1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Quy Hoạch Phát Triển Rừng Ngập Mặn, Rừng Phòng Hộ Bảo Vệ Đường Bờ, Giảm Nhẹ Thiên Tai Và Điều Hòa Khí Hậu

16 429 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 6,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đã làm diện tích và chất lượng của các cây rừng ngập mặn, rừng phòng hộ tỉnh Sóc Trăng bị suy giảm nhanh chóng.. THỰC TRẠNG NGÀNH LÂM NGHIỆP a, Hiện trạng sử dụng đất đai và tài nguyên r

Trang 1

MỤC LỤC

I.1.1 Vị trí địa lý 3

I.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 3

I.1.3 Đặc điểm địa chất 4

I.1.4 Đặc điểm khí hậu, chế độ thủy, hải văn tỉnh Sóc Trăng 4

II.1 HIỆN TRẠNG VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG NGẬP MẶN, RỪNG PHÒNG HỘ TẠI SÓC TRĂNG 8

II.1.1 Hiện trạng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ tại Sóc Trăng 8

II.1.2 Vai trò rừng ngập mặn, rừng phòng hộ tại Sóc Trăng 10

Hình: Thiết lập vùng đệm cho rừng ngập mặn phát triển khi nước biển dâng 13

Trang 2

MỞ ĐẦU

Rừng ngập mặn phòng hộ có vai trò quan trọng, tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu và đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí Nhưng ngày nay, nguồn tài nguyên quý giá đó đang dần

bị suy thoái

Sự tàn phá của chiến tranh, quá trình khai thác bừa bãi của người dân, và đặc biệt là sự tàn phá của các hiện tượng thời tiết cực đoan như gió, bão, xói mòn, đã làm diện tích và chất lượng của các cây rừng ngập mặn, rừng phòng hộ tỉnh Sóc Trăng bị suy giảm nhanh chóng Sở hữu 72 km bờ biển và được dự báo là một trong các tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề do quá trình biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra Trước vai trò to lớn của rừng và tác động ngày càng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu thì vấn đề

“quy hoạch phát triển rừng ngập mặn, rừng phòng hộ bảo vệ đường bờ, giảm nhẹ thiên tai và điều hòa khí hậu” là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Trang 3

CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC

TRẠNG NGÀNH LÂM NGHIỆP TỈNH I.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN.

I.1.1 Vị trí địa lý

Sóc Trăng là tỉnh ven biển nằm ở phía Nam cửa sông Hậu của khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Nằm ở 9°14’40” đến 9°33’56” vĩ độ Bắc và 105°49’37” đến 106°19’01’’ kinh độ Đông Diện tích tự nhiên 3.311,7 km2, xấp xỉ 1% diện tích của cả nước và 8,3% diện tích của khu vực ĐBSCL Dân số trung bình năm

2009 là 1.293.165 người

Tỉnh hiện có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: thành phố Sóc Trăng và các huyện Châu Thành, Kế Sách, Mỹ Tú, Cù Lao Dung, Long Phú, Mỹ Xuyên, Ngã Năm, Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Trần Đề, trong đó thành phố Sóc Trăng là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa xã hội của tỉnh

Tỉnh Sóc Trăng có địa giới hành như sau:

- Phía Tây – Bắc giáp tỉnh Hậu Giang

- Phía Đông – Bắc giáp tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long

- Phía Tây – Nam giáp tỉnh Bạc Liêu

- Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông

I.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Sóc Trăng có địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, địa hình bao gồm phần đất bằng xen kẽ những vùng trũng và các giồng cát Toàn bộ tỉnh Sóc Trăng nằm ở phía Nam của vùng cửa sông Hậu, cao độ biến thiên không lớn, chỉ từ 0,2 – 2m so với mực nước biển, vùng nội đồng có cao độ trung bình từ 0,5 – 1,0m Địa hình của tỉnh

có dạng hình lòng chảo thoải, hướng dốc chính từ sông Hậu thấp dần vào phía trong,

từ biển Đông và kênh Quản lộ thấp dần vào đất liền với những giồng đất ven sông, biển

Dựa vào địa hình có thể chia tỉnh Sóc Trăng thành 3 vùng như sau:

- Vùng địa hình thấp, vùng trũng: Tập trung ở huyện Mỹ Tú, Châu Thành, Thạnh Trị, Ngã Năm và một phần phía Bắc huyện Mỹ Xuyên, thường bị ngập dài vào mùa mưa

- Vùng địa hình cao ven sông Hậu, phía Bắc huyện Kế Sách đến sông MỸ Thanh, giới hạn từ sông Hậu đến Kênh Bà Sẩm cao trình từ 1 – 1,2 m và ven biển, gồm các huyện Vĩnh Châu, Trần Đề, Long Phú, Cù Lao Dung, giồng cát cao đến 1,4 m

- Vùng địa hình trung bình: gồm có thành phố Sóc Trăng và huyện Kế Sách Với địa hình thấp, bị phân cắt nhiều bởi hệ thống các sông rạch và kênh mương thủy lợi, lại tiếp giáp với biển cho nên dễ bị nước biển xâm nhập (nhiễm mặn), nhất là vào mùa khô

Trang 4

I.1.3 Đặc điểm địa chất

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng được hình thành bởi các loại trầm tích nằm trên nền đá gốc Mezoic xuất hiện từ độ sâu gần mặt đất ở phía Bắc đồng bằng cho đến độ sâu khoảng 1.000 m ở gần bờ biển Các dạng trầm tích có thể chia thành những tầng chính sau:

Tầng Holocene: nằm trên mặt, thuộc loại trầm tích trẻ, bao gồm sét và cát Thành phần hạt từ mịn tới trung bình

Tầng Pleistocene: có chứa cát sỏi lẫn sét, bùn với trầm tích biển

Tầng Pliocene: có chứa sét lẫn cát hạt trung bình

Tầng Miocene: có chứa sét và cát hạt trung bình

I.1.4 Đặc điểm khí hậu, chế độ thủy, hải văn tỉnh Sóc Trăng

a Đặc điểm khí hậu

Khí hậu tỉnh Sóc Trăng có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

- Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình năm 26,9°C (2009) Nhiệt độ cao nhất trong năm

vào tháng 4 (28,6°C) và nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 (24,3°C)

- Nắng: tổng lượng bức xạ trung bình trong năm tương đối cao, đạt 140 – 150

kcal/cm2 Tổng giờ nắng bình quân trong năm 2.292,7 giờ (khoảng 6,28 giờ/ngày), cao nhất thường vào tháng 3 là 282,3 giờ, thấp nhất thường vào tháng 9 là 141,5 giờ

- Mưa: lượng mưa trung bình hàng năm là 1.660 – 2.230 mm, chênh lệch lớn

theo mùa, mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa, mùa khô rất ít, có tháng không mưa

- Độ ẩm: độ ẩm trung bình cả năm là 84% (cao nhất 89% vào mùa mưa, thấp

nhất 75% vào mùa khô)

- Gió: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tỉnh Sóc Trăng có các hướng

gió chính như sau: Tây, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam và gió được chia làm hai mùa rõ rệt là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam là chủ yếu; còn mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc là chủ yếu với tốc độ gió trung bình là 1,77m/s

- Các yếu tố khác: tỉnh Sóc Trăng nằm trong khu vực ít gặp bão Theo tài liệu

về khí tượng thủy văn ghi nhận, trong 100 năm qua chỉ có 2 cơn bão đổ bộ vào Sóc Trăng (năm 1952, 1997) gây thiệt hại rất lớn

Những năm gần đây, lốc thường xảy ra ở Sóc Trăng Lốc tuy nhỏ nhưng cũng gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân

b Đặc điểm chế độ thủy, hải văn

Sông rạch tỉnh Sóc Trăng đa phần thuộc vùng ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, cao độ mực nước của hai đỉnh triều và hai chân triều không bằng nhau Đỉnh triều cao nhất là 160 cm (vào tháng 10, 11), thấp nhất là 123 cm (vào tháng

5, 8), chân triều cao nhất là -24 cm (tháng 11), thấp nhất là -103 cm (tháng 6), biên độ triều trung bình từ 194 – 220 cm

Trang 5

Nguồn nước trên hệ thống sông rạch tỉnh Sóc Trăng là kết quả của sự pha trộn giữa lượng mưa tại chỗ, nước biển và nước thượng nguồn sông Hậu đổ về Dòng cửa sông Hậu khá mạnh vào mùa mưa, ảnh hưởng ra xa quá 4 hải lý, đây cũng là thời kỳ mùa lũ ở sông Hậu Dòng tổng hợp ven bờ khoảng 1m/s Dòng hải lý theo mùa và dòng chảy ven bờ lấn át dòng chảy sông tại vùng cửa Định An, dòng chảy theo hướng Tây – Nam là chủ yếu trong mùa khô và theo hướng Đông – Bắc trong mùa mưa

Do ảnh hưởng bởi dòng thủy triều và hải triều nên nước trên sông trong năm có thời gian bị nhiễm mặn vào mùa khô, vào mùa mưa nước sông được ngọt hóa, có thể

sử dụng cho tưới nông nghiệp Phần sông rạch giáp biển bị nhiễm mặn quanh năm, do

đó không thể phục vụ tưới cho nông nghiệp, nhưng bù lại nguồn nước mặn, lợ ở đây lại tạo thuận lợi trong việc nuôi trồng thủy sản

I.2 THỰC TRẠNG NGÀNH LÂM NGHIỆP

a, Hiện trạng sử dụng đất đai và tài nguyên rừng:

Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng của tỉnh Sóc Trăng trước đây được thực hiện như sau:

Rừng sản xuất giao doanh nghiệp Nhà Nước ( Lâm trường Sóc Trăng ) quản lý, Rừng đặc dụng:( Khu di tích lịch sử tỉnh Ủy ) Được tỉnh giao Sở văn Hoá thông tin,

Rừng phòng hộ: Do tỉnh không có Chi Cục Phát triển Lâm Nghiệp nên diện tích này giao cho ban quản lý dự án và kiểm lâm quản lý

b, Thực trạng sản xuất lâm nghiệp

Đối với rừng sản xuất lâm trường tự hạch toán trồng rừng, chăm sóc, và khai thác rừng theo kế hoạch phân bổ hàng năm, trước đây diện tích rừng khá lớn, do nhu cầu cấp bách trong việc tranh chấp đất rừng nên tỉnh đã cắt một ít diện tích rừng giao trả cho người dân, một số diện tích cắt giao cho Sở Văn Hoá Thông tin mở rộng qui

mô vùng đệm của khu di tích lịch sử Số còn lại hiện nay được 3 phân trường Mỹ Phước, Thạnh Trị, Phú Lợi thuộc lâm trường Sóc Trăng quản lý và kinh doanh

Đối với rừng phòng hộ, mục tiêu của tỉnh tăng cường công tác trồng, chỉ được phép khoanh nuôi bảo vệ để duy trì diện tích, chất lượng nhằm phát huy vai trò chắn sóng lấn biển và bảo vệ môi trường nói chung bảo vệ tài nguyên động vật, thủy sản nói riêng

c, Vai trò của ngành lâm nghiệp trong sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Với đặc thù là tỉnh đồng bằng, nên hệ sinh thái rừng ngập chiếm đa số, Rừng sản xuất chỉ có loài Tràm cừ giá trị kinh tế không cao, mặt khác diện tích đất trồng tràm phần lớn là vùng trũng ngập nước bị nhiễm phèn, canh tác nông nghiệp năng suất rất thấp, đặc biệt là không thích hợp cho một số loài cây có giá trị kinh tế cao

Với rừng phòng hộ ven biển chỉ tập trung trồng, khoanh nuôi và bảo vệ để duy trì và phát triển vốn rừng, nâng cao độ che phủ, một phần nhỏ kết hợp phát triển nghành nghề nuôi thủy sản

Xuất phát từ những đặc điểm trên, nên vai trò của ngành lâm nghiệp chỉ đóng góp một phần rất nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội, tình trạng người dân nghèo sống

Trang 6

ven rừng vẫn còn nhiều, kinh tế khá bấp bênh vì vậy chưa phát huy tốt trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng

d, Thực trạng công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch 3 loại rừng

Thực trạng:

- Đối với rừng sản xuất: do nhu cầu thị trường tiêu thụ tràm cừ thời gian gần đây yếu, doanh thu từ rừng khá thấp, nguồn vốn còn eo hẹp nên lâm trường chưa đầu

tư đủ để nâng chất, chất lượng rừng, cùng với cơ chế chuyển lâm trường sang Công ty lâm nghiệp bước đầu phải đối mặt với nhiều thử thách nên chất lượng rừng chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu thị trường

- Đối với rừng phòng hộ: Cột mốc ranh giới giữa đất rừng phòng hộ và đất khai phá làm nông nghiệp của đồng bào người dân tộc chưa rỏ ràng, nên tình trạng lấn chiếm đất rừng vẫn còn sảy ra, công tác giao đất khoán rừng thực hiện chưa đến nơi chốn, nạn chặt phá rừng vẫn còn rải rác, các chính sách ưu đãi cho người dân sống ven rừng có thực hiện nhưng chỉ ở quy mô rất nhỏ chưa đáp ứng yêu cầu của người dân, cùng với dân trí còn thấp, quyền hưởng lợi thu lại từ rừng phòng hộ rất ít nên chưa thu hút người dân tham gia bảo vệ rừng Mặc khác địa hình phân bố của rừng phòng hộ khá dài (trải dài theo 72 km bờ biển) lực lượng quản lý quá mỏng, địa hình khá phức tạp nên công tác quản lý bảo vệ rừng khá vất vả

- Đối với rừng đặc dụng: Thời gian trước đây do kinh phí còn khá hạn hẹp nên chỉ đầu tư cho công tác bảo vệ rừng, một số công việc khác như: khoanh nuôi phục hồi xúc tiến tái sinh, trồng rừng, phòng chống cháy rừng, hoặc điều chế rừng v.v chưa được đầu tư đúng mức dẫn đến chất lượng rừng còn kém, chưa phát huy hết chức năng của rừng đặc dụng

- Mặc khác qua kết quả rà soát 3 loại rừng và văn bản thẩm định số

98/BNN-LN ngày 11tháng 01 năm 2007 của Bộ Nông Nghiệp & PTNT xét thấy về quy mô diện tích khu rừng đặc dụng là rất nhỏ, chất lượng rừng kém chưa phát huy hết vai trò, chức năng, chưa đáp ứng yêu cầu các tiêu chí phân loại rừng đặc dụng theo quyết số 62/2005/QĐ-BNN ngày 12 tháng 10 năm 2005 Nên chuyển sang rừng phòng hộ bảo

vệ môi trường là phù hợp

Công tác quy hoạch và thực hiện việc rà soát 3 loại rừng:

- Đối với rừng sản xuất: Nhà Nước cần hổ trợ vốn thông qua các chính sách, vay vốn tín dụng, đầu tư phát triển rừng nhằm rút ngắn chu kỳ khai thác, duy trì diện tích rừng hiện có đồng thời xây dựng kế hoạch trồng thêm trên phần diện tích đất còn trống, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, mua sắm các trang thiết bị nhất là trang thiết bị phòng chống chữa cháy rừng để từng bước nâng cao chất lượng rừng

- Đối với rừng phòng hộ: Phải xúc tiến xây dựng cột mốc ranh giới rỏ ràng để giảm thiểu tình trạng lấn chiếm đất rừng, nghiên cứu các giải pháp nhằm giao khoán rừng cho các hộ gia đình, cá nhân sống ven rừng, hoặc những khu rừng có địa hình phức tạp, Nhà nước phải tăng vốn đầu tư cho công tác bảo vệ rừng, phải có những chính sách quy định rõ quyền hưởng lợi của người dân khi tham gia bảo vệ rừng, hoặc

có những chính sách ưu đãi trong việc đào tạo nghề, giải quyết công việc làm cho người dân sống ven rừng, hoặc được vay vốn sản xuất v.v để thu hút người dân tham gia bảo vệ rừng

Trang 7

- Đối với rừng Phòng hộ bảo vệ môi trường: Hiện nay mật độ rất thưa, chất lượng và trữ lượng rừng rất thấp, do không tác động các giải pháp kỷ thuật lâm sinh nên diện tích dây leo bụi rậm chiếm khá nhiều, muốn nâng chất chất lượng rừng để phát huy vai trò và chức năng phòng hộ bảo vệ môi trường, cần đầu tư nhiều cho công tác điều chế rừng, trên cơ sở trồng rừng, vệ sinh rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên nhằm thu hút khách du lịch tham quan vui chơi giải trí và đặc biệt là khôi phục lại hệ sinh thái độc đáo của vùng ngập nước

Trang 8

CHƯƠNG II QUY HOẠCH TRỒNG RỪNG NGẬP MẶN, RỪNG PHÒNG HỘ BẢO VỆ ĐƯỜNG BỜ, GIẢM NHẸ THIÊN

TAI, ĐIỀU HÒA KHÍ HẬU TẠI SÓC TRĂNG

II.1 HIỆN TRẠNG VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG NGẬP MẶN, RỪNG PHÒNG

HỘ TẠI SÓC TRĂNG

II.1.1 Hiện trạng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ tại Sóc Trăng

II.1.1.1 Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường

- Rừng Phòng hộ bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng được toạ lạc tại

xã Mỹ Phước huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng, là khu di tích lịch sử của Tỉnh Ủy Trong thời kỳ kháng chiến chống giặc ngoại xâm nơi đây là chiếc nôi đã nuôi giấu và che chở cho nhiều các bộ Cách Mạng, đồng thời là nơi đã giành nhiều chiến công vang dội mà vẫn còn lưu mãi đến ngày nay

Tổng diện tích tự nhiên: 308 ha bao gồm:

Diện tích rừng: 280,9 ha

Diện tích kênh mương, bờ: 7,3 ha

Diện tích khác( xây dựng cơ sở hạ tầng ): 19,8 ha

Hệ động, thực vật: Nhìn chung khá phong phú và mang nét rất riêng của vùng đồng bằng Về động vật có rất nhiều loài: chưa có sự thống kê theo dỏi số lượng cụ thể nhưng loài chiếm ưu thế là chim, cò, lưỡng thê và bò sát Về thực vật có khoảng 50

loài thuộc 15 họ, họ chiếm ưu thế là Ráng đại (Acrostichum aureum) mây nước

(Flagellaria indica) và năng, sậy.

Về Ranh giới: có tứ cận giáp bờ bao phân trường Mỹ Phước thuộc công Ty Lâm Nghiệp tỉnh Sóc Trăng

Bộ máy quản lý: Do Bảo Tàng Sóc Trăng thuộc Sở Văn Hoá Thông Tin tỉnh Sóc Trăng quản lý

II.1.1.2 Rừng phòng hộ chắn sóng lấn biển

- Do đặc thù có 3 huyện giáp biển đông, vì vậy loại rừng phòng hộ chủ yếu là phòng hộ ven biển (chắn sóng lấn biển, bảo vệ đê)

Rừng ngập mặn ven biển tỉnh Sóc Trăng được quản lý và bảo vệ bởi Chi cục Kiểm lâm và chính quyền địa phương Tổng diện tích rừng ngập mặn phòng hộ là 5.300ha trong đó Cù Lao Dung: 1.000ha; Long Phú: 800ha; Vĩnh Châu: 3.500ha Tuy nhiên, qua đo đạc bằng công cụ viễn thám, diện tích rừng ven biển của Sóc Trăng đạt 9.338ha, trong đó, diện tích rừng trong phạm vi đường bờ (ranh giới triều trung bình)

là 3.209ha, ngoài ranh giới đường bờ là 6.129ha Rừng phòng hộ tại Sóc Trăng chủ yếu là cây đước, bần, mắm Hiện tại, các dự án phát triển rừng phòng hộ ven biển của Sóc Trăng sử dụng giống từ các vườn giống Vĩnh Hải và Trung Bình đủ cung cấp giống cho khoảng 5.000 đến 6.000ha/năm Tuy nhiên, hiện nay, rừng phòng hộ khu

Trang 9

vực Vĩnh Châu với chiều dày trên 500m nhưng không thể trồng mới được do các tác động của dòng chảy tự nhiên

Cột mốc ranh giới giữa đất rừng phòng hộ và đất khai phá làm nông nghiệp của đồng bào người dân tộc chưa rõ ràng, nên tình trạng lấn chiếm đất rừng vẫn còn xảy

ra, công tác giao đất khoán rừng thực hiện chưa đến nơi chốn, nạn chặt phá rừng vẫn còn rải rác, các chính sách ưu đãi cho người dân sống ven rừng có thực hiện nhưng chỉ

ở quy mô rất nhỏ chưa đáp ứng yêu cầu của người dân, cùng với dân trí còn thấp, quyền hưởng lợi thu lại từ rừng phòng hộ rất ít nên chưa thu hút người dân tham gia bảo vệ rừng Mặc khác địa hình phân bố của rừng phòng hộ khá dài (trải dài theo 72

km bờ biển) lực lượng quản lý quá mỏng, địa hình khá phức tạp nên công tác quản lý bảo vệ rừng khá vất vả

Do khai thác nguồn tự nhiên và ý thực bảo vệ rừng và hệ sinh thái còn tự phát, cho nên hệ sinh thái vùng ngập mặn đang bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều cây, con bị mất dần, chẳng hạn như cây mắm, cây đước bị thoái hóa, riêng cây chà

là nơi trú ngụ của con đuôn không còn tồn tại Tại khu vực đuôi cồn Cù Lao Dung, quần thể dơi ngựa lớn, theo thống kê mới nhất, chỉ còn không tới 1.000 con Loài rái cá lông mượt trước đây sinh sống rất nhiều, hiện nay đã biến mất, các loài cá ngát, nghêu rất hiếm, chim trời trước đây thường về đậu và làm tổ, hiện nay không còn thấy về nữa

Từ năm 2007 đến nay, tỉnh Sóc Trăng được sự hỗ trợ của Tổ chức Hợp tác kỹ thụât công nghệ Công hòa Liên Bang Đức (GTZ) thông qua dự án “Bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển tỉnh Sóc Trăng”, tỉnh Sóc Trăng đã và đang xúc tiến khảo sát và tiến hành phòng chống xói lở biển và suy giảm sinh thái vùng ngập mặn ven biển Đây là một thách thức cần thiết phải đầu tư sức lực, tiền của ngay từ bây giờ để hạn chế mức độ thiệt hại, ổn định sản xuất và đời sống nhân dân

Một số khu vực rừng ngập mặn ven biển bị thu hẹp diện tích do xói mòn dưới tác động của sóng biển, do cây cối trong rừng đã bị già cỗi

Hình: Rừng ngập mặn vùng ven biển Cù Lao Dung bị xói mòn do sóng biển

Trang 10

II.1.2 Vai trò rừng ngập mặn, rừng phòng hộ tại Sóc Trăng

Có thể nói, rừng ngập mặn phòng hộ có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đường bờ biển, đê điều, tăng khả năng chống chọi với tác động của thay đổi khí hậu… Đặc biệt, RNM có vai trò bảo vệ đới bờ và cửa sông, hạn chế xói lở và tác hại của bão, sóng đối với hệ thống đê biển

Theo một nghiên cứu tại Nhật Bản, một khu RNM có chiều rộng 100m, có thể làm giảm 50% chiều cao của sóng triều và giảm 50% năng lượng của sóng Nhờ có hệ thống rễ dày đặc trên mặt đất, RNM có thể làm chậm dòng chảy và thích nghi với mực nước biển dâng Các cây con, quả và hạt có khả năng sống dài ngày trong nước nên cây ngập mặn sẽ phát tán rộng vào đất liền khi nước biển dâng ngập các vùng đó và phát tán rộng ra biển tại các bãi bồi Khi RNM tự nhiên được bảo vệ hoặc các rừng trồng đủ rộng, sẽ tạo thành những bức tường vững chắc, bảo vệ bờ biển và chân đê khỏi bị xói lở do bão lụt và nước biển dâng…

Theo GS-TS Nguyễn Hoàng Nghĩa, thực tế cho thấy những cơn bão đổ bộ vào Việt Nam trong 3 năm vừa qua, những nơi nào có rừng ngập mặn được bảo vệ tốt thì

đê biển mặc dù chỉ được xây dựng bằng đất nện không kiên cố vẫn đứng vững vàng Ngược lại, các đê biển dù được xây dựng bằng bê tông hoặc kè đá ở những khu vực không có rừng ngập mặn hoặc rừng bị chặt phá vẫn bị phá vỡ Kết quả khảo sát ở những quốc gia có sóng thần cũng cho thấy các dải rừng ngập mặn có thể làm giảm cường độ của sóng thần từ 50% - 90% nên các làng mạc sau rừng ngập mặn ít bị ảnh hưởng

Hệ thống rễ chằng chịt trên mặt đất thu hút và giữ lại các trầm tích, góp phần

mở rộng đất liền ra phía biển, nâng dần đất lên; mặt khác chúng là hàng rào ngăn giữ những chất ô nhiễm, các kim loại nặng từ các sông đổ ra biển, bảo vệ các sinh vật vùng ven bờ

Vai trò của RNM nằm trong hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, RNM được coi là nguồn tài nguyên ven biển vô cùng hữu ích đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

và đời sống con người Các khu RNM là lá phổi không thể thiếu, đảm bảo cho hệ sinh thái ven biển phát triển Các loại cây trong hệ thống RNM có rất nhiều lá và chất hữu

cơ Khi rụng xuống nước, lá cây thối rữa, trở thành thức ăn cho các vi trùng và sinh vật phù du, là nguồn thức ăn cho cá

Do vị trí chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền, nên hệ sinh thái rừng ngập mặn có tính đa dạng sinh học rất cao Lượng mùn bã phong phú của rừng ngập mặn là nguồn thức ăn dồi dào cho nhiều loài sinh vật thủy sinh Theo Bộ Tài nguyên Môi trường, những quần thể động, thực vật và thủy, hải sản tại vùng rừng ngập mặn

ven biển Sóc Trăng có quần thể khỉ đuôi dài (tên khoa học macaca fasclularis) hơn

300 cá thể; rái cá Lông Mượt (lutra perspicillata) 500 cá thể; dơi ngựa lớn

(pteropus-vampyrus) khoảng 1.500 cá thể và các loài chim nước, hệ thống động vật lưỡng cư, bò

sát v.v Riêng thảm thực vật rừng được khảo sát năm 1996 cho thấy: đa dạng và phong phú không, với 20 loài thực vật thuộc 16 họ được ghi nhận Các loại phổ biến nhất là bần chua (tên khoa học sonneratia caseolaris), dừa nước (nipa frutican), mắm

trắng (avicennia alba), mắm đen (avicennia offieinalis), mắm biển (avicennia maina), đước (rhizophora apiculata)…

Rừng ở Vùng biển Sóc Trăng chủ yếu là rừng ngập mặn ven biển Trong đất rừng ngập mặn, có khoảng 4.900 ha rừng phòng hộ, chủ yếu là rừng tràm (4.300 ha),

Ngày đăng: 17/03/2017, 20:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w