tên học viên:

Lớp:

Số báo danh:

Vai diễn:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

Trang 2

MỤC LỤC

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 2

1 Các vấn đề pháp lý cơ bản 2

a Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp 2

b Thời hiệu khởi kiện 2

c Thẩm quyền của Tòa án 2

d Xác định tư cách đương sự 2

e Tiền tố tụng 3

f Văn bản pháp luật áp dụng 3

2 Tóm tắt nội dung vụ việc 3

II CHỨNG CỨ CHỨNG MINH CHO YÊU CẦU KHỞI KIỆN LÀ CÓ CĂN CỨ 5

III KẾ HOẠCH XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM 5

IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN 7

Trang 3

BÀI THU HOẠCH HỒ SƠ DÂN SỰ SỐ 07

“TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN”

Bài thu hoạch được viết trên quan điểm là Luật sư tham gia bảo vệ cho phía

Nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo trong vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài

sản”

Nguyên đơn : Bà HOÀNG THỊ HẢO

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

1 Các vấn đề pháp lý cơ bản

a Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp

Quan hệ pháp luật tranh chấp trong hồ sơ này là: ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Căn cứ pháp lý: khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sau đây gọi tắt là

“BLTTDS 2015”)

b Thời hiệu khởi kiện

Vụ án này thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện

Căn cứ pháp lý: Chương IV về Chấm dứt hôn nhân của Luật Hôn nhân và Gia đình

2014 (sau đây gọi tắt là “Luật HNGĐ 2014”) và BLTTDS 2015 không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản

c Thẩm quyền của Tòa án

- Xét thấy vụ án này thuộc thẩm quyền xử lý của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015 vì quan hệ pháp luật tranh chấp trong hồ sơ là ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

- Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp

về hôn nhân gia đình (điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015)

- Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, Bị đơn Nguyễn Văn Nguyệt hiện đang trú tại địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương Căn cứ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 về thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ thì Toà án nơi bị đơn cư trú là Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên

Vậy, Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này theo quy định của pháp luật

d Xác định tư cách đương sự

Căn cứ pháp lý: khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 68 BLTTDS 2015

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Hảo, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã

Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương (Trên giấy tờ là Nguyễn Thị Hảo)

Bị đơn:Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I,

xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương

Trang 4

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1 Bà Nguyễn Thị Thoa và Ông Nguyễn Văn Cang – bố mẹ ruột của anh Nguyễn Văn Nguyệt Cùng trú tại: Khu dân cư số 02, Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương

e Tiền tố tụng

Vụ án này chưa được thụ lý hoặc đang được giải quyết bởi một Tòa án nào trước khi Tòa án nhân dân TP Hải Dương thụ lý Theo Điều 52 Luật HNGĐ 2014 thì trường hợp này chỉ khuyến khích chứ không bắt buộc tiến hành hòa giải trước khi khởi kiện

f Văn bản pháp luật áp dụng

− Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội (“Luật Hôn nhân

và Gia đình năm 2014”) và các văn bản hướng dẫn thi hành;

− Luật hôn nhân và gia đình số 21-LCT/HDDNN7 của Quốc hội ngày 29/12/1986 (“Luật Hôn nhân và Gia đình 1986”);

− Bộ luật Dân sự số 92/2015/QH13 của Quốc hội ngày 25/11/2015 (“Bộ luật Dân sự năm 2015”);

− Luật phòng, chống bạo lực gia đình số 02/2007/QH12 của Quốc hội ngày 21/11/2007 (“Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007”);

2 Tóm tắt nội dung vụ việc

Ngày 26/3/1999 bà Hoàng Thị Hảo kết hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt Ông Nguyệt và bà Hảo có 02 người con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi sinh năm 04/01/2000 và cháu Nguyễn Đức Anh sinh năm ngày 16/03/2007

Giữa ông Nguyệt và bà Hảo có phát sinh nhiều mâu thuẫn trong quá trình chung sống với nhau Theo chị Hảo thì lý do mâu thuẫn là vì cả hai không hợp nhau, anh Nguyệt hay chơi bời sau đó về nhà đánh đập vợ con Còn anh Nguyệt lại cho rằng mâu thuẫn bắt nguồn từ việc chị Hảo hay ghen tuông rồi bỏ về nhà mẹ đẻ ở Chị Hảo đã chuyển hẳn về nhà mẹ đẻ ở từ năm 2014 và cả hai đã ly thân từ thời điểm này, không còn chung sống với nhau nữa Về phần các con, cháu Nhi hiện ở với mẹ còn cháu Đức Anh đang ở với bố

Ngày 02/01/2016 chị Hảo đã nộp Đơn khởi kiện lên TAND TP Hải Dương Ngày 10/01/2016 Tòa án nhân dân TP Hải Dương ban hành thông báo thụ lý vụ

án số 02/TB-TLVA

Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - bà Hoàng Thị Hảo:

- Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt

- Về con chung: yêu cầu được nuôi cả hai con và không yêu cầu cấp dưỡng

- Về quan hệ tài sản: yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất tại Thửa đất 496,

tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 tại xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương và xin được lấy một nửa phần diện tích đất không có tài sản Đối với mảnh đất có diện tích

1965 m2 đất ruộng, ao khoán mà gia đình thuê trước đây của UBND xã, chị Hảo có

Trang 5

yêu cầu thuê lại một nửa (Tuy nhiên trong quá trình hòa giải, hai bên đã tự thỏa thuận được vấn đề này)

- Về khoản nợ chung của cả hai tại Ngân hàng NN&PTNT, tuy anh Nguyệt nhận trả hết nhưng nếu anh Nguyệt không muốn trả nữa chị yêu cầu chia đôi nghĩa vụ trả nợ (Tuy nhiên trong quá trình hòa giải, hai bên đã tự thỏa thuận được vấn đề này)

Ý kiến của Bị đơn đối với yêu cầu của Nguyên đơn: Nguyễn Văn Nguyệt

- Về quan hệ hôn nhân: đồng ý ly hôn với chị Hoàng Thị Hảo

- Về con chung: ban đầu đề nghị được nuôi cả hai con, sau đó anh Nguyệt muốn nuôi bé Đức Anh, còn bé Nhi để cho chị Hảo nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng;

- Về quan hệ tài sản: không chấp nhận chia đôi nhà đất tại Thửa đất 496, tờ bản

đồ số 01, diện tích 216 m2 tại xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương vì cho rằng đây không phải là tài sản chung mà là đất của bà Nguyễn Thị Thoa – mẹ anh Nguyệt Anh Nguyệt chỉ đồng ý chia đôi tài sản trên đất Đối với mảnh đất có diện tích 1965 m2 đất ruộng, ao khoán thì ban đầu anh Nguyệt không đồng ý chia cho chị Hảo vì cho rằng trước đây chỉ có anh đứng ra thuê, trả tiền thuê và chỉ có anh bỏ công sản xuất, xây dựng, chăn nuôi; sau đó hai bên đã tự thỏa thuận với nhau về vấn đề này ổn thỏa

- Về khoản nợ chung của cả hai tại Ngân hàng NN&PTNT, anh Nguyệt nhận trả hết, không yêu cầu chị Hảo trả nợ cùng

a Những nội dung đã thống nhất:

− Về ly hôn: thống nhất ly hôn

− Về tài sản chung:

+ Các tài sản gắn liền với đất gồm: nhà cấp 4, bể nước, giếng, tường bao, 03 bụi chuối Đồng thời thống nhất giá trị tài sản như sau: giá đất ở là 3,000,000 đồng/m2, giá đất trồng cây lâu năm là 300,000 đồng/m2, tài sản trên đất có giá trị 4,100,000 đồng

+ Thống nhất không giải quyết đối với diện tích 1,950m2 đất thuê khoán tại UBND xã Thượng Đạt tại Bãi Nam

b Những nội dung chưa thống nhất:

− Về con chung: Bà Hảo yêu cầu nuôi cả hai con chung Ông Nguyệt yêu cầu nuôi dưỡng cháu Đức Anh, còn cháu Nhi thì giao cho bà Hảo nuôi dưỡng

− Về tài sản chung:

+ Đối với những tài sản gắn liền với đất: Không thống nhất cách chia tài sản trên đất; Bà Hảo không yêu cầu chia tài sản, trong khi đó ông Nguyệt muốn được nhận hiện vật và trả giá trị phần của bà Hảo bằng tiền

+ Về quyền sử dụng đất: Bà Hảo cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng nhưng ông Nguyệt không đồng ý vì đây là tài sản của bố mẹ ông Nguyệt và các anh em ông Nguyệt đóng góp mua, yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất mang tên ông Nguyệt bà Hảo

Trang 6

II CHỨNG CỨ CHỨNG MINH CHO YÊU CẦU KHỞI KIỆN LÀ

CÓ CĂN CỨ

− Chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Hảo;

− Giấy chứng nhận kết hôn của Ông Nguyễn Văn Nguyệt và Nguyễn Thị Hảo;

− Sổ hộ khẩu gia đình;

− Giấy khai sinh cháu Nguyễn Đức Anh và cháu Nguyễn Thị Nhi;

− Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng số H.497 cấp ngày 31/12/2005;

− Đơn đề nghị của cháu Nguyễn Thị Nhi ngày 20/01/2016 và của cháu Nguyễn Đức Anh 22/01/2016 và 05/7/2016;

− Biên bản lấy lời khai ông Nguyệt ngày: 18/01/2016, 23/02/2016, 11/5/2016;

− Biên bản lấy lời khai bà Hảo các ngày: 18/01/2016, 23/02/2016, 16/5/2016;

− Biên bản lấy lời khai ngày 29/02/2016 đối với anh Hiếu – Đại diện Ngân hàng Agribank chi nhánh TP Hải Dương; Sổ vay vốn của anh Nguyệt với Ngân hàng Agribank chi nhánh TP Hải Dương;

− Biên bản lấy lời khai ngày 09/3/2016 đối với ông Giới, ông Tỏ, ông Tạo;

− Biên bản lấy lời khai ngày 21/03/2016 đối với ông Quyết, Cương, Chuyển;

− Biên bản xác minh ngày 09/3/2016 của Tòa án đối với ông Tự;

− Biên bản lấy lời khai ngày 06/5/2016 đối với bà Thoa; ngày 31/5/2016 của Tòa án đối với ông Cang;

− Công văn trả lời số 214/UBND-TNMT ngày 17/5/2016 của UBND huyện Nam Sách gửi Tòa án nhân dân TP Hải Dương;

− Biên bản hòa giải ngày 19/5/2016, 17/6/2016, 12/7/2016;

− Biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 31/5/2016;

− Công văn trả lời ngày 10/6/2016 của UBND TP Hải Dương gửi Tòa án Nhân dân TP Hải Dương;

− Biên bản số 24/BB-UBND ngày 08/6/2016 xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất của ông Nguyệt và bà Hảo lập bởi UBND xã Thượng Đạt;

− Biên bản xác minh ngày 15/6/2016 và 23/6/2016 của Tòa án đối với ông Bích

1 Hỏi nguyên đơn – Hoàng Thị Hảo:

− Chị cho biết nguyên nhân Chị muốn ly hôn với anh Nguyệt là gì?

− Công việc của bà là gì? bà có ký hợp đồng lao động không?

− Tại sao bà lại muốn nuôi cả hai cháu?

− Các con có chứng kiến cảnh ông bà tranh cãi hay không? Bà có thường xuyên bỏ về nhà mẹ đẻ khi có tranh cãi hay không? Có đem theo các con hay không?

− Nguồn tài chính để sử dụng cho sinh hoạt chi tiêu hằng ngày trong gia đình

Trang 7

lấy từ nguồn nào?

− Vì sao ông bà quyết định xây nhà ra ở riêng? Trước khi khởi công xây dựng căn nhà thì có trao đổi gì giữa anh chị và bố mẹ về việc nhà đất không? Các anh chị

em của ông Nguyệt có ai có ý kiến gì không?

− Có ai có khiếu nại với UBND việc vợ chồng bà có tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải của bố mẹ ông Nguyệt không?

− Việc vợ chồng ông bà sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đi vay tiền có ai biết không? Có ai phản đối gì không?

2 Hỏi Nguyên đơn – Nguyễn Văn Nguyệt:

− Những lần bà Nguyệt về thăm cháu Anh, ông có phản đối hay không?

− Ông đang làm công việc gì, thu nhập bao nhiêu, có ổn định hay không?

− Hiện nay ông có đang sống chung với bố mẹ hay không?

− Khi ông đi làm, ai sẽ chăm sóc cháu Anh?

− Ông có thay đổi ý kiến về việc chia tài sản hay không?

− Khi biết UBND đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cả hai vợ

chồng, ông có ý kiến phản đối gì không?

− Về diện tích đất 216 m2, trong quá trình sử dụng và xây dựng tài sản đất, bà Hảo có công sức tạo lập gì không? Có đóng góp gì không? Hai ông bà có thực hiện nghĩa vụ thuế cho nhà nước không?

3 Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Thoa:

− Bà cho biết, vợ chồng ông Nguyệt có thường xuyên xảy ra mâu thuẫn hay không? Những lần mâu thuẫn đó, ông bà có đứng ra hòa giải cho hai vợ chồng không?

− Bà cho vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo ở và xây dựng nhà trên đất từ thời gian nào? Viêc vợ chồng anh Nguyệt xây dựng nhà ở trên thửa đất số 496, ông bà có biết không, có phản đối không?

− Bà có biết việc UBND cấp GCN QSDĐ cho Ông Nguyệt và Bà Hảo không? Nếu biết tại sao lại không có ý kiến về việc cấp giấy đó với chính quyền?

− Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với thửa đất số

496 không?

− Bà có biết vợ chồng ông Nguyệt vay vốn Ngân hàng và đã thế chấp GCN QSDĐ chưa?

Đại diện UBND thành phố Hải Dương:

− Ông/bà có ý kiến gì đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ đứng tên ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo?

IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN

Kính thưa Hội đồng xét xử

Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát và Quý Luật sư đồng nghiệp,

Trang 8

Tôi là Luật sư , từ Công ty Luật TNHH thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh Hôm nay, tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp cho nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo (Nguyễn Thị Hảo) trong vụ án “Ly

hôn, tranh chấp con chung và tài sản chung”.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các chứng cứ mà các bên cung cấp theo đúng quy định của pháp luật, qua phiên xét hỏi công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm pháp lý như sau:

1 Về yêu cầu ly hôn

Xét thấy tình trạng hôn nhân của ông Nguyệt và bà Hảo không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Đồng thời cả hai ông bà cũng đã thống nhất với nhau về việc ly hôn Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử công nhận việc ly hôn của bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt

2 Về yêu cầu nuôi con

Bà Hảo yêu cầu được nuôi cả 02 con và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng Xét thấy bà hoàn toàn có điều kiện để nuôi các cháu, tôi đề nghị HĐXX xem xét để thân chủ tôi được quyền nuôi dưỡng cả cháu Nhi và cháu Đức Anh để bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho các cháu bởi các lẽ sau:

Thứ nhất,

Việc thân chủ của tôi muốn được nuôi cả hai con là yêu cầu vô cùng dễ hiểu, xuất phát từ tình cảm của một người mẹ, không muốn của các con mình bị chia rẽ, xa cách Theo Điều 58 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì vợ chồng tự thỏa thuận về việc nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên khi ly hôn, nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải căn cứ vào nguyện vọng của con

Xét việc nuôi dưỡng cháu Nhi đã được ông Nguyệt đồng ý theo như lời trình bày tại các biên bản hòa giải ngày 19/5/2016, ngày 17/6/2016 và ngày 12/7/2016 Đồng thời, cháu Nhi cũng có Đơn đề nghị ngày 20/01/ 2016 là muốn được ở với mẹ nếu bố

mẹ cháu ly hôn

Về việc nuôi dưỡng cháu Đức Anh, vì cháu đã trên 07 tuổi nên cũng cần xem xét đến nguyện vọng của cháu Đơn đề nghị ngày 22/01/2016 của cháu Đức Anh đã trình

bày như sau: “Nếu bố mẹ cháu không ở với nhau nữa cháu xin được ở với mẹ là

Nguyễn Thị Hảo” Ngoài ra, tại Biên bản lấy lời khai của cháu Đức Anh ngày

05/7/2016 cháu có nguyện vọng rằng: “Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin được ở với

mẹ cháu”, văn bản này có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu.

Có thể thấy rằng đến thời điểm hiện tại, cháu Đức Anh vẫn mong muốn được ở với mẹ của cháu là bà Nguyễn Thị Hảo Cháu Đức Anh đang tuổi ăn – tuổi lớn, đây là lứa tuổi có nhiều biến động về mặt tâm sinh lý, nên việc cho hai chị em sống cùng với nhau sẽ giúp bảo đảm sự phát triển tốt nhất về thể chất cũng như tinh thần của cháu Đức Anh

Thứ hai,

Về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng, bà Hảo có mức thu nhập hàng tháng

Trang 9

từ 4.000.000 – 6.000.000 đồng/tháng với công việc ổn định tại công ty Trấn An, thời gian làm việc từ 8-12 giờ/ ngày Bà Hảo có thể dùng khoản tiền lương trên để chăm lo cho các cháu ăn học và chi trả các khoản phí sinh hoạt hằng ngày Cháu Nhi hiện nay

đã lớn và cháu có thể phần nào tự lo cho bản thân cũng như phụ giúp bà Hảo hướng dẫn và trông nom em của mình

Bên cạnh đó, hiện tại thân chủ tôi đang sống chung với mẹ của mình nên bà Hảo

sẽ có sự phụ giúp trong việc trông nom hai cháu, chăm sóc, đưa đón các cháu đi học Nói cách khác, bà Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng hai con mà không cần đến nguồn cấp dưỡng của anh Nguyệt

Thứ ba,

Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn trong quá trình còn chung sống với nhau là do anh Nguyệt thường xuyên chửi bới, đánh đập vợ con mỗi khi đi chơi về Trước một người có tính vũ phu và hay dùng bạo lực như thế, e rằng ông Nguyệt sẽ có nguy cơ làm cháu Đức Anh bị tổn hại về mặt tinh thần và ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển nhân cách trong tương lai nếu để cháu tiếp tục sống với bố Bị đơn còn có hành vi cấm cản, không để bà Hảo thăm nom cháu Đức Anh và có hành vi đánh cháu nếu hai mẹ con gặp nhau Việc ông Nguyệt cấm đoán cháu Đức Anh, không cho cháu gặp mẹ được chính quyền và bà con hàng xóm láng giềng đều biết Cụ thể là ông Đỗ Văn Tư – cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt cũng đã xác nhận thực tế này thông qua Biên bản xác minh ngày 09/3/2016 tại Bút lục số 73-74 Như vậy, nếu giao cháu Đức Anh cho ông Nguyệt thì sau khi ly hôn quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đức Anh của thân chủ tôi theo khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 không được bảo đảm

Từ những phân tích trên, có thể thấy thân chủ tôi là người thích hợp để nuôi dạy hai cháu bởi bà Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện về kinh tế, chỗ ở và có đầy đủ sự quan tâm chăm sóc về thể chất, tinh thần cho cả hai cháu Tôi kính đề nghị HĐXX chấp thuận yêu cầu của thân chủ tôi để thân chủ tôi được nuôi dưỡng cháu Nhi và cháu Đức Anh

3 Về tài sản chung của vợ chồng

Về thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 mét vuông:

Tôi cho rằng phần đất này là tài sản chung của bà Hảo và ông Nguyệt trong thời

kỳ hôn nhân bởi những lý do sau:

Thứ nhất, căn cứ vào biên bản xác minh nguồn gốc đất của cán bộ địa chính xã

Phượng Đạt, lời khai của các bên liên quan và Công văn của Phòng Tài nguyên và Môi trường TP Hải Dương ngày 10/6/2016 khẳng định về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là “GCNQSDĐ”) cho hộ gia đình ông Nguyệt

và bà Hảo là đúng theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành luật đất đai Như vậy GCNQSDĐ được Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 mang tên ông Nguyệt và bà Hảo là đúng thẩm quyền và đúng căn cứ, nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật Theo GCNQSDĐ trên, tên người sử dụng đất bao gồm ông Nguyệt Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo Theo đó, tài sản này được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của chị Hảo và anh Nguyệt Đây là cơ sở quan trọng để chứng minh rằng miếng đất này là tài sản chung của vợ chồng

Trang 10

Thứ hai, trong quá trình xây dựng nhà ở và các tài sản trên thửa đất trên, bố mẹ

và những người anh em của anh Nguyệt không có ý kiến phản đối gì Anh Nguyệt đã thừa nhận rằng đây là mảnh đất do bố mẹ anh cho hai vợ chồng xây dựng nhà và công trình phụ trên đất để ra ở riêng (theo Biên bản lấy lời khai của anh Nguyễn Văn Nguyệt vào ngày 18 /01/ 2016)

Thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho hai vợ chồng từ năm 2005 một cách hợp pháp và trong suốt thời gian đó đến này không hề phát sinh bất kỳ tranh chấp nào Tính từ thời điểm anh Nguyệt chị Hảo có GCN đến nay đã hơn 10 năm, chính anh Nguyệt và ông Cang, bà Thoa – ba mẹ đẻ của anh, cũng như các thành viên trong gia đình anh đã biết nhưng không có ý kiến phản đối gì Cụ thể là khi ông Nguyệt và bà Hảo đã được cấp GCNQSDĐ, và khi hai vợ chồng mang GCNQSDĐ thế chấp ngân hàng thì bà Thoa, ông Cang và tất cả các thành viên khác trong gia đình ông Nguyệt đều biết nhưng không phản đối, thắc mắc hay tranh chấp (Biên bản hòa giải ngày 19/5/2016 tại Bút lục số 115-120) Hơn nữa, theo Biên bản xác minh của Tòa án với ông Bích – cán bộ địa chính xã Thượng Đạt ngày 23/6/2016 tại bút lục số 163-164 đã xác nhận rằng kể từ khi được cấp GCNQSDĐ đến nay ông Nguyệt và bà Hảo sử dụng đất ổn định không có trông chấp với các hộ xung quanh cũng như với ông Cang, bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình ông Nguyệt Đều này cho thấy rằng suốt thời gian qua bị đơn và gia đình của mình đã đồng ý đây là tài sản chung của hai vợ chồng, thế nhưng vì bà Hảo đề nghị toà án giải quyết ly hôn nên phía bị đơn mới khẳng định đây là tài sản riêng, tôi cho rằng ý kiến của bị đơn là không có cơ sở pháp

lý, không hợp cả về lý lẫn về tình

Thứ ba, việc anh Nguyệt cho rằng mình không đứng ra kê khai để làm

GCNQSDĐ mà là do UBND tự cấp giấy cho gia đình anh là không có cơ sở pháp lý Tại Bản Xác minh ngày 6/5/2016, công chức địa chính xã là ông Nguyễn Văn Bích đã khẳng định thủ tục cấp GCNQSDĐ cho Nguyệt và Hảo là đúng theo quy định của pháp luật Theo Công văn ngày 12/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường – UBND thành phố Hải Dương, UBND đã cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng dất cho những hộ gia đình có đơn đề nghị, Phòng Tài nguyên và môi trường khẳng định trình

tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyệt và chị Hảo là đúng theo quy định pháp luật đất đai Bên cạnh đó, Công văn ngày 20/6/2018 Phòng Tài nguyên và Môi trường TP Hải Dương gửi TAND TP Hải Dương đã thể hiện rằng:

“Không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 496,

tờ bản đồ số 01 của anh Nguyệt, bà Thoa, ông Cang” Ý kiến của UBND Thành phố

Hải Dương tại Biên bản hòa giải ngày 17/06/2016 cũng một lần nữa khẳng định việc cấp GCN này là hợp pháp và bác yêu cầu hủy GCN của anh Nguyệt và gia đình anh

Thứ tư, căn cứ vào Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án

nhân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số

220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có nội dung như sau:

“Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người

con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến

Ngày đăng: 10/11/2021, 12:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w