Trong nghiên cứu về thực vật, nghiên cứu về hệ thực vật giúp chúng ta cơ sở lý luận thực tiễn về tài nguyên thực vật của địa phương còn nghiên cứu tính đa dạng và sự phân bố của các đơn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
VŨ Anh Tài
NGHIÊN CỨU ĐA DANG HÊ THƯC VÃT, THẢM THƯC VÂT• • • • 7 • •TỈNH HÀ GIANG NHẰM GÓP PHẦN QUY HOẠCH
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA ĐIA PHƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xỉn cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của
GS TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn Các sổ liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực
và chưa từng được ai công bổ trong bất kỳ công trình nào Các hình và ảnh sử dụng trong công trình là của tác giả.
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CẢM ƠNLuận án được hoàn thành là kết quả của sự nỗ lực học tập của bản thân, cùng với sự giúp đỡ vô cùng to lớn, hiệu quả của Quý thầy cô giáo tại bộ môn Thực vật, Bảo tàng thực vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là GS TSKH N G Ư r Nguyễn Nghĩa Thìn, người hướng dẫn khoa học cho tôi trong quá trình thực hiện luận án Qua đây, xin được gửi tới thầy lời ứi ân và lòng biết ơn sâu sắc nhất Xin trân trọng cám om sự tận tình và chu đáo của Quý thầy cô ở Bộ môn Thực vật và Khoa Sinh học.
Tôi xin trân trọng cám ơn lãnh đạo Phòng Địa lý sinh vật, Ban lãnh đạo Viện Địa lý, Chi ủy Viện Địa lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ này
Xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ của cán bộ Chi cục Kiểm lâm tinh Hà Giang, cán bộ các khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, Du Già, Bắc Mê, Tây Côn Lĩnh, Phong Quang và Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vọc mũi hếch Khau Ca đã hỗ trợ, cung cấp tư liệu trong quá trình thực địa và xây dựng cơ sở dữ liệu của luận án.Xin trân trọng cảm ơn tổ chức Fauna and Flora International trong chương trình bảo tồn Voọc mũi hếch Khau Ca đã tài trợ cho chúng tôi các nghiên cứu thực địa tại Khau Ca, Hà Giang
Xin được cảm ơn các chuyên gia về thực vật, về sinh thái học thực vật, sinh khí hậu, thổ nhưỡng, địa mạo ở Viện Địa lý, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam những người đã luôn chia sẻ, giúp đỡ tôi ừong chuyên môn
Xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp tại Đại học Manitoba, Bảo tàng tự nhiên Ottawa, Canada đã hỗ trợ chúng tôi trong các khảo sát thực địa tại các địa phương thuộc tỉnh Hà Giang trong chương trình Evolutionary hotspot for a hyper- diversity flowering plant clade, dự án do National Geographic Society Research and Exploration tài trợ
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi cả về tinh thần và vật chất để tôi yên tâm hoàn thành luận án
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2015
Trang 5MỞ ĐẦU 5
Chương 1 TỔNG QUAN 8
1.1 Sơ LƯỢC NHỮNG NGHIÊN c ứ u VỀ THựC VẬT TRÊN THỂ GIỚI 8
1.1.1 Nghiên cứu hệ thực vật trên thế giới 8
1.1.2 Nghiên cứu thảm thực vật ừên thế giới 12
1.2 Sơ LƯỢC CÁC NGHIÊN c ứ u THựC VẬT Ở VIỆT N A M 15
1.2.1 Nghiên cứu hệ thực vật ở Việt N am 15
1.2.2 Nghiên cứu thảm thực vật 23
1.3 NHỮNG NGHIÊN c ứ u THựC VẬT Ở HÀ GIANG 27
1.3.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Hà Giang 27
1.3.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Hà G iang 29
1.3.3 Nghiên cứu về giá trị sử dụng và tài nguyên thực vật ở Hà Giang 30
1.3 ĐIỀU KIỆN T ự NHIÊN TỈNH HÀ GIANG 30
1.3.1 Yị trí địa lý 30
1.3.2 Địa chất 31
1.3.3 Địa hình, địa m ạo 32
1.3.4 Thổ nhưỡng 33
1.3.5 Thủy văn 33
1.3.6 Khí hậu 34
1.3.7 Tài nguyên rừng 36
1.4 HOÀN CẢNH XÃ HỘI TỈNH HÀ GIANG 38
1.4.1 Các đơn vị hành chính 38
1.4.2 Dân số, dân tộc, ngôn ngữ 38
1.4.3 Kinh tế-xã hội 39
1.4.4 Y tế, giáo dục và đời sống 43
1.4.5 Lịch sử, văn hóa 44
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIEN CỨU 46
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 46
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN c ứ u 46
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u 46
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 47
2.4.1 Phương pháp hồi cứ u 47
2.4.2 Phương pháp khảo sát thực đ ịa 47
2.4.3 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 48
2.4.4 Phương pháp xây dựng danh lục thực vật 49
2.4.5 Phương pháp đánh giá 49
MỤC LỤC
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ THẢO LUẬN 52
3.1 ĐA DẠNG HỆ THựC VẬT HÀ GIANG 52
3.1.1 Danh lục thực vật tinh Hà Giang 52
3.1.2 Đa dạng phân loại hệ thực vật tinh Hà Giang 52
3.1.3 Đa dạng các yếu tố địa lý thực v ật 57
3.1.4 Phổ dạng sống hệ thực vật Hà Giang 60
3.1.5 Giá trị sử dụng của hệ thực vật Hà Giang 62
3.1.6 Giá trị bảo tồn của hệ thực vật Hà Giang 66
3.2 ĐA DẠNG THẢM THựC VẬT VÀ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ THẢM THựC VẬT TỈNH HÀ GIANG ! 14
3.2.1 Hệ thống các đơn yị thảm thực vật tỉnh Hà Giang 74
3.2.2 Thảm thực vật tự nhiên nhiệt đới trong sinh khí hậu ấm ẩm trên đất địa đới 77 3.2.3 Thảm thực vật tự nhiên nhiệt đới trong sinh khí hậu ấm ướt trên đất địa đới 81 3.2.4 Thảm thực vật tự nhiên nhiệt đới trong sinh khí hậu ấm ẩm trên đá YÔi 85
3.2.5 Thảm thực vật tự nhiên nhiệt đới trong sinh khí hậu ấm ướt trên đá v ô i 89
3.2.6 Thảm thực vật tự nhiên á nhiệt đới trong sinh khí hậu mát ẩm trên đất địa đới 90
3.2.7 Thảm thực vật tự nhiên á nhiệt đới ừong sinh khí hậu mát ướt trên đất địa đới 94
3.2.8 Thảm thực vật tự nhiên á nhiệt đới trong sinh khí hậu mát ẩm trên đá vôi 95
3.2.9 Thảm thực vật tự nhiên á nhiệt đới trong sinh khí hậu lạnh ẩ m 103
3.2.10 Thảm thực vật tự nhiên á ôn đới núi vừa trong sinh khí hậu rất lạnh ẩm 106
3.2.11 Thảm thực vật nhân tạo 109
3.2.12 Thảm thực vật thủy sinh 114
3.2.13 Bản đồ thảm thực vật tỉnh Hà Giang 114
3.3 THẢO LUẬN THAM VẤN CHO CÔNG TÁC QUY HOẠCH, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRÊN cơ SỞ NGHIÊN cứu ĐA DẠNG THựC V Ậ T 119
3.3.1 Kết quả phân tích SWOT đối với công tác quản lý tài nguyên thực vật nhằm phục vụ phát triển bền vững của tinh Hà Giang 119
3.3.2 Tham vấn định hướng quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên thực vật 123
3.3.3 Tham vấn định hướng quản lý và sử dụng thảm thực vật 126
KỂTLUẬN .’ „ 133
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐỂN LUẬN Á N 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
PHẦN PHỤ LỤC 0
Trang 7CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU TRONG LUẬN ÁN
CITES Convention of International Trade of Endangered species (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp)
CR Loài rất nguy cấp (Critical Endangered species)
DD Loài thiếu dẫn liệu (Data deficient)
ĐDSH đa dạng sinh học
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
EN Loài nguy cấp (Endangered species)
EW Loài bị tuyệt chửng ngoài thiên nhiên (Extinction in the wild)
HTV hệ thực vật
IA Loài bị cấm khai thác, buôn bán theo nghị định 32/2006/NĐ-CP
IIA Loài bị hạn chế khai thác, buôn bán theo nghị định 32/2006/NĐ-CP
IUCN Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (International Union for the Conservation of Nature and Nature Resources)
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
KTC Khai thác chọn
KTK Khai thác kiẹt
LC Loài ít quan tâm (Last concern)
LR Loài ít nguy cap (Low Risk species)
M&KTC Manh và khai thác chọn
M&SNR-CT Mạnh và Sau nương rẫy-chăn thả
NĐ Nghị định
NN-PTNT Nông nghiệp& Phát triển Nông thôn
NT Loài gần nguy cap (Near Threatened)
VQG Vườn Quốc gia
VU Loài sẽ nguy cấp (Vulnerable species)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 1 Số liệu sinh khí hậu ghi nhận tại các trạm quan ừắc ở Hà Giang 34
Bảng 1 2 Thống kê các yếu tố khí hậu ở Hà Giang 35
Bảng 1 3 Các chế độ khí hậu ghi nhận tại Hà Giang theo khu vực 36
Bảng 1 4 Thống kê trồng ừọt tinh Hà Giang năm 2011 41
Bảng 3 1 Sự phân bố các taxon ừong các ngành của hệ thực vật Hà Giang 53
Bảng 3 2 Tỉ trọng của hệ thực vật Hà Giang so với hệ thực vật Việt Nam 53
Bảng 3 3 Các chỉ số đa dạng ở các cấp độ của các ngành và cả H TV 54
Bảng 3 4 Tỉ lệ của hai lớp trong ngành Mộc lan 55
Bảng 3 5 Các họ đa dạng nhất của hệ thực vật Hà Giang 55
Bảng 3 6 Các chi đa dạng nhất của hệ thực vật Hà Giang 56
Bảng 3 7 Các yếu tố địa lý thực vật của HTV Hà Giang 57
Bảng 3 8 Phân tích tỉ trọng các yếu tố địa lý thực vật chính hình thành nên hệ thực vật Hà Giang thông qua vùng phân bố địa lý của các loài 59
Bảng 3 9 Phổ dạng sống của hệ thực vật tỉnh Hà Giang 61
Bảng 3.10 Giá trị sử dụng của các loài thực vật ở tỉnh Hà Giang 62
Bảng 3.11 Quan hệ các nhân tố sinh thái và phát sinh TTV ở Hà Giang 75
Bảng 3 12 Diện tích các kiểu, kiểu phụ thảm thực vật theo quan điểm sinh thái phát sinh 117
DANH MỤC CÁC HÌNH Tên hình Trang Hình 3 1 Tỉ trọng các yếu tố địa lý thực vật thể hiện mối thân cận về nguồn gốc hình thành hệ thực vật Hà Giang với các hệ thực vật khác 60
Hình 3 2 Ma trận tương tác giữa các yếu tố trong SW OT 122
Trang 9MỞ ĐẦU
Hà Giang nằm ở cực Bắc của Việt Nam, trên địa hình khá phức tạp, có thể chia làm 3 vùng Vùng cao núi đá phía bắc nằm sát chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều, có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2.419m) và đỉnh Kiều Liêu Ti (2.402m) là cao nhất Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông Chảy, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp Vùng thấp trong tinh gồm vùng đồi núi, thung lũng sông Lô và thành phố Hà Giang Khí hậu mang nhiều sắc thái ôn đới, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô, có nhiều khu rừng nguyên sinh, 356.926 ha rừng tự nhiên là ngôi nhà cho các động vật quý cùng nhiều loại cây gồ, cây dược liệu quý (Cục kiểm lâm, 2014)[199] Ngoài ra, Hà Giang còn có 28 loại khoáng sản khác nhau, nhiều mỏ có trữ lượng lớn với hàm lượng khoáng chất cao (Cổng TTĐT Hà Giang, 2012)[196]
v ề mặt kinh tế-xã hội, tăng trưởng GDP đạt tốc độ cao, giai đoạn 2006-2010 mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng nền kinh tế tinh Hà Giang đã phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng cao hơn trước, thu hẹp dần khoảng cách so với trung bình của cả nước Tuy nhiên với diện tích 7.884,3 km2, mật độ dân số của Hà Giang chỉ
là 95 người/km2, Hà Giang vẫn là một tỉnh nghèo của Việt Nam, hiện đang có nhiều chủ trương, chính sách của Quốc gia và địa phương nhằm thúc đẩy, phát triển kinh
tế xã hội, nâng cao đời sống (Cổng TTĐT Hà Giang, 2012)[196]
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay, cần phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề môi trường, cần xây dựng cơ cấu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội gắn kết với an toàn môi trường, phát triển bền vững Để thực hiện được nhiệm vụ chiến lược đó, vấn đề đặt ra là phải xây dựng được mối quan hệ tổng hòa giữa thiên nhiên và môi trường trên phạm vi toàn khu vực Trên cơ sở là những tiềm lực tự nhiên và xã hội của địa phương, các nhà quản lý, xây dựng chính sách mới có được cái nhìn tổng quan và hoạch định được chính sách đúng đắn, phù họp nhất
Trong nghiên cứu về thực vật, nghiên cứu về hệ thực vật giúp chúng ta cơ sở
lý luận thực tiễn về tài nguyên thực vật của địa phương còn nghiên cứu tính đa dạng
và sự phân bố của các đơn vị cấu trúc thảm thực vật sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn tổng quát trong công tác quy hoạch, định hướng phát triển tài nguyên Đó là cở
Trang 10sở khoa học xác đáng để các nhả quản lý, hoạch định kinh tế, chính sách sẽ tìm ra được những giải pháp quản lý tài nguyên bền vững và hiệu quả nhất, thông qua đó
là giải pháp phát triển kinh tế bền vững
Hà Giang với sự phức tạp, đa dạng về các yếu tố tự nhiên hứa hẹn là một khu vực mang tính đa dạng sinh học cao Thêm vào đó khu vực có nét đặc sắc trong văn hóa và kiến thức bản địa nhưng hiện tại mức độ phát triển kinh tế, xã hội chưa cao, chưa tận dụng hết cơ hội phát ưiển các nguồn tài nguyên tái tạo, bền vững Do vậy, việc phân tích, đánh giá tài nguyên thực vật, thảm thực vật của một khu vực sẽ xác định được bản chất, tính chất và qua đó dự báo được xu hướng biến đổi của chứng trong tương lai gần, làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên ngăn ngừa những nguy cơ, tai biến tự nhiên, góp phần phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, chứng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng hệ thực vật, thảm thực vật tỉnh Hà Giang nhằm góp phần quy hoạch phát triển bền vững của địa phương” Kết quả của luận án có ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:
Góp phần khám phá đa dạng thực vật của địa phương
Bổ sung cơ sở khoa học về tài nguyên đa dạng thực yật của Việt Nam nói chung và Hà Giang nói riêng
Góp phần đánh giá sự phân bố của các quần xã, quần hệ thảm thực vật ở địa phương
Lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoạch định các chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội bền vững cho tinh Hà Giang
Bên cạnh đó, những điểm mới của luận án gồm:
Luận án xây dựng được danh lục các loài thực vật có mạch cho tỉnh Hà Giang gồm 2.890 loài, trong đó 280 loài được thu mẫu và 744 loài được quan sát, bổ sung vùng phân bố là tỉnh Hà Giang cho 331 loài so với Danh lục thực vật Việt Nam (2005)
Bổ sung vùng phân bố Hà Giang cho 88 loài thực vật trong Sách Đỏ Việt Nam (2007)
Đánh giá và mô tả các quần xã thực vật trong sinh khí hậu ấm-ướt và mát-ướt (Kiểu rừng kín thường xanh mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng; Kiểu phụ rừng thứ sinh thường xanh mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng; Kiểu phụ rừng thứ sinh thường xanh
Trang 11mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng hỗn giao tre nứa; Kiểu phụ rừng thứ sinh mưa ướt nhiệt đới tre nứa; Kiểu phụ tàn g cây bụi, trảng cỏ thứ sinh mưa ướt nhiệt đới).Luận án thành lập bản đồ thảm thực vật ưên quan điểm sinh thái phát sinh (tỉ
lệ 1:100.000) có thể ứng dụng thực tiễn trong công tác quản lý, quy hoạch và bảo tồn tài nguyên thực vật, phát triển kinh tế nông lâm nghiệp của địa phương
Trên cơ sở nghiên cứu khoa học là tính đa dạng và các đặc trưng của hệ thực vật, thảm thực vật tại địa phương và sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh
xã hội của tỉnh, đưa ra những đề xuất góp phần phát triển bền vững của Hà Giang
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 S ơ LƯỢC NHỮNG NGHIÊN c ứ u VỀ T H ự C VẬT TRÊN THỂ GIỚI
1.1.1 Nghiên cứu hệ thực vật trên thế giói
l l l l Các nghiên cứu về phân loai và hê thắng hoc thưc vâío Mr • t o I • •
Việc nghiên cứu thực vật học có từ lâu, ngay từ khi con người biết sử dụng cây cỏ trong cuộc sống Tuy nhiên chỉ khi tri thức phát triển thì những nghiên cứu mới được ghi chép, hệ thống hóa, Aristotle là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại sinh giới, ông đã phân chia sinh vật ra thành thực vật và động vật Trong
hệ thống của Linnaeus, chứng trở thành các giới Vegetabilia (sau này là Plantae) và Animalia Việc phân chia các nhóm thực vật thành các lớp, ngành, liên ngành cũng khác nhau và tiến bộ theo thời gian Theophrastus (372-287 trước Công nguyên) là người đầu tiên công bố một công tìn h về phân loại học thực vật với hơn 500 loài trong Historia Plantarum, trong đó đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của các loài cây (History of Plant Systematic, 2014)[200] Thế kỷ 16 Otto Brunfels, Hieronymus Bock và Leonhart Fuch đã giúp cho việc mô tả các loài tăng lên nhanh chóng bằng việc khám phá và ghi chép về những loài mới của họ mặc dù họ tập trung nhiều vào việc mô tả tác dụng làm thuốc của cây cỏ (History of Plant Systematic, 2014)[200] Sau này, Caspar Bauhin và Andrea Cesalpino là những người phát ừiển tiếp, cụ thể, Bauhin đã mô tả được hơn 6000 loài thực vật ghi trong 12 cuốn sách với 72 phần dựa trên các đặc điểm sắp xếp một cách tự nhiên, phố biến của thực vật (History of Plant Systematic, 2014)[200] Thế kỷ 17, John Ray đã lập được danh sách 18.000 loài thực vật đồng thời họ đã phân chia thực vật thành Một lá mầm, Hai lá mầm và một số nhóm khác Joseph Pitton de Toumefort đã xây dựng được hệ thống một cách chủ quan dựa theo sự phân chia một cách lô-dích (History of Plant Systematic,
2014) [200] Hệ thống này được sử dụng cho tới khi có sự ra đời hệ thống Species Plantarum (1753) của Linnaeus, một hệ thống rất khoa học và hoàn chỉnh cho đến
lúc bấy giờ, đơn vị phân loại cao nhất vẫn được dùng cho đến tận ngày nay đó là Chi (Genus) và các đặc điểm của bộ phận sinh sản (đực/cái), bộ phận dinh dưỡng được quan tâm, sử dụng (History of Plant Systematic, 2014)[200] Sau Linnaeus, có một số đóng góp đáng kể của các nhà khoa học bằng việc đưa ra những quan điểm,
Trang 13bằng chứng để làm rõ và hoàn thiện hệ thống như Adanson, Michel (1763) trong
“Familles des plantes” hay de Jussieu, Antoine Laurent (1789) trong “Genera Plantarum, secundum ordines naturales disposita juxta methodum in Horto Regio Parisỉensi exaratam” hoặc de Candolle và cs (1824-1873) trong “The Vegetable Kingdom ” (History of Plant Systematic, 2014) [200].
Đối với ngành, tiến hóa cao nhất là thực vật có hoa, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các hệ thống phân loại được đưa ra để áp dụng và dần hoàn thiện hơn Có thể kể đến các công trình ban đầu như hệ thống của Cronquist với công
trình cuối cùng là “Ẩn integrated system o f classification o f flowering plants” (Cronquist, 1981)[143], của A Takhtajan với xuất bản cuối cùng là “Diversity and classification o f flowering plants” (Takhtajan, 1997)[169], hay Thome với công bố
"The classification and geography o f the flowering plants: dicotyledons o f the class Angiospermae" (Thome, 2000)[172] và gần đây nhất là những công bố của APG về
dựa trên các kết quả nghiên cứu về di truyền học phân tử và phân tích cấu trúc DNA của các nhóm phân loại (APG 1998-2009) [125-127]
Hiện nay, bên cạnh các công trình xuất bản bằng sách, đã có các trang thông tin điện tử xuất bản và cung cấp thông tin một cách chính thức và có độ tin cậy cao như các tạp chí có mã số và các website của các tổ chức uy tín khác The International Plant Index (ipni.org, 2014)[202] và The Plant List (theplantlist.org, 2014) [203] là những website cung cấp tên khoa học cập nhật và chính xác nhất cũng như lịch sử công bố của các loài dựa trên các bộ mẫu chuẩn, các công bố đã được cộng đồng quốc tế và các tạp chí khoa học xác nhận The Plant List cũng kết nối thường xuyên và cập nhật tới website của Vườn thực vật Hoàng gia Kew (kew.org, 2014)[205] hay Website của Vườn thực vật Missouri (mobot.org, 2014)[193] Hệ thống này cung cấp tên khoa học đã được chấp nhận cho các loài thực vật và cho phép liên kết với các đồng danh khác của tất cả các loài đã biết
1.1.1.2 Các nghiên cứu về đa dạng thực vật
Các nước phương Tây đã thực hiện việc nghiên cứu thực vật ở các vùng miền
từ rất sớm Trong các thế kỷ trước, các nhà thực vật học châu Âu đã có những nghiên cứu tiến hành ở các châu lục, vùng miền trên thế giới, đó là cơ sở quan trọng cho các nghiên cứu đã trình bày ở trên và hiện nay đối với các quốc gia thuộc châu
Ầu, châu Mỹ, việc nghiên cứu hệ thực vật ưên toàn lãnh thổ của họ đã được thực
Trang 14hiện Hầu hết các vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại các phòng mẫu khô (herbarium) nổi tiếng thế giới như Kew (Anh quốc), Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga), Đây là một thuận lợi khi xây dựng danh sách loài và đánh giá tính đa dạng thực vật các địa phương.
Đối với các nước khu vực Đông Nam Á, có nhiều công trình của các nhà thực vật người Pháp thực hiện ở Căm-pu-chia, Lào, Việt Nam hoặc các công trình của các nhà thực vật châu Âu khác tiến hành ở Malaysia, Indonesia, Thái Lan Trong những năm gần đây, một số nước được sự hỗ trợ, họp tác, giúp đỡ bởi các nước phương tây nên đã xuất bản được các bộ Thực vật chí khá hoàn chỉnh như Trung Hoa, Thái Lan, Indonesia, Malaysia
Ll.1.3 Các nghiên cứu về địa lỷ thực vật
Địa lý thực yật là một phần của địa lý sinh vật, chuyên sâu về mặt phân bố của các loài thực vật theo các sinh cảnh và không gian Cha đẻ của địa lý thực vật là Alexander von Humboldt, một nhà tự nhiên học người Phổ, ông là tác giả của công
trình “Essay on the Geography o f Plants ” xuất bản năm 1807, tái bản năm 2009 bởi
Chicago Press, là người đặt nền móng cho khoa học địa lý thực yật dựa trên cở sở của việc thu thập các bằng chứng mẫu thực vật Những nghiên cứu về địa lý thực vật được thực hiện nhằm giải thích sự thích ứng của loài với môi trường sinh thái đồng thời cũng phác họa sự phân bố địa lý của loài trong các mối quan hệ với môi trường sống (Alexander von Humboldt & Aimé Bonpland, 2009) [124]
Hiện nay, địa lý thực vật bao gồm hai lĩnh vực nghiên cứu, đó là sinh thái và lịch sử về mặt sinh thái học, đó là sự phân bố của các loài hiện thời trong khi đó,
về mặt lịch sử, nó liên quan đến nguồn gốc phát sinh của các loài Đối với một khu
hệ, việc nghiên cứu địa lý thực vật là tập trung vào lãnh thổ phân bố của các nhóm loài (Mark và cs, 2006)[159]
Ll.1.4 Các nghiên cứu về dạng sống của thực vật
Thuật ngữ dạng sống thực vật được lần đầu tiên đề cập đến trong Plantesamfund (tiếng Đan Mạch, năm 1895) bởi Eugen Warming và được dịch thành tiếng Anh năm 1909 với tựa đề Oecology of Plants: An Introduction to the Study of Plant Communities do Warming và Martin Vahl (1909) biên soạn Ban đầu các tác giả phân loại thực vật dựa vào diện mạo nhưng không đề cập đến chức năng của các diện mạo đó Với sự phản đối mạnh mẽ của A.p de Candolle, ông đã xây
Trang 15dựng được hệ thống phân loại dạng sống thực vật dựa vào chiều cao của chồi hóa
gỗ và tuổi thọ của cây Warming còn xây dựng phổ dạng sống cho giới thực vật, ông phân biệt thực vật dị dưỡng và tự dưỡng đồng thời phân biệt được các dạng nấm, địa y, dây leo và các dạng sống trên đất khác bao gồm một lần ra quả hoặc nhiều lần ra quả (Warming và Martin Vahl, 1909)[177]
Tiếp nối công trình của Warming, Oscar Drude đã phân chia phổ dạng sống thực vật theo diện mạo và chức năng, ví dụ như cây một lá mầm và hai lá mầm trong công trình “Die Systematische und Geographische Anordnung der Phanerogamen" (1887) (wikipedia.org)[195] Hệ thống phân loại dạng sống của Christen Raunkiær (1904) dựa trên dạng sống cơ bản của thực vật đáp ứng lại các điều kiện bất lợi của môi trường sống Sau này, hệ thống của Raunkiær còn được một số tác giả thay đổi đi như G.E Du Rietz (1931) nhưng bản cuối cùng do Raunkiær biên tập năm 1934 được sử dụng phổ biến, rộng rãi cho đến ngày nay (Raunkiær, 1934)[163]
Raunkiær cũng đã tính toán cho hơn 1000 loài cây ở các vừng khác nhau trên thế giới và tìm được tỉ lệ phần trăm bình cách (vai trò ngang nhau) cho từng loài,
gộp lại thành phổ dạng sống tiêu chuẩn SN-Phổ dạng sống điển hình {Natural Spectrum) và công thức phổ dạng sống là SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13
Th Đây là cơ sở để so sánh các phổ dạng sống của các vừng khác nhau trên trái đất Thường ở vùng nhiệt đới ẩm, nhóm cây chồi trên (Ph) chiếm khoảng 80%, nhóm cây chồi sát đất (Ch) khoảng 20%, những nhóm khác hầu như không có Trái lại, ở các vùng khô hạn thì nhóm cây một năm (Th) và nhóm cây chồi ẩn (Cr) lại có tỉ lệ khá cao còn nhóm cây chồi trên (Ph) thi giảm xuống (Raunkiaer, 1934)[163]
Ll.1.5 Các nghiên cứu về giá trì sử dung của hê thưc vât0 o « • o « « *
Những nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật đã có từ lâu đời, song song với những nghiên cứu về tính đa dạng của thực vật như đã trình bày ở trên Trong
đó, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào những loài cây có giá trị làm thuốc Càng
về sau, các giá trị sử dụng khác càng được đề cập đến nhiều hơn Hầu hết mỗi vùng miền, mỗi quốc gia trên thế giới đều có những công trình nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật, bên cạnh đó, cũng có những tập công trình chú trọng riêng về giá
trị sử dụng của thực vật ở quy mô khu vực Trên quy mô thế giới, tập “The book o f useful plants” xuất bản tại New York năm 1913 mô tả về những thực vật hữu dụng
Trang 16và phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới (Julia E.R., 1913)[156] Ở quy mô khu vực có
tập “Edible and Useful Wild Plants o f the United States and Canada” xuất bản năm
1920 mô tả về các loài thực vật có giá trị sử dụng ở Hoa Kỳ và Canada bao gồm làm xà phòng, làm thuốc, thuốc lá, chất dính, sáp nến và chất độc (Charles F.s.,1934)[140] Tại Đông Nam Á, tập Tài nguyên thực vật Đông Nam Á-PROSEA
{Plants Resources o f South East Asia) có thể nói là bộ sách ghi chép, mô tả đầy đủ
nhất về các giá trị sử dụng của thực vật quy mô khu vực với 20 tập (tính đến thời điểm 2005), trong đó giá trị sử dụng của thực vật được phân theo nhóm gồm làm thuốc PROSEA 12(1,2,3); cung cấp gỗ: PROSEA 5(1,2,3); ăn được: PROSEA 1, 2,
8, 9, 10, 13, 14; làm cảnh: PROSEA 20; Thực vật có chất kích thích: PROSEA 16,
có chất chiết: PROSEA 18, có tinh dầu: PROSEA 19; cung cấp sợi: PROSEA 17, tre nứa: PROSEA 7, mây: PROSEA 6; có chất nhuộm, tannin: PROSEA 3; chăn nuôi gia súc: PROSEA 4 (proseanet.org, 2014)[201] Bên cạnh các công trình công
bố bằng sách, tạp chí, hiện nay có nhiều công bố trên các website điện tử cũng có giá trị tương đương như sách và tạp chí
1.1.1.6 Cấc nghiên cứu về giá trị bảo tồn của hệ thực vật
Bên cạnh giá trị sử dụng, các giá trị bảo tồn của thực vật cũng được thế giới quan tâm Theo đó, Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang
dã nguy cấp (1973) chính thức ra đời năm 1975 (cites.org) [197] đã hạn chế được việc khai thác và xuất khẩu ồ ạt các loài quý hiếm ra nước ngoài, đảm bảo các loài phải được tồn tại trong môi trường sống bản địa hoặc thích nghi lâu đời của chúng Hiện nay, IUCN Red list of Threatened Species được coi là công bố chuẩn và chung trên toàn thế giới về tình trạng bảo tồn của các loài (iucnredlist.org, 2014)[203]
1.1.2 Nghiên cứu thảm thực vật trên thế giới
Ll.2.1 Các nghiên cứu phân loại thảm thực vật trên thế giới
Theo Schmitthusen (1959), ở châu Âu có 2 hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu, đó là hệ thống phân loại các quần xã thực vật của Braun-Blanquet (1928), được thực hiện chủ yếu bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại các quần thể thực vật được thực hiện bởi những nhà địa thực vật của Đức (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[112]
Ở Phần Lan, Caiande A.K chủ trương phân loại rừng dựa vào thực vật thảm tươi Ông cho rằng, trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ
Trang 17thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành loài cây
gỗ của lâm phần Theo đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính đồng nhất sinh học của môi trường, kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vật rừng Tuy thế, điều này đã không hoàn toàn đúng vì thực tế thảm tươi có khả năng chỉ thị nhưng không có khả năng chỉ thị cho tất cả các điều kiện lập địa Ngoài ra các yếu
tố bên ngoài như lửa rừng, khai thác cũng ảnh hưởng lên thảm tươi (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[112]
Ở Hoa Kỳ, phân loại rừng chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax) của Colleman Phân loại theo Climax tạo cho quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành
từ lâu Khí hậu là nhân tố để xác định Climax Ngoài khái niệm Climax, các nhà lâm học Hoa Kỳ còn đưa ra khái niệm tiền đỉnh cực (á đỉnh cực), đơn đỉnh cực, đa đỉnh cực (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[112]
Ở vùng nhiệt đới, có lẽ Schimper (1903) là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt Trong hệ thống này, Schimper đã phân chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi Trong quần hệ khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: Rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai, ngoài ra còn có thêm 2 kiểu là thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt đới (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978) [112] Sau Schimper là các hệ thống của Rubel (1935), Aubréville (1956), trong đó đáng chú ý nhất là hệ thống của Aubréville Trong hệ thống này, ông đã căn cứ vào độ tán che trên mặt đất của tầng
ưu thế sinh thái để phân biệt các kiểu quần thể thưa thành: Rừng thưa và trảng truông (Thái Văn Trừng, 1978)[112]
Champion (1936) đã phân biệt 4 đai thảm thực vật lớn theo nhiệt độ: Nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao Bear (1944) đưa ra hệ thống 3 cấp đó là: Quần họp, quần hệ và loạt quần hệ Fosberg (1958) đề xuất hệ thống phân loại chung cho thảm thực vật rừng nhiệt đới dựa trên hình thái ngoại mạo cấu trúc quần thể là: Lớp quần hệ, quần hệ và quần hệ phụ (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[112]
Theo Schmithusen (1959), thảm thực vật trái đất được phân thành 9 lớp quần
hệ là: Lớp quần hệ rừng, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ sa-van và đồng cỏ, lớp quần hệ đồng cỏ, lóp quần hệ cây bụi nhỏ và nửa cây bụi, lớp quần hệ thực vật sống
Trang 18một năm, lớp quần hệ hoang mạc, lóp quần hệ thực vật hồ nước nội địa và lớp quần
hệ thực vật biển (Thái Văn Trừng, 1978) [112]
Gần đây các nhà sinh thái và địa thực vật Đức đã phân chia thảm thực vật ở cạn thành 16 kiểu quần hệ: Rừng mưa nhiệt đới, rừng mưa á nhiệt đới, rừng mưa lạnh ôn đới, rừng xanh mưa mùa, rừng lá rộng xanh mùa hè, rừng lá kim rộng ôn đới, kiểu quần hệ cây gỗ có gai, kiểu cây gỗ có lá rộng, kiểu thảo nguyên rừng, kiểu trảng cỏ nhiệt đới, kiểu thảo nguyên ôn đới, kiểu đầm lầy, kiểu hoang mạc nóng và kiểu hoang mạc khô lạnh (Thái Văn Trừng, 1978) [112]
UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc Khung này là cơ bản để thống nhất các đơn vị thảm thực vật ừên quy mô toàn cầu và được thể hiện trên bản đồ 1:1.000.000 và nhỏ hơn (phần lớn được trình bày và biên tập cho bản đồ tỉ lệ 1:5.000.000) Trong khung phân loại này, các mối quan hệ sinh thái và sinh thái-xã hội học không được thể hiện (UNESCO, 1973)[175]
Ll.2.2 Các nghiên cứu về vai trò của thảm thực vật
Thảm thực vật có vai trò hết sức quan trọng trong sự sống còn của trái đất
Trong “Natural Conservation: the role o f remnants o f native vegetatỉon” (Denis s., 1993)[146], vai ừò của các thảm thực vật bản địa là rất quan trọng trong việc duy trì trạng thái cân bằng khí quyển có lợi cho sức khỏe con người, điều hòa không khí, cân bằng C 0 2/0 2, điều hòa nhiệt độ khí quyển, ngăn chặn và hạn chế tác hại của bão lũ, thiên tai Thảm thực vật còn có vai trò rất quan trọng trong điều phối cân bằng nước, hạn chế tối đa tác hại của nước mưa đến xói mòn, rửa trôi, vừa giúp duy trì lượng nước tưới tiêu, sinh hoạt, vừa hạn chế tối đa tác nguyên nhân phát sinh lũ lụt, hạn hán (Nathan, 1990)[161]
Gần đây, có nhiều nghiên cứu về tích tụ carbon ở các khu rừng, các quần xã thực vật Mỗi một quần xã thực vật, đơn vị thảm thực vật khác nhau có vai trò và khả năng tích trữ carbon khác nhau Đây là những dẫn liệu giúp chúng ta định lượng hóa được vai trò của thảm thực vật trong việc duy trì cân bằng sinh thái từ quy mô địa phương, khu vực đến quy mô toàn cầu
Trang 191.2 Sơ LƯỢC CÁC NGHIÊN c ứ u T H ự C VẬT Ở VIỆT NAM
1.1.2.1 Đa dang hê thưc vâtĩ o I « •
Ở Việt Nam, ngoài các công trình mang tính chất cơ bản và cổ điển nhằm thống kê các loài thực vật như các công trình của các nhà thực vật người Pháp (Loureiro, 1793)[184], (Pierre, 1880)[185], (Lecomte và cs, 1907-1952)[183] Đây
là những công trình được đánh giá là nền tảng cơ sở cho các nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam Bên cạnh đó còn có các bộ sách khác như: “Flore du Cambodge, du Laos
et du Vietnam” do các tác giả thuộc Hội thực vật nhiệt đới biên soạn (Association
de Botanique Tropicale, 1960-2004)[181], đã công bố 32 tập, sau đó bộ sách này được bổ sung thêm 3 tập do Royal Botanic Gardens Endinburg ấn hành gồm tập 35: Solanaceae (Sovanmoly Hul & Pauline Dy Phon, 2014)[187] và 2 tập bằng tiếng Anh: 33: Apocynaceae (David J Middleton, 2014)[144] và tập 34-Polygalaceae (Colin A Pendry, 2014)[142], các tập là những mô tả của các họ, nhóm họ có quan
hệ gần gũi; bộ Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam gồm 6 tập (Lê Khả Kế và cs, 1969- 1976)[49], bộ Cây gỗ rừng Việt Nam gồm 7 tập (Viện điều tra quy hoạch rừng,
1971-1988)[120] Trong các tác phẩm này, các tác giả đã giới thiệu và mô tả khá chi tiết các loài cùng với hình vẽ minh hoạ
Trong số các tài liệu về thực vật học được sử dụng phổ biến tại Việt Nam,
đáng chú ý nhất là Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ xuất bản tại Montréan
(1991-1993) và được tái bản, có bổ sung bởi Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh (Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000)[43] Đây là bộ sách được đánh giá là đầy đủ nhất, dễ
sử dụng nhất và góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê có mô tả và kèm theo hình vẽ của homII.600 loài thực yật Việt Nam
Thập niên 90 của thế kỷ trước, các nhả thực vật Việt Nam và Liên bang Nga
đã họp tác nghiên cứu và hệ thống lại hệ thực vật Việt Nam Các công trình khoa
học này được đăng trong “Kỷ yểu cây có mạch của thực vật Việt Nam” tập 1-2 (1996) và Tạp chỉ Sinh học số 16+17 (chuyên đề) 1994 và 1995 (ghi theo Nguyễn
Nghĩa Thìn, 2004c)[92]
Gần đây, tập thể các Nhà thực vật học của Việt Nam đã cùng nhau biên soạn
cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam gồm 3 tập (Trung tâm Nghiên cứu Tài
Trang 20nguyên và Môi trường, 2001)[111], (Nguyễn Tiến Bân (chủ biên), 2003-2005)[4] Tuy không có phần mô tả và hình vẽ nhưng đây thực sự là một công trình có giá trị khoa học cao thể hiện tính đa dạng, phong phú của hệ thực vật Việt Nam với 11.603 loài.
Việc ghi nhận sự đa dạng về thành phần loài cho hệ thực vật Việt Nam: Pócs T khi nghiên cứu về hệ thực vật ở Miền Bắc Việt Nam đã thống kê được ở miền Bắc có 5.196 loài (Pócs T., 1965)[189]; Phan Kế Lộc và cộng sự đã thống kê lại và có bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ xếp theo hệ thống của Engler (Phan Ke Lộc, 1970)[58]; Thái Văn Trừng đã phân tích và cho rằng hệ thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi, 289 họ trong đó, ngành thực vật hạt kín chiếm ưu thế với 6.366 loài, 1.727 chi và 239 họ (Thái Văn Trừng, 1978)[112] Năm
1997, Nguyễn Nghĩa Thìn đã tổng hợp, chinh lý tên các loài thực vật theo hệ thống Brummitt (1992) và đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chi,
395 họ thực vật bậc cao (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997)[88]; tiếp theo, năm 1998, Phan
Kế Lộc đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài cây trồng và nâng tổng số loài của Việt Nam lên 10.361 loài, 2.256 chi, 305 họ (Phan Ke Lộc, 1998)[61] Năm 1999, hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 10.192 loài của 2.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật (Lê Trần Chấn và cs,1999) [20]
Bên cạnh đó, hệ thực vật Việt Nam còn được ghi nhận theo khía cạnh giá trị
sử dụng bằng những công trình như: 1900 loài cây có ích ở Việt Nam (Trần Đình Lý
và cộng sự, 1993)[67], Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997)[23], Cây cỏ
có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999-2002)[24], Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 1995)[66] và các tài liệu do cán bộ của Viện dược liệu biên soạn như Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Đỗ Huy Bích và
cs, 2004)[4]„ Đây thực sự là những công trình nghiên cứu có ý nghĩa về hệ thực vật Việt Nam và quan tâm đến giá trị kinh tế của chúng mà đặc biệt là tác dụng làm thuốc
về việc xây dựng thực vật chí, từng họ đã lần lượt được công bố như họ Lan- Orchidaceae Việt Nam (Averyanov, 1994)[128], họ Na-Annonaceae (Nguyễn Tiến Bân, 2000)[3], họ Bạc hà-Lamiaceae (Vũ Xuân Phương, 2000)[77], họ Đơn nem- Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002)[56], họ Cói-Cyperaceae (Nguyễn Khắc
Trang 21Khôi, 2002)[51], họ Đơn nem Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002)[56], Họ Trúc đào-Apocynaceae (Trần Đình Lý, 2007)[68], Họ c ỏ roi ngựa-Verbenaceae (Vũ Xuân Phương, 2007)[78], Họ Cúc-Asteraceae (Lê Kim Biên, 2007)[7], Bộ Hoa loa kèn-Liliales (Nguyễn Thị Đỏ, 2008)[36], Họ Lan-Orchidaceae, Chi Hoàng thảo-
Dendrobỉum (Dương Đức Huyến, 2007) [47] hay họ Thầu dầu-Euphorbiaceae
(Nguyen Nghia Thin, 2006)[171], Tuy chỉ đề cập đến một họ nhất định nhưng đây
là các công trình nghiên cứu chuyên sâu, trình bày đầy đủ các thông tin cần thiết về các loài ữong họ Là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại của các họ thực vật Việt Nam
Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thực vật bậc cao có mạch (đa dạng và phân loại) ở các vùng khác nhau của Việt Nam, có thể kể đến như: hệ thực vật ở Cúc Phương đã xác định có 1.817 loài, 838 chi,
188 họ (Phùng Ngọc Lan và cs, 1996)[53], hệ thực vật ở Pù Mát có 202 họ, 931 chi và 2.494 loài (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn, 2004)[97], hệ thực vật Ben
En có 1.389 loài của 65 chi, 173 họ (Hoang Van Sam và cs, 2008)[151] Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu cụ thể ở các địa phương khác, như hệ thực yật Hoàng Liên Sơn (Trần Đình Lý và cs, 1996)[68]; hệ thực vật núi cao Sa Pa-Phan Si Phăng (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời, 1998)[103]; hệ thực vật Kon Ka Kinh (Trần Quang Ngọc, 1999)[71]; hệ thực vật ven biển Nam Trung Bộ (Nguyễn Nghĩa Thìn và Vũ Văn cần, 1999)[95]; hệ thực yật Bạch Mã (Thừa Thiên-Huế) (Nguyễn Nghĩa Thìn và cs, 2003)[97]; hệ thực vật Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Văn Thái, 2003)[100]; hệ thực vật Chư Mom Ray (Kon Tum) (Hồ Mạnh Tường và cs, 2006)[118]; hệ thực vật Xuân Sơn (Phú Thọ) (Trần Minh Hợi và Vũ Xuân Phương, 2008)[45]; hệ thực vật Hoàng Liên (Lào Cai) (Nguyễn Nghĩa Thìn và cs, 2008)[95];„ các nghiên cứu này tập trung xây dựng danh sách các loài thực vật cho một khu phân bố cụ thể là các khu rừng đặc dụng, đơn vị hành chính cụ thể được tiến hành khá rộng rãi, phổ biến ở hầu hết các nơi còn rừng tự nhiên trên cả nước
Ll.2.2 Đa dang các yếu tố đia lỷ thưc vât• o I « t
về các yếu tố địa lý thực vật, Gagnepain là người đầu tiên nghiên cứu, phân tích và đánh giá các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam, theo tác giả hệ thực vật Đông Dương bao gồm năm yếu tố được trình bày trong hai công trình là:
Trang 22Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương (1926) và Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương (1944): yếu tố Trung Quốc chiếm 33,8% tổng số loài của hệ thực vật;
yếu tố Xích Kim-Himalaya chiếm 18,5%; yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác chiếm 15,0%; yếu tố đặc hữu chiếm 11,9%; yếu tố nhập nội và phân bố rộng chiếm 20,8% (Thái Văn Trừng, 1978)[112]
Pócs Támas đã phân tích và sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt Nam thành nhóm các yếu tố trên cơ sở khu phân bố hiện tại mà không phân tích đến nguồn gốc phát sinh của chúng Theo ông, hệ thực vật Bắc Việt Nam bao gồm: yếu tố bản địa
đặc hữu 39,90 %, trong đó: của Việt Nam-32,55 % và của Đông Dương-7,35 %; yếu tố di cư từ các vùng nhiệt đới: 55,27 %, trong đó, từ Trung Quốc-12,89 %; từ
Ấn Độ và Himalaya-9,33 %; từ Malaysia và Indonesia-25,69 %; từ các vùng nhiệt đới khác-7,36 %; yếu tố khác 4,83 % (gồm nhập nội, trồng trọt-3,08 %); nhóm ôn
đới 3,27 %; nhóm toàn thế giới 1,56 % (Pócs T., 1965)[189]
Thái Văn Trừng (1978) đã căn cứ vào bảng thống kê các loài của hệ thực vật Bắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3 % số chi và 27,5% số loài đặc hữu Tuy nhiên, sau đó căn cứ vào khu phân bố hiện tại cũng như nguồn gốc phát sinh của các loài Tác giả đã gộp các nhân tố từ Nam Trung Quốc vào nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam nâng tỉ lệ các loài đặc hữu bản địa lên 50%, còn yếu tố di cư chiếm tỉ
lệ 39%, các nhân tố khác chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ố ôn đới và 1% toàn thế
giới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08% (Thái Văn Trừng, 1978)[112]
Lê Trần Chấn cũng đã khái quát vùng phân bố cho các yếu tố địa lý của hệ thực vật Việt Nam với 20 yếu tố, trong đó riêng đặc hữu được các tác giả xếp thảnh
4 yếu tố (đặc hữu Bắc Bộ, đặc hữu Trung Bộ, đặc hữu Nam Bộ và đặc hữu Việt Nam Các tác giả cũng phân tách nhóm loài phân bố ở Việt Nam, Hải Nam, Đài Loan và Phillipine thành một yếu tố ừong khi toàn châu Á cũng là một yếu tố (Lê Trần Chấn và cs, 1999a)[20]
Như vậy, có sự không thống nhất giữa các tác giả về phân chia các yếu tố cụ thể Quan điểm phân chia các yếu tố, đặt tên các yếu tố không rõ ràng, chưa thống nhất Trên sự phân chia của các tác giả Pócs Tamás (1965), Ngô Chinh Dật (1993) đối với HTV Việt Nam, Đông Dương và Nam Trung Hoa, Nguyễn Nghĩa Thìn đã
đề xuất các yếu tố địa lý của HTV Việt Nam như sau (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004a)[89]:
Trang 23Yếu tố thế giới: gồm các taxon phân bố khắp nơi trên thế giới
Liên nhiệt đới: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu ú c, châu Phi và châu Mỹ Một số có thể mở rộng tới vùng ôn đới
Nhiệt đới châu Á, châu ú c và châu Mỹ
Nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ
Nhiệt đới châu Á và Mỹ: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á đến vùng nhiệt đới châu Mỹ, một số có thể mở rộng tới Đông Bắc châu ú c và các đảo Tây Nam Thái Bình Dương
Cổ nhiệt đới: gồm các taxon phân bố ở vừng nhiệt đới châu Á, châu ú c, châu Phi và các đảo lân cận
Nhiệt đới châu Á và châu úc: gồm các taxon phân bố mà ở vùng nhiệt đới châu Á tới châu ú c và các đảo lân cận Nó nằm cánh đông của c ổ nhiệt đới và mở rộng đến các đảo Ấn Độ nhưng không bao giờ tới lục địa châu Phi
Nhiệt đới châu Á và châu Phi: gồm các taxon ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và các đảo lân cận Đây là cánh Tây của vừng c ổ nhiệt đới và có thể mở rộng tới Fiji và các đảo nam Thái Bình Dương nhưng không tới châu úc
Nhiệt đới châu Á (Indo-Malesia): gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ Ấn Độ, Sri Lanka, Myanma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam và Nam Trung Hoa (Lục địa châu Á), Indonesia, Malaysia, Philippines đến New Guinea và mở rộng tới Fiji và các đảo Nam Thái Bình Dương (vùng Malesia) nhưng không tới châu úc
Đông Dương-Malesia: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ lục địa Đông Nam Á (Myanma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam-Nam Trung Hoa), đến Malaysia, Indonesia, Philippines, New Guinea và mở rộng tới Fiji và các đảo nam Thái Bình Dương nhưng không tới châu ú c ở phía Nam hay Ấn Độ ở phía Tây
Đông Dương-Ấn Độ hay Lục địa châu Á nhiệt đới: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ ấn Độ, Sri Lanka, Myanma, Thái Lan, Đông Dương và Nam Trung Hoa không tới vùng Malesia
Đông Dương-Himalaya hay Lục địa Đông Nam Á (trừ Malesia, Ấn Độ): gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ chân Himalaya, Myanma, Thái Lan,
Trang 24Đông Dương và Tây Nam Trung Hoa, một số có thể mở rộng đến bán đảo Mã Lai ở phía Nam Đây là nhóm thực vật phân bố chủ yếu trên núi cao.
Đông Dương-Nam Trung Hoa: gồm các taxon phân bố ở Đông Dương và Nam Trung Hoa đặc biệt xung quanh biên giới Trung Hoa (chỉ có ở Nam Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Đài Loan, Hải Nam) và Đông Dương
Đông Dương: Các taxon phân bố giới hạn trong phạm vi 3 nước Đông Dương
và đôi khi có thể gặp ở Thái Lan
Ôn đới Bắc: gồm các taxon phân bố trong vùng ôn đới châu Á, châu Âu, châu
Mỹ và có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới, tới vùng ôn đới Nam bán cầu
Đông Á-Bắc Mỹ: gồm các taxon phân bố trong vùng ôn đới châu Á và Bắc
Mỹ có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới
Ôn đới cổ thế giới: gồm các taxon phân bố ở ôn đới châu Âu, châu Á và có thể
mở rộng tới mà ở vùng núi nhiệt đới châu Phi và châu úc
Vùng ôn đới Địa Trung Hải-châu Âu-châu Á: gồm các taxon phân bố trong vùng ôn đới quanh Địa Trung Hải, châu Âu và châu Á
Đông Á: gồm các taxon phân bố trong vừng ôn đới từ Himalaya đến Đông Trung Hoa tới Triều Tiên, Nhật Bản, có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới
Đặc hữu Việt Nam: gồm các taxon phân bố trong giới hạn của Việt Nam.Gần đặc hữu: gồm các taxon phân bố chủ yếu trong giới hạn của Việt Nam và
có thể tìm thấy ở một vài điểm của các nước lân cận dọc theo biên giới
Đặc hữu hẹp: loài chỉ mới phát hiện ở phạm vi hẹp Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng phạm vi đặc hữu hẹp là tỉnh Hà Giang và các vùng phụ cận trong ranh giới Đông Bắc Việt Nam
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây có một số công trình khi nghiên cứu
đa dạng HTV của một khu vực cụ thể, cũng đã nghiên cứu yếu tố địa lý của khu hệ
đó như: hệ thực vật ở Cúc Phương đã xác định 16 yếu tố địa lý thực, trong đó: yếu
tố Đông Dương cao nhất chiếm 19,75%, tiếp đến là yếu tố Nam Himalaya 13,68%, yếu tố châu á nhiệt đới 11,88%, yếu tố đặc hữu chiếm 17,49% (Phùng Ngọc Lan và
cs, 1996)[53]; hệ thực vật VQG Pù Mát có nhóm các yếu tố nhiệt đới chiếm tỉ lệ cao nhất là 58,30% trong khi yếu tố ôn đới chiếm 4,49%, yếu tố đặc hữu chiếm 16,60% (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn, 2004)[97]
Trang 25Theo quan điểm cá nhân, giới hạn và hệ thống hóa các yếu tố địa lý thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004a)[89] như ừên là hợp lý, theo đó, Châu Á vốn có nằm trên 2 miền địa lý sinh vật thì không thể là một yếu tố như quan điểm của Lê Trần Chấn (1999) và việc tồn tại ở hai miền địa lý như vậy chắc chắn phải thuộc nhóm liên nhiệt đới hoặc cổ nhiệt đới, hoặc phân bố rộng.
1.1.23 Nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật
Các công trình nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam nói chung và các khu hệ thực vật của các địa phương nói riêng áp dụng theo hệ thống phân chia dạng sống thực vật của Raunkiær (1934)[163] (xem Phụ lục 4) Đối với HTV Bắc Việt Nam, Pócs T đã phân tích một số thành phần phổ dạng sống của hệ thực vật và đưa ra phổ dạng sống chuẩn (Spectrum of Biology-Ký hiệu SB) như sau: SB = 52,21 Ph + 40,68 (Ch, Hm, Cr) + 7,11 Th (Pócs т., 1965)[189]
Áp dụng hệ thống phân chia này, chi tiết hơn trong nghiên cứu của mình, Thái Văn Trừng còn áp dụng các ký hiệu khác cho chồi và lá theo các trạng mùa, ký hiệu
về hình dạng tán, chất liệu dây leo (Thái Văn Trừng, 1978)[112] Một số phổ dạng sống của hệ thực yật Việt Nam và một số khu vực khác đã được xây dựng, như VQG Cúc Phương với 57,78% nhóm Ph (Phùng Ngọc Lan và cs, 1997)[53], số loài
Ph của Việt Nam là 54,68% (Lê Trần Chấn và cs, 1999a)[20], hệ thực vật VQG Pù Mát có 78,88% thuộc nhóm Ph (Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn, 2004)[97], VQG Bến En (Hoang Van Sam và cs, 2008)[151] có 75,88% cây thuộc nhóm Ph, các phổ dạng sống này đều cho thấy tính chất nhiệt đới khá điển hình với tỉ lệ cao của nhóm Ph
1.1.2.4 Nghiên cứu giá trì sử dung của hê thưc vât о о • t о • • •
Nghiên cứu giá trị sử dụng của thực vật ở Việt Nam được đặt nền móng từ những khảo sát, thu thập mẫu vật trên khắp mọi miền cả nước của các nhà khoa học người Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX Theo đó, mẫu vật được lưu trữ ở các bảo tàng thực vật của Việt Nam và các nước trên thế giới, chủ yếu ở Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris Trong đó, các tác giả đã ghi nhận những giá trị sử dụng của thực vật như: Thực vật Nam Bộ (Loureiro, 1793)[184], Thực vật rừng Nam Bộ (Pierre, 1880)[185], Thực vật chí Đông Dương (Lecomte, 1907-1952)[183], Cây cỏ thường thấy (Lê Khả Kế và cs, 6 tập, 1969-1976) [49], Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra quy hoạch rừng, 1971-1988)[120], 1900 loài cây có ích ở Việt Nam (Trần
Trang 26Đình Lý, 1993)[67], Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 1995)[66],
Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997)[23], Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000)[43], Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 1999-2002)[24], Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần Hợp, 2002)[46], Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam (Đỗ Huy Bích và cs, 2004)[4], Trong các công trình này, Võ Văn Chi (1997) [46] đã mô tả, giới thiệu 3107 loài; Trần Hợp (2002)[46], đã giới thiệu 433 loài cây gỗ có giá trị sử dụng; Đỗ Huy Bích và cs (2004)[4] cho biết ở Việt Nam có 3.948 loài thực vật bậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dùng làm thuốc, trong đó nhóm thực vật bậc cao có mạch có 3.870 loài.Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu ở các khu hệ thực vật địa phương khác nhau đều căn cứ trên các tài liệu khác nhau để đánh giá giá trị tài nguyên thực yật Trong đó, thường sử dụng các nhóm như: cây cho gỗ, cây lấy thuốc, cây ăn được (làm thức ăn, lương thực, nuôi gia súc, ), cây làm cảnh, cây cho dầu béo, cây cho sợi, tinh dầu, tannin, cây có độc, Đây là một trong những kết quả nghiên cứu được các nhà nghiên cứu quan tâm khi nhiên cứu hệ thực yật
Ll.2.5 Nghiên cứu giá trị bảo tồn của hệ thực vật
Ở Việt Nam, với việc Sách Đỏ Việt Nam ra đời năm 1996 thì các nghiên cứu
về đa dạng thực yật cũng bắt đầu quan tâm đến giá trị bảo tồn của các loài cây cỏ từ thời gian này trở đi Có ít báo cáo hoặc các công trình độc lập về giá trị bảo tồn của
hệ thực vật mà chúng thường được lồng ghép trong các báo cáo đa dạng chung của
hệ thực vật ở các Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn hoặc địa phương cụ thể như đã trình bày ở trên Năm 2007, Sách Đỏ Việt Nam phần thực vật xuất bản lần thứ 2 đã bổ sung, hệ thống hóa các thứ hạng phân loại đồng nhất với thế giới (IUCN) Hiện nay, Việt Nam có 448 loài thực vật được ghi nhận theo Sách Đỏ này, trong đó, thực vật bậc cao có mạch có 429 loài (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007) [10]
Năm 2008 trở thành năm đặc biệt đối với công tác đánh giá và bảo tồn đa dạng sinh học khi Luật Đa dạng sinh học ra đời (Quốc hội, 2008)[79] Trong đó đề cập đến các khái niệm về đa dạng sinh học mà chưa có một công bố chính thức nào trước đó đề cập đến Đây cũng là kết quả nghiên cứu, tham vấn giữa các nhà khoa
Trang 27học, chuyên gia bảo tồn và các nhà quản lý địa phương, quản lý nhà nước để Quốc hội có cơ sở ban hành luật này.
Sau khi trở thành thành viên của CITES, Việt Nam đã có văn phòng CITES trực thuộc Tổng cục lâm nghiệp, Cục kiểm lâm Các tài liệu công bố của CITES được ban hành nhằm giới thiệu về CITES và danh mục các loài thuộc CITES Theo Thông tư số 59/2010/TT-BNNPTNT năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc quản lý của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp Theo
đó, Việt Nam hiện có 104 loài và nhóm loài (các loài thuộc một chi) thuộc phụ lục
I, 81 loài và nhóm loài thuộc phụ lục II và 9 loài thuộc phụ lục III Đây là căn cứ để các tác giả khi đánh giá về tính đa dạng sinh học của một khu hệ thực vật Tuy nhiên, không có nhiều các công trình đánh giá đầy đủ, toàn diện và cập nhật về giá trị bảo tồn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010)[13]
Năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Kèm theo đó là danh mục các loài, các giống, các thứ động thực vật được ưu tiên bảo vệ, các biểu mẫu để các nhà khoa học, nhà quản lý đề xuất loại trừ hoặc bổ sung các loài, các giống / thứ / dưới loài vào danh mục này (Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2013b)[30]
1.2.2 Nghiên cứu thảm thực vật
Các công trình nghiên cứu về TTV ở Việt Nam nói riêng và các nước trên bán đảo Đông Dương nói chung ban đầu được thực hiện bởi các tác giả người nước ngoài Chevalier (1918) là người đầu tiên phân loại thảm thực vật Bắc Bộ thành 10 kiểu, Maurand (1943-1953) đã chia Đông Dương thành 3 vùng với 8 kiểu quần thể trong các vùng và lập bảng phân loại mới về các quần thể thực vật; Dương Hàm Nghi (1958) đã tổng kết các nghiên cứu của Rollet, Lý Văn Hội và Neang sam Oil
và lập bảng xếp loại rừng miền Bắc; Loschau (1960) đưa ra một khung phân loại rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh, bảng phân loại này đã phân thành 4 trạng thái như: rừng loại I: gồm những đất đai hoang trọc, trảng cỏ và cây bụi; rừng loại II: gồm những rừng non mới mọc; rừng loại III: gồm tất cả các rừng đã bị khai thác ứở nên nghèo kiệt, tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ; rừng loại IV: rừng nguyên sinh chưa bị khai phá Hệ thống của Loschau (1960) đã được áp dụng khá rộng rãi ở
Trang 28nước ta trong việc điều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo khối trạng thái Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã áp dụng hệ thống này vào việc phân loại trạng thái rừng phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng Mặc dù hiện nay, ngành lâm nghiệp đang sử dụng cách phân loại này rất phổ biến tuy nhiên vẫn có hạn chế bởi chỉ tập trung vào đối tượng chính là rừng (độ che phủ và trữ lượng gỗ) sau (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[112].
Trần Ngũ Phương đã xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc, trong đó chú ý đến nghiên cứu qui luật diễn thế thứ sinh, diễn biến độ phì, tính chất lý hoá và dinh dưỡng đất qua các giai đoạn phát triển của rừng Bảng phân loại gồm: Đai rừng nhiệt đới mưa mùa gồm các kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn, bao gồm các kiểu phụ thổ nhưỡng rừng mặn, Đước, Vẹt và các kiểu phụ thứ sinh; kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh; kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thung lững; kiểu phụ rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa gồm kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh; kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi và đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao (Trần Ngũ Phương, (1970)[73]
Trong công trình “Végestation du Vietnam Le massif Sud-Annamitique et Les Région Limitrophes”, Schmid đã dựa trên các nhân tố sinh thái và tiến hành mô tả các đơn vị TTV Việt Nam theo các sinh khí hậu khác nhau gồm: Sinh khí hậu nửa khô nóng với các TTV ven biển, TTV trên cát đỏ độ cao trên 100m ở các bậc thềm khác, TTV trên đồng bằng phù sa, TTV trên đồi núi ven biển; sinh khí hậu nửa ẩm
và nóng gồm các TTV trên đất bazan, TTV trên đất không phải bazan, TTV trên đồng bằng phù sa và TTV ven suối; sinh khí hậu ẩm gần núi: thường ở độ cao 600- 1200m, mùa khô tương đối dài gồm rừng kín thường xanh trên đất dốc thoát nước tốt, rừng thưa, rừng rụng lá trên bazan mỏng; rừng ừe nứa, trảng cây bụi, trảng cỏ thứ sinh, TTV ngập nước, TTV ở vùng trũng và TTV ven suối; sinh khí hậu nửa ẩm gần núi (độ cao 600-1200m) gồm TTV trên đất bazan dày, TTV trên đá phiến sét, TTV ngập nước, TTV ven suối, TTV vật trên đồng bằng phù sa; và sinh khí hậu luôn ẩm vùng núi (độ cao ừên 1200m) gồm rừng kín thường xanh ừên đất xít, rừng kín thường xanh trên đá granit và nhóm TTV đặc biệt (M Schmid, 1974)[186].Công trình “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” đã sử dụng độ ưu thế của các loài cây trong ô tiêu chuẩn để xác định các quần họp, ưu họp, phức hợp; trong
Trang 29các yếu tố phát sinh thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật, còn các yếu tố địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và con người, là các yếu tố phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp (Vũ Tự Lập, 1976)[54].
Trên quan điểm sinh thái phát sinh, Thái Văn Trừng đã xây dựng bảng phân loại rừng Việt Nam Trong hệ thống này, tác giả đã sắp xếp các kiểu TTV hiện có ở Việt Nam vào một khung họp lý, qui định được trật tự trước sau giữa các nhân tố sinh thái, theo trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến kiểu xấu nhất Đây là một công trình tổng quát, đáp ứng được qui hoạch sinh thái Đặc biệt, ừong việc xác định các điểm khống chế về khí hậu-thủy chế liên quan đến diện mạo và hình thái phát sinh của TTV, Thái Văn Trừng đã đưa ra chỉ số khô hạn X = S.A.D với s là số tháng khô (lượng mưa < hai lần giá trị nhiệt trung bình tháng), A là số tháng hạn (lượng mưa < giá trị nhiệt trung bình tháng) và D là số tháng kiệt (lượng mưa < một nửa giá trị nhiệt trung bình tháng) Chỉ số này dễ dàng biểu hiện được thời gian và mức
độ khô hạn Bảng phân loại các đom vị TTV được chia làm hai nhóm: Nhóm các kiểu TTV ở vùng thấp (có độ cao dưới 1000m ở miền Nam và dưới 700m ở miền Bắc) và nhóm các kiểu TTV ở vùng cao (có độ cao trên 1000m ở miền Nam và trên 700m ở miền Bắc), cụ thể: Nhóm các kiểu thảm ở độ cao dưới 1000m ở miền Nam, dưới 700m ở miền Bắc có các kiểu sau: kiểu rừng kín thường xanh mưa hơi ẩm nhiệt đới; kiểu rừng kín nửa rụng lá khô nhiệt đới; Kiểu rừng kín rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới; kiểu rú kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng, rụng lá, khô nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp; kiểu trảng cây
to, cây bụi cỏ cao, khô nhiệt đới; kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới; Nhóm các kiểu thảm vừng núi có độ cao trên 1000m (ở miền Nam) và trên 700m (ở miền Bắc) gồm: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp; kiểu rừng kín hỗn hợp lá rộng, lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp; kiểu rừng lá kim ẩm ôn đới núi vừa; Kiểu quần hệ khô vùng cao; kiểu quần hệ lạnh vùng Trong công trình này, các nhân tố sinh thái phát sinh được tác giả đề cập, làm cơ sở để phân chia các kiểu, kiểu phụ/ kiểu ưái TTV bao gồm: Nhóm nhân tố địa lí-địa hình; Nhóm nhân tố khí hậu, thuỷ văn; Nhóm nhân tố đá mẹ, thổ nhưỡng; Nhóm nhân tố khu hệ thực vật; Nhóm nhân tố sinh vật và con người (Thái Văn Trừng, 1978)[112]
Vũ Đình Huề (1984) đã đưa ra phương pháp phân loại rừng để phục vụ các mục đích kinh doanh Theo tác giả, kiểu rừng là một loạt các xã họp thực vật thuộc
Trang 30một kiểu trạng thái trong phạm vi một kiểu điều kiện thực bì rừng và tương ứng có một giải pháp lâm sinh thích họp (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004a)[89].
Phan Kế Lộc (1985) dựa trên khung phân loại của UNESCO (1973) đã đưa ra khung phân loại TTV ở Việt Nam có thể thể hiện được trên bản đồ 1:2.000.000 Bảng phân loại gồm có 5 lớp quần hệ Mỗi một phân lớp quần hệ lại phân thành các phân quần hệ, nhóm quần hệ, quần hệ và thấp nhất là phân quần hệ: lóp quần hệ rừng rậm gồm 3 phân lớp quần hệ chính là: rừng thường xanh, rừng rụng lá và rừng khô; lớp quần hệ rừng thưa có 3 phân lớp quần hệ: trảng cây bụi, trảng cây bụi lùn
và trảng cỏ (Phan Kế Lộc, 1985)[60]
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây còn có các nghiên cứu cụ thể về TTV
ở các địa phương từ cấp tinh trở lên hoặc VQG như: Hoàng Liên Sơn (Đỗ Hữu Thư
và cs, 1995)[105], (Vũ Anh Tài và cs, 2008)[84]; Tây Nguyên (Ngô Văn Trại, 1996) [108], Bà Rịa-Vững Tàu (Đoàn Cảnh, 1997) [19], Đồng Tháp Mười (Lê Kim Biên và Lê Văn Thường, 1998)[6], Cúc Phương (Trần Quang Chức, 2000)[31], Phong Nha (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Văn Thái, 2003), Bạch Mã (Nguyễn Nghĩa Thìn-Mai Văn Phô, 2003)[100], Pù Mát (Nguyễn Nghĩa Thìn-Nguyễn Thanh Nhàn, 2004)[97], Ba Vì (Lê Trần Chấn và cs, 2005)[22], Thái Nguyên (Lê Đồng Tấn và Ma Thị Ngọc Mai, 2006)[85], Bắc Trung Bộ (Trần Thế Liên, 2006)[57], Yok Đôn (Ngô Tiến Dũng và cs, 2006)[33], Rừng khộp ở Tây Nguyên (Trần Văn Con, 2006)[32], Ninh Bình (Nguyễn Hữu Tứ, Trương Quang Hải, 2007)[114], Quảng Tĩị (Nguyễn Hữu Tứ, 2007)[114], Bidoup-Núi Bà (Nguyễn Đăng Hội và cs,2011)[44], Trong số các công trình này, một số áp dụng khung phân loại của UNESCO để mô tả TTV ở cấp tỉnh hoặc dưới tỉnh cho các bản đồ tỉ lệ 1:100.000, theo nhận định của tác giả như vậy là không đúng Một số công trình của Nguyễn Hữu Tứ thường áp dụng theo quan điểm địa mạo-thổ nhưỡng-sinh khí hậu của Smchid, theo tác giả, quan điểm đó dễ áp dụng được ở quy mô cấp huyện còn ở quy
mô cấp tinh thì khó hơn Đa phần các công trình khác mô tả TTV không theo hệ thống cụ thể nào hoặc không lý giải cách xây dựng hệ thống, cách gọi tên đơn vị mặc dù nhìn có vẻ giống với quan điểm sinh thái phát sinh (Thái Văn Trừng, 1978)[112]
Như nhận xét ở trên về các hệ thống mô tả TTV, nếu như hệ thống của UNESCO phù họp với việc thành lập bản đồ ở tỉ lệ 1:2000.000, tương đương với
Trang 31việc thành lập bản đồ của cả nước Bên cạnh đó, ở quy mô cấp miền với các sinh khí hậu đặc trưng thì việc sử dụng hệ thống của Trần Ngũ Phương hoặc Thái Văn Trừng được chúng tôi đánh giá là phù hợp (thành lập bản đồ tỉ lệ 1:500.000 đến 1:100.000) còn hệ thống của Schmid thì quá chi tiết và chỉ phù họp khi áp dụng cho các khu vực có diện tích nhỏ và thành lập bản đồ ở tỉ lệ lớn (ví dụ tỉ lệ 1:10.000 hoặc 1:50.000).
Trong phần lớn các công trình nghiên cứu về TTV ở các địa phương trong cả nước, chủ yếu ở cấp huyện và cấp xã theo quy mô hành chính, thảm thực vật được các tác giả mô tả, minh họa từ sơ lược đến chi tiết nhưng chỉ một số ít các công trình hệ thống phân loại TTV được áp dụng đúng và đầy đủ Ngay cả cách gọi tên TTV đôi khi cũng chưa đúng và không theo nguyên tắc nào Đây là một hạn chế bởi
sự pha trộn kiến thức cơ bản giữa các hệ thống khác nhau nên làm cho các tác giả lẫn lộn khi mô tả, gọi tên TTV Bên cạnh đó, có rất ít các công trình vừa mô tả, vừa thành lập bản đồ TTV Thực tế, việc thành lập bản đồ TTV khác nhau giữa các khu vực và vừng miền ở tỉ lệ quy chiếu Song song với việc thành lập bản đồ thì mô tả các đơn vị trong phần thuyết minh cũng phải phù hợp với bản đồ, và vì vậy, việc
mô tả TTV ở các khu vực khác nhau đôi khi cũng khác nhau Việc mô tả TTV theo
hệ thống khác cũng yêu cầu việc biên tập bản đồ phải chuyển theo hướng khác nên cũng dẫn đến sự khác nhau này
1.3 NHỮNG NGHIÊN cứu T H ự C VẬT Ở HÀ GIANG
1.3.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Hà Giang
Các công trình nghiên cứu về đa dạng HTV ở tỉnh Hà Giang bước đầu là những dẫn liệu báo cáo về sự có mặt của các nhóm loài quý hiếm, những loài hạt trần hoặc những loài mới phát hiện (loài mới cho khoa học hoặc loài mới cho hệ thực vật Việt Nam) Trong 15 năm trở lại đây có các công trình lần đầu tiên công bố một số loài thực vật Hạt trần quý, hiếm được phát hiện ở Hà Giang, ghi nhận các
loài Dẻ tùng sọc nâu-Amentotaxus hatuyenensis, Thông đỏ trung hoa (Taxus chỉnensỉs), Hoàng đàn rủ (Cupressus funebris), Thông tre lá ngắn
{Podocarpuspilgeri) (Lê Trần Chấn và cs 1999)[21]; công trình “Góp phần kiểm kê thành phần loài của họ Lan ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn (huyện Quản
Bạ, tỉnh Hà Giang) ” đã thống kê 119 loài thuộc 48 chi Lan có vùng phân bố ở Bát
Đại Sơn (Phạm Vãn Thế và cs, 2007)[87]; số thực vật có giá trị bảo tồn cao bổ sung
Trang 32cho danh sách các loài ở KBTTN Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ (Nguyễn Tiến Hiệp
và cs, 2007) [38]; kết quả điều ừa phát hiện tính đa dạng, sự phân bố và đánh giá giá trị bảo tồn của các loài Thông ở tinh Hà Giang (Phan Kế Lộc và cs, 2007) [64]; các
đặc điểm của quần thể Bách vàng việt (Xanthocyparỉs vieừiamensis) phát hiện tại
tỉnh Hà Giang (Nguyễn Tiến Hiệp và cs, 2007)[39]
Ở cấp độ khu vực có các công trình giới thiệu những loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng và hiện trạng bảo tồn chúng ở cao nguyên đá vôi Đồng Văn (Nguyễn Tiến Hiệp và cs, 2009)[41]; công bố kết quả nghiên cứu bước đầu về tính đa dạng thực vật ở KBTTN Tây Côn Lĩnh, huyện Vị Xuyên (Nguyễn Quang Hưng và cs, 2009)[47], theo đó hệ thực vật của KBT có 796 loài, 501chi, 162 họ thực vật bậc cao của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch, báo cáo này này có danh sách các loài kèm theo (Chi cục kiểm lâm Hà Giang, Khu BTTN Tây Côn Lĩnh, 2011)[27]; Báo cáo đánh giá nhu cầu Bảo tồn của KBTTN Bát Đại Sơn đã đề cập đến 21 loài thực vật quý hiếm theo Sách đỏ Việt Nam (2007), ghi nhận ở khu bảo tồn có 361 loài thực vật thuộc 103 họ và 249 chi (Bộ NN-PTNT, Dự án hỗ trợ ngành lâm nghiệp/Quỹ bảo tồn rừng Việt Nam, 2010) [16]; Báo cáo đánh giá nhanh các loài quan trọng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang cho thấy hệ thực vật của KBTTN này có có 523 loài thực vật trong đó 25 loài thực vật quý hiếm, báo cáo này này có danh sách các loài kèm theo (Bộ NN-PTNT, Dự
án hỗ trợ ngành lâm nghiệp/Quỹ bảo tồn rừng Việt Nam (2011)[14]; Báo cáo đa dạng sinh học, giải pháp bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái bền vững của KBTTN Du Già cho thấy KBT này có 289 loài thực vật bậc cao thuộc 83 họ trong đó: ngành thông đất có 2 loài, Ngành Quyết có 13 loài, ngành Hạt trần có 3 loài và
271 loài thuộc ngành Mộc lan (lớp 2 lá mầm có 232 loài và lớp 1 lá mầm có 39 loài), hiện chưa có danh sách hoàn chỉnh toàn bộ các loài thực vật phân bố tại khu bảo tồn (Chi cục kiểm lâm Hà Giang, Khu BTTN Du Già, 2011)[26] Báo cáo đánh giá nhu cầu Bảo tồn của KBTTN Phong Quang ban đầu xác định trong KBTTN này
có 377 loài thực vật bậc cao thuộc 109 họ (Bộ NN-PTNT, Dự án hỗ trợ ngành lâm nghiệp/Quỹ bảo tồn rừng Việt Nam, 2011)[14]
Theo Sách Đỏ Việt Nam, đã biết có 69 loài thuộc 36 họ được ghi nhận là có vùng phân bố tại Hà Giang, chiếm 16,5% tổng số loài quý hiếm của Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007) [10]
Trang 33Từ những công trình trên, cùng với những công bố khác về các loài mới được phát hiện, hoặc những loài ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam, trong hai mươi năm qua (1993-2014) đã có 21 loài, thuộc 10 họ là những phát hiện mới cho khoa học (xem Phụ lục 2) Họ Lan-Orchidaceae là họ có nhiều loài mới nhất Tính riêng những năm đầu tiên của thế kỷ 21, tại Hà Giang, đã có tổng cộng 9 loài lan mới được phát hiện Bên cạnh đó, trong hơn một thập kỷ qua (2000-2013) đã có 42 loài thực vật ghi nhận mới cho Việt Nam có vùng phân bố ở Hà Giang, thuộc 12 họ khác nhau (xem Phụ lục 3), trong đó phần lớn là họ Lan-Orchidaceae với tổng số 29 loài ghi nhận mới.
Như vậy, có thể thấy Hà Giang có một hệ thực vật rất thú vị, đặc sắc và thu hút được nhiều nhà khoa học quan tâm, tìm kiếm
1.3.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Hà Giang
Nghiên cứu về thảm thực vật ở miền Bắc nói chung, trong đó Hà Giang cũng
là một điểm nghiên cứu cụ thể đã được đề cập đến trong các công trình trên, TTV ở
Hà Giang được mô tả ít nhiều bởi Thái Văn Trừng và Trần Ngũ Phương
Nằm ừong tổ hợp thủy văn của các sông gồm sông Lô, sông Chảy và sông Gâm, TTV Hà Giang cững được đề cập chung trong công trình nghiên cứu thực yật
và tài nguyên thực vật khu vực Lô Gâm Chảy được thực hiện bởi tập thể cán bộ Viện Địa lý, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật ừong đó bản đồ thảm thực vật được thành lập với các đơn vị theo quan điểm của Schmid (1962) dựa trên các yếu
tố sinh thái phát sinh TTV Song song với việc thành lập bản đồ TTV khu vực Lô Gâm Chảy năm 2003, tập thể các tác giả cũng sử dụng ảnh Viễn thám để xây dựng lại bản đồ TTV của khu vực vào các giai đoạn khác nhau của thể kỷ trước (các năm
1943, 1983, 1993) để làm cơ sở so sánh biến động TTV (Nguyễn Hữu Tứ và cs, 2003)[114]
Ngoài ra, trong những năm gần đây, những nghiên cứu cụ thể về TTV ở các địa phương thuộc tỉnh Hà Giang đã được thực hiện, trong đó phần lớn là những báo cáo nội bộ của các đơn vị quản lý rừng đặc dụng thuộc Chi cục kiểm lâm Hà Giang
và một số bài báo được các tác giả đăng trên các tạp chí khoa học trong nước: các quần xã thực vật tại xã Quảng Ngần, huyện Vị Xuyên, tinh Hà Giang (Nguyễn Hữu
Tứ, 1998)[113]; thảm thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Khau Ca, tỉnh Hà Giang (Nguyễn Nghĩa Thìn và cs, 2007)[101]; cấu trúc rừng của các quần xã thực vật và
Trang 34diễn thế thảm thực vật ở khu rừng Khau Ca (Vũ Anh Tài và cs, 2009)[82]; thảm thực vật Tây Côn Lĩnh có 8 kiểu và kiểu phụ thảm thực vật thuộc ba vành đai khác nhau theo độ cao gồm 0-700, 700-1600 và trên 2600m so với mặt nước biển (Chi cục Kiểm lâm tinh Hà Giang, Khu BTTN Tây Côn Lĩnh, 2011)[27] Như vậy, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu trọn vẹn về thảm thực vật của tinh
Hà Giang
1.3.3 Nghiên cứu về giá trị sử dụng và tài nguyền thực vật ở Hà Giang
Bên cạnh những nghiên cứu về đa dạng loài và HTV còn có những nghiên cứu khác liên quan đến giá trị tài nguyên thực vật và ứng dụng triển khai các mô hình lâm đặc sản, mô hình lâm nghiệp tại Hà Giang như: Nghiên cứu tuyển chọn một số giống cam, quýt ở Hà Giang (Trần Thế Tục và cs, 2001)[117]; 162 loài có giá trị làm thuốc và 23 loài được dùng làm men rượu ở Vị Xuyên (Trần Văn ơ n và Nguyễn Quốc Huy, 2004)[72]; Sử dụng biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp nâng cao chất lượng quả trên vườn cam bị bệnh greening ở mức độ nhẹ tại tỉnh Hà Giang (Ngô Xuân Bình, Nguyễn Duy Lam, 2004)[7]; Đánh giá hiện trạng nguồn thức ăn gia súc tại huyện Đồng Văn, Hà Giang (Nguyễn Thị Mùi và cs, 2005)[70]; Nghiên cứu xây dựng các mô hình rừng trồng sản xuất ở tỉnh Hà Giang (Võ Đại Hải
và cs, 2006)[36]; Nghiên cứu nhân giống bằng hom và khả năng gây trồng loài
Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep) tại KBTTN Bát Đại Sơn,
huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang (Nguyễn Tiến Hiệp, và cs, 2007)[41]; Nghiên cứu lựa chọn tập đoàn cây trồng lâm nghiệp cho huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang (Nguyễn Trọng Bình, 2009)[9]; Kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm men lá của cộng đồng người Tày ở Hà Giang (Phạm Thành Trang, Đỗ Yãn Trường, 2011)[109].1.3 ĐIỀU KIỆN T ự NHIÊN TỈNH HÀ GIANG
1.3.1 Vị trí địa lý
Hà Giang là một tinh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Phía Đông giáp tinh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, v ề phía Bắc, Hà Giang giáp châu tự trị dân tộc Choang và Miêu Văn Sơn thuộc tỉnh Vân Nam và địa cấp thị Bách sắc thuộc tinh Quảng Tây của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tỉnh có tổng diện tích tự nhiên 7.884,37km2, trong đó theo đường chim bay, khu vực rộng nhất từ tây sang đông dài 115km và từ bắc xuống nam dài 137 km Cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của
Trang 35Tổ quốc, cách Lũng Cú khoảng 3km về phía đông, có vĩ độ 23° 13'00"; điểm cực tây cách XÚI Mần khoảng 10km về phía tây nam, có kinh độ 104°24'05"; mỏm cực đông cách Mèo Vạc 16km về phía đông-đông nam có kinh độ 105°30'04"; giới hạn về phía Nam giáp Tuyên Quang ở tọa độ 22°10’04”N (Cổng TTĐT Hà Giang, 2013)[196].
1.3.2 Đia chất
v ề địa chất, Hà Giang có 4 khu vực chính gồm khu vòm nâng sông Chảy, khu Quản Bạ-Bắc Mê, khu vực Đồng Văn-Mèo Vạc và khu tây bắc Vĩnh Tuy (Lê Đức
An và Uông Đình Khanh, 2012)[1]
Khu vòm nâng sông Chảy: Lớp thổ nhưỡng hình thành ừên nền 2 nhóm đá
chính là măcma axit và đá biến chất Địa hình nơi đây được xếp vào kiểu núi khối tảng dạng vòm ưên nền nguyên sinh phân cắt mạnh Khu vực này có lượng mưa trung bình hàng năm khá lớn (3.000 mm) Với những điều kiện như vậy, đã tạo nên
ở đây một lóp phủ thổ nhưỡng đa dạng, trong đó phần lớn là đất mùn màu vàng đỏ, phù hợp để phát triển những cánh rừng thuộc kiểu á nhiệt đới
Khu Quản Bạ-Bắc Mê: Lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền 3 nhóm đá chính
là trầm tích đá hạt mịn bị biến chất, tướng đá lục hoặc lục yếu tiếp đến là loại đá vôi hoặc sét vôi và đá lục nguyên hạt vừa và mịn Địa hình ở đây được xếp vào kiểu núi khối tảng trên nền nguyên sinh, bị phân cắt rất mạnh Đây cũng là khu vực có lượng mưa trung bình năm khá lớn (3.000 mm) Vì vậy, lớp phủ thổ nhưỡng ở đây đa phần là nhóm đất mùn màu vàng đỏ và mùn xám sẫm, tạo nên một thảm thực vật hết sức phong phú với những cánh rừng kiểu á nhiệt đới thường xanh
Khu vực Đồng Văn-Mèo Vạc: Lớp thổ nhưỡng hình thành trên nền đá vôi bị
phân hoá mạnh, địa hình karst Phần lớn lớp phủ thổ nhưỡng ở đây là loại đất đỏ xám hoặc vàng sẫm, với thảm thực vật chủ yếu là các loại cây thấp, mật độ thưa Rừng ở khu vực này thường có các loại cây lấy gỗ thuộc nhóm tứ thiết như trai, nghiến
Khu tây bắc Vĩnh Tuy: Lớp thổ nhưỡng hình thành trên cấu trúc địa chất của
vòm nâng sông Lô Địa hình nơi đây có đặc trưng là các dải đồi, núi và gò thấp, sườn ít dốc Khu vực này có lượng mưa lớn nhất cả nước, do vậy lớp phủ thổ nhưỡng ở đây chủ yếu là nhóm đất màu xám sẫm hơi đen, phù hợp với trồng cây ăn quả nhất là cam
Trang 361.3.3 Đia hình, đỉa mao
Địa hình của tỉnh Hà Giang khá phức tạp, là vùng cao núi đá phía bắc nằm sát chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều, địa hình hiểm trở có độ cao trung bình từ 800m đến 1.200m so với mực nước biển Phân hóa địa hình của Hà Giang gồm 3 vừng (Lê Đức An và Uông Đình Khanh, 2012)[1] Vùng I: Là vùng cao núi đá phía Bắc (cao nguyên Đồng Văn) gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ Diện tích toàn vùng là 2.352,7 km2 90% diện tích là núi đá vôi, đặc trưng cho địa hình karst ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng Vừng II: Là vùng cao núi đất phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần, là một phần của cao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao từ 1.000m đến trên 2.000m Địa hình nơi đây phổ biến dạng vòm hoặc nửa vòm, quả
lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp Diện tích tự nhiên 1.211,3 km2 Vùng III:
Là vừng núi thấp gồm các huyện: Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê, Quang Bình và thành phố Hà Giang là vùng trọng điểm kinh tế của Hà Giang Khu vực có những dải rừng giàu xen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối Diện tích tự nhiên 4.320,3 km2
Khu vực Quản Bạ là mặt san bằng chưa trọn vẹn trên sườn các khối núi, được gọi là bình sơn karst, có tuổi PEdiplen cổ trên các đá carbonat Đe vôn trung và Trias trung, về trúc hình thái cơ bản, Hà Giang (Lê Đức An và Uông Đình Khanh,2012)[1] thuộc hình thái Đông Bắc Bộ Khối núi trung bình khối tảng vòm Hoàng
Su Phì và Đồng Văn: được nâng lên cao (đến 2400mm) và giới hạn ở phía nam bởi đới đứt gãy, trùng với thượng nguồn sông Lô và Gâm và cả trung Neogen-Đệ tứ hẹp giữa núi Bị phân cắt rất dày và sâu vói các thung lũng sâu đến 600-800m (Nho Quế), ừắc diện dọc sông rất dốc (100-150m/km) tạo nên địa hình dạng núi trung bình-cao điển hình, tương phản với bề mặt bình sơn phân cắn yếu hơn với địa hình đồi núi thấp Khối Hoàng Su Phì cấu tạo ở trung tâm bằng granit PZ, xung quanh là
đá biến chất PR3-PZ1 với thế nằm chỉnh họp Khối Đồng Văn tạo bởi các đá trầm tích PZ phương tây bắc-đông nam cấu tạo khối tàng vòm của nó có thể đã được tạo lập từ trước KZ Núi thấp khối tảng uốn nếp Chảy-Gâm: các ừầm tích PZ có thế nằm thoải, bị ép nhẹ tạo nên các uốn nếp ngắn, đẳng thước các nếp lồi và lõm, tách
Trang 37thành từng khối bưởi hệ thống đứt gãy phương tây bắc-đông nam xếp vào đai tạo núi nội lục PZ sớm (Lê Đức An và Uông Đình Khanh, 2012)[1].
Trên địa bàn Hà Giang có 49 ngọn núi cao từ 500m đến 2.500m (10 ngọn cao 500-1.000m, 24 ngọn cao 1000-1500m, 10 ngọn cao 1.500-2.000m và 5 ngọn cao từ 2.000-2.500m) Đỉnh Tây Côn Lĩnh (2419m) và ngọn Kiều Liêu Ti (2402m) là cao nhất (Cổng TTĐT Hà Giang, 2013)[196]
1.3.4 Thổ nhưỡng
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Địa lý, ở Hà Giang có các nhóm và loại đất chính sau: Nhóm đất phù sa, gồm các loại: đất phù sa trung tính, ít chua (FLe), đất phù sa chua (FLd) và đất phù sa có tầng đốm rỉ (FLc); Nhóm đất lầy và gờ-lây, gồm đất gờ-lây trung tính (GLe) và đất gờ-lây chua (GLd); Nhóm đất đen: đất đen các- bo-nát (LVk); Nhóm đất tích vôi: gồm đất tích vôi (CLh) và núi đá vôi; Nhóm đất xám gồm đất xám cơ giới nhẹ (ACa), đất xám feralit (ACf), đất xám điển hình (ACh), đất xám gờ-lây (ACg) và đất xám mùn trên núi (ACu); Nhóm đất đỏ vàng gồm đất nâu đỏ (FRr), đất nâu vàng (FRx), đất mùn vàng đỏ trên núi (FRu); Nhóm đất mùn A-lít núi cao (ALh) Trong các nhóm đất trên, nhóm đất xám chiếm diện tích lớn nhất Đây là nhóm đất rất thích hợp để trồng và phát triển các loại cây ăn quả (cam, quýt, lê, mận ), cây công nghiệp (chè, cà phê ), cây dược liệu (đỗ trọng, thảo quả, huyền sâm ) (Nguyễn Đình Kỳ và cs, 2006)[52]
1.3.5 Thủy văn
Do địa hình phức tạp đã tạo cho Hà Giang có nhiều sông, suối, hồ phục vụ đời sống cư dân và thuận tiện cho tưới tiêu đồng ruộng nhưng hầu hết các sông có độ nông sâu không đều độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông thuỷ Ngoài những sông chính chảy qua địa phận tỉnh Hà Giang là sông Lô, bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy qua Thanh Thuỷ, thành phố Hà Giang và sông Gâm bắt nguồn từ Trung Quốc qua Cao Bằng, Bắc Mê chảy xuống Tuyên Quang, còn có một số sông ngắn và nhỏ chảy trong tinh như đoạn nguồn sông Chảy, sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng cùng với nhiều suối to, nhỏ nằm xen giữa núi rừng (Cổng TTĐT Hà Giang, 2013)[196]
Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưu Lung (Vân Nam, Trung Quốc), chảy qua biên giới Việt-Trung (khu vực Thanh Thuỷ), qua thành phố
Trang 38Hà Giang, Bắc Quang về Tuyên Quang Đây là nguồn cung cấp nước chính cho vùng trung tâm tỉnh.
Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh và sườn đông bắc đỉnh Kiều Liên Ti, mật độ các dòng nhánh cao (l,lk m / km2), hệ số tập trung nước đạt 2,0km/km2 Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồn thuộc địa phận tỉnh nhưng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho khu vực phía tây của Hà Giang
Sông Gâm bắt nguồn từ Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc) chảy qua Lũng
Cú, Mèo Vạc về gần thị xã Tuyên Quang nhập vào sông Lô Đây là nguồn cung cấp nước chính cho phần đông của tỉnh
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư Sông ở Hà Giang có độ nông sâu không đều, độ dốc lớn nhiều thác ghềnh, không thuận lợi cho giao thông đường thuỷ, nhưng đó cũng là nguồn nước chính phục vụ cho sinh hoạt, tưới tiêu đồng ruộng, đảm bảo môi trường sinh thái
1.3.6 Khí hâu
Khí hậu Hà Giang về cơ bản mang những đặc điểm của vừng núi Việt Bắc- Hoàng Liên Sơn và có đặc điểm riêng là mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc,
ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc, Các thông số khí hậu sau được tổng hợp từ chuỗi
số liệu của các trạm đo mưa, trạm khí tượng trên toàn quốc (1905-2008), số liệu lưu trữ tại Viện Khoa học Khí tượng Thủy vă và Môi trường
Bảng 1.1 Số liệu sinh khí hậu ghi nhận tại các trạm quan trắc ở Hà Giang
Khu vực Đô cao
(m)
Lượng mưa (mm)
Chê độ nhiêt
Chê độ mưa ẩm
Sinh khí hâu
Ghi chú: S: số tháng khô; A-SỔ tháng hạn; D-sổ tháng kiệt; Nguồn: Viện Khoa học Khỉ tượng Thủy văn và Môi trường: chuỗi số liệu 1905-2008 (2012)[Ì2Ì]
Trang 39Bảng 1 2 Thống kê các yếu tố khí hậu ờ Hà Giang
Tên trạm: Bắc Mê độ cao: 74m (so với mặt nước biển)
Nhiệt độ trung bình 14,9 16,5 19,9 23,5 25,9 27,0 27,2 26,9 25,4 22,6 18,9 15,6 22,0Lượng mưa trung bình 26,4 28,7 48,8 89,2 235,6 299,3 326,4 260,7 132,6 92,4 45,9 29,2 1.615,0
Tên trạm: Bắc Quang độ cao: 74m (so với mặt nước biển)
Nhiệt độ trung bình 15,8 17,1 20,2 23,8 26,5 27,6 27,7 27,6 26,4 23,8 20,2 16,8 22,8Lượng mưa trung bình 69,8 72,4 92,7 245,1 763,6 979,8 907,8 632,7 401,2 368,7 169,2 73,6 4.776,5
Tên trạm: Hà Giang độ cao: 118m (so với ntiĩt nước biên)
Nhiệt độ trung bình 15,6 17,0 20,3 24,0 26,6 27,6 27,6 27,5 26,3 23,7 20,1 16,7 22,8Lượng mưa trung bình 39,7 42,5 65,2 105,0 303,3 447,4 523,0 413,5 239,0 157,3 84,1 39,6 2.459,5
Tên trạm: Hoàng Su Phì độ cao: 553m ịso với mặt nước biên)
Nhiệt độ trung bình 14,4 15,9 19,3 23,0 25,4 26,2 26,2 25,8 24,5 22,0 18,5 15,3 21,4Lượng mưa trung bình 17,5 22,7 47,2 92,6 206,6 289,0 343,7 321,6 164,4 106,7 51,4 19,9 1.683,2
Tên trạm: Phó Bảng độ cao: 1482m (so với mặt nước biên)
Lượng mưa trung bình 19,4 20,7 36,7 94,6 178,8 310,3 373,1 321,8 180,1 123,1 67,0 26,1 1.751,7
Độ ẩm không khí trung bình 84,3 83,1 81,8 81,2 81,8 84,6 86,2 85,5 83,6 83,1 83,2 82,6 83,4
Tên trạm: Quản Ba độ cao: 800m (so với mặt nước tiên)
Lượng mưa trung bình 37,2 42,9 95,1 126,8 228,3 361,0 415,1 281,0 225,6 126,3 91,5 35,9 2.066,7
Tên trạm: Thường Sơn độ cao: 1800m (so với mặt nước biển)
Lượng mưa trung bình 37,9 51,3 108,1 128,8 302,0 531,6 608,4 348,1 239,2 180,8 76,8 50,3 2.653,3
Nguồn: Viện Khoa học Khỉ tượng Thủy văn và Môi trường: chuỗi sổ liệu 1905-2008 (2012)1121]
Trang 40Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21°c, biên độ nhiệt trong năm có sự dao động trên 10°c và ừong ngày cũng từ 6-7°C Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 40°c (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,2°c (tháng 1) Theo số liệu năm 1999, tại các trạm khí tượng đo được nhiệt độ trung bình năm là: 28,l°c (trạm Hà Giang), 28,3°c (trạm Bắc Quang), 27,35°c (trạm Bắc Mê) Nhiệt
độ tháng thấp nhất (tháng 1): 15,6°c (trạm Hoàng Su Phì) Dao động nhiệt ngày và đêm ở các thung lũng diễn ra mạnh mẽ hơn vùng đồng bằng (Viện Khoa học Khí tượng Thủy vă và Môi trường, 2012)[121]
Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú Toàn tỉnh đạt bình quân lượng mưa hàng năm 2.360 mm (khoảng 2.300-2.400 mm), riêng Bắc Quang hơn 4.000 rum, là một ừong số trung tâm mưa lớn nhất Việt Nam Dao động lượng mưa giữa các vùng, các năm và các tháng ừong năm khá lớn Năm 2001, lượng mưa đo được ở trạm Hà Giang là 2.253,6 mm, Bắc Quang là 4.244 mm, Hoàng Su Phì là 1.337,9 mm Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên 1.400 mm, trong khi đó lượng mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5 mm, ở Bắc Mê là 1,4 mm (Viện Khoa học Khí tượng Thủy vă và Môi trường, 2012)[121]
Độ ẩm bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng không lớn Thời điểm cao nhất (tháng 6,7,8) vào khoảng 87-88%, thời điểm thấp nhất (tháng 1, 2, 3) cũng vào khoảng 81%, đặc biệt ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không rõ rệt (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, 2012)[121]
Các sinh khí hậu ghi nhận ở Hà Giang theo cách tính của Thái Văn Trừng (1978) được trình bày như Bảng 1.3 cho thấy có 5 sinh khí hậu là ấm-ẩm, ấm-ướt, lạnh-ẩm, lạnh-ướt và rất lạnh-ẩm Đây là nhân tố quyết định diện mạo chung của thảm thực vật nguyên sinh
Bảng 1 3 Các chế độ khí hậu ghi nhận tại Hà Giang theo khu vực
Khu vưc Chê đô nhiêt Chê đô âm Chỉ sô khô han