Quy hoạch kỳ trước đã kết thúc; việc quản lý và thực hiện quy hoạch cònnhiều hạn chế như: Tình trạng tranh chấp, chồng lấn đất lâm nghiệp giữa cáccông ty lâm nghiệp và hộ gia đình vẫn cò
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới phía Bắc Việt Nam, trung tâm tỉnh lỵcách thủ đô Hà Nội khoảng 320 km về phía Bắc Tổng diện tích tự nhiên791.488,9 ha, được chia thành 11 đơn vị hành chính, gồm 10 huyện, 1 thành phốvới 195 xã, phường, thị trấn Trong đó diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệptheo kết quả điều chỉnh ranh giới 3 loại rừng năm 2012 là 566.723,4 ha Trongnhững năm qua thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước kinh tếnông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh có những bước phát triển đáng ghi nhận, rừng
và đất rừng được sử dụng và khai thác ngày càng hiệu quả
Những năm gần đây Đảng, Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách
về phát triển nông nghiệp nông thôn, tạo môi trường và điều kiện thuận lợicho ngành Lâm nghiệp phát triển; người làm nghề rừng đã có thu nhập từkinh tế đồi rừng; ngành Lâm nghiệp đã có những đóng góp vào sự phát triểnkinh tế xã hội của địa phương Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Hà Giang đã tậptrung chỉ đạo ngành Lâm nghiệp, các ngành có liên quan và các huyện,thành phố thực hiện tốt các chương trình, dự án lâm nghiệp hoạt động đạthiệu quả đưa độ che phủ của rừng từ 46,7% (năm 2007) lên 52,1% (năm2012) Rừng đã đóng góp tích cực vào phòng chống thiên tai, bảo vệ môitrường sinh thái, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, cải thiện và nângcao đời sống người dân Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
XV (nhiệm kỳ 2010 - 2015) xác định: “Phát triển kinh tế lâm nghiệp, phát
triển rừng là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh” Quy hoạch kỳ trước đã kết thúc; việc quản lý và thực hiện quy hoạch cònnhiều hạn chế như: Tình trạng tranh chấp, chồng lấn đất lâm nghiệp giữa cáccông ty lâm nghiệp và hộ gia đình vẫn còn xảy ra, một số diện tích đất rừng đạthiệu quả sử dụng đất chưa cao, năng suất chất lượng rừng trồng các huyện vùngcao thấp Sau 5 năm thực hiện kết quả quy hoạch 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/CT-TTg có nhiều điểm không còn phù hợp với yêu cầu quản lý và sản xuất, cầnđược điều chỉnh Quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, thuê,nhận khoán bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp chưa rõ; công tác phối hợp giữachính quyền một số địa phương với các sở, ngành chức năng trong việc quản lýbảo vệ rừng và thực thi pháp luật về rừng chưa chặt chẽ, còn để xẩy ra tình trạng
vi phạm lâm luật
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XV, đápứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Giang trong giaiđoạn tới và Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020, việc rà
Trang 2soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng và xây dựng Quy hoạch bảo vệ và pháttriển rừng tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011 - 2020 là rất cần thiết Đây là cơ sở đểxây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và lập dự án lâm sinh trên phạm vitoàn tỉnh nhằm phát huy tiềm năng đất đai đã quy hoạch cho ngành Lâm nghiệpvào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới.
Căn cứ Thông tư 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT về việc Hướng dẫn lập Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng,UBND tỉnh Hà Giang giao cho Sở Nông Nghiệp và PTNT là cơ quan chủ trìphối hợp với các Sở, Ban ngành của tỉnh và UBND các huyện, thành phố thựchiện lập Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Giang đến năm 2020 SởNông nghiệp và PTNT phối hợp với Phân viện ĐTQH rừng Đông Bắc bộ -Viện Điều tra Quy hoạch rừng lập Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh HàGiang giai đoạn 2011 - 2020
Nội dung báo cáo Quy hoạch gồm các phần sau:
Phần I Những căn cứ pháp lý và tài liệu sử dụng
Phần II Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
Phần III Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
Phần IV Tổ chức thực hiện
Phần V Kết luận và kiến nghị
Trang 3PHẦN I NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ TÀI LIỆU SỬ DỤNG
I NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ
1 Những văn bản của Nhà nước
Luật Đất đai năm 2003;
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004;
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chínhphủ về việc thi hành Luật Đất đai năm 2003 và một số văn bản hướng dẫn của
Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hànhLuật Bảo vệ và phát triển rừng;
Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ hướng dẫn thihành Luật Bảo vệ môi trường;
Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về Chính sách chitrả dịch vụ môi trường;
Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về Tổ chứcquản lý hệ thống rừng đặc dụng;
Nghị quyết số 17/2011/QH13 Quốc hội khóa 13 về Quy hoạch sử dụngđất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 – 2015) cấp quốc gia;
Nghị quyết số 18/2011/QH13 Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 2 về kết thúcthực hiện Nghị quyết số 08/1997/QH10 và Nghị quyết số 73/2006/QH11 về Dự
án trồng mới 5 triệu ha rừng;
Nghị quyết số 20/NQ-CP ngày 07/02/2013 về quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) tỉnh Hà Giang của Chính phủ;
Quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chínhphủ về việc ban hành Quy chế Quản lý rừng;
Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020;
Quyết định số 34/2011/QĐ - TTg ngày 24/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theoQuyết định số 186/2006/QĐ - TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ;
Quyết định số 07/2012/QĐ - TTg ngày 08/2/2012 của Thủ tướng Chínhphủ về việc Ban hành Một số chính sách tăng cường bảo vệ rừng;
Trang 4Quyết định số 779/2006/QĐ - TTg ngày 27/6/2012 của Thủ tướng Chínhphủ về việc Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia Giảm phát thải khí nhàkính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tàinguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các bon rừng giai đoạn 2011 -2020;
Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 11/11/2007 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt Chiến lược Quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 ;
Quyết định số 800/QĐ - TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ vềphê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giaiđoạn 2010 - 2020
Quyết định số 147/2007/QĐ -TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chínhphủ về Một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015;
Quyết định số 73/2010/ QĐ-TTg ngày 16 /11/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về ban hành Quy chế quản lý đầu tư xây dựng công trình lâm sinh;
Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg ngày 09/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuấtgiai đoạn 2007-2015;
Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ vềPhê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020;
Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chínhphủ về Ban hành Nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triểnbằng nguồn ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 - 2015;
Quyết định số 07/2012/QĐ - TTg ngày 08/2/2012 của Thủ tướng Chính
phủ về việc Ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;
Quyết định số 310/QĐ-TTg ngày 07/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Công viên địa chất toàn cầucao nguyên đá Đồng Văn, giai đoạn 2012 - 2020 và tầm nhìn 2030
Thông tư 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT
về Hướng dẫn trình tự thủ tục cho giao rừng và thê rừng
Thông tư 05/2008/TT-BNN ngày 14/1/2008 của Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn về việc Hướng dẫn lập Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng;
Thông tư 24/2009/TT-BNN ngày 05/5/2009 của Bộ Nông nghiệp & PTNT
Hướng dẫn chuyển đổi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được quy hoạch sangrừng sản xuất và ngược lại từ rừng sản xuất được quy hoạch sang rừng phòng
Trang 5hộ, rừng đặc dụng sau rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị TTg của Thủ tướng Chính phủ;
38/2005/CT-Thông tư 07/2011/TTLT-BNN-BTNMT ngày 29/01/2011 của Bộ Nông
nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc Hướng dẫn một số nội
dung về giao đất, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp;
Thông tư 78/2011/TT-BNN ngày 11/11/ 2011 của Bộ Nông nghiệp &
PTNT Quy định chi tiết thi hành Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010
của Chính phủ về Tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng;
Thông tư 69 /2011/TT-BNN và PTNT ngày 21/10/2011 của Bộ Nông nghiệp
& PTNT về Hướng dẫn thực hiện một số nội dung Quy chế quản lý đầu tư xây
dựng công trình lâm sinh ban hành kèm theo Quyết định số 73/2010/QĐ-TTg
Thông tư Liên tịch 03/2012/TTLT-BNN-BKHĐT-BTC ngày 05/6/2012 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính
về việc Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg và Quyết định số66/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
2 Những văn bản của địa phương
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XV (nhiệm kỳ 2011- 2015).Nghị quyết số 54/NQ-HĐND ngày 14/07/2012 về việc thông qua Quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 –2015) tỉnh Hà Giang
Nghị quyết số 97/NQ-HĐND ngày 12/07/2013 về việc thông qua kết quả
rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng; Quy hoạch bảo vệ phát triển rừng tỉnh
Hà Giang giai đoạn 2011 - 2020
Quyết định số 2104/QĐ-UBND ngày 01/08/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh
Hà Giang về việc phê duyệt Kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Hà Giang
Quyết định số 1656/QĐ-UBND ngày 05/7/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh
Hà Giang về việc Quy hoạch phát triển rừng sản xuất tỉnh Hà Giang giai đoạn2007- 2015 và định hướng đến năm 2020
Quyết định số 833/QĐ - UBND ngày 6/4/2007 của UBND tỉnh Hà GiangV/v Phê duyệt đồ án Quy hoạch tổng đô thị khu dân cư nông thôn tỉnh Hà Giangđến năm 2020
Quyết định số 2394/QĐ-UBND ngày 01/11/2011 của UBND tỉnh Hà Giang
về việc duyệt Đề cương - dự toán chi phí rà soát điều chỉnh Quy hoạch 3 loại rừng,quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011 - 2020
Trang 6II TÀI LIỆU SỬ DỤNG
Công văn số 2229/UBND-NNTN, ngày 09/8/2012 của UBND tỉnh HàGiang về việc phân bổ chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
Văn bản 853/ND-KT5 ngày 01/11/2011 của UBND tỉnh Hà Giang về việclập Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Giang đến năm 2020
Văn bản số 294/UBND-NNTNMT, ngày 16/02/2012 của UBND tỉnh về triểnkhai Kết luận số 97-KL/TU, ngày 06/2/2012 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ
Căn cứ Kế hoạch số 22/KH-UBND, ngày 16/02/2012 của UBND tỉnh HàGiang về triển khai kế hoạch rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng và quyhoạch bảo vệ phát triển rừng đến năm 2020
Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Hà Giang đến năm 2020,UBND tỉnh Hà Giang
Quy hoạch Nông thôn mới tỉnh Hà Giang đến năm 2020
Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Hà Giang đến năm 2020
Niên giám thống kê tỉnh Hà Giang năm 2011 (Cục thống kê tỉnh Hà Giang).Kết quả kiểm kê đất đai năm 2010 và định hướng đến năm 2015 củatỉnh Hà Giang
Kết quả rà soát điều chỉnh quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừngđặc dụng và rừng sản xuất) năm 2012
Kết quả xây dựng bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp bằng từ ảnh vệ tinhSpot5 tỉnh Hà Giang của Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Đông Bắc bộ, năm 2012
Các báo cáo quy hoạch chuyên ngành của tỉnh đã được phê duyệt
Thông báo kết luận số 62/TB-UBND ngày 19/03/2013 của Phó chủ tịchUBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến tại cuộc họp thống nhất số liệu, quy hoạch 3 loại rừng
Thông báo kết luận số 68/TB-UBND ngày 05/04/2013 kết luận Phiênhọp tháng 03 năm 2013 của UBND tỉnh
Công văn số 2724-CV/TU ngày 04/05/2013 “V/v trích kết luận số186/KT-TU ngày 26/04/2013 cảu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về chủ trươngthông qua kết quả rà soát điều chỉnh 3 loại rừng và quy hoach, kế hoạch bảo
vệ và phát triển rừng cấp tỉnh đến năm 2020”
Trang 7PHẦN II ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN RỪNG
- Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc);
- Phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang;
- Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng;
- Phía Tây giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái
Hà Giang có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, môitrường sinh thái đối với các tỉnh hạ lưu sông Lô, sông Gâm, các tỉnh Đồng bằngsông Hồng và Thủ đô Hà Nội; về hợp tác, giao lưu kinh tế - văn hoá giữa ViệtNam với Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy
2 Đặc điểm tự nhiên
2.1 Địa hình địa thế
Hà Giang nằm ở cực Bắc của Việt Nam có Công viên địa chất toàn cầucao nguyên đá Đồng Văn, có nhiều dãy núi cao, nơi cao nhất 2.419 m là đỉnhTây Côn Lĩnh và nơi thấp nhất là thung lũng sông Lô (cao 80 - 100 m) Địahình chia cắt phức tạp, nhiều sông suối và nhiều thác ghềnh đã tạo nên 3 tiểuvùng khác nhau
Tiểu vùng I: Vùng cao nguyên núi đá phía Bắc gồm 4 huyện (Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh) nằm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu cao
nguyên đá Đồng Văn, chủ yếu là địa hình Caster cao dốc xen lẫn núi đất Địa hìnhthấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông Bắc xuống Tây Nam Địa hình chia cắt phứctạp tạo nên nhiều dãy núi có độ dốc lớn trên 350, độ cao trung bình từ 700 - 1.000 m
Tiểu vùng II: Vùng cao núi đất phía Tây gồm có 2 huyện phía Tây
(Hoàng Su Phì, Xín Mần) Địa hình núi trung bình chủ yếu là núi đất xen lẫn lànhững vách đá, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam với độ cao trung bình >700m Có tiềm năng phát triển lâm nông nghiệp tập trung
Tiểu vùng III: Vùng núi đất thấp gồm 4 huyện và 1 thành phố (Vị
Xuyên, Bắc Mê, Bắc Quang, Quang Bình và thành phố Hà Giang) Địa hình chủyếu là núi thấp và đồi báp úp, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam,
Trang 8độ cao trung bình từ 300 - 500m, đất rừng còn khá tốt, khả năng tái sinh phụchồi rừng có nhiều triển vọng Đây là vùng kinh tế, văn hoá trọng điểm của Tỉnh.
- Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,220C
+ Nhiệt độ tối cao từ 27,51 - 400C;
là huyện Hoàng Su Phì, có tháng chỉ 24,2 mm Ngoài ra, Hà Giang còn có hiệntượng mưa phùn (32 ngày/năm) nhưng ít có bão Tuy nhiên, vào mùa mưa dễgây lụt lội, lũ quét, sạt lở đất ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sinh hoạtcủa nhân dân địa phương
Nắng: Do cấu tạo phức tạp của địa hình nên ranh giới giữa mùa mưa
và mùa khô ở Hà Giang là khác nhau, hai huyện Xín Mần và Hoàng Su Phìthường nắng nóng hơn các huyện khác trong tỉnh; bốn huyện phía bắc gồmQuản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn hình thành 2 mùa mưa và khô,lượng mây ở đây khá nhiều (tỷ lệ mây che phủ trung bình khoảng 7,5/10,tập trung cao nhất là cuối mùa đông lên đến 8 - 9/10) và tương đối ít nắng
Số giờ nắng bình quân cả tỉnh khoảng 1.454,9 giờ, trong đó tháng nhiềunhất là 181 giờ và tháng ít nhất là 74 giờ
Gió: Hướng gió chính ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng, giótrong các thung lũng thường yếu với tốc độ trung bình khoảng 1 - 1,5 m/s Ngoài
ra còn xuất hiện một số hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan đó là số ngày códông trong năm cao nhất vùng (103 ngày), sương mù trong năm khá nhiều(khoảng 40 ngày) Mặc dù vậy, Hà Giang lại là tỉnh ít bị sương muối hơn cáctỉnh khác trong vùng
Độ ẩm: Hà Giang là một trong những tỉnh có độ ẩm cao, độ ẩm bình quân là85%, trong đó tháng cao nhất là 87% (tháng 7 và 8), thấp nhất là 81% (tháng 3)
Nhìn chung, thời tiết khí hậu của tỉnh thích hợp với nhiều loại cây trồng,vật nuôi nhiệt đới và á nhiệt đới, tạo ra sự đa dạng sinh học Tuy nhiên, khí hậu,thời tiết của tỉnh cũng khắc nghiệt với những đợt lũ lụt, hạn hán, rét đậm - rét hại
Trang 92.3 Sông suối - Thuỷ văn
Hà Giang là vùng đầu nguồn các sông suối chính: Sông Lô, sông Miện,sông Nho Quế, sông Chảy, sông Gâm, sông Bạc, ngoài ra còn có hàng trăm khesuối lớn nhỏ, phân bố đều khắp trên phạm vi toàn tỉnh, tạo nên lượng nước lớncung cấp nguồn tưới tiêu cho đồng ruộng và xây dựng các công trình thủy điệnnhỏ phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất hàng ngày của nhân dân trong vùng, có các
hệ sông chính như sau:
- Sông Lô: Bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) ở độ cao trên 1.000 mvào địa phận Hà Giang tại Thanh Thuỷ chảy qua thành phố Hà Giang về TuyênQuang tới Việt Trì (Phú Thọ) đổ ra sông Hồng Sông Lô chảy qua địa phận HàGiang dài 97 km
- Sông Gâm: Bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy qua Đồng Văn,Mèo Vạc sang tỉnh Cao Bằng rồi lại về địa phận của huyện Bắc Mê, chảy sangTuyên Quang và hợp với sông Lô tại Hàm Yên
- Sông Chảy: Bắt nguồn từ Hoàng Su Phì chảy qua Xín Mần, QuangBình (Hà Giang) đến Bảo Yên, Lục Yên, Yên Bình (tỉnh Yên Bái)
- Ngoài ra, còn có sông Nho Quế, sông Con, sông Chừng, sôngBạc các sông này không có khả năng vận chuyển thủy
Nước ngầm: Nguồn nước ngầm của Hà Giang tồn tại trong các khe nứt và
lỗ hổng của các tầng trầm tích, chất lượng tốt Tuy nhiên, các tầng chứa nướcmới được thăm dò sơ bộ, chưa thể khai thác với khối lượng lớn
Tiềm năng thuỷ điện: Do có nhiều sông, suối đã tạo cho Hà Giang một
thế mạnh về phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ phục vụ sản xuất và sinh hoạt.Thuỷ điện giữ vai trò quan trọng trong hệ thống điện của tỉnh nhất là các khuvực mà điện lưới quốc gia chưa thể kéo đến được Theo đánh giá của ViệnNăng lượng, tổng tiềm năng kinh tế kỹ thuật của thủy điện vừa và nhỏ ở HàGiang có khoảng 72 dự án thuỷ điện với tổng công suất lắp máy dự kiến 730
MW, trong đó Quy hoạch thuỷ điện giai đoạn I là 25 dự án với tổng công suấtlắp máy 450 MW, giai đoạn II dự kiến có 47 dự án với tổng công suất lắp máykhoảng 270 MW Hiện tại Hà Giang có 23 trạm thuỷ điện nhỏ công suất từ
100 KW đến 12.000 KW với tổng công suất khoảng 20.500 KW Ngoài ra,còn có hàng trăm thuỷ điện nhỏ công suất từ 300 – 500W phục vụ thắp sáng,nghe đài, xem ti vi cho các hộ gia đình ở những nơi chưa có điện
Địa hình phức tạp, 2 bên sông suối thường là những mái núi dốc, thực bìche phủ đầu nguồn các khe suối bị suy giảm chưa có thời gian phục hồi rừng, vềmùa mưa thường gây lũ lụt, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của đồngbào các dân tộc trong vùng Lòng sông hẹp, nhiều đá nổi, thác ghềnh nên khảnăng vận chuyển bằng đường thuỷ trong vùng bị hạn chế
Trang 102.4 Địa chất và thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng tỉnh Hà Giang của Viện Quy hoạch vàThiết kế nông nghiệp cho thấy toàn tỉnh hiện có 9 nhóm đất với 19 đơn vị đấtchính và 60 đơn vị đất phụ Cụ thể như sau:
- Nhóm đất phù sa (P): Chiếm 1,6% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, tậptrung nhiều ở khu vực ven sông Lô và các suối khác thuộc các huyện BắcQuang, Vị Xuyên, Bắc Mê
- Nhóm đất glây (GL): Chiếm 0,86% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh,nhóm đất này được hình thành ở nơi có địa hình thấp luôn giữ ẩm, có nhiều tạicác huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Yên Minh, Xín Mần
- Nhóm đất đen (R): Chiếm 0,14% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh,được hình thành ở chân các dãy núi đá vôi hoặc trong các thung lũng núi đávôi thuộc các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh và Vị Xuyên
- Nhóm đất than bùn: Diện tích không đáng kể, tập trung ở xã Vô Điếmhuyện Bắc Quang
- Nhóm đất tích vôi (V): Chiếm 0,16% diện tích tự nhiên, đất được hìnhthành ở thung lũng đá vôi, canxi tích luỹ nhiều trong đất, phân bố chủ yếu ởhuyện Vị Xuyên
- Nhóm đất xám (X): Nhóm đất này có diện tích lớn nhất, chiếm 74,25%diện tích tự nhiên
- Nhóm đất đỏ (F): Chiếm 6,04% diện tích tự nhiên, phân bố ở hầu hết cáchuỵên, thành phố trong tỉnh (trừ huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần)
- Nhóm đất mùn Alit trên núi cao (AH): Chiếm 0,63% diện tích đất tựnhiên, xuất hiện nhiều trên các đỉnh núi có độ cao trên 1.800 m thuộc các huyện
Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Xín Mần
- Nhóm đất tầng mỏng (E) Chiếm 10,86% tổng diện tích tự nhiên củatỉnh, nhóm đất này được hình thành ở nơi có địa hình cao, có nhiều tại các huyệnĐồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc
Do địa hình chủ yếu là núi cao, dốc lớn, chia cắt mạnh nên đất đai Hà Giang
bị xói mòn rửa trôi mạnh, thường xuyên bị khô hạn, chua, nghèo dinh dưỡng dễtiêu, đất bị quá trình Feralit mạnh, tích luỹ sắt, nhôm lớn Đất thích hợp với các loạicây lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm, cây dược liệu…
3 Hiện trạng tài nguyên rừng
3.1 Hiện trạng các loại rừng và đất lâm nghiệp
Kết quả điều tra hiện trạng rừng và rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loạirừng Quá trình điều tra rà soát đã được tổng hợp và thống nhất số liệu từ cấp xã,huyện và tỉnh Kết quả cụ thể như sau:
Trang 11Bảng 1: Diện tích các loại rừng tỉnh Hà Giang năm 2012
Đơn vị tính: ha
đặc dụng phòng hộ sản xuất Đất lâm nghiệp 566.723,4 50.994,0 255.053,9 260.675,5
I Rừng tự nhiên 358.147,0 42.363,4 174.300,8 141.482,8
a) Rừng gỗ lá rộng 206.189,9 29.923,5 98.563,1 77.703,3 Rừng trung bình 29.757,1 11.674,2 16.326,5 1.756,4
Rừng phục hồi 157.081,1 12.280,8 71.576,2 73.224,1 b) Rừng hỗn giao 81.955,0 2.871,1 28.253,8 50.830,1
III Đất chưa có rừng 129.505,4 6.739,2 58.939,6 63.826,6 IA: Đất trống cỏ 30.026,5 2.246,8 12.818,4 14.961,3 IB: Đất trống cây bụi 31.736,4 1.444,6 15.105,5 15.186,3 IC: Đất trống gỗ rải rác 59.301,0 2.451,1 29.188,3 27.661,6 Nương không cố định 8.441,5 596,7 1.827,4 6.017,4
Nguồn: Kết quả điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng và đất lâm nghiệp, năm 2012.
Diện tích loại rừng này không nhiều, rừng gồm những cây gỗ lớn D1,3 từ 20
- 30 cm, M/ha từ 101 - 200 m3, tổ thành loài chủ yếu: Sồi, Dẻ, Kháo, Giổi, Re
và các loại gỗ quý như Đinh, Thông đá, Lõi thọ, Lát hoa Đây là trạng tháirừng bị tác động, khai thác ở cường độ thấp, rừng có giá trị kinh tế và giá trị bảotồn cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt Loại rừng này phân bố tập trung ở khu vựcnúi cao, dốc hiểm trong các khu bảo tồn thiên nhiên
+ Rừng nghèo (IIIa1):
Rừng đã bị khai thác kiệt, tầng tán bị phá vỡ và tạo nhiều lỗ trống trongrừng Thành phần cây gỗ chủ yếu: Kháo, Tống quá sủ, Bứa, Vàng anh, Chẩn,Thôi ba, Máu chó, Phân mã… và những cây ít có giá trị kinh tế Rừng nghèophân bố tập trung hầu hết ở các huyện trên địa bàn tỉnh
Trang 12- Rừng phục hồi (IIa, IIb) đây là loại rừng mới phục hồi sau nương rẫy(IIa), sau khai thác kiệt (IIb) Diện tích rừng tập trung lớn nhất ở các huyện BắcQuang, Vị Xuyên, Bắc mê, Hoàng Su Phì Rừng IIa chưa có trữ lượng, rừng IIb
đã có trữ lượng (bình quân 35 - 80m3) quần thể thực vật thân gỗ chủ yếu lànhững cây có đường kính <20cm, thành phần cây gỗ gồm: Giẻ, Kháo, Re, Tốngquá sủ, Hoắc quang, Ba soi, Ba bét Chất lượng rừng phục hồi đã được nâng lên,cho thấy công tác quản lý bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi rừng trong những nămgần đây đã đạt được những thành tựu đáng kể
- Rừng hỗn giao nứa gỗ, vầu gỗ:
Là trạng thái rừng thứ sinh mang nét đặc trưng của rừng ẩm nhiệt đới núithấp ở Hà Giang Phân bố tập trung ở các huyện Bắc Quang, Quang Bình, VịXuyên, Bắc Mê Rừng có cấu trúc hai tầng rõ rệt Tầng trên là tầng cây gỗ, trữlượng không cao Tầng dưới là Vầu, Nứa xen cây gỗ nhỡ và gỗ nhỏ Mật độVầu, Nứa dao động từ 3.500 - 7.000 cây/ha, đường kính trung bình từ 3 - 6 cm
- Rừng nứa:
Phân bố tập trung ven khe suối thuộc các huyện Bắc Quang, Quang Bình, VịXuyên Ngoài ra, còn một số diện tích phân bố rải rác ở huyện Bắc Mê, rừng có cấutrúc một tầng, đường kính 4 - 7 cm, mật độ khoảng trên 8.000 cây/ha
- Rừng trồng:
Loài cây trồng chính gồm: Keo các loại, Bạch đàn, Bồ đề, Mỡ, Muồng,Trám, Thông, Sa mộc, Lát, Tống quá sủ và các loại cây bản địa khác Rừng đượctrồng từ nhiều nguồn vốn khác nhau như các lâm trường quốc doanh, Chương trình
327, Dự án 661, vốn của các Công ty lâm nghiệp và vốn tự có của nhân dân
- Rừng núi đá: Đây là trạng thái rừng tự nhiên điển hình của Hà Giangcòn lại do địa hình hiểm trở nên ít bị tác động Loài cây chủ yếu là Nghiến, Trai,Bách vàng, Thông đỏ, Thông đá, Dẻ tùng, Kim giao Trong đó có những loàiđặc biệt quí hiếm cần đuợc bảo tồn nguồn gen Loại rừng này phân bố chủ yếunằm trên Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn và Khu bảo tồnthiên nhiên Phong Quang
Nhìn chung, rừng trồng các huyện phía Bắc do ảnh hưởng của thời tiết, điềukiện lập địa nên tình hình sinh trưởng của cây trồng chậm; các huyện phía Nam câytrồng phát triển nhanh, chất lượng đã được nâng lên đáng kể Diện tích rừng trồngcủa các Công ty lâm nghiệp được đầu tư trồng thâm canh nên năng suất, chất lượngrừng khá tốt (đạt 80 - 120m3/ha); rừng của các hộ dân tự trồng do thiếu vốn đầu tư
và trồng rừng quảng canh nên năng suất bình quân đạt khoảng 50 m3/ha
Một số ít diện tích rừng Thông ở huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần bịngười dân lấn dần để khai phá làm nương rẫy trồng cây lương thực phục vụđời sống hàng ngày
Trang 133.3 Trữ lượng rừng
Tổng trữ lượng các loại rừng của tỉnh Hà Giang như sau:
- Rừng gỗ: 30.977,2 nghìn m3
+ Rừng tự nhiên: 28.447,1 nghìn m3.+ Rừng trồng: 2.530,1 nghìn m3
- Rừng tre nứa: 276,3 triệu cây
+ Tre nứa tự nhiên: 272,8 triệu cây
+ Tre luồng trồng: 3,5 triệu cây
Nguồn: Kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng chu kỳ 4 (2006 2010) trên địa bàn tỉnh Hà Giang, Viện Điều tra Quy hoạch rừng
-3.4 Diện tích đất lâm nghiệp theo chủ quản lý
Bảng 2: Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý
(Chi tiết xem phụ biểu 04/HT - Phần phụ biểu)
Qua điều tra đánh giá diện tích đất lâm nghiệp do hộ gia đình quản lýchiếm 42,3% đất lâm nghiệp, các ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ chiếm18,5%, doanh nghiệp 1,8% Đất lâm nghiệp đã có chủ quản lý mới chiếm62,6%, còn lại 37,4% diện tích vẫn thuộc cộng đồng thôn bản, uỷ ban nhân dâncác xã, thị trấn quản lý Diện tích này chủ yếu là rừng tự nhiên, đất trống thuộcđối tượng rừng phòng hộ và rừng sản xuất Do đó, trong thời gian tới cần đẩymạnh công tác giao rừng, cho thuê rừng đến chủ quản lý cụ thể với diện tích cònlại để quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả
Trang 143.5 Diện tích đất chưa có rừng phân theo trạng thái thực bì
Bảng 3: Diện tích đất chưa có rừng phân theo đơn vị hành chính
Nguồn: Kết quả điều tra hiện trạng rừng năm 2012
Đất chưa có rừng là 129.505,5 ha, chiếm 22,9% diện tích đất lâm nghiệp,
phân bố rải rác trên địa bàn các huyện Phần lớn diện tích đất trống nằm ở venkhe dốc, hố trượt đất, nhiều đá lộ đầu, do đó khả năng trồng được rừng khoảng
50 - 60% Những diện tích (Ia, Ib) có khả năng trồng rừng là đối tượng đầu tưtrồng rừng, diện tích đất trống Ic là đối tượng khoanh nuôi phục hồi rừng trongthời gian tới
3.6 Tái sinh phục hồi rừng
Kết quả theo dõi diễn biến rừng toàn quốc chu kỳ 4 trên địa bàn tỉnh HàGiang do Viện Điều tra Quy hoạch rừng thực hiện cho thấy: Tái sinh trên đấttrống cây bụi (Ib), đất trống cây gỗ tái sinh (Ic) có mật độ cây tái sinh 400-3.000 cây/ha Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng (H>1m) chiếm 52,5% Thành phầnloài cây tái sinh chủ yếu là cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh như Kháo, Tốngquá sủ, Bồ đề, Sao, Chẹo tía, Thẩu tấu, Màng tang
Nhìn chung, tình hình tái sinh ở trạng thái này với mật độ và thành phầnloài đa dạng, khả năng phục hồi thành rừng rất khả quan nếu được tiến hànhkhoanh nuôi bảo vệ tốt
Tái sinh tự nhiên ở rừng thứ sinh: Mật độ cây tái sinh khá cao, trong trạngthái rừng nghèo (IIIa1) mật độ cây tái sinh từ 800 - 1.000 cây/ha, rừng phục hồi(IIa, IIb) đạt từ 1.500 - 2.000 cây/ha, cây có chiều cao >1m chiếm 17 - 24,3%tổng số cây tái sinh Thành phần loài cây tái sinh gồm: Giẻ, Kháo, Màng tang,
Bồ đề, Hu đay, Trám, Tống quá sủ, Chẹo tía
Trang 153.7 Tài nguyên động, thực vật rừng
3.7.1 Hệ thực vật rừng
Là tỉnh thuộc vùng núi Bắc bộ, do ảnh hưởng của yếu tố địa lý, cấu tạođịa chất và cấu trúc địa hình nên thực vật rừng Hà Giang mang đặc trưng củakhu hệ thực vật Nam Trung Hoa - Bắc Việt Nam Qua kết quả nghiên cứu gầnđây của các nhà khoa học, khu hệ thực vật tỉnh Hà Giang thống kê được 175 họthuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Gồm các họ chủ yếu: Dâu tằm, Dẻ,Đậu, Long não
Ngoài ra, còn một số loài cây thuộc dòng đặc hữu Malaysia, Indonesia di
cư đến như: Chò chỉ, Chò nâu, Táu
3.8 Tài nguyên lâm sản ngoài gỗ
Ngoài sự đa dạng và phong phú về tổ thành các loài động thực vật, rừng
Hà Giang còn có một số loại lâm sản ngoài gỗ, gồm:
- Tre nứa: 8.361,8 ha phân bố chủ yếu ven khe suối tại các huyện vùngthấp: Bắc Quang, Quang Bình, Bắc Mê, Vị Xuyên…
- Các loài đặc sản: Diện tích 189,2 ha gồm Quế, Trẩu, Sở diện tích 189,2
ha phân bố rải rác trên địa bàn các huyện và các loài Song, mây phân bố tại cáchuyện vùng thấp
- Cây dược liệu: Hà Giang có trên 1.000 loài dược liệu với tổng diện tíchgây trồng 7.939,6 ha, trong đó có 6.433,7 ha trồng dưới tán rừng tự nhiên gồmcác loài: Thảo quả, Hương thảo, Giảo cổ lam, Đỗ trọng, Đương quy, Thiên niênkiện phân bố ở huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc, Hoàng SuPhì, Xín Mần, Bắc Quang và thành phố Hà Giang; trong đó tập trung tại một số
xã vùng cao: Lao chải, Xín Chải huyện Vị Xuyên; xã Tả Ván, Tùng Vài huyệnQuản Bạ, Pờ Ly Ngài, Tả Sử Chóng, Đản Ván huyện Hoàng Su Phì
Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ chưa có hiệu quả
và chưa mang lại giá trị kinh tế cao
Trang 163.9 Diễn biến diện tích rừng và đất trống đồi núi trọc qua các thời kỳ
Bảng 4: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo các thời kỳ
(Chi tiết xem phụ biểu 01/HT - Phần phụ biểu)
Diện tích đất lâm nghiệp tăng 14.689,4 ha so với năm 2007, nguyên nhân
do chuyển đổi từ đất chưa sử dụng sang trồng rừng, một phần đất trong quyhoạch 3 loại rừng trước đây chưa được thống kê hết
Diện tích đất có rừng tăng 67.380,6 ha, trong đó:
Rừng trồng tăng 37.007,7 ha, do quá trình trồng rừng thuộc Chương trình
661, của các ban quản lý, các công ty lâm nghiệp và người dân tự bỏ vốn đầu tưtrồng rừng sản xuất
Rừng tự nhiên tăng 30.372,9 ha, trong đó rừng tự nhiên núi đất tăng10.545,6 ha, rừng tự nhiên núi đá tăng 19.827,3 ha Do một phần diện tích đấttrống có cây gỗ tái sinh đã được khoanh nuôi phục hồi thành rừng, một số trạngthái rừng tự nhiên có sự thay đổi do tiêu chí phân loại rừng theo Thông tư số34/2009/TT-BNNPTNT khác với tiêu chí phân loại rừng theo Quy phạm thiết kế
kinh doanh rừng năm 1984 (QPN 6-84)
Trang 17Diện tích đất trống giảm 52.691,2 ha, là do trồng rừng và khoanh nuôiphục hồi rừng
II KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
1 Nguồn nhân lực
Dân tộc: Trên địa bàn tỉnh có 22 dân tộc chung sống, đông nhất là dân tộcH’Mông chiếm 31,91%, tiếp theo là dân tộc Tày 23,18%, dân tộc Dao 15,13%,dân tộc Kinh 13,37%, 18 dân tộc còn lại chỉ chiếm tỷ lệ 16,41%
Dân số: Năm 2011 là 755.637 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có xuhướng giảm dần từ 19,4%o năm 2009 xuống 18,2%o năm 2011; cao nhất là
huyện Đồng Văn (22,7%o), thấp nhất là thành phố Hà Giang Mật độ dân số
trung bình là 95 người/km2, dân cư phân bố không đồng đều giữa các huyện,thành thị; đông dân nhất là thành phố Hà Giang (374 người/km2) và thưa dânnhất là huyện Bắc Mê (59 người/km2)
Lao động:
- Dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh năm 2011 là 365.052 người, sốlao động làm việc trong khu vực nhà nước là 36.702 người Cơ cấu sử dụng laođộng có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷtrọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng lao động nông nghiệpgiảm từ 81,1% năm 2005 xuống còn 73,82% năm 2011; lao động công nghiệptăng từ 2,54% năm 2005 lên 4,11% năm 2011; tỷ trọng lao động xây dựng năm
2005 là 3,6%, năm 2011 là 6,07%; lao động của ngành dịch vụ tăng từ 3,18%năm 2005 lên 4,53% năm 2011
- Chất lượng lao động còn thấp, tỷ lệ lao động chưa học hết tiểu học còncao 31,9% (cả nước 13%, vùng Đông Bắc 9,4%), tỷ lệ lao động qua đào tạo củatoàn tỉnh năm 2011 là 35%, trong đó lao động có trình độ đại học, cao đẳng,trung cấp chiếm khoảng 10,5% Hầu hết lao động qua đào tạo đều là cán bộ,công chức làm việc trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước, sự nghiệp và các tổchức đoàn thể ở thành phố Hà Giang và các huyện lỵ Năm 2011, tỷ lệ lao độngtrong độ tuổi chưa có việc làm ở thành thị 3,9%, tỷ lệ thời gian sử dụng lao độngcủa lực lượng lao động trong độ tuổi ở nông thôn là 82%
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011
2 Thực trạng về kinh tế - xã hội
2.1 Về kinh tế
2.1.1 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2005 đạt 10,71%, đến 2011 đạt 13,02%trong đó: Nông lâm nghiệp tăng trưởng 5,45%, công nghiệp - xây dựng 16,94%,dịch vụ 16,50% GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 3,2 triệu đồng (tươngđương 177,8 USD) đến năm 2011 GDP bình quân đầu người đạt 9,6 triệu đồng(tương đương 459USD) tăng gần 3 lần so năm 2005
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với định hướngphát triển của tỉnh Năm 2005, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm
Trang 1832,57%, dịch vụ 34,46%, nông lâm nghiệp 32,97%, đến năm 2011 đã có sựchuyển dịch rõ ràng: Công nghiệp - xây dựng chiếm 34,84%, dịch vụ 34,84%,nông lâm nghiệp 30,36% Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệlao động trong công nghiệp và dịch vụ, giảm lao động nông nghiệp
Từ số liệu trên cho thấy: Nền kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đáng
kể về cơ cấu; giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng
và dịch vụ Tuy nhiên, mức độ chuyển dịch còn chậm, các ngành dịch vụ phát triểnchậm so với tiềm năng hiện có của tỉnh
Nếu so với mặt bằng chung của khu vực và toàn quốc thì thu nhập và mứcsống dân cư của tỉnh còn ở ngưỡng thấp Sự chênh lệch về thu nhập của ngườilao động ngày càng tăng giữa các khu vực nông thôn, thành thị và trong cácthành phần kinh tế Số hộ có kinh tế khá, hộ giàu tập trung ở thành phố, thị trấn
và vùng dọc tuyến quốc lộ 2 là chủ yếu
2.1.2 Thực trạng sản xuất một số ngành chủ yếu
a) Sản xuất nông nghiệp
Khu vực kinh tế nông nghiệp có tăng trưởng ổn định trong những năm qua(ước tính bình quân tăng trưởng 5,67%/năm thời kỳ 2005 - 2011) Giá trị sản xuấtnăm 2011 đạt 1.339,0 tỷ đồng (giá cố định 1994) tăng 1,49 lần so với năm 2005.Khu vực kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển đổi phương thức và cơ cấu trong nội
bộ ngành, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, nâng caogiá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích, nâng cao chất lượng sản phẩm
* Trồng trọt: Chiếm tỷ trọng tương đối cao 70,99% trong giá trị sản xuấtnông nghiệp, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân trên 4,63%/năm Theo
số liệu thống kê từ năm 2005 đến năm 2011 diện tích gieo trồng tăng 7.900 ha vàsản lượng cây lương thực có hạt tăng 110,9 nghìn tấn Cây lương thực chiếm vị tríquan trọng trong sản xuất nông nghiệp, năm 2011 diện tích gieo trồng cây lươngthực là 87.548,6 ha, tổng sản lượng đạt 358.464 tấn, tăng 44,8% so với năm 2005.Lương thực bình quân đầu người đạt 478 kg/người, về cơ bản đáp ứng đủ cho nhucầu về lương thực và có dự trữ
* Chăn nuôi: Chiếm tỷ trọng 28,75% trong giá trị sản xuất nông nghiệp,tốc độ tăng trưởng bình quân năm (từ năm 2005 đến năm 2011) là 7,34%/năm.Theo Niên giám thống kê: Năm 2011 số lượng đàn trâu 156.311 con, đàn bò102.960 con, đàn lợn 461,0 nghìn con, đàn Dê 145,4 nghìn con, đàn Ngựa4.750 con; đàn gia cầm 3.272 nghìn con
Do đặc điểm địa hình các huyện vùng núi cao dốc hiểm, nhiều đá lộ,người dân đã trồng cỏ ven đường, xung quanh vườn nhà, đảm bảo thức ăn chophát triển đàn gia súc
Cơ cấu nội bộ ngành nông, lâm nghiệp có sự chuyển dịch tích cực theo hướngđưa chăn nuôi dần trở thành ngành sản xuất chính Chăn nuôi ở vùng cao đã manglại nguồn thu nhập lớn cho nông dân (chiếm từ 50% đến 60% tổng thu nhập) ở cáchuyện vùng cao núi đá
Nhìn chung, ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh duy trì tốt, các cấp chính
Trang 19chất lượng giúp người chăn nuôi thu được hiệu quả kinh tế ngày càng cao, tạotiền đề để phát triển kinh tế lâm nghiệp.
* Cây công nghiệp:
- Cây công nghiệp hàng năm: Diện tích trồng cây hàng năm tăng từ20.369,2 ha năm 2005 lên 29.182,2 ha năm 2011; cây trồng hàng chủ yếu là Lạc,Đậu tương, Lanh; trong đó cây Lạc và cây Đậu tương tăng nhiều cả về diện tích
và sản lượng nhưng không ổn định thị trường tiêu thụ
- Cây công nghiệp lâu năm có cây chè là chính, diện tích chè tăng từ15.018 ha năm 2005 lên 18.783 ha năm 2011; thâm canh đưa năng suất chè bìnhquân đạt 55 - 60 tạ/ha, năm 2011 sản lượng chè búp tươi đat 56.043 tấn Xâydựng vùng chè tập trung gắn với đầu tư các cơ sở chế biến chè, nhất là các cơ sởchế biến chè xuất khẩu tại các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Hoàng Su Phì,Quang Bình, phấn đấu xuất khẩu chè khô thành phẩm đạt trên 4.000 tấn/năm
* Cây ăn quả: Cam, Quýt, Lê, Đào, Nhãn, Vải, Xoài, Na phát triển mạnh
về diện tích và sản lượng quả; riêng diện tích Cam, quýt ở Bắc Quang, QuangBình, Vị Xuyên đã có thương hiệu hàng hóa, bình quân trong 5 năm gần đây toàntỉnh cung cấp ra thị trường 14.000 tấn Cam, Quýt tuy nhiên những năm gần đây
do tác động thị trường nên đã giảm cả diện tích và sản lượng
* Thuỷ sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh hàng năm tăng từ 1.215
ha năm 2005 lên 1.601,8ha năm 2011 và đạt sản lượng 1.413,6 tấn; với giá trịsản lượng hơn 66,3 tỷ đồng (2011), chiếm 1,73% GTSX của ngành nông, lâmnghiệp Một số mô hình nuôi trồng thủy sản có hiệu quả đang được phát triểnnhư nuôi cá lồng, cá Chép đồng, cá Bỗng, cá Chim trắng, cá Trắm Năm 2006tỉnh Hà Giang đã gia nhập vào hội cá nước lạnh Việt Nam, tạo điều kiện thuậnlợi cho phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh
* Dịch vụ nông nghiệp: Tuy chiếm tỷ trọng không cao (0,26%) trong
sản xuất nông nghiệp nhưng có tốc độ tăng trưởng năm 2011 tăng gấp 2 lần
so với năm 2005
b) Các ngành sản xuất khác có liên quan
* Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Giai đoạn 2005-2011, công nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá cao (20,1%giá trị sản xuất), tăng từ 263 tỷ đồng năm 2005 lên 713,5 tỷ đồng năm 2011 Tuynhiên, quy mô ngành công nghiệp của tỉnh còn nhỏ, khả năng cạnh tranh thấp
Số cơ sở sản xuất công nghiệp tăng từ 3.277 cơ sở năm 2005 lên 3.976 cơ sởnăm 2011 Ngành công nghiệp đã thu hút hơn 1,4 vạn lao động, trong đó tỷtrọng lao động trong ngành công nghiệp chế biến chiếm 77% Trong những nămgần đây mức độ thu hút lao động của ngành công nghiệp có xu hướng tăng dần
* Khai thác khoáng sản
Khai thác quặng kim loại, đá xây dựng, đá vôi và mỏ khác, với tổng giá trị400,1 tỷ đồng
Trang 202.2 Cơ sở hạ tầng
2.2.1 Giao thông
Hà Giang có hệ thống giao thông đường bộ liên tỉnh, liên huyện khá tốt Tuy
nhiên, đường đến một số xã (đặc biệt các xã vùng sâu, sa) vào mùa mưa đường bịsạt lở khó khăn cho việc đi lại Hệ thống giao thông chính của tỉnh như sau:
Quốc lộ 2: Có chiều dài 92 km được nâng cấp xong từ năm 2004 (đoạn
từ Đoan Hùng - Thành phố Hà Giang) là đường cấp 3 miền núi được trải thảm
bê tông nhựa trên toàn tuyến
Quốc lộ 4C: Có chiều dài 200 km, điểm đầu tại thành phố Hà Giang điểmcuối xã Niêm Sơn (Mèo Vạc)
Quốc lộ 34: Có chiều dài 73 km, điểm đầu từ cột mốc Km 0 thành phố HàGiang đi qua huyện lỵ Bắc Mê
Đường tỉnh lộ: Tổng số chiều dài 365 km đã được dải nhựa
Đường huyện: Tổng số chiều dài 1.867 km, trong đó có 321 km đường dảinhựa, 283 km đường cấp phối, 1.263 đường đất, cầu treo có 51 cái/2.950m vàcầu bê tông xi măng có 45 cái/270m
Giao thông nông thôn: Hệ thống giao thông nông thôn trong những nămqua phát triển khá nhanh Hiện tại toàn tỉnh có đường đô thị 164 km, 5.234 kmđường giao thông liên xã, trong đó chủ yếu là đường loại B, đường dân sinh
2.2.2 Thủy lợi
Đến nay toàn tỉnh có 954 công trình thuỷ lợi lớn nhỏ, 20 hồ chứa nước cácloại đảm bảo tưới 26.403 ha/35.950 ha đạt 73% diện tích (trong đó vụ đông xuân9.976 ha, vụ mùa 18.417 ha) và 2.280 ha màu Như vậy, hệ thống thủy lợi của tỉnhchưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước trong nông nghiệp đặc biệt là đối với nơiđịa hình phức tạp (vùng cao núi đá) như Hà Giang Vấn đề quan trọng nhất đối vớinông nghiệp của địa phương là phải xây dựng được các hồ chứa nước nhằm dự trữnguồn nước trong mùa mưa, kiên cố hoá kênh mương để dẫn nước vào đồng ruộng.Đối với vùng cao núi đá, việc xây dựng các bể nước treo hoặc tận dụng các hồ nhỏtrong núi để chứa nước nhằm đảm bảo cả nguồn nước sinh hoạt và nước sản xuấtcho đồng bào dân tộc là việc làm cần thiết và cấp bách
Trang 212.2.3 Điện
- Điện lưới quốc gia là nguồn cung cấp điện chủ yếu 100% số xã trong tỉnh
đã có điện lưới quốc gia, số hộ sử dụng điện lưới Quốc gia đạt 81,8% năm 2011
Hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, trạm biến áp các loại từng bước được cải tạo,nâng cấp và xây mới Tuy nhiên, lưới điện nông thôn ở một số xã chưa đạt chuẩn,gây tiêu hao điện năng, sự cố mất điện sinh hoạt ở nông thôn còn xẩy ra thườngxuyên Hiện tại, hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, trạm biến áp các loại đangtừng bước được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới
- Thủy điện có tiềm năng phát triển và ngày càng đóng vai trò quan trọngtrong hệ thống điện của tỉnh, đặc biệt là những nơi điện lưới chưa có thể kéo đếnđược Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 23 trạm thủy điện vừa và nhỏ với công suất
từ 100 KW đến 12.000 KW phát vào lưới 0,4 KV và lưới trung thế 10 KV, 22
KV và 35 KV Do nhiều nguyên nhân khác nhau, công suất các nhà máy thủyđiện đạt khoảng 70% Các nhà máy thủy điện có công suất tương đối lớn đãđược xây dựng là Nậm Mu 12 MW, Nậm Ngần 13,5 KW, thủy điện Thái An 89
MW Nguồn điện diezel có 4 máy với tổng công suất 630 KW chủ yếu làmnhiệm vụ phát dự phòng và để bù điện vào thời gian thiếu hụt
Theo tính toán thì hệ thống sông suối của Hà Giang có thể xây dựng 72công trình thuỷ điện, tổng công suất lắp máy đạt khoảng 730 MW Hiện nay đã
có 11 công trình thuỷ điện Nậm Má, Thác thuý, Thuỷ điện 302, 304, Xéo Hồ
và gần đây thuỷ điện Nậm Mu, Mâm Ngần, Thái An với công suất 12 MW đãđưa vào sử dụng ổn định và đem lại hiệu quả cao Ngoài ra, một phần diện tíchcủa Hà Giang còn là đầu nguồn thuỷ điện Na Hang - Tuyên Quang, thủy điệnThác Bà và có khoảng 18 nhà máy thuỷ điện lớn, nhỏ khác đang trong giai đoạnxây dựng có tổng công suất lắp máy 250 MW
2.3 Văn hoá - xã hội
2.3.1 Y tế
Tính đến năm 2011, toàn tỉnh hiện có 15 bệnh viện, tuyến tỉnh có 05 bệnhviện Tuyến huyện có 10 bệnh viện với 600 giường bệnh Ngoài ra còn có 21phòng khám đa khoa khu vực, 176 trạm y tế xã, phường, tổng cộng có 211 cơ sởkhám chữa bệnh với 2.524 giường bệnh tăng 1,1 lần về số cơ sở khám chữabệnh và 1,19 lần về số giường bệnh so với năm 2001 Hệ thống y tế dự phòngbao gồm: Trung tâm y tế dự phòng, Trung tâm PCCBXH, Trung tâm PCSR-KST-CT, Trung tâm bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em - kế hoạch hoá gia đình,Trung tâm KNDP-MP, Trung tâm giáo dục sức khoẻ ngày càng được hoàn thiện
Trang 22thành phố đều có trường trung học phổ thông Số lượng học sinh trung học cơ
sở, trung học phổ thông đều có xu hướng gia tăng Bình quân trong giai đoạn
2005 - 2011 số lượng học sinh THCS tăng 5,6%/năm; học sinh THPT tăng10,7%/năm Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi 6 -14 đến trường năm học2010-2011 đạt trên 97,1% so với năm học 2005 - 2006 là 95,3% Chất lượng họcngày càng được nâng cao, số lượng học sinh giỏi ngày càng tăng
Sự nghiệp giáo dục được chú trọng, năm 2011 toàn tỉnh có 415 trườngphổ thông tăng 66 trường so với năm 2005 Số học sinh các cấp học 140.114 em,
số giáo viên: 11.294 giáo viên Bậc Trung học, cao đẳng và đại học toàn tỉnh có
1 trường Trung học chuyên nghiệp và 2 trường Cao đẳng (trường cao đẳng sưphạm; cao đẳng nghề)
Chất lượng giáo dục đại trà ở vùng cao còn hạn chế nhất là đối với các lớp đầucấp THCS, một số trường chưa chú ý đầu tư chiều sâu nâng cao chất lượng
Đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng, chưa đồng bộ về cơ cấu môn học
ở trung học cơ sở, cán bộ quản lý còn thiếu
Cơ sở vật chất trường học và các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảngdạy và học tuy đã được nhà nước đầu tư lớn song vẫn còn khó khăn chưa đạtchuẩn, số phòng học tạm ở các thôn, bản còn chiếm tỷ lệ cao
2.3.3 Thông tin văn hóa
Hệ thống thông tin, văn hoá trong tỉnh khá phát triển; 100% số xã trongtỉnh đều thu được tín hiệu phát thanh truyền hình Mạng lưới bưu điện văn hoá
xã được củng cố với các tài liệu thông tin, tuyên truyền và các tài liệu hướng dẫnsản xuất nông lâm nghiệp phục vụ nhu cầu tìm hiểu thông tin của người dântrong tỉnh Ngoài ra, tỉnh có 12 thư viện tại trung tâm tỉnh và huyện, thành phốvới 156,8 ngàn đầu sách phục vụ cho 148.517 lượt người đọc; 12 đơn vị chiếuphim lưu động và tại 2 rạp phục cho 244 ngàn lượt người xem Nhìn chung,thông tin văn hoá của tỉnh dần củng cố và nâng cao chất lượng, tạo điều kiệnthuận lợi để người dân tiếp cận kịp thời với đường lối chính sách của Đảng vàNhà nước cũng như các chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương
2.4 Tài nguyên khoáng sản
Theo kết quả điều tra, khảo sát địa chất, trên địa bàn tỉnh Hà Giang đãphát hiện được 213 mỏ và điểm quặng với 29 loại khoáng sản khác nhau, một sốkhoáng sản quan trọng cho công nghiệp khai thác chế biến, đó là:
- Quặng Fenspat: Xuất hiện nhiều nơi trong tỉnh, tập trung chủ yếu ở phíaNam khối granit sông Chảy, khu vực Việt Vinh, Tân Quang - huyện Bắc Quang,nhưng chưa được khảo sát, đánh giá chất lượng, trữ lượng chi tiết Trữ lượng cóthể đạt tới 300.000 – 400.000 tấn (cấp P1)
- Quặng Antimon: Đã phát hiện được 7 mỏ và điểm quặng: Mậu Duệ, BóMới, Bản Lỳ -Yên Minh; Vần Chải - Đồng Văn; Sơn Vĩ, Bản Trang - Mèo Vạc Trong đó mỏ Antimon Mậu Duệ có trữ lượng lớn nhất đạt 330.286 triệu tấn
Trang 23- Quặng sắt: Đã phát hiện 21 mỏ và điểm quặng, nhưng đáng quan tâm làvùng quặng sắt Tùng Bá - Vị Xuyên - Bắc Mê kéo dài 50 - 60 km từ Quản Bạqua Tùng Bá đến Bắc Mê Các mỏ đã khảo sát đánh giá như: Nam Lương, SàngThần, Tùng Bá, Thân Thiu, Lũng Rầy, Lùng Khoè… với tổng trữ lượng cấp C1+ C2 + P1 = 149.738 triệu tấn.
- Quặng chì - kẽm: Đã phát hiện được 15 mỏ và điểm quặng, trong đóđáng chú ý nhất là các mỏ sau: Na Sơn, Tà Pan, Ao Xanh, Cao Mã Bờ… Tổngtrữ lượng C2 + P1 + P2 khoảng 600.500 triệu tấn
- Quặng Mangan: Đã phát hiện được 10 mỏ và điểm quặng, phân bốkhông tập trung, từ Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê đến Yên Minh Trữ lượng C2+ P1 + P2 khoảng 1,3 triệu tấn
- Ngoài ra, Hà Giang còn khá nhiều loại khoáng sản khác như: Vàng, Thiếc,vonfram, thuỷ ngân, mica, pyrit, pyrotin, đồng, đôlômi, thạch anh tinh thể, đá quý,
…nhưng chưa được khảo sát, thăm dò đánh giá trữ lượng một cách chi tiết
- Nước khoáng nóng: Xuất lộ 11 điểm khác nhau, đáng quan tâm nhất là mỏnước khoáng Quảng Ngần - Vị Xuyên đã được khai thác và đưa vào sử dụng
- Cao lanh: Tập trung ở Việt Vinh - Bắc Quang, Tùng Bá - Vị Xuyên
- Đá vôi: Phân bố rải rác ở nhiều nơi trong tỉnh, nhưng mới chỉ đầu tưthăm dò tại mỏ đá vôi Ngọc Đường và các điểm mỏ nằm tại 4 huyện vùng caonúi đá và các huyện khác;
- Đất sét: Tập trung ở một số nơi trong tỉnh như: Xã Phú Linh huyện Vị Xuyên
- Cát, sỏi: Tập trung trên các lòng sông như sông Lô, sông Miện, sông Chảy,sông Bạc… là nguồn nguyên liệu phục vụ nhu cầu xây dựng cơ bản của địa phương
Ngoài ra, Hà Giang còn có một số khoáng sản khác có trữ lượng nhỏ,chưa được điều tra, đánh giá đầy đủ Đây sẽ là những nguồn lực quan trọng gópphần thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế của địa phương
Điều đáng lưu ý, phần lớn các mỏ khoáng sản chủ yếu nằm trên đấtlâm nghiệp vì vậy có ảnh hưởng đáng kể tới rừng và môi trường rừng ở giaiđoạn khai thác
3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
3.1 Thuận lợi
- Là tỉnh vùng cao biên giới, có 6/11 huyện thành phố đặc biệt khó khănnên được sự quan tâm của Chính phủ trong đầu tư các chương trình, dự án đểphát triển kinh tế xã hội;
- Trong những năm qua tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đã
có chuyển biến tích cực về nhiều mặt Bước đầu khai thác tốt nội lực kết hợpvới nguồn lực bên ngoài để đầu tư phát triển, nền kinh tế tiếp tục tăngtrưởng khá ổn định và có sự chuyển biến đúng hướng
Trang 24- Lực lượng lao động dồi dào, được các cấp các ngành trong tỉnh quantâm đầu tư, hỗ trợ các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề đào tạo nghề tại chỗcho con em đồng bào ở địa phương.
- Hạ tầng cơ sở đã và đang được đầu tư phát triển mở rộng, đặc biệt là mạnglưới giao thông nông thôn, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của nhiều xãvùng thấp, gần trung tâm xã, giúp thông thương hàng hóa đến nơi tiêu thụ
- Đất đai và khí hậu thích hợp cho đa dạng hoá phát triển sản xuất nông lâmnghiệp với nhiều loại cây trồng vật nuôi Quỹ đất lâm nghiệp chưa có rừng trên địabàn tỉnh còn 129.505,4 ha, chiếm 16,4% tổng diện tích tự nhiên Đây là điều kiện đểphát triển kinh tế lâm nghiệp, chế biến gỗ, giấy, cây công nghiệp dài ngày
- Tài nguyên khoáng sản một số loại còn trữ lượng khá cao như: Antimon,Sắt, Chì, Mangan, Cao lanh, Pyrit, Quarzit, đá vôi, cát, sỏi cho phép phát triểnngành công nghiệp khai khoáng, xi măng, vật liệu xây dựng
- Các huyện vùng thấp phía Nam tỉnh có điều kiện để phát triển lâmnghiệp toàn diện từ sản xuất đến chế biến, các huyện vùng cao núi đá và phíaTây của tỉnh có lợi thế phát triển thủy điện nhỏ và du lịch sinh thái Trên địa bàntỉnh đang hình thành một số nhà máy chế biến lâm sản đã thúc đẩy công táctrồng rừng kinh doanh lâm sản phát triển
- Cơ chế chính sách từng bước đổi mới để thu hút đầu tư từ các doanhnghiệp, tổ chức trong và ngoài nước đến đầu tư tại tỉnh
- Bản sắc văn hóa dân tộc được lưu giữ và phát triển; đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội được đảm bảo
3.2 Khó khăn
- Là tỉnh có điều kiện địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, khí hậukhắc nghiệt có nhiều biến động phức tạp, quy mô kinh tế nhỏ lẻ, một số huyện vùngcao biên giới nhân dân sống phân tán, văn hoá - xã hội chưa phát triển
- Trình độ dân trí của đồng bào vùng cao còn hạn chế, ý thức của một bộphận nhỏ người dân còn coi việc bảo vệ và phát triển rừng là làm cho Nhà nước
để hưởng tiền công vì vậy chưa thực sự gắn bó quyền lợi và trách nhiệm vớirừng Điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp, cơ cấu chuyển dịch còn chậm
- Vốn đầu tư của Nhà nước cho các chương trình khoanh nuôi, bảo vệ vàtrồng rừng hàng năm còn hạn chế, chính sách hưởng lợi đã có nhưng với điềukiện địa hình của Hà Giang thì chưa hấp dẫn các chủ quản lý bảo vệ rừng, chưathực sự gắn bó quyền lợi và trách nhiệm với rừng
- Địa hình chia cắt, lượng mưa tập trung theo mùa dẫn đến nguy cơ lũquét, sạt lở đất cao, bên cạnh đó còn có những yếu tố thời tiết cực đoan như
Trang 25sương muối, giá rét vào mùa đông, mưa đá vào mùa hè đã ảnh hưởng đến sảnxuất và đời sống của nhân dân.
- Một số xã vùng sâu, vùng xa, trong mùa mưa thường bị sạt lở ách tắc giaothông Đường vận xuất, vận chuyển lâm sản chưa được đầu tư xây dựng, một sốtuyến đường có sẵn đã xuống cấp bị sạt lở không được tu sửa
- Chất lượng nguồn nhân lực, lực lượng lao động kỹ thuật tuy đã được đàotạo nhưng còn thiếu và yếu Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong các ngành còn hạnchế nhất là trong ngành nông lâm nghiệp
- Công tác giống và chất lượng giống đã được chú trọng quản lý xongchưa đáp ứng được yêu cầu cho công tác trồng rừng
- Các cơ sở chế biến lâm sản ở các huyện chưa được củng cố và pháttriển; năng suất chất lượng rừng trồng còn thấp do chưa đầu tư trồng rừng thâmcanh; lợi nhuận thu được từ sản xuất lâm nghiệp không cao, chưa thu hút đượccác thành phần kinh tế chú trọng đầu tư trồng và bảo vệ rừng
- Tỷ lệ tăng dân số tương đối cao trong khi diện tích canh tác câylương thực ít và điều kiện sản xuất khó khăn Sự gia tăng dân số, nhu cầulương thực, gỗ, chất đốt của người dân đang là sức ép lớn đối với phát triểnlâm nghiệp trên địa bàn
III THỰC TRẠNG QUẢN LÝ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
1 Kết quả các hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong 10 năm qua
1.1 Các quy hoạch và dự án lâm nghiệp đã xây dựng
- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Hà Giang giai đoạn 2007-2015 vàđịnh hướng phát triển đến năm 2020
- Quy hoạch Vùng nguyên liệu phục vụ nhà máy giấy và bột giấy BãiBằng, giấy địa phương và nhà máy MDF giai đoạn 2010 - 2015
- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng khu vực hành lang biên giới tỉnh
Hà Giang giai đoạn 2000 - 2010 và định hướng đến măn 2015
- Quy hoạch các khu rừng đặc dụng
- Rà soát quy hoạch và định hướng phát triển 3 loại rừng tỉnh Hà Gianggiai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2015
- Dự án đầu tư và phát triển rừng tại 4 huyện vùng cao phía bắctỉnh Hà Giang giai đoạn 2010 đến 2015
- Quy hoạch phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến năm 2020
- Dự án đầu tư xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Lô - Gâm, sông Chảy
Trang 261.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ quy hoạch kỳ trước
Tổng diện tích tự nhiên (ha) 792.321,0 791.488,9 - 832,1 -0,1
- Rừng sản xuất 22.189,6 57.603,9 35.414,3 159,6
- Rừng phòng hộ 17.375,1 15.311,4 -2.063,7 -11,9
2 Đất LN chưa sử dụng khác (ha) 31.089,9 109.718,1 78.628,2 252,9II.Đất khác (ha) 347.763,4 163.232,8 -184.530,6 -53,1III Độ che phủ rừng (%) 36,5 51,6
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2005, 2011 và báo cáo kết quả thực hiện Dự án
Trong kỳ quy hoạch từ năm 2000 đến năm 2010 kết thúc kỳ quy hoạch ngànhlâm nghiệp Hà Giang đã đạt được những kết quả cụ thể như sau:
- Diện tích có rừng năm 2010 tăng thêm 71.703,5 ha, tăng 19,3% so vớinăm 2000; trong đó rừng tự nhiên tăng 38.336,7 ha, chủ yếu là do kết quảkhoanh nuôi phục hồi rừng Diện tích rừng trồng tăng thêm 33.366,8 ha Rừngtrồng tăng lên về diện tích (79,3%), nhưng chất lượng rừng không đồng đều;rừng trồng thuộc các Công ty lâm nghiệp do được đầu tư thâm canh nên năngxuất rừng đạt từ 80-120 m3/ha, rừng trồng của các hộ gia đình đầu tư thấp dotrồng quảng canh nên năng suât bình quân đạt khoảng 50 m3/ha, chất lượngrừng không đều
- Diện tích đất đồi núi chưa sử dụng được ngành Tài nguyên và Môi trườngquy hoạch cho lâm nghiệp giai đoạn 2000 - 2010 là 109.718,1 ha; đã đưa vào sửdụng trên 30 ngàn ha; diện tích chưa sử dụng 78.628 ha
- Tỷ lệ che phủ của rừng từ 43% năm 2005 tăng lên 51,6% năm 2010 Để đạtđược tỷ lệ này là do có sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền các cấp, sự phối hợpchặt chẽ của các ban ngành và sự đồng thuận của người dân, đã làm tốt công tácbảo vệ và phát triển rừng trong những năm qua
Trang 27- Kết quả sản xuất ngành lâm nghiệp của tỉnh đạt 289.616,4 triệu đồngnăm 2011 theo giá cố định năm 1994, đã đóng góp tăng thêm vào GDP của tỉnh,tăng thu nhập cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo và tiến tới pháttriển rừng theo hướng hàng hoá.
1.2.2 Kết quả thực hiện quy hoạch đối với các loại rừng
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Hà Giang năm 2000 - 2005 và địnhhướng đến năm 2010 đối với các loại rừng đã đạt được một số kết quả sau:
* Rừng đặc dụng
Đã hình thành và xây dựng được một hệ thống gồm 5 khu bảo tồn thiênnhiên: Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, Khu bảo tồn thiên nhiên PhongQuang, Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh, Khu bảo tồn thiên nhiên Du Già
và 1 khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca Đã góp phần vàobảo vệ nguồn gen, tính đa dạng sinh học của tỉnh và cả nước Tuy nhiên, trongcác khu bảo tồn vẫn có các hộ dân sống xen kẽ sản xuất nông lâm nghiệp vàkhai thác khoáng sản nên việc quản lý bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn
* Rừng phòng hộ
Trước khi có kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng theo Chỉ thị số38/2005/CT-TTg, trên địa bàn tỉnh đã xây dựng quy hoạch một số khu rừngphòng hộ đầu nguồn các sông như: Sông Chảy, sông Bạc, sông Lô - Gâm.Ngoài ra, còn có các khu rừng phòng hộ cục bộ các hồ, đập, phòng hộ bảo vệmôi trường cảnh quan và đồng ruộng đã đem lại hiệu quả đáng ghi nhận, làmtăng nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp tại chỗ
Phần lớn diện tích rừng phòng hộ đã được giao khoán bảo vệ rừng Tínhđến nay toàn tỉnh đã giao khoán bảo vệ rừng được trên 40 nghìn ha, khoanh nuôitái sinh phục hồi rừng được 77,3 nghìn ha, trong đó thành rừng được 50,6 nghìn
ha đạt 65,6% Trồng rừng phòng hộ được trên 29,9 nghìn ha, góp phần nâng độche phủ của rừng từ 36,5% (năm 2000) lên 52,1% (năm 2012), cải thiện môitrường sinh thái, điều hoà nguồn nước, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố cơ cở
hạ tầng chung cho các huyện và các xã vùng núi của tỉnh
Những hạn chế: Trước đây, khi chưa có Chỉ thị 38/2005/CT-TTg việc quyhoạch rừng phòng hộ chưa có tiêu chí cụ thể, thống nhất trong toàn quốc, cònphụ thuộc vào kinh nghiệm và định hướng chủ quan của cán bộ tham gia quyhoạch, phương pháp tổ chức thực hiện chưa khoa học, dẫn đến nhiều khu rừngphòng hộ không thực hiện được đúng quy hoạch hoặc bao phủ cả đất rừng có khảnăng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, gây thiếu đất sản xuất cho người dân Ranhgiới rừng phòng hộ nhiều khu vực còn thiếu bền vững gây khó khăn cho công tácquản lý bảo vệ và sản xuất kinh doanh lâm nghiệp của tỉnh Vốn đầu tư chưa kịpthời nên ảnh hưởng tới việc tổ chức thực hiện các dự án Cơ cấu cây trồng chưahợp lý, chưa quan tâm đầu tư phát triển cây bản địa gắn với bảo tồn nguồn gen
* Rừng sản xuất
Trang 28Đã quy hoạch được vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất ra một khối lượngsản phẩm lâm sản đáng kể, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế chung củatỉnh Trong 10 năm qua đã trồng được 36,5 nghìn ha rừng tập trung và 15 nghìn hacây phân tán, chất lượng rừng trồng đã được nâng cao bằng việc lựa chọn giốngmới và trồng rừng thâm canh Khai thác được 25 nghìn m3 gỗ, hơn 1 triệu Ster củi
và 3,8 triệu cây tre nứa trong năm Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy hoạchchưa chú trọng đến mối quan hệ giữa vùng sản xuất cây nguyên liệu với các cơ sởchế biến lâm sản trong tỉnh, nên chưa tạo được động lực thúc đẩy các cơ sở chếbiến của địa phương phát triển
1.3 Tình hình giao rừng, giao đất lâm nghiệp
1.3.1 Giao khoán bảo vệ rừng:
Thực hiện Nghị định 01/NĐ-CP, 02/NĐ-CP, NĐ 163/NĐ-CP nay là Nghịđịnh 181/NĐ-CP Công tác giao khoán rừng trên địa bàn tỉnh được triển khai chủyếu là giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ và đặc dụng; rừng trồng thuộcChương trình 327, Dự án 661 Trên 50% diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh đã cóchủ quản lý bảo vệ Những diện tích rừng được giao khoán bảo vệ, đang đượcbảo vệ tốt, chất lượng rừng không ngừng tăng lên, phát huy tốt tiềm năng vềkinh tế, phòng hộ của rừng
1.3.2 Giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp:
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 181 của Chính phủ, côngtác giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, doanh nghiệp và hộ gia đình trên địabàn tỉnh đã được triển khai khá tốt Tính đến nay, gần 54,1% diện tích đất lâmnghiệp đã được giao cho các chủ quản lý Trong đó :
Giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình 226.692,0 ha;
Giao cho 3 Công ty lâm nghiệp: Công ty Cầu Ham: 3.414,7 ha, Công tyVĩnh Hảo: 3.835,06 ha, Công ty Ngòi Sảo: 2.950,3 ha;
Giao cho 5 Ban quản lý rừng đặc dụng: Khu bảo tồn thiên nhiên BátĐại Sơn, Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang, Khu bảo tồn thiên nhiên TâyCôn Lĩnh, Khu bảo tồn thiên nhiên Du Già và ban quản lý Khu bảo tồn loài
và sinh cảnh voọc mũi hếch Khau Ca: 49.524,4 ha.
1.3.3 Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân:
Đến nay, đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho cácthành phần kinh tế, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân: 142.117,46ha/275.347,2 ha đạt51,6% đất rừng sản xuất
* Tồn tại: Một số diện tích đất lâm nghiệp đã giao, cấp giấy chứng nhậnđạt độ chính xác chưa cao, còn có sự chồng lấn, tranh chấp giữa các hộ gia đìnhvới các Công ty lâm nghiệp ở Bắc Quang và Quang Bình Việc giao, cấp giấychứng nhận theo nhóm hộ gặp nhiều khó khăn nên việc tiếp cận các nguồn vốnvay còn hạn chế
Trang 29* Nguyên nhân: Công tác quản lý Nhà nước về đất đai của chính quyền cơ
sở ở một số địa phương còn hạn chế; do trước đây sử dụng bản đồ địa hình tỷ lệlớn, thiếu dụng cụ kỹ thuật cần thiết và nghiệp vụ của cán bộ sử dụng bản đồtrong khoanh vẽ giao đất hạn chế, dẫn đến sai sót trong việc giao đất lâm nghịêp
1.4 Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp
1.4.1 Bảo vệ rừng:
Những năm qua, các Ban quản lý Dự án 661, Ban quản lý rừng phòng hộ,đặc dụng, Chi cục Kiểm lâm và các hạt Kiểm lâm đã phối hợp chặt chẽ với chínhquyền các cấp, thực hiện công tác tuyên truyền vận động với nhiều hình thức đểlàm tốt công tác bảo vệ rừng tự nhiên và rừng trồng Tuy nhiên trong giai đoạn
1998 - 2010 tỉnh Hà Giang đã có tổng số 5.765 vụ vi phạm Luật bảo vệ và pháttriển rừng
- Trồng từ nguồn hỗ trợ ngân sách như sau:
+ Tổng diện tích trồng mới: 66.484,9 ha/46.620 ha kế hoạch Trung ươnggiao (trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: 29.900,2 ha, trồng rừng sản xuất:36.584,6ha) đạt 142,6% chỉ tiêu kế hoạch Trung ương giao
+ Diện tích thành rừng: 21.050,4 ha (rừng phòng hộ, đặc dụng: 16.120,8ha; rừng sản xuất: 4.929,6 ha)
+ Diện tích chưa thành rừng: 44.667,6 ha, là những diện tích rừng trồnghiện đang đầu tư chăm sóc chưa đủ thời gian theo quy định của bộ NN&PTNT
để nghiệm thu thành rừng
Trang 30+ Diện tích mất rừng: 767,0 ha trong giai đoạn thực hiện dự án, nguyênnhân chính do hạn hán, rét kéo dài, sâu bệnh hại cây thông và cháy rừng đối vớinhững khu vực gần biên giới với nước bạn Trung Quốc.
- Kết quả trồng mới rừng sản xuất bằng vốn vay, vốn tự có như sau :
+ Khối lượng thực hiện: 24.832,0 ha
+ Tổng vốn đầu tư: 270.518,13 triệu đồng (Vốn vay tín dụng là:49.795,95 triệu đồng, vốn tự có 159.909,35 triệu đồng và vốn ngân sách là60.812,83 triệu đồng)
Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho việc trồng rừng sản xuấtcủa tỉnh Hà Giang mới đạt 19% so kinh phí người dân đầu tư cho công tác trồngrừng, ngoài ra thủ tục hành chính để nhận hỗ trợ từ nguồn ngân sách Nhà nướccho công tác trồng rừng còn phức tạp, dẫn đến nhân dân một số vùng khôngmuốn trồng rừng theo dự án 661
- Loài cây trồng: Keo các loại, Bạch đàn, Bồ đề, Sấu, Giổi, Lát, Thông, Samộc,Tống quá sủ, ChèShan và một số loài cây bản địa khác
1.4.3 Khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng
- Giai đoạn 2000-2010, tổng diện tích thực hiện: 77.307,1 ha; thành rừng50.674,5 ha tỷ lệ đạt 65,5%, diện tích 26.632,6 ha còn lại đang trong giai đoạnđầu tư chưa đủ thời gian công nhận thành rừng
- Số lượt ha rừng được khoanh nuôi, phục hồi là: 320.147,4 ha/281.986 ha
kế hoạch Trung ương giao, bằng 113,53% kế hoạch giao (319.627,4 ha rừngkhoanh nuôi phục hồi tái sinh tự nhiên; 520,0 ha khoanh nuôi có trồng bổ sung)
Ngoài ra người dân còn khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ như: Songmây, Mộc nhĩ, Măng tươi hàng ngàn tấn và một số lâm sản khác như lá Cọ, dượcliệu, Trám quả, hạt Trẩu, hạt Sở
1.5 Hoạt động các dự án lâm nghiệp
Trang 31- Dự án 661 (Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ).
ăn việc làm cho khoảng 42 ngàn hộ gia đình, góp phần tăng thu nhập cho hộ nôngdân miền núi, ổn định an ninh - xã hội
Kết quả các chương trình đã hỗ trợ thực hiện giao khoán bảo vệ được hơn115.361,8 ha rừng, trồng được trên 66.484,9 ha rừng và hàng vạn cây phân tán, tậphuấn hướng dẫn cho hàng nghìn người dân nông thôn thuộc vùng sâu vùng xa, trong
đó chủ yếu kỹ thuật canh tác trên đất dốc
Dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng 4 huyện vùng cao của Chính phủ
đã thực sự phát huy hiệu quả trong việc khuyến khích người dân tham giakhoanh nuôi, bảo vệ và phát triển vốn rừng một cách bền vững; đồng thời đã trợgiúp cho người dân có lương thực trong những tháng giáp hạt
Tổng số gạo đã tiếp nhận và cấp cho dân giai đoạn 2008 - 2010: 3.805,6tấn trong đó: Năm 2008: 564,0 tấn; Năm 2009: 1.575,0 tấn; Năm 2010: 1.666,6tấn (đã cấp phát 1.100,0 tấn) Còn lại 566,6 tấn sẽ cấp phát vào cuối năm 2010
để cấp cho các hộ trồng rừng sản xuất
Các dự án về lâm nghiệp được triển khai từ năm 2007, đã hỗ trợ trồngrừng mới thuộc đối tượng rừng sản xuất không phải là các doanh nghiệp được48.993,5 ha với mức hỗ trợ 36.584,6 triệu đồng
- Chương trình kinh tế trang trại, nông lâm kết hợp
Thực hiện theo phương thức gắn sản xuất lâm nghiệp với phát triển kinh
tế trang trại, hình thành nhiều vườn rừng, trại rừng khuyến khích trồng cây lấy
gỗ, trồng tre chuyên măng góp phần tăng thu nhập, tạo việc làm, cải thiện đờisống người dân miền núi và vừa có sản phẩm thu hoạch lâu dài Hệ thống trangtrại trên địa bàn Hà Giang trong thời gian qua phát triển nhanh về số lượng vàquy mô, nhưng chủ yếu ở các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên và Quang Bình
* Hiệu quả của dự án:
Theo đánh giá chung của các huyện và thành phố, các dự án thực sự cóhiệu quả trong việc ổn định đời sống nhân dân vùng cao, góp phần tích cực vàoviệc tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng
1.6 Tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh
1.6.1 Hệ thống tổ chức quản lý
Trang 32Cấp tỉnh: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, Chicục Lâm nghiệp.
Cấp huyện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm
Cấp xã: Các xã, phường, thị trấn chưa có cán bộ chuyên trách về côngtác lâm nghiệp, hiện nay giao cho cán bộ khuyến nông và cán bộ kiểm lâmđịa bàn đảm nhiệm
1.6.2 Hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh
Tỉnh Hà Giang có các hình thức tổ chức sản xuất:
- Công ty lâm nghiệp Nhà nước: Đến năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 3Công ty lâm nghiệp trực thuộc Tổng Công ty giấy Việt Nam Các Công ty lâmnghiệp là những đơn vị sản xuất lâm nghiệp vừa có chức năng dịch vụ, vừa cóchức năng sản xuất lâm nghiệp với nhiệm vụ chính là trồng rừng và cung cấpnguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng
Tổ chức của các Công ty lâm nghiệp gọn nhẹ: Gồm ban giám đốc, vănphòng và các đội sản xuất Bộ máy của Công ty được đào tạo cơ bản về chuyênmôn nghiệp vụ Ban giám đốc có trình độ đại học 100%
- Ban quản lý rừng rừng phòng hộ, đặc dụng:
+ Quản lý rừng đặc dụng gồm có:
Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn
Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Phong Quang
Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh
Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Du Già
Ban quản lý bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca
Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Căng Bắc Mê
+ Ban quản lý rừng phòng hộ gồm có:
Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Minh
Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Mê
Ban quản lý rừng phòng hộ Vị Xuyên
Ban quản lý rừng phòng hộ Hoàng Su Phì
Ban quản lý dự án 661 cũ nay là ban quản lý bảo vệ và phát triển rừng:Cấp tỉnh có 01 Ban quản lý dự án 661 (Chi cục lâm nghiệp), 11 Ban quản lý Dự
án 661 cấp huyện tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của tỉnhgiao Dự án đã được tổng kết, đánh giá năm 2010, từ năm 2011 thực hiệnchương trình bảo vệ và phát triển rừng (chương trình mục tiêu Quốc gia)
- Các Công ty cổ phần và liên doanh sản xuất lâm nghiệp có 14 Công ty:Được thuê đất trồng rừng 9.537,73 ha và các Công ty này đã trồng được 5.004,9ha; một số Công ty thuê nhiều đất và trồng được nhiều rừng đó là:
Trang 33Công ty TNHH Phùng Quân 1.629,5 ha và đã trồng được 125 ha.
Doanh nghiệp Hữu Nghị ở Ngọc Long - Yên Minh 866,9 ha và trồngđược 689,7 ha
Công ty TNHH vệ sỹ Nhất Sơn đầu tư tại Bắc Mê với diện tích 318,8 ha, đãtrồng được 286,5 ha
Công ty TNHH Hoàng Thanh 270,9 ha, đã trồng được 250 ha
Công ty TNHH thương mại Bắc Quang 250,4 ha và trồng được 226,2 ha HTX Hoàng Bách 365,1 ha và trồng được 345,1 ha;
Công ty TNHH Linh Quý 615,8 ha và trồng được 325,0 ha;
Còn lại 6 Công ty tư nhân thuê đất không nhiều và thực hiện sản xuất kinhdoanh rất hạn chế, chưa thực sự quan tâm đầu tư vào kinh doanh rừng
Các Công ty tập trung trồng rừng với các loài cây Keo, Mỡ, Xoan, Bồ đềphục vụ nguyên liệu giấy, ván bóc và cốp pha tiêu thụ trong, ngoài tỉnh và xuấtkhẩu ra thị trường Trung Quốc là chính
- Hộ gia đình: Với 48.335 hộ tham gia trồng và bảo vệ rừng, được giao142.117 ha đất lâm nghiệp để sản xuất cây nguyên liệu giấy và chế biến gỗ phục
vụ xây dựng, gia dụng
- Ngoài ra, còn có các tổ chức xã hội nghề nghiệp tham gia sản xuất lâmnghiệp: Các tổ chức khác như trung tâm đào tạo lâm nghiệp, quân đội, công ancũng tham gia xây dựng rừng
1.7 Hoạt động chế biến gỗ và lâm sản
Chế biến gỗ của tỉnh tập trung ở các huyện vùng thấp Bắc Quang, VịXuyên, Quang Bình và Bắc Mê, với các nhà máy chế biến công suất nhỏ nhưcác nhà máy giấy đế, vàng mã, giấy vệ sinh, ván bóc, chế biến gỗ công nghiệp
và các cơ sở chế biến gỗ dân dụng đã cho ra các loại sản phẩm như: Giấy, vánnhân tạo, gỗ sơ chế, đồ mộc dân dụng, bao bì công nghiệp, hàng mây tre đanxuất khẩu Các sản phẩm chế biến lâm sản của tỉnh đáp ứng một phần nhu cầutrong nước, nội tỉnh và xuất khẩu Năm 2011, giá trị sản phẩm của chế biến gỗ,các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa đạt 192,8 tỷ đồng; lâm nghiệp khác (sản xuất giấy
và các sản phẩm từ giấy, thu hái lâm đặc sản ) đạt 14,4 tỷ đồng, sản phẩm chủyếu xuất sang thị trường Trung Quốc
Mạng lưới chế biến lâm sản: Trên địa bàn tỉnh có 3 cơ sở chế biến giấy vàbột giấy, vàng mã, giấy vệ sinh Ngoài ra, còn có 17 cơ sở chế biến gỗ và lâmsản và 234 cơ sở sản xuất buôn bán giường tủ, bàn ghế, đồ gia dụng Các cơ sởchế biến giấy, ván bóc, tuy đã được đầu tư nâng cấp song trang thiết bị còn đơngiản, sản phẩm chưa đa dạng chủ yếu chế biến gỗ xây dựng và đóng đồ giadụng, do đó hiệu quả sử dụng gỗ nguyên liệu còn chưa cao, nguyên nhân giá trịsản phẩm phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc
1.8 Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp khác
* Nghiên cứu, sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp:
Trang 34- Về nguồn giống: Những năm qua, tỉnh Hà Giang rất chú trọng đến côngtác quản lý nguồn giống để sản xuất giống cây lâm nghiệp phục vụ trồng rừngtrong tỉnh, hiện tại đã tuyển chọn chuyển hoá được 4,8 ha rừng Keo tai tượng tạiBắc Quang, 5,0 ha rừng Sa mộc và 5,0 ha rừng Thông đuôi ngựa ở huyện MèoVạc, 5,0 ha Thông ba lá, 5,0 ha Thông đuôi ngựa ở huyện Yên Minh Các nguồngiống được tuyển chọn có chất lượng tốt, đáp ứng một phần nhu cầu cung cấpgiống trồng rừng trong tỉnh
- Mạng lưới vườn ươm: Trên địa bàn có 33 vườn ươm cố định; tổngdiện tích các vườn 28,9 ha; tổng công suất 53 triệu cây giống/năm; nhưngsản lượng chỉ đạt 39,3 triệu cây/năm; với số lượng vườn và công suất ươmcây như trên cơ bản đã đáp ứng đủ nhu cầu hiện tại về cây giống cho trồngrừng trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, việc kiểm soát nguồn giống và chất lượnggiống ở các vườn ươm nhỏ lẻ của các hộ gia đình gặp nhiều khó khăn
* Công tác khuyến lâm: Phần lớn các xã, phường và thị trấn hiện naykhông có cán bộ chuyên trách lâm nghiệp Trong thời gian qua, công tác chuyểngiao kỹ thuật lâm nghiệp chủ yếu do cán bộ kỹ thuật Chi cục Lâm nghiệp - SởNông nghiệp và PTNT phối hợp với cán bộ các Ban quản lý dự án cơ sở, hạtkiểm lâm đóng trên địa bàn đảm nhận Đây là khó khăn lớn khi áp dụng chínhsách phát triển lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng
* Công tác phòng cháy chữa cháy rừng của tỉnh trong những năm qua đãđược chú trọng Các Ban chỉ huy về vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòngcháy chữa cháy rừng từ tỉnh đến cơ sở đã hoạt động tích cực và có hiệu quả nêncác vụ cháy rừng đã giảm nhiều Tỉnh đã xây dựng và thực hiện Dự án nâng caonăng lực phòng cháy chữa cháy rừng cho lực lượng Kiểm lâm, đã mua sắm trangthiết bị đáp ứng một phần nhu cầu thiết bị kỹ thuật bảo vệ rừng và phòng cháychữa cháy rừng Tuy nhiên, một bộ phận nhân dân sống trên địa bàn gần rừngchưa thực sự chú trọng tới công tác này
* Công tác phòng trừ sâu bệnh hại rừng còn chưa được đầu tư hỗ trợ, đặcbiệt là sâu hại Thông, Keo chủ yếu là do chủ rừng tự đầu tư
Trang 35- Tổng diện tích tự nhiên giảm 833,1 ha, do điều chỉnh ranh giới theo nghịđịnh thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa Chính phủ nước cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung
Hoa có hiệu lực từ ngày 14/07/2010
- Sau khi rà soát điều chỉnh 3 loại rừng tổng diện tích đất lâm nghiệp tăng14.689,4 ha, trong đó:
+ Tăng 20.262,4 ha do chuyển từ đất chưa sử dụng sang 10.390,8 ha, đấtphi nông nghiệp sang (đất khai thác khoáng sản) 3.296,9 ha; đất sản xuất nôngnghiệp 6.574,7 ha
+ Diện tích giảm: 5.572,8 ha do chuyển sang đất phi nông nghiệp 277,1ha; đất sản xuất nông nghiệp 1.018,7 ha; đất chưa sử dụng 4.277,0 ha
- Đất rừng đặc dụng tăng 1.469,6 ha; do chuyển từ rừng sản xuất vàrừng phòng hộ sang
- Đất rừng phòng hộ tăng 36.166,6 ha; do được chuyển từ rừng sản xuất
và đất chưa sử dụng sang (đất chưa sử dụng trước đây nay là rừng tự nhiên hoặcrừng trồng)
- Đất rừng sản xuất giảm 22.946,8 ha; do đã quy hoạch chuyển sangđất khai thác khoáng sản, giao thông và quá trình điều chỉnh quy hoạch 3loại rừng đã chuyển sang rừng đặc dụng theo nguyên trạng ban đầu (trướckhi quy hoạch 3 loại rừng 2007) tại khu mỏ sắt Sàng Thần tại xã Minh Sơnhuyện Bắc Mê và chuyển sang rừng phòng hộ tại Công viên địa chất toàncầu đá Đồng Văn thuộc 4 huyện vùng cao núi đá, 2 huyện đầu nguồn sôngChảy và các xã thuộc đầu nguồn sông Bạc
3 Đánh giá hiện trạng phát triển ngành lâm nghiệp
3.1 Vai trò của ngành lâm nghiệp với kinh tế của tỉnh
Bảng 8: Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp (theo giá thực tế)
Trang 36- Trồng và nuôi rừng 21,14 28,56 27,21 30,37 28,42
- Khai thác gỗ và lâm sản 72,20 66,23 68,17 65,25 66,50
- Dịch vụ lâm nghiệp khác 6,36 5,21 4,62 4,38 4,89
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011 - Cục thống kê Hà Giang
Tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp trong những năm qua liên tục tăng, song tỷtrọng so với ngành Nông - Lâm nghiệp còn thấp Nếu lấy thời điểm 2011 để so sánhthì giá trị sản xuất ngành Lâm nghiệp chiếm tỷ trọng chỉ đạt 8,35% giá trị sản xuấtngành Nông - Lâm nghiệp và 5,41% tổng giá trị sản phẩm toàn tỉnh
Trong cơ cấu kinh tế ngành Lâm nghiệp, khai thác gỗ và lâm sản chiếm tỷtrọng ổn định hàng năm, giá trị rừng trồng tăng lên; đóng góp của ngành lâm nghiệpngày càng tăng vào giá trị sản xuất của ngành Nông - Lâm nghiệp - Thuỷ sản; nguồnthu nhập từ rừng đa dạng hơn và chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong cơ cấu giá trị sảnxuất của tỉnh Tuy nhiên, giá trị sản xuất của ngành Lâm nghiệp đóng góp chokinh tế của tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng hiện có
3.2 Kết quả sản xuất kinh doanh
Bảng 9: Kết quả sản xuất lâm nghiệp tỉnh Hà Giang (giai đoạn 2000 - 2010)
Đơn vị tính: ha
2000-2005 2006-2010
- Rừng sản xuất tập trung và phân tán 61.415 12.757 48.658
2 Khoán BV rừng phòng hộ, đặc dụng (ha) 122.322 37.119 85.213
5 Khai thác củi (ster) 10.353.245 4.782.090 5.571.155
6 Tre, nứa các loại (1000 cây) 30.799 13.358 17.441
Nguồn: Báo cáo tổng kết sản xuất lâm nghiệp 1999 - 2010 của BQL dự án 661
Sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2000 -2010 của tỉnh luôn phát triển Công táctrồng rừng được chú trọng cả về số lượng và chất lượng; sản lượng khai thác lâm sảncác loại năm sau cao hơn năm trước; độ che phủ của rừng năm 2010 là 51,6%
Với trên 550,0 nghìn ha đất lâm nghiệp, chiếm 69,5% diện tích tự nhiêncủa tỉnh; là địa bàn sinh sống của trên 84% dân cư; hơn bao giờ hết, rừng và đấtrừng có vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, trong phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh Được thể hiện trên một số mặt sau:
- Đóng góp vào tổng GDP toàn tỉnh bình quân khoảng 195 tỷ đồng/năm
- Từ năm 2000 đến nay, sản xuất lâm nghiệp của tỉnh hàng năm đã tạothêm việc làm cho 48.335 hộ dân, (trong đó có 3.611 hộ thuộc diện đói nghèo cóthu nhập từ sản xuất lâm nghiệp) với hơn 70 nghìn lao động có thu nhập từ kinh
Trang 37tế lâm nghiệp, góp phần vào công tác ổn định dân cư, xóa đói giảm nghèo, cảithiện đời sống nhân dân trong tỉnh
Tuy nhiên, tiềm năng rừng và đất rừng của tỉnh rất lớn, nhưng giá trị kinh
tế thu được từ rừng còn thấp, chưa được đánh giá đúng mức Trong giai đoạn tớinếu rừng và đất rừng được sử dụng có hiệu quả hơn nữa thì giá trị kinh tế từrừng sẽ cao hơn hiện nay nhiều lần
3.3 Nguồn vốn đầu tư cho phát triển rừng
- Tổng số vốn ngân sách đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng qua các năm(2001 - 2010) là 374,011 tỷ đồng, trong đó đã đầu tư cho các hạng mục sau:
- Đầu tư cho xây dựng cơ bản lâm sinh: 284,388 tỷ đồng, trong đó:
+ Trồng rừng mới: 210,630 tỷ đồng;
+ Khoanh nuôi rừng: 49,059 tỷ đồng;
+ Bảo vệ rừng: 24,699 tỷ đồng
- Đầu tư cho các hạng mục khác: 89,623 tỷ đồng
(bao gồm vốn hỗ trợ lương thực cho dự án 4 huyện vùng cao núi đá phía Bắc).
- Vốn tự có: 159,9 tỷ đồng/374,014 tỷ đồng bằng 42,7% tổng vốn ngânsách Nhà nước đầu tư cho lâm nghiệp
- Vốn vay: 49,79 tỷ đồng/374,014 tỷ đồng bằng 13,3% tổng vốn ngânsách Nhà nước đầu tư cho lâm nghiệp
3.4 Đánh giá hiện trạng nguồn nhân lực lâm nghiệp
Theo số liệu thống kê năm 2011 của tỉnh, số lao động trong độ tuổi là365,0 nghìn người, chiếm 48,69% dân số của tỉnh Trong đó có 268,5 nghìn laođộng hoạt động nông lâm nghiệp, chiếm 73,83% tổng số lao động của tỉnh
Lực lượng lao động tham gia sản xuất lâm nghiệp chiếm khoảng 14% sốlao nông lâm nghiệp, số lao động qua đào tạo chiếm khoảng 4,8% lao động lâmnghiệp, tập trung chủ yếu trong các doanh nghiệp nhà nước, cán bộ quản lý Lựclượng lao động tại các địa phương chưa qua đào tạo, trình độ hạn chế, đây làmột khó khăn cần được giải quyết và có chính sách đầu tư trong giai đoạn tới
Với đặc thù đó, sản xuất lâm nghiệp chủ yếu là lao động thủ công, năngsuất lao động thấp, thu nhập bình quân thấp (7,5 triệu đồng/người/năm), đờisống người lao động còn gặp nhiều khó khăn
3.5 Vai trò của rừng đến môi trường
3.5.1 Ảnh hưởng đến môi trường nước
Rừng đạt độ che phủ sẽ có tác dụng làm giảm lực tác động của nước mưalên lớp thảm mục, làm tăng độ ma sát của dòng chảy, một phần chảy trên bề mặt,một phần nước thấm sâu xuống đất Tán rừng càng dày, lớp thảm mục càngnhiều, đất tơi xốp thì dòng chảy trên bề mặt càng ít, hiệu suất làm sạch nguồn
Trang 38nước càng cao do khả năng thu nhận các ion kim loại nặng càng nhiều và khảnăng lưu giữ nguồn nước càng lớn.
Nguồn nước của sông Chảy, sông Lô, sông Gâm luôn ổn định do nước ởcác khe suối và các khu rừng đầu nguồn cung cấp thường xuyên Như vậy, vaitrò của rừng rất lớn trong việc thu nhận các ion kim loại nặng, cung cấp nguồnnước sạch cho sinh hoạt và sản xuất của con người
3.5.2 Ảnh hưởng đến môi trường đất
Rừng có tác dụng hạn chế tốc độ dòng chảy, tăng khả năng thấm nước,làm giảm lượng bốc hơi, lưu giữ nguồn nước, hạn chế xói mòn lớp đất mặt Lớpthảm mục là môi trường cho vi sinh vật hoạt động mạnh làm đất tơi xốp, giàudinh dưỡng Nếu so sánh với những nơi canh tác nương rẫy nhiều lần, lớp đấtmặt bị xói mòn, đất trơ sỏi đá, tại đây diễn ra quá trình feralit mạnh, tích tụ sắtnhôm, đất chua, nghèo dinh dưỡng (Xín Mần, Hoàng Su Phì, Mèo Vạc )
4 Ảnh hưởng của thị trường tới sản phẩm hàng hoá lâm nghiệp
Thị trường thế giới về hàng hoá lâm sản và khả năng trao đổi lâm sản
sẽ tạo cơ hội cho Hà Giang tiếp cận thị trường một số nước lân cận trong khuvực như Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Công để quảng bá và xuất khẩu sảnphẩm lâm nghiệp đặc biệt là thị trường Trung Quốc có nhu cầu lớn về gỗ vàlâm sản ngoài gỗ lại gần các vùng nguyên liệu của Hà Giang đã mở ra cơ hộilớn về xuất khẩu lâm sản của tỉnh
Thị trường lâm sản nội vùng Trung du miền núi Bắc bộ, thị trường cáctỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng luôn luôn rộng mở đối với một số mặt hànglâm sản phục vụ chế biến bột giấy và giấy, đồ gia dụng, sản xuất bao bì
Thị trường lâm sản nội tỉnh rất quan trọng đối với việc đáp ứng nhu cầunguyên liệu chế biến bột giấy, giấy, ván nhân tạo và gỗ gia dụng cho các cơ sởchế biến hiện có
Trong tương lai, cơ chế, chính sách huy động vốn và thu hút đầu tư sẽ là
cơ hội để các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các tổ chức, cá nhân, các thànhphần kinh tế có điều kiện thuận lợi để đầu tư phát triển sản xuất, trong đó có đầu
tư phát triển và chuyển giao công nghệ trên các lĩnh vực trồng rừng, chế biếnlâm sản Cùng với việc đầu tư phát triển rừng, các chủ đầu tư là những đầu mốitiêu thụ sản phẩm cũng như nguyên liệu cho người sản xuất
5 Sự tác động của các chính sách và việc thực hiện các chính sách đến quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
Chính sách đất đai: Công tác quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi mụcđích sử dụng đất, quy hoạch 3 loại rừng trước đây còn bộc lộ nhiều bất cập, đãảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý người dân, dẫn đến các chủ rừng chưa yên tâm vàthiếu tin tưởng trong việc đầu tư trồng rừng
Chính sách đầu tư, tín dụng những năm trước: Vốn đầu tư cho rừng phòng
hộ, đặc dụng từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước suất đầu tư thấp đã ảnh hưởng
Trang 39thời gian cho vay ngắn, lãi suất cao nên người vay vốn để trồng rừng là rất hạnchế, ngoài ra mức độ rủi ro cao nên các tổ chức tín dụng không mặn mà đầu tư Chính sách khoa học công nghệ chậm đổi mới, chưa có các giải phápkhuyến khích các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vàophát triển khoa học công nghệ.
Trang 40IV NHỮNG LỢI THẾ, HẠN CHẾ VÀ THÁCH THỨC
1 Lợi thế
Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh,các cấp, các Ban ngành, sự đồng thuận của nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giangtrong sự nghiệp phát triển rừng của tỉnh
Hà Giang có 6/11 huyện và thành phố thuộc diện đầu tư theo Nghị quyết30a/NQ-CP của Chính phủ là cơ hội thuận lợi cho việc hỗ trợ công tác xây dựngphát triển rừng trong giai đoạn tới
Tiềm năng tự nhiên (địa hình, đất đai, khí hậu) thích hợp với nhiều loạicây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giangrất cần cù lao động và có tập quán, kinh nghiệm sản xuất trên đất dốc, biết sửdụng những tấc đất quý báu trên vùng cao nguyên đá để sản xuất nông lâmnghiệp; góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoámột cách tích cực và bền vững
Tài nguyên rừng phong phú và đa dạng sinh học, có giá trị lớn về nhiều mặt(kinh tế, xã hội, môi trường, bảo tồn nguồn gen )
Hà Giang là một trong những đầu mối giao thông kết nối giữa Việt Namvới nước CHDCND Trung Hoa thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá, phát triểndịch vụ, du lịch giữa hai nước nói chung và giữa tỉnh Vân Nam và Hà Giang nóiriêng Thông qua cửa khẩu Thanh Thuỷ, Hà Giang có thể khai thác thị trườngcủa tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đất rộng, người đông, kinh tế đang trên đà pháttriển để tiêu thụ sản phẩm nói chung và sản phẩm từ ngành lâm nghiệp nói riêng Các Công ty lâm nghiệp của Tổng Công ty giấy Viêt Nam đã trải quanhiều năm kinh doanh, có kinh nghiệm trong việc tổ chức sản xuất lâm nghiệp,
sẽ là lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng nền sản xuất lâm nghiệp hàng hoátheo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Điều kiện phát triển du lịch thuận lợi do có nhiều danh lam, thắng cảnh,các di tích lịch sử cách mạng, hang động kỳ thú, các mỏ suối nước khoáng nóng;
có nền văn hoá đa dạng đặc sắc của 22 dân tộc anh em… có thể kết hợp với cáctỉnh bạn để phát triển du lịch tổng hợp
Nền kinh tế của tỉnh đang từng bước phát triển, nhu cầu lâm sản cho côngnghiệp chế biến, xây dựng, đồ gia dụng ngày càng tăng
2 Những hạn chế và thách thức
Vị trí của tỉnh nằm ở vùng núi cao, biên giới, hệ thống giao thông chưađồng bộ, chất lượng chưa cao, cách xa trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, HảiPhòng và Quảng Ninh… nên giao lưu phát triển kinh tế với bên ngoài còn hạnchế, khả năng thu hút vốn đầu tư còn hạn chế
Địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc lớn đã ảnh hưởng lớn đến khả năngkhai thác đất nông, lâm nghiệp ở quy mô tập trung Suất đầu tư cho phát triển giao