Lời nói đầuTheo các đánh giá của các nhà khoa học, Vườn Quốc gia Cát Bà chứađựng giá trị cao về cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học; là nơi có số lượngkiểu thảm thực vật đa dạng vào
Trang 1Mục lục
Mục lục 1
Lời nói đầu 4
PHẦN 1: TÊN CÔNG TRÌNH VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG QUY HOẠCH 5
1 Tên công trình và phạm vi xây dựng quy hoạch 5
1.1 Tên công trình 5
1.2 Phạm vi xây dựng quy hoạch 5
2 Căn cứ xây dựng quy hoạch 5
2.1 Căn cứ pháp lý 5
2.2 Các tài liệu sử dụng để xây dựng báo cáo quy hoạch 7
PHẦN 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI 9
1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 9
1.1 Vị trí địa lý 9
Vườn Quốc gia Cát Bà có toạ độ địa lý: 9
1.2 Địa hình, địa thế 9
1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 10
1.4 Khí hậu 11
1.5 Thuỷ văn 12
1.6 Hiện trạng rừng và sử dụng đất 14
1.7 Khu hệ thực vật 18
1.8 Khu hệ động vật 27
1.9 Tài nguyên sinh vật biển khu vực Vườn Quốc gia Cát Bà 36
1.10 Các giá trị cảnh quan, môi trường, bảo tồn và du lịch 40
2 Đặc điểm kinh tế xã hội 42
2.1 Dân số và lao động 42
2.2 Tình hình phát triển kinh tế 43
2.3 Giao thông vận tải và thông tin liên lạc 44
2.4 Dịch vụ 45
2.5 Lịch sử, văn hóa 46
2.6 Giáo dục và đào tạo 46
2.7 Y tế và kế hoạch hóa gia đình 47
PHẦN 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUY HOẠCH, BẢO TỒN 50
VÀ PHÁT TRIỂN VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ 50
1 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch 50
1.1 Ranh giới và phân khu chức năng 50
1.2 Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái 50
1.3 Thực trạng quy hoạch vùng đệm 51
1.4 Công tác phối hợp 52
2 Đánh giá về tình hình thực hiện công tác bảo tồn, bảo vệ và phát triển rừng.52 2.1 Thực hiện nhiệm vụ lâm sinh 52
2.2 Xây dựng hạ tầng lâm sinh 54
2.3 Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các nhiệm vụ nghiên cứu 55
3 Đánh giá về tổ chức, quản lý 56
3.1 Công tác tổ chức và nhân sự 56
Trang 23.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 57
3.3 Thực trạng đầu tư 58
3.4 Những tồn tại và nguyên nhân trong quản lý, bảo tồn 61
PHẦN 4: QUY HOẠCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 63
1 Quan điểm quy hoạch 63
1.1 Quan điểm về bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường 63
1.2 Quan điểm lồng ghép bảo tồn với phát triển, khai thác sử dụng 63
2 Mục tiêu quy hoạch 63
2.1 Mục tiêu chung 63
2.2 Mục tiêu cụ thể trong giai đoạn 2014 - 2020 63
3 Quy hoạch tổng thể 63
3.1 Luận chứng ranh giới, quy hoạch phân khu chức năng 64
3.2 Quy hoạch công trình hạ tầng 74
3.3 Quy hoạch phát triển du lịch, dịch vụ và giáo dục môi trường 76
PHẦN 5: CÁC CHƯƠNG TRÌNH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN 78
1 Chương trình bảo vệ, bảo tồn 78
1.1 Mục đích 78
1.2 Đối tượng 78
1.3 Nội dung 78
1.4 Biện pháp kỹ thuật 78
2 Chương trình phục hồi hệ sinh thái 79
2.1 Phục hồi rừng tự nhiên 79
2.2 Trồng rừng và hệ thống cây xanh (hay trồng cây cảnh quan) 80
2.3 Bảo tồn và phát triển động vật hoang dã 81
3 Chương trình nghiên cứu khoa học đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 83
3.1 Chương trình nghiên cứu 83
3.2 Chương trình đào tạo 84
4 Chương trình xây dựng vườn thực vật và bảo tàng 86
5 Chương trình phát triển dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục môi trường 86
5.1 Xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ công tác quản lý du lịch sinh thái 86
5.2 Xây dựng hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái, dịch vụ và giáo dục 87
5.3 Các dịch vụ du lịch khác 87
6 Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị 88
6.1 Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng 89
6.2 Chương trình đầu tư trang thiết bị 96
7 Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm 98
PHẦN 6: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH 99
1 Giải pháp về tổ chức quản lý và thực hiện 99
1.1 Vị trí, chức năng của Ban quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà 99
1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà 99
1.3 Tổ chức bộ máy 101
1.4 Chức năng nhiệm vụ cụ thể: 101
1.5 Biên chế ban quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà 105
1.6 Phân cấp quản lý 106
2 Giải pháp về tổ chức bộ máy 107
2.1 Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy Ban quản lý VQG Cát Bà: 107
Trang 32.2 Đổi mới lề lối làm việc, tăng cường phân cấp, xác định 107
2.3 Tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức 108
3 Giải pháp về cơ chế chính sách 109
3.1 Cơ chế quản lý các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 109
3.2 Cơ chế quản lý khu phục hồi sinh thái biển và rừng ngập mặn 109
3.3 Cơ chế quản lý các phân khu phục hồi sinh thái biển 111
4 Giải pháp về khoa học và công nghệ 112
4.1 Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật 112
4.2 Ứng dụng khoa học - công nghệ 112
4.3 Nghiên cứu khoa học 112
5 Các giải pháp khác 113
5.1 Giải pháp về giao đất và cắm mốc ranh giới Vườn Quốc gia Cát Bà 113
5.2 Giải pháp về đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức 113
5.3 Giải pháp huy động nguồn vốn đầu tư thực hiện quy hoạch 113
5.4 Tăng cường hợp tác quốc tế và lồng ghép các chương trình, dự án 114
6 Tổ chức thực hiện 114
PHẦN 7: TỔNG VỐN ĐẦU TƯ, NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ 116
1 Tổng vốn đầu tư 116
1.1 Cơ sở lập khái toán 116
1.2 Tổng mức khái toán 116
2 Nguồn đầu tư và tiến độ 117
3 Phân kỳ đầu tư 118
4 Đánh giá tác động môi trường chiến lược và hiệu quả đầu tư 118
4.1 Đánh giá tác động môi trường chiến lược 118
4.2 Các phương án giảm thiểu các tác động kinh tế - xã hội 122
4.3 Đánh giá hiệu quả của quy hoạch 126
5 Các dự án ưu tiên 129
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 130
1 Kết luận 130
2 Kiến nghị 130
PHẦN PHỤ LỤC 131
Phụ lục 1 Khái toán các hạng mục đầu tư Lâm sinh bổ sung hạng mục 131
Phụ lục 2 Tiến độ thực hiện các hạng mục đầu tư Lâm sinh 135
Phụ lục 3: Danh sách các loài quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam, sách đỏ Thế giới, Nghị định 32/2006/NĐ-CP phân bố ở Vườn Quốc gia Cát Bà 138
Phụ lục 4 Thành phần loài thực vật ngập mặn khu vực Phù Long 141
Phụ lục 5 Chi tiết diện tích Vườn Quốc gia Cát Bà sau quy hoạch 143
Phụ lục 6 Danh sách các hộ xã Gia Luận có diện tích đất sử dụng trong ranh giới VQG Cát Bà 145
Phụ lục 7 Quy chế quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững diện tích rừng và biển thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà 146
Trang 4Lời nói đầu
Theo các đánh giá của các nhà khoa học, Vườn Quốc gia Cát Bà chứađựng giá trị cao về cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học; là nơi có số lượngkiểu thảm thực vật đa dạng vào bậc cao so với các khu rừng đặc dụng của ViệtNam; là nơi có số lượng các quần thể Voọc Cát Bà là một loài linh trưởng đặc hữucủa Việt Nam Loài Voọc này hiện đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp rất cầnđược bảo vệ, bảo tồn
Ngoài các giá trị cao về đa dạng sinh học, còn nhiều hang động, cảnh quanthiên nhiên hùng vĩ độc đáo và các di chỉ, di tích lịch sử nổi tiếng, đã góp phần đưaVườn Quốc gia Cát Bà trở thành một trong số ít các Vườn Quốc gia phát triểnmạnh các hoạt động về du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học
Trong quá trình hình thành và phát triển, được sự quan tâm của Ủy bannhân dân thành phố Hải Phòng và các sở ban ngành, Ban quản lý Vườn Quốc giaCát Bà đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo tồn và phát triển tính đa dạng sinhhọc cũng như các giá trị về văn hoá, xã hội và du lịch sinh thái tạo ra được mộtVườn Quốc gia ổn định và phát triển như ngày nay
Điều tra, lập quy hoạch Vườn Quốc gia Cát Bà, thành phố Hải Phòng giaiđoạn 2006 - 2010, tầm nhìn 2020 được Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phêduyệt tại Quyết định số 2355/QĐ-UBND ngày 30/10/2006, tuy đã rà soát điềuchỉnh lại quy hoạch ranh giới, diện tích Vườn Quốc gia Cát Bà và các phân khuchức năng phù hợp với thực tiễn và có cơ sở khoa học hơn, nhưng chưa quy hoạchchi tiết các nhiệm vụ về tổ chức, quản lý, bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vữngVườn Quốc gia phù hợp với Chiến lược phát triển các khu bảo tồn trên toàn quốc
và Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính Phủ về Tổ chức vàquản lý hệ thống rừng đặc dụng
Căn cứ Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chínhphủ và Thông tư 78/2011/TT-BNN ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, Vườn Quốc gia Cát Bà cần phải xây dựng mộtkhung logic cho các hoạt động của Vườn Quốc gia phù hợp với tiêu chí chung chocác khu bảo tồn trên toàn quốc
Thực hiện Nghị định của Chính Phủ, Thông tư của bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã có Công văn số1715/UBND-NN ngày 04 tháng 4 năm 2012 cho phép Vườn Quốc gia Cát Bà lậpQuy hoạch bảo tồn phát triển bền vững Vườn Quốc gia Cát Bà đến năm 2020
Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Vườn Quốcgia Cát Bà đã cùng các cơ quan tư vấn tiến hành lập quy hoạch bảo tồn phát triểnbền vững Vườn Quốc gia Cát Bà đến năm 2020 Báo cáo quy hoạch tổng này sẽ là
cơ sở xây dựng và phát triển Vườn Quốc gia Cát Bà đáp ứng với công tác bảo tồnthiên nhiên, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái, phát triển kinh tế xã hội vùngđệm trong tương lai
Trang 5PHẦN 1: TÊN CÔNG TRÌNH VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG QUY HOẠCH
1 Tên công trình và phạm vi xây dựng quy hoạch
1.1 Tên công trình
Báo cáo quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Cát Bàthành phố Hải Phòng đến năm 2020
1.2 Phạm vi xây dựng quy hoạch
- Phạm vi: Nằm trên địa giới hành chính thuộc địa bàn các xã Phù Long,Gia Luận, Hiền Hào, Xuân Đám, Trân Châu, Việt Hải và thị trấn Cát Bà, huyệnCát Hải, thành phố Hải Phòng
- Theo Quyết định số 2355/QĐ-UBND ngày 30/10/2006 của Uỷ ban nhândân thành phố Hải Phòng về việc phê duyệt Dự án điều tra, quy hoạch Vườn Quốcgia Cát Bà thành phố Hải Phòng giai đoạn 2006 - 2010, Vườn Quốc gia Cát Bà có
tổng diện tích là 16.196,8 ha ( trong đó diện tích phần đất liền là 10.931,1 ha, diện tích phần biển là 5.265,7 ha ),
2 Căn cứ xây dựng quy hoạch
2.1 Căn cứ pháp lý
- Quyết định số 79-CP ngày 31/3/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc thành lập Vườn Quốc gia Cát Bà;
- Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chínhphủ ban hành Chiến lược Quản lý hệ thống các khu Bảo tồn thiên nhiên Việt Nam;
- Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo tồn
và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước;
- Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 27/01/2004 của Ban Thường vụ thành uỷHải Phòng ngày 27/01/2004 về việc “Xây dựng và phát triển huyện Cát Hải đếnnăm 2020”;
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, được Quốc hội thông qua ngày03/12/2004;
- Quyết định số 62/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ trưởng BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quy định về tiêu chí phân loại rừngđặc dụng;
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hànhLuật Bảo vệ và Phát triển rừng;
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chínhphủ ban hành quy chế quản lý rừng;
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phêduyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội; và Nghị định số04/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều củaNghị định số 92/2006/NĐ-CP;
Trang 6- Quyết định số 2355/QĐ-UBND ngày 30/10/2006 của Uỷ ban nhân dânthành phố Hải Phòng về việc phê duyệt Dự án điều tra quy hoạch Vườn quốc giaCát Bà thành phố Hải Phòng giai đoạn 2006 - 2010, tầm nhìn 2020;
- Quyết định số 271/2006/QĐ-TTg ngày 27/11/2006 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt "Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2020";
- Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 (Banhành kèm theo Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 củaThủ tướng Chính phủ);
- Thông tư số 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tưhướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/NĐ-CP ngày 11/01/2008 củaChính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP;
- Quyết định số 492/QĐ-UBND ngày 24/3/2009 của Ủy ban nhân dân thànhphố Hải Phòng ngày 24/3/2009 về việc cho phép thành lập Trung tâm Dịch vụ, dulịch sinh thái và Giáo dục môi trường trực thuộc Vườn Quốc gia Cát Bà;
- Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2025 tầm nhìn2050;
- Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/05/2010 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020;
- Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chínhsách chi trả dịch vụ môi trường rừng;
- Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức
và quản lý hệ thống rừng đặc dụng;
- Chỉ thị số 809/CT-BNN-KHCN ngày 28/3/2011 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn về việc lồng ghép biến đổi khí hậu vào xây dựng chiến lược,quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án phát triển ngành nông nghiệp vàphát triển nông thôn, giai đoạn 2011-2015
- Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn về việc quy định chi tiết thi hành Nghị định117/2010 ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệthống rừng đặc dụng;
- Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020;
- Quyết định số 188/QĐ-TTg ngày 13/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản đến năm2020;
- Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ
về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020;
Trang 7- Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 23/7/2012 của Ủy ban nhân dânthành phố Hải Phòng về việc phê duyệt đề cương, kinh phí lập quy hoạch bảo tồn
và phát triển bền vững rừng đặc dụng Vườn Quốc gia Cát Bà đến năm 2020;
- Thông tư sô 60/2012/TT-BNNPTNT ngày 09/11/2012 của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về nguyên tắc, phương pháp xác địnhdiện tích rừng trong lưu vực phục vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng;
- Thông tư liên tịch số 62/2012TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 16/11/2012giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài chính về hướng dẫn cơchế quản lý sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường;
- Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về việc quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm đầu kỳ (2011-2015) thành phố Hải Phòng;
- Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 06/5/11/2013 của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mụcđích sử dụng rừng sang mục đích khác;
- Thông tư số 80/2013/TTLT-BTC-BNNPTNT ngày 14/6/2013 giữa Bộ Tàichính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn chế độ quản lý, sửdụng kinh phí sự nghiệp thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng;
- Thông tư số 100/2013/TTLT-BTC-BNNPTNT ngày 26/7/2013 giữa BộTài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiệnmột số điều của Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướngChính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2010-2020;
- Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng vê việc phê
duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm2030;
- Quyết định số 1600/QĐ-UBND ngày 21/8/2013 của Ủy ban nhân dânthành phố Hải Phòng, về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng thànhphố Hải Phòng đến năm 2020;
- Thông tư số 10/2014/TT-BNNPTNT ngày 23/6/11/2013 của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về tiêu chí xác định vùng đệm của khurừng đặc dụng và vành đai bảo vệ của khu bảo tồn biển;
2.2 Các tài liệu sử dụng để xây dựng báo cáo quy hoạch
2.2.1 Kế thừa các tài liệu hiện có
- Quyết định số 237/CT ngày 01 tháng 8 năm 1991 của Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật VườnQuốc gia Cát Bà;
- Quyết định số 2355/QĐ-UBND, ngày 30 tháng 10 năm 2006 của Uỷ bannhân dân thành phố Hải Phòng về việc phê duyệt Dự án điều tra quy hoạch VườnQuốc gia Cát Bà thành phố Hải Phòng giai đoạn 2006 - 2010, tầm nhìn 2020;
Trang 8- Kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, theo dõi diễn biến tài nguyênrừng, kết quả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, các dự án đầu tư pháttriển trên địa bàn;
- Các báo cáo về tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch hàng năm củaVườn Quốc gia Cát Bà;
- Niên giám thống kê của huyện Cát Hải năm 2012;
- Đề án "Quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng thành phố Hải Phòng đếnnăm 2020";
- Báo cáo dự án xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng Vườn Quốc gia Cát
Bà thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2010-2015;
- Báo cáo dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng Vườn Quốc gia Cát Bàthành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2020;
- Đề án Điều chỉnh cơ cấu bộ máy tổ chức của Vườn quốc gia Cát Bà theoNghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 17/12/2010 của Thủ tưởng Chính phủ và Thông
tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ NN & PTNT;
2.2.2 Tài liệu khảo sát thực địa
Các báo cáo chuyên đề về điều tra bổ sung hiện trạng tài nguyên rừng, đấtrừng, biển, du lịch sinh thái và kinh tế xã hội: Đơn vị tư vấn đã cùng Vườn Quốcgia Cát Bà tiến hành điều tra ngoại nghiệp từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 6 năm
2013, cập nhật và bổ sung số liệu, chuyển hóa các số liệu lên bản đồ, kiểm chứngtại thực địa những bất hợp lý trong quá trình triển khai công tác quản lý bảo vệtrong thời gian vừa qua và dự kiến các vùng cần quy hoạch bảo vệ và phát triểnrừng cũng như sẽ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ lâm sinh và các hoạt động bảotồn khác
Các báo cáo chuyên đề cụ thể là:
- Điều tra bổ sung các khu hệ thực vật rừng và xây dựng bản đồ hiện trạngthảm thực vật rừng
- Điều tra bổ sung khu hệ động vật rừng
- Điều tra tài nguyên sinh vật biển
- Điều tra dân sinh kinh tế - xã hội
- Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái
2.2.3 Thông tin tư liệu khác
Tham vấn ý kiến các chuyên gia thuộc cơ quan quản lý nhà nước, các nhàkhoa học trong lĩnh vực bảo tồn Đã tổ chức họp hội nghị ranh giới tại huyện CátHải với sự chủ trì của lãnh đạo Đảng ủy và Ủy ban nhân dân huyện, trước đó đãthống nhất các phương án quy hoạch ranh giới và bóc tách diện tích Vườn Quốcgia với 6 xã vùng đệm và thị trấn Cát Bà
Trang 9PHẦN 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
- Kiểu địa hình núi đá vôi: Đây là vùng địa hình của một miền karst ngậpnước biển khá điển hình, bị quá trình karst chia cắt từ lâu đời thành các chóp, cácđỉnh có nhiều dáng vẻ khác nhau đã tạo nên địa hình muôn vẻ và cũng khá hiểmtrở với nhiều bề mặt lởm chởm đá tai mèo sắc nhọn Địa hình lại dốc đứng, độ cao
từ 100 m - 300 m Trên vùng này, khả năng sinh trưởng và phát triển của thực vậtdiễn ra rất chậm chạp và vô cùng khó khăn
- Kiểu địa hình đồi đá phiến: Địa hình đồi đá phiến chiếm một diện tích khánhỏ So với địa hình núi đá vôi thì địa hình đồi đá phiến mềm mại hơn nhiều, sườnthoải, đỉnh tròn và thấp hơn núi đá vôi, khả năng sinh trưởng và phát triển của thựcvật cũng khả quan hơn
- Kiểu địa hình thung lũng giữa núi: Thung lũng giữa núi là những vùngtrũng với nhiều hình dạng khác nhau thường kéo dài theo vỉa đá vôi và nối vớinhau qua sống đá thấp tạo thành máng trũng dài Thung lũng trong vùng có dángkhá bằng phẳng và được phủ bởi tàn tích của đá vôi Như thung lũng Trung Trang,thung lũng Việt Hải, thung lũng Khe Sâu đất đai ở các thung nhìn chung khá tốt
có thể sử dụng trồng cây ăn quả, rau xanh và trồng các loài cây màu, lúa
- Kiểu địa hình bồi tích ven biển: Đây là kiểu đồng bằng bồi tụ do sông,biển có độ dốc tuyệt đối thấp, địa hình bằng phẳng và luôn chịu ảnh hưởng củanước mặn và ngập triều thường xuyên hay gián đoạn theo con nước và độ cao địahình Vùng này là nơi có điều kiện rất thuận lợi cho các loài cây rừng ngập mặnsinh trưởng và phát triển
Trang 101.3 Địa chất, thổ nhưỡng
1.3.1 Địa chất
Khu vực Cát Bà cũng như phần Đông Bắc Việt Nam có lịch sử phát triểnđịa chất lâu dài, từng là một bộ phận của cấu trúc uốn nếp caledoni đánh dấu sự kếtthúc chế độ địa máng biển sâu Karstzia vào cuối kỷ Silua
Các khối đá vôi này có tuổi trung bình là các bon muộn - pecmi (250 - 280triệu năm) Cấu tạo dạng khối, đôi khi phân tầng khá mỏng, màu xám hay xámtrắng nằm xen kẽ với đá vôi silic Chúng có đầy đủ những dạng của một miềnKarst ngập nước biển, do tác động của nước mặt và nước ngầm đã tạo ra một hệthống các hang động ở các độ cao khác nhau (4 m, 15 m và 25 - 30 m) Do cáchoạt động của sóng biển đã tạo ra các ngấn sóng vỗ ở tất cả các chân đảo đá vôivùng Cát Bà và các mái hiên mài mòn dạng dài và hẹp bao quanh chân, có nơi gậpngấn sóng kép ở mức 3,5 - 4 m và 1,0 - 1,5 m ở các vùng kín, sóng biển còn tạo racác tích tụ cát rất sạch, bao quanh các đảo nhỏ Đó là các bãi tắm mini rất lý tưởngcho các dịch vụ du lịch tắm biển
Về phía Bắc và Tây Bắc đảo Cát Bà còn có một diện tích khá lớn thành tạo
đệ tứ không phân chia (Q) tạo nên dạng đồng bằng ven biển, chúng được thành tạo
do phù sa sông biển Lớp trầm tích phủ lên trên khá dày (> 2m), dưới sâu hơn làphù sa hạt thô (độ sâu 5 - 10 m) chủ yếu là sỏi cuội và cát Sát biển hơn (nơi hàngngày chịu ảnh hưởng của nước triều) có sú, vẹt, đước, trang, mắm, bần mọc dầyđặc phủ kín hầu hết diện tích này
1.3.2 Thổ nhưỡng
Kết quả điều tra thực địa cho thấy các xã trong và ngoài Vườn Quốc giaCát Bà vì nền đá mẹ hầu hết là đá vôi cùng với các điều kiện địa hình Karst và khíhậu nhiệt đới ẩm nên đã hình thành những loại đất chính như sau:
Đất Feralit đỏ nâu phát triển trên đá vôi (Fv):
Diện tích: 4.482,2 ha
Đặc điểm: Đất màu đỏ nâu, cấu tạo hạt rất chắc, đất tốt, thiếu nước, đất cóphản ứng trung tính, ít chua và khá giàu mùn, tầng đất chỉ dày 30 - 40 cm Phân bốtrên sườn ít dốc hay trong hốc đá vôi, có nhiều tại các xã Trân Châu, Gia Luận,Việt Hải
Đất Feralit nâu đỏ dốc tụ chân núi đá vôi (Tv)
Diện tích: 900,2 ha
Đặc điểm: được hình thành do sườn tích đất từ đỉnh và sườn núi trượtxuống Đất có màu vàng đỏ, thường ẩm, tầng dầy từ 50 - 100 m, có phản ứng trungtính, cấu tượng viên hơi chặt, thành phần cơ giới nặng, giàu mùn, phù hợp cho cácthảm thực vật rừng phát triển Phân bố hầu hết các xã trong quần đảo, đất thích hợptrồng cây ăn quả như Cam, Quýt, Nhãn Vải
Đất Feralit nâu vàng phát triển từ các sản phẩm phong hóa đá vôi dốc tụhỗn hợp (Th):
Trang 11Diện tích: 1.001,5 ha.
Đặc điểm: Đất màu nâu vàng, có phản ứng trung bình, ít chua, giàu mùn,thường bị khô hạn vào mùa khô, nơi thấp có thể bị úng nước tạm thời vào ngàymưa lớn Phân bố ở các thung lũng rộng có nước chảy trên mặt như thung lũngTrung Trang, Việt Hải, Gia Luận, Đồng Cỏ Đất này đã được sử dụng để trồngrừng, cây ăn quả và hoa màu
Đất dốc tụ thung lũng (Tl):
Diện tích: 342,5 ha
Được phân bố trong các thung lũng, giếng Karst Đất có màu nâu đếnvàng nhạt, tầng dày 80 - 100 cm Giàu mùn, có phản ứng trung tính đến chua Mùamưa có thể bị ngập nước tạm thời, mùa khô thiếu nước Một số diện tích đã đượckhai phá trồng lúa và hoa màu
Đất bồi chua mặn (Db ):
Diện tích: 42,5 ha
Đặc điểm: Đất này là loại đất hỗn hợp biển, đầm lầy ở bãi triều cao Phân
bố ở xã Xuân Đám về phía biển, sau này được đắp đê ngăn mặn, cải tạo để cây lúa
1.4 Khí hậu
Vườn Quốc gia Cát Bà ảnh hưởng chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịuảnh hưởng trực tiếp của khí hậu đại dương, có gió mùa Tây Nam về mùa hạ và giómùa Đông Bắc về mùa đông, ít khắc nghiệt hơn các vùng có cùng vĩ độ ở đất liền.Tuy nhiên, do sự khác biệt về địa hình, và ảnh hưởng của biển, nhất là ảnh hưởngcủa các yếu tố độ cao, hướng núi, thảm thực vật rừng mà chế độ khí hậu cũng có
sự khác nhau giữa các khu vực trong vùng
1.4.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm là: 23,60C Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7,nhiệt độ trung bình từ 28 - 290C, cao nhất 320C Tháng có nhiệt độ thấp nhất làtháng 1 nhiệt độ trung bình từ 16 - 170C, thấp nhất 100C, đôi khi xuống tới 50C.Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 nămsau Giữa hai mùa chênh lệch từ 11 - 120C
Tổng số ngày nắng trong năm dao động từ 150 đến 160 ngày, tháng caonhất có 188 giờ nắng (tháng 5, tháng 7)
Trang 12Sương mù thường xuất hiện vào mùa Đông và mùa xuân từ tháng 12 đếntháng 4 năm sau Thời gian này còn có mưa phùn (20 - 40 ngày/năm) đã làm giảmđáng kể chế độ khô hạn trong vùng.
1.4.3 Gió bão
Trong vùng, có hai loại gió chính: về mùa khô là gió Đông - Đông bắc, vềmùa mưa là gió Đông, Đông Nam Ngoài ra, bão thường xuất hiện từ tháng 6 đếntháng 10, bình quân có 2,5 trận bão/năm Bão thường kéo theo mưa lớn gây lụt lội,nhất là trong các thung, áng Bão kèm theo mưa lớn gây ảnh hưởng nặng đến các
hệ thống đê, các khu vực canh tác nuôi trồng thuỷ sản
1.5 Thuỷ văn
1.5.1 Đặc điểm thủy văn
Cát Bà là quần đảo đá vôi, gần như hệ thống sông suối trên đảo không pháttriển Những dòng chảy tạm thời chỉ xuất hiện trong cơn mưa và ngừng ngay sau khimưa Vào mùa mưa, nước đọng lại ở một số vùng nhỏ, thấm dột trong những hangđộng Tuy rất ít, nhưng đây lại là nguồn nước khá thường xuyên cho động thực vậttrên đảo Trên một số đảo nhỏ hoặc ven đảo lớn Cát Bà, nơi có nứt gãy kiến tạo chạyqua có xuất hiện "nước xuất Lộ" với dung lượng từ vài lít đến vài chục lít mỗi ngày.Nguồn nước xuất lộ lớn nhất ở suối Thuồng Luồng có lưu lượng trung bình 5 lít/s(mùa mưa 7,5 lít/s), mùa khô 2,5 l/s) Cát Bà có các túi nước ngầm, nguồn gốc thấmđọng từ nước mưa (đã khai thác 6 giếng khoan, trữ lượng khoảng 1500 - 2000
m3/ngày, mức độ khai thác cho phép khoảng 1000 m3/ ngày
1.5.2 Hệ thống suối
Hệ thống suối ở Cát Bà gồm các con suối sau:
Suối Thuồng Luồng (xã Trân Châu): Lưu lượng khá tốt, chảy quanh năm.Suối Trung Trang: Nguồn nước nhỏ, có nhiều nước trong mùa mưa, mùakhô rất ít nước
Suối Treo Cơm (khu Đồng Cỏ): Mùa mưa nhiều nước, về mùa khô ít nước.Nguồn nước Ao ếch: Ao ếch là hồ nước thiên nhiên trên núi đá vôi, diệntích trên 3,6 ha, nước có quanh năm, đạt trên dưới 30 cm, nằm giữa khu vực rừng
Trang 13nguyên sinh Ngoài ra một số áng cũng có nước quanh năm như áng Bèo, Áng Bợ,Áng Thẳm, Áng Vẹm
Nhìn chung do cấu trúc sơn văn của địa hình vùng núi đá vôi, nên trong vùngnày hầu như không có dòng suối nào có nước quanh năm Nguồn nước ngầm khá sâutồn tại dưới dạng giếng Karst và sông biển Tuy chưa có số liệu thăm dò nhưng qua dựđoán của các nhà chuyên môn thì nguồn nước ngầm khá phong phú Nước chủ yếu nằmtrong lớp phủ trầm tích, khả năng chứa nước của đá gốc là khá lớn
Khó khăn lớn nhất cho Vườn Quốc gia Cát Bà nói riêng, quần đảo Cát Bà nóichung là thiếu nước ngọt cho cả sinh hoạt lẫn tưới tiêu trong sản xuất Trong tương laikhi kinh tế phát triển việc khan hiếm nước ngọt càng trở nên bức xúc hơn
1.5.3 Đặc điểm hải văn
- Thuỷ triều theo chế độ nhật triều thuần nhất, mức nước trung bình 3,5 m Mùa mưa (tháng 5 - tháng 9) thuỷ triều lên cao vào buổi chiều Mùa khô(tháng 10 - tháng 4 năm sau) thuỷ triều lên cao vào buổi sáng
3,3 Thủy triều và mực nước: Thủy triều có tính nhật triều đều rõ ràng (trongmột ngày đêm có 1 lần nước lớn và 1 lần nước ròng) Biên độ cực đại gần 4m Doảnh hưởng của địa hình nên thường chậm pha hơn Hòn Dấu đến 30 phút
Mỗi tháng có 2 kỳ nước cường (mỗi kỳ 11 - 13 ngày) Biên độ giao động2,6 - 3,6m, xen kẽ là 2 kỳ nước kém (mỗi kỳ 3 - 4 ngày, có biên độ 0,5 - 1 m)
Trong năm, biên độ triều lớn vào các tháng 6, 7 và tháng 11, 12, còn nhỏhơn vào các tháng 3, 4 và tháng 8, 9
- Sóng vùng Cát Bà thường nhỏ, chủ yếu theo hướng Đông Bắc và ĐôngNam, trung bình 0,5 - 1 m, lớn nhất có thể đạt tới 2,8 m
- Dòng chảy vùng đảo Cát Bà khá phức tạp, tốc độ trung bình 8 - 12 cm/s
và có thể đến 50 cm/s ở các lạch hẹp Chịu ảnh hưởng của dòng chảy mùa, nên có
độ đục cao vào mùa hè do dòng nước đục từ Đồ Sơn lên (hướng Tây Nam) Vùngven bờ Cát Hải dòng triều lên đến Gia Lộc rẽ thành 2 nhánh: chảy về bến Gót ởbên phải và chảy về Hoàng Châu về bên trái với tốc độ cực đại 90 cm/s Dòng triềuxuống có hướng ngược lại Nhìn chung điều kiện khí tượng thủy văn bao gồm cảthủy văn biển ở đây thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và dịch vụ du lịch củaquần đảo Cát Bà Trong tương lai đảo Cát Bà và vịnh Hạ Long sẽ trở thành vùngkinh tế - du lịch và môi trường phát triển mạnh nhất, có tầm cỡ quốc gia và quốctế
Trang 141.6 Hiện trạng rừng và sử dụng đất
Bảng 1: Thảm thực vật rừng và sử dụng đất
TT Kiểu và kiểu phụ thảm thực vật rừng Diện tích
1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, chủ yếu
cây lá rộng trên núi đá vôi có độ cao dưới 500m
1.026,00 9,27
2 Kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tác trên núi đá vôi 3.399,63 30,73
3 Kiểu phụ rừng thứ sinh phục hồi trên núi đá vôi 8,09 0,07
4 Kiểu phụ rừng thứ sinh đất ngập nước trên núi đá vôi 5,00 0,04
1.6.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, chủ yếu cây lá rộng trên núi
đá vôi có độ cao dưới 500m
Có diện tích 1.026 ha chiếm 9,27% diện tích tự nhiên Vườn Quốc gia, phân
bố chủ yếu ở những khu vực xa dân cư Diện tích nhỏ của kiểu rừng này trên thực
tế cũng đã bị tác động nhiều năm trước đây Thành phần chủ yếu ở đây là các họ
thực vật nhiệt đới Sự ưu thế vượt trội của các họ như Dẻ Fagaceae, họ Long não Lauraceae được thể hiện rõ Các loài cây cây dễ thấy như Chò đãi Annamocarya chinensis, Sấu Dracontomelum duperreanum, Chò nhai Anogeissus acuminata, Nhội Bischofia javanica, Thung Tetranmeles nudiflora, Giổi Michelia balansae.
Một số họ có loài chiếm ưu thế như họ Ba mảnh vỏ Euphorbiaceae, sau đó
là họ Xoan Meliaceae, họ Bồ hòn Sapindaceae, họ Côm Elaeocarpaceae, họ Dâu tằm Moraceae, họ Xoài Annacardiaceae, họ Thị Ebenaceae Đặc biệt ta còn thấy xuất hiện Kim giao Podocarpus fleuryi hình thành quần thể rộng.
Tầng dưới chiếm ưu thế có các loài Vàng anh Saraca dives, Chân chim Scheffera sp., Gội Aglaia gigantea, Ô rô Taxotrophis macrophylla, Lòng mang lá cụt Pteropermum truncatolobatum
Tầng cây bụi có một số loài thực vật hạt trần, quyết thực vật Trên các vách
núi đã vôi xuất hiện loài Tuế núi đá Cycas calcarea, Đùng đinh bông đơn Caryota monostachya, Cau rừng Pinoga bariensis.
Tầng cỏ quyết hay cây thảo đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy núi
đá vôi tạo thành đất mùn như các loài thuộc họ Ngũ gia bì Araliaceae; họ Thu hải đường Begnoniaceae, họ Gai Urticaccae họ Ráy Araceae, họ Gừng Zingiberaceae.
Trang 15Trong rừng hiện tượng cây có rễ nổi, bành vè lớn, hoa quả mọc trên thâncây xuất hiện phổ biến Trên các vách đá lởm chởm hoặc dựng đứng vẫn có câybám mọc, nhưng thân cây nhỏ, khúc khuỷu tuổi thọ lâu năm Nếu vì một lý do nào
đó những cây này bị phá hủy thì phải hàng trăm năm rừng trên núi đá vôi mớikhôi phục lại được
Kiểu rừng này phân chia thành 3 tầng rõ nét:
- Tầng A: Bao gồm một số loài cây có kích thước lớn trong đó tầng vượt tán(A1) phổ biến có các loài: Sấu, Chò đãi, Chò nhai, Nhội Tầng ưu thế sinh thái (An,
A3) với một số loài ưu thế như Vàng anh, Sồi, Giẻ gai, Gội
- Tầng B: gồm một số loài cây gỗ nhỏ như Ô rô, Mạy tèo, Bứa , Sảng, Dâu
da và một số cây tái sinh của các loài như Vàng anh, Sấu, Kháo , Côm, Bứa
- Tầng C: tầng cỏ quyết thường gặp thưa thớt các loài Chè rừng, Búng báng,Song môi và một loại cây họ Ráy, họ Cau dừa
1.6.2 Kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tác trên núi đá vôi
Có diện tích lớn nhất 3.399, 63 ha chiếm 30,73% diện tích tự nhiên , phân
bố ven khu vực Đông Bắc Vườn Quốc gia Kiểu phụ rừng thứ sinh này hình thành
từ kiểu rừng trên sau khi chịu tác động mạnh của con người ở mức độ khác nhau.Hầu hết diện tích nằm ở vùng ít hiểm trở và dễ dàng vận chuyển lâm sản
Cấu trúc rừng đơn giản: tầng vượt tán (A1) hầu như không còn Tầng ưu thếsinh thái (A2, A3) chủ yếu là Mạy tèo Dimerocarpus brennieri , Ô rô Taxotrophis macrophylla Rải rác gặp một số loài như Lòng mang lá cụt Pterospernum truncatolobatum , Long bàng Dillenia turbinata, Diospfros sp., Trâm Syzygium sp., Dung Symplocos laurina, Bưởi bung Acronychia pedunculata, Bứa Garcinia sp.
Những loài cây chịu bóng, khi ánh sáng xâm nhập nhiều sẽ phát triển rấtnhanh, tạo thành tầng dày đặc các loài cây tầng dưới Các loài cây tầng dưới chủ
yếu là Taxotrophis tái sinh và các cây bụi thưa thớt thuộc họ Na Annonaceae , họ
Cà phê Rubiaceae và một số loài trong họ Lan Orchidaceae.
Đất phong hóa từ đá vôi có tầng đất còn khá dày, độ phì tốt nên lớp cây cỏsinh trưởng tốt Nếu có biện pháp quản lý, bảo vệ chặt chẽ đối với kiểu rừng này,chắc chắn rừng sẽ phục hồi nhanh chóng
1.6.3 Kiểu phụ rừng thứ sinh phục hồi trên núi đá vôi
Có diện tích rất nhỏ 8,09 ha chiếm 0,07% diện tích tự nhiên của Vườn Quốcgia Diện tích này phân bố ở khu vực sát chân núi đá vôi, trước đây đã được ngườidân khai phá trồng cây nông nghiệp nay đã bỏ hóa Ở đây đã hình thành lớp cây tái
sinh mọc nhanh như Nang trứng Enolospermum chinense, Chòi mòi Antidesma sp., Hóc quang Wendlandia sp Sảng Sterculia sp., Ngoài ra còn thấy một số loài cây bụi thưa thớt thuộc họ Na, họ Cà phê và Cỏ lào Eupatorium odoratum, Cỏ tranh Imperata cylindrica.
1.6.4 Kiểu phụ thứ sinh đất ngập nước trên núi đá vôi
Trang 16Đây là một kiểu rừng đặc biệt, với địa danh được nhiều người biết đến AoẾch của Diện tích rất nhỏ 5,0 ha chiếm 0,04% diện tích Vườn Quốc gia Về cuốimùa khô Ao ếch chỉ còn là một lớp bùn lầy, nhưng đến mùa mưa luôn ngập nước.
Trong Ao Ếch chỉ có duy nhất loài cây Và nước Salix tetrasperma thuộc họ Liễu Salicaceae.
Loài cây có rễ phụ và mọc lan trên bề mặt vùng đầm lầy
Ao Ếch là một điểm dừng tham quan trong những tour du lịch sinh thái
1.6.5 Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng tre nứa
Kiểu phụ nhân tác rừng tre nứa có diện tích 30,39 ha chiếm 0,28% diện tích
tự nhiên Vườn Quốc gia Rừng tre nứa xuất hiện do tác động của con người, kếthợp với đặc tính thích ứng nơi ẩm ướt, tầng đất còn dày rất thuận lợi cho sự xâm
nhập và phát triển nhanh chóng của một số loài thuộc phân họ Bambusoideae.
Ở diện tích thấp, đất ẩm, tốt xuất hiện diện tích nhỏ phân tán các loài Bương
Denotrocalamus spp., Tre Bambusa sp Tầng dưới có rải rác mọc các cây bụi Mua Melastoma candidum, Sim Rhodomyrtus tomentosa, ngoài ra còn xuất hiện thưa thớt cỏ Lào Eupatorium odoratum.
Ở trên các khu vực núi đá cao, rải rác các khe vách đá xuất hiện loài Sặt
Sinobambusa sat (Bal) T.Q Nguyen.
1.6.6 Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng ngập mặn
Có diện tích 254, 90 ha chiếm 2,30% diện tích tự nhiên Vườn Quốc gia Cát
Bà là một quần đảo gồm hàng trăm đảo nhỏ nhưng lại nằm ở vị trí cửa sông, nêncũng chịu ảnh hưởng bồi tụ phù sa cửa sông Diện tích đất bồi tụ phù sa cửa sôngchủ yếu tập trung ở xã Phù Long và một ít ở xã Gia Luận
Rừng ngập mặn ở đây bao gồm những cây nhỏ, thấp khác với rừng cửasông của các tỉnh Miền Nam Thực vật rừng ngập mặn chủ yếu gồm một số loài
cây họ Đước Rhizophoraceae như: Vẹt dù Bruguiera gymnorrhiza, Vẹt tách Bruguiera parviflora Đước Rhizophora apiculata, Bần chua Sonneratia caseolaris thuộc họ Bần Sonneratiaceae.
Ngoài tác dụng bảo vệ bờ biển, đê biển, rừng ngập mặn còn cung cấp nguồnthức ăn đáng kể cho các loài thủy sản
1.6.7 Quần lạc cây bụi cây gỗ rải rác trên núi đá vôi
Trạng thái này chiếm diện tích khá lớn ở Vườn Quốc gia 3.226,39 ha chiếm29,16% diện tích tự nhiên của Vườn Quốc gia Cát Bà Phân bố chủ yếu ven ranhgiới Vườn Quốc gia với các xã và ven các khu vực giáp với bờ biển, nơi ngườidân có thể tiếp cận dễ dàng Đây là những nơi mà trước đây người dân đã tận dụngquá mức nguồn tài nguyên rừng
Những hoạt động tác động vào rừng và đất rừng đã để lại những hậu quảnặng nề: lớp cây gỗ lớn đã bị mất hoàn toàn, hoặc chỉ còn lại một số ít cây gỗ congqueo phân bố rải rác Cây gỗ còn lại đa phần là những cây gỗ tạp như một số loài
cây thuộc chi Đa Si Ficus, Trâm Sizygium , Sảng Sterculia
Trang 17Kiểu thảm này tồn tại một số loài cây như Sòi tía Sapium discolor, Cũ ke Microcos paniculata, Chòi mòi Antidesma ghasembilla, Hoa giẻ Desmos sp.
Những loài cây này tái sinh tự nhiên kém, khả năng phục hồi rừng tự nhiên trên lậpđịa núi đá vôi rất khó khăn và lâu dài Quần lạc cây bụi cây gỗ rải rác trên núi đávôi là một bằng chứng về hệ sinh thái rừng mong manh, muốn phục hồi rừng phảicần thời gian hàng thế kỷ
Trên những diện tích đỉnh núi hay dông cao, do đất đai cằn cỗi, luôn lộnggió nên thực vật chủ yếu là các cây bụi thấp, hay cây gỗ đường kính nhỏ, hìnhdáng cây có sự biến dạng hình thành nên lớp cây nhỏ thấp, cong queo
Thành phần loài thực vật gồm có Dẻ Quecus sp., Chân chim lá nhỏ Scheffara persaerism; ngoài ra còn có một số loài thuộc chi Đa si Ficus và chi Thị Diospyros.
1.6.8 Đất trống, cỏ trên núi đá
Có diện tích 1.702, 63 ha, chiếm 15,39% diện tích tự nhiên , thường phân
bố ở các khu vực sát khu dân cư hay cạnh các trục đường giao thông Diện tích đấttrống, cỏ này là kết quả quá trình khai phá và lạm dụng quá mức của dân cư quanhvùng những năm trước đây
Trên các hốc đá cây gỗ không còn đã thấy xuất hiện một số loại cỏ như Cỏ
lá tre Oplismenus comporitus và lác đác có một số đại diện cây bụi thuộc họ Cà phê Rubiaceae, họ Ba mảnh vỏ Euphorbiaceae.
Ở khu vực thấp chân núi đá xuất hiện một số loài cỏ như: Cỏ Tranh
Imperata cylindrica, cỏ Lách Saccharum spontaneum, ngoài ra còn có cỏ Lào Eupatorium odoratum và một số cây bụi nhỏ.
Kiểu đất trống, cỏ trên núi đá có khả năng tái sinh thấp, nhưng nếu cónhững giải pháp quản lý và bảo vệ phù hợp, xúc tiến tái sinh khả năng phục hồivẫn còn
1.6.9 Rừng trồng
Trong ranh giới Vườn Quốc gia Cát Bà hiện có 231,18 ha chiếm 2,08% diệntích tự nhiên Vườn Quốc gia Rừng trồng chủ yếu tập trung ở các Thung Áng dọccác trục đường Rừng còn được trồng thành từng đám nhỏ theo họ và loài trongVườn thực vật của Vườn Quốc gia như Kim giao, Chò nhai, Sâng, Lát hoa, Vànganh
Diện tích trồng rừng tập trung chủ yếu là loài Keo lá tràm Acacia auriculiformis và cây bản địa.
1.6.10 Đất canh tác nông nghiệp
Diện tích 166,72 ha, chiếm 1,51% diện tích tự nhiên Vườn Quốc gia Diệntích này bao gồm diện tích đất canh tác lúa nước, hoa mầu và trồng cây ăn quả
Đây là loại đất bồi tụ trong các Thung Áng đã được khai phá từ lâu để trồngcây nông nghiệp, trong đó có diện tích 63,98 ha cây ăn quả chủ yếu là Vải thiều đã
Trang 18được trồng nhiều năm trước đây Trừ những diện tích đất nông nghiệp đã được quyhoạch giao cho dân, còn lại diện tích cây ăn quả do Vườn Quốc gia quản lý.
1.6.11 Đất mặt nước (Thung, Áng)
Có diện tích 323,69 ha chiếm 3,38% diện tích tự nhiên Vườn Quốc gia quản
lý Đây là diện tích mặt nước biển nằm trong diện tích Quy hoạch quản lý Trênthực tế với các loài thủy sinh sống trong diện tích mặt nước gần bờ đã góp phầnlàm tăng thêm tính đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia Cát Bà
1.6.12 Đất bùn lầy, ngập nước, nuôi trồng thủy sản
Có diện tích 537,89 ha, chiếm 5,79% diện tích tự nhiên Vườn Quốc gia Cát
Bà quản lý Phân bố chủ yếu ở xã Phù Long, nơi chịu ảnh hưởng nhiều của quátrình bồi tụ phù sa cửa sông
Diện tích đất bùn lầy ven biển là 237,86 ha chịu ảnh hưởng mạnh của thủytriều, trên diện tích này các loài cây ngập mặn chưa phát triển
Trên các diện tích bùn lầy cố định, nhiều hộ dân đã đắp đê bao hình thànhcác khu nuôi thủy sản chủ yếu Sò huyết, Ngao
(245 loài) như: Cà pháo Capsicum undatum, Khoai lang Ipomoea balatas, Rau muống Ipomoea aquatica, Sắn Manihot esculenta, Lúa Oryza sativa, Ớt Capsicum frutescens, cùng một số loài cây rừng được đem về gây trồng thuộc nhiều vùng sinh thái khác nhau như: Sao đen Hopea odorata, Dầu con rái Dipterocarpus alatus, Dầu song nàng D dyeri, Dầu trà beng D obtusifolius, Chò chỉ Shorea chinensis thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), Du sam Keteleeria evelyniana, Thông caribe Pinus caribaea, Thông nhựa P merkusssii họ Thông (Pinaceae), Móng bò hoa tím Bauhinia purpurea, Hoa ban Bauhinia variegata, Cà te Afzelia xylocarpa
họ Vang (Caesalpiniaceae), Quỳnh Epiphyllum oxypetalum, Càng cua Zygocactus truncatus thuộc họ Xương rồng (Cactaceae), Tràm bông đỏ Callistemon citrinus, các loài Bạch đàn Eucalyptus spp thuộc họ Sim (Myrtaceae) cùng nhiều loài khác
đã được đánh dấu (*) trong danh lục
Bảng 2: Thành phần loài khu hệ thực vật Vườn Quốc gia Cát Bà
Trang 19Bảng 3: Các loài bổ sung cho khu hệ Thực vật Cát Bà
Thiệp, Đoàn Văn Cẩn; 4 = Lê Đức Thanh, Vũ Văn Cần
2 Barringtonia acutangula (L.) Gaertn. Lộc vừng Lecythidaceae 3
3 Begonia aff semicava Irmsch Thu hải đường lá nhám Begoniaceae 4
5 Calocedrus macrolepis Kurz Bách xanh Cupressaceae 3,4
6 Castanopsis ferox (Roxb.)
9 Croton oblongifolius Roxb* Cọ páo Euphorbiaceae 3,4
10 Delavaya toxocarpa Franch* Mắc rạp Sapindaceae 3,4
11 Dracaena sanderiana forma virescens Hort. Bồng bồng Agavaceae 4
12 Erythropalum Scandens Blume Bò khai Olacaceae 3,4
13 Fissistigma thorelii (Pierre ex
Fin & Gagnep.) Merr Bổ béo trắng Annonaceae 3,4
15 Goniothalamus macrocalyx Ban Màu cau trắng Annonaceae 3
16 Isoglossum clemensorum (R
Trang 2017 Lausena indica (Dalzell) Oliv Mắc mật Rutaceae 3
18 Lithocarpus hemisphaericus (Drake) Barnett Dẻ bán cầu Fagaceae 3
19 Murraya glabra (Guillaum.) 1946 Vương tùng Rutaceae 3,4
20 Murruya paniculata (L.) Jack. Nguyệt quế Rutaceae 3,4
21 Polyalthia benth et Hookcerasoides* Nhọc anh đào Annonaceae 3
23 Sophora tonkinensis Gagn., Sơn đậu căn Fabaceae 4
26 Tinospora sagittata (Oliv.)
27 Trigonostemon phyllocalix Gagn Tam hùng đài lá Euphorbiaceae 4
1.7.1.2 Cấu trúc thành phần loài
Như vậy, trong tổng số 7 ngành, 284 họ thực vật có mạch được xác định phân
bố ở Việt Nam, thì đã ghi nhận được 5 ngành, chiếm 71,43% về số ngành và 187 họ,chiếm 65,85% về số họ Ngành có số lượng cá thể đóng vai trò chủ đạo trong cấu trúc
hệ thống thực vật Cát Bà thuộc về Ngành Mộc lan - Magnoliophyta 1494 loài vàchiếm 94,08% tổng số loài ghi nhận được trong khu hệ thực vật Ngọc Linh, đứng ở vịtrí thứ hai thuộc về Ngành Dương xỉ - Polypodiophyta 63 loài chiếm 3,97% kế tiếpNgành Thông - Pinophyta 24 loài chiếm 1,51%, Thông đất - Lycopodiophyta 6 loàichiếm 0,38% và và còn lại là ngành Tháp bút – Equisetophyta chỉ có 1 loài chiếm0,06%
1.7.1.2.1 Sự đa dạng loài, chi và họ thực vật
Trong tổng số 1.585 loài, 850 chi và 187 họ trong hệ thực vật Cát Bà, chọn
ra 10 họ có số loài lớn nhất, 10 chi có số loài nhiều nhất, các họ có số loài lớn hơn
số loài trung bình của các họ (>= 9 loài), được thể hiện trong các bảng dưới đây
Từ đó đánh giá sự đa dạng về loài, chi và họ thực vật của khu vực
Bảng 4: Các họ thực vật có số loài lớn nhất trong Vườn Quốc gia Cát Bà
Trang 2110 Xoan (Meliaceae) 30
Bảng 5: Chi thực vật có số loài nhiều nhất trong Vườn Quốc gia Cát Bà
số loài của 10 chi nhiều loài nhất 119 loài
Ngoài 10 họ có số loài nhiều nhất ở bảng trên, các họ có số loài lớn hơn sốloài trung bình của các họ (>= 9 loài) được thống kê trong bảng dưới đây:
Bảng 6: Họ thực vật Vườn Quốc gia Cát Bà
có số loài lớn hơn số loài trung bình
Trang 22Ngũ gia bì (Araliaceae) 14 Nhài (Oleaceae) 9Hoa mõm chó (Scrophulariaceae) 14 Táo ta (Rhamnaceae) 9
Bìm bìm (Convolvulaceae) 13
Theo Tolmachop A L (1974) chỉ ra rằng: “Ở vùng nhiệt đới, thành phầnthực vật khá đa dạng được thể hiện ở chỗ rất ít họ chiếm 10% tổng số loài của hệthực vật, và tổng tỷ lệ % của 10 họ nhiều loài nhất chỉ đạt 40 - 50% tổng số loàicủa cả hệ thực vật” Như vậy, trong số 187 họ thực vật đã được ghi nhận tại Cát Bà
có tới 47 họ có 10 loài trở lên Từ danh sách trên chúng ta nhận thấy: Họ thực vật
có số loài lớn nhất là họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae) có 81 loài chiếm 5,1% tổng
số loài của hệ thực vật, tức không có họ nào chiếm tới 10% tổng số loài của hệthực vật Mặt khác, tổng số loài của mười họ có số loài nhiều nhất là 517 loàichiếm 32,5% tổng số loài của cả hệ thực vật (<40%) Như vậy, theo Tolmachop A
L (1974) thì Vườn Quốc gia Cát Bà có thành phần loài thực vật rất đa dạng
Mười chi có số loài lớn nhất chiếm 119 loài, chiếm tỷ lệ 14% tổng số chi, rõràng, 10 chi này chưa phải chưa phải là đại diện ưu thế cho các chi trong khu điềutra, điều đó lại khẳng định tính đa dạng về chi của rừng
Đối với họ thực vật, có hai chỉ tiêu chính đánh giá đa dạng họ thực vật là:(1) Tổng số các họ có số loài lơn hơn số loài trung bình của các họ chiếm khôngquá 40% tổng số các họ thực vật (2) có nhiều họ có 1 đến 2 loài, chiếm 10% -20% tổng số họ
Trong khu Cát Bà có 187 họ thực vật với tổng số 1585 loài, mỗi họ có sốloài trung bình = 8,5 Từ bảng trên ta thấy số họ có số loài lớn hơn 8,5 tức có từ 9loài trở lên là 53 họ chiếm 28,3% tổng số họ thực vật của hệ thực vật (<40%) Mặtkhác, tổng số họ thực vật có 1 đến 2 loài có 67 họ chiếm 35%, điều đó chứng tỏ hệthực vật ở đây cũng rất đa dạng về các họ thực vật
1.7.1.2.2 Một số đặc điểm về xuất xứ thực vật
Trong thành phần thực vật ở đây hội tụ đầy đủ các yếu tố thực vật có liênquan đến khu hệ thực vật Việt Nam Trước hết kể đến khu hệ thực vật bản địa BắcViệt Nam - Nam Trung Hoa gồm các đại diện tiêu biểu là các cây trong họ Dẻ
(Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Óc chó (Juglandaceae), họ Xoan (Meliaceae),
họ Đậu (bao gồm cả họ Vang, họ cánh Bướm và họ Trinh nữ), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), Đây là yếu tố chiếm ưu thế trong
hệ thực vật Cát Bà Ngoài ra còn có các luồng thực vật khác di cư đến:
Luồng thứ nhất: Từ phía Nam đi lên là luồng các yếu tố Malaixia
-Indonêxia trong đó họ Dầu (Dipterocarpaceae) là họ tiêu biểu với 6 loài: Chò nâu
-Dipterocarpus retusus, Chò chỉ - Shorea chinensis, Sao hồng gai - Hopea chinensis, Táu nước - Vatica glabrata, Táu lá nhỏ -Vatica odorata subsp odorata
và Táu muối gân nhẵn - Vatica diospyroides đều là những loài trong họ Dầu di cư
lên phía Bắc
Luồng thứ hai: Từ phía Tây Bắc đi xuống bao gồm các yếu tố vùng ôn đới
theo độ vĩ Vân Nam - Quí Châu và chân dẫy núi Himalaya, trong đó có các loài
Trang 23cây thuộc ngành Thông (Pinophyta), họ Dẻ (Fagaceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae)
và các loài cây lá rộng rụng lá thuộc họ Thích (Aceraceae)
Luồng thứ ba: Từ phía Tây và Tây nam đến là luồng gồm các yếu tố
Indonêxia-Malaisia của vùng khô hạn Ấn Độ - Miến Điện, tiêu biểu là một số loài
rụng lá như Sâng - Pometia pinnata, các loài trong họ Bàng (Combretaceae) cùng
nhiều họ khác
1.7.2 Giá trị khoa học của hệ thực vật
1.7.2.1 Loài mới
Trong số 1.585 loài còn có 1 loài mới ghi nhận cho hệ thực vật Việt Nam và
khoa học trong những năm đầu thế kỷ XXI, đó là Tuế hạ long Cycas tropophylla
K.D.Hill& PhanK.Loc, loài Tuế này được các nhà khoa học thuộc Viện Sinh thái
và Tài nguyên Sinh vật phát hiện Cho đến nay loài Tuế hạ long mới chỉ được ghinhận tại vùng đảo Hạ Long và Cát Bà, chúng thường mọc rải rác tại các vách đádựng đứng có độ dốc cao và ở các đỉnh núi
1.7.2.2 Các loài trong sách đỏ Việt Nam 2007, Sách đỏ Thế giới và Nghị đinh 32/2006/NĐ-CP
Trong số 1585 loài thực vật thống kê được ở Cát Bà có 81 loài thực vậtnguy cấp, quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam 2007, Sách đỏ Thế giới, Nghị định32/2006/NĐ-CP Để được rõ hơn về thực vật quý hiếm ở đây, chuyên đề tiến hànhthống kê, phân tích các loài đó dưới hai dạng là: thực vật quý hiếm phân bố ở Cát
Bà (57 loài) và thực vật quý hiếm được đưa từ nơi khác về gây trồng (24 loài):
- Thực vật quý hiếm có phân bố ở Cát Bà
Trong số các loài thực vật đã thống kê được thì thực vật quý hiếm trongsách đỏ Việt Nam (2007), Sách đỏ thế giới, Nghị định 32/2006/NĐ-CP có phân bố
ở Cát Bà có đến 57 loài chiếm 3,59% tổng số loài đã ghi nhận được ở khu hệ thựcvật Trong đó, thực quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam 2007 là 43 loài chiếm 2,71%tổng số loài đã ghi nhận được ở khu hệ thực vật , Sách đỏ thế giới (IUCN 2009Red List of Threatened Plants) có 16 loài chiếm 1,01%, Nghị định 32/2006/NĐ-CP
có 11 loài chiếm 0,69%
Trong số 57 loài thống kê được nói trên, có 9 loài: Ba gạc lá to - Rauvolfia cambodiana; Ba gạc vòng - Rauvolfia verticillata; Đinh hương - Dyoxylum cauliflorum; Huỳnh đường - Dyoxylum loureirii; Sao hồng gai - Hopea chinensis; Sến mật - Madhuca pasquieri; Trắc balansa – Dalbergia assamica; Táu muối - Vatica diospyroides; Táu lá nhẵn - Vatica subglabra, là những loài trong đợt điều
tra này không bắt gặp, đồng thời các tài liệu về điều tra thực vật đã thực hiện ở đây
từ năm 2006 đến nay, đặc biệt là chương trình điều tra cây gỗ quý hiếm thực hiện ởđây năm 2011, không bắt gặp được các loài trên, hơn nữa trao đổi với một sốchuyên gia thực vật, cho rằng các loài trên cần phải xem xét lại sự phân bố củachúng ở đây (Danh sách các loài thực vật quý hiếm phân bố ở Cát Bà và tình trạngcủa chúng xem chi tiết phụ lục)
Qua số liệu trên cho thấy ở xuất hiện một số lượng đáng kể các loài thựcvật nguy cấp, quý hiếm của Việt Nam và thế giới cũng như đặc hữu Điều này chỉ
Trang 24ra rằng, về mục tiêu bảo vệ thực vật, Cát Bà xứng đáng là một Vườn Quốc Gia cógiá trị cao về đa dạng thực vật trong hệ thống các khu rừng đặc dụng của nước ta
- Thực vật quý hiếm được đưa từ nơi khác về gây trồng
Trong số 81 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm được thống kê cho Vườn quốcgia Cát Bà, có 24 loài được đưa từ nơi khác về gây trồng, bảo tồn Tuy nhiên tại
đây, có hai loài sinh trưởng và phát triển rất tốt là: Sưa - Dalbergia tonkinensis và Lim xanh - Erythrophleum fordii, nhưng có loài sinh trưởng và phát triển kém như
là: Bách xanh - Calocedrus macrolepis, một số loài trong đợt điều tra này không
gặp được, theo tham vấn chuyên gia thực vật thì sinh cảnh ở Cát Bà rất khó cho
chúng sinh trưởng, phát triển nên có thể đã chết như là: Cà te - Afzelia xylocarpa; Cẩm lai - Dalbergia oliveri; Pơ mu - Fokienia hodginsii; Trúc đen - Phyllostachys nirga; Trúc vuông - Chimonobambusa yunnanensis; Du sam - Keteleeria evelyniana; Gụ mật - Sindora siamensis.
Bảng 7: Danh sách các loài quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam, Sách đỏ Thế Giới,
Nghị định 32/2006/NĐ-CP được đưa từ nơi khác về trồng
SĐVN IUCN NĐ32
5 Chò chỉ Shorea chinensis (Wang Hsie) H Zhu VU EN
6 Dáng hương quả to Pterocarpus macrocarpus KurzG EN II
7 Dầu con dái Dipterocarpus alatus Roxb ex
8 Dầu song nàng Dipterocarpus dyeri Pierre ex Laness.G VU CR
10 Gụ mật Sindora siamensis Teysm ex
13 Nghiến Excentrodendron tonkinense
14 Pơ mu Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry et H.Thomas G EN LR II
16 Sơn huyết Melanorrhoea laccifera PierreG VU
Trang 2517 Sưa Dalbergia tonkinensis Pierre VU
21 Trúc vuông Chimonobambusa yunnanensis Hsueh CR
1.7.2.3 Tài nguyên thực vật
Kết quả thống kê cho thấy trong tổng số 1.585 loài thực vật đã được ghinhận ở Vườn Quốc gia Cát Bà, có tới 1.316 loài cây tài nguyên thuộc 6 nhóm côngdụng khác nhau (có loài thuộc nhiều nhóm công dụng):
Nhóm cây cho gỗ (Gỗ): có 432 loài, nhưng hầu hết thuộc nhóm gỗ hồng sắc
và tạp mộc Nhóm gỗ thiết mộc và gỗ có giá trị kinh tế cao như: Trai lý (Garcinia fagraeoides), Nghiến (Burretiodendron tonkinense), Đinh (Fernandoa spp.), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Sến mật (Madhuca pasquieri), Sưa (Dalbergia tonkinensis), Chò chỉ (Shorea chinensis), Giổi (Michelia spp.) lại không nhiều cả
về thành phần loài lẫn số lượng cá thể
Nhóm cây làm thuốc (Thuốc): Dựa vào từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ
Văn Chi (2012), chúng tôi đã thống kê được Vườn Quốc gia Cát Bà có tới 1026loài có thể dùng làm thuốc, chiếm tới 64,6% so với tổng loài Tỷ lệ này cho thấyVườn Quốc gia Cát Bà có rất nhiều loài cây thuốc, chiếm một vị trí rất quan trọngcủa khu hệ Tuy nhiên, các loài cây vốn vẫn được coi là quí luôn có mặt trên thị
trường thì không nhiều như Bổ cốt toái Drynaria fortunei, Thông đất Lycopodiella cernua, Sa mộc Cunninghania lanceolata, Bạch nhật Gomphrena globosa Một
số loài cây làm thuốc được người dân cho là có giá trị kinh tế cao và được sử dụng
nhiều hiện nay như: cây Củ gió Tinospora sagitta, cây Xạ đen celastrus hindsii, cây Thuốc máu Vernonia aff acumingiana, cây Bổ béo Fissistigma thorelii, trầm Chuối guộc, cây Bình vôi Stephania rotunda, cây khôi tía Ardisia gigantifolia , cây kim ngân Lonicera japonica, cây Sơn đậu căn Sophora tonkinensis…
Nhóm cây ăn được (Ăn): Bao gồm tất cả các loài cây có các bộ phận ăn
được như: Hoa, quả, hạt, lá, thân, củ được con người sử dụng trong sinh hoạthàng ngày gọi chung là cây ăn được Dựa trên quan niệm đó có tới 273 loài, chiếm17,2% so với tổng loài Trong đó, loài có khá phổ biến trong rừng như: loài Màn
màn Cleome viscosa, loài Rau dớn Diplazium esculentum, Sấu Dracontomelon duperreanum, Sung Ficus chlorocarpa… Loài đang bị khai thác mạnh như: Bò
khai, Sấu, Quất hồng bì, Mắc mật, Rau sắng, Nhân trần…
Nhóm cây làm cảnh và cây bóng mát: Bước đầu đã thống kê được 253
loài, chiếm 15,% so với tổng loài Họ có nhiều loài làm cảnh nhất là họ Phong lan
Trang 26(15 loài), tiếp đến là họ Cau dừa (17 loài) Đặc biệt, trong họ Lan có một số loài
có hoa đẹp như: Lan vân đa Vanda sp, Lan hoàng thảo Dendrobium sp, Lan quế Aerides odorata, Lan hài đốm Paphiopedium concolor Ngoài ra ở đây còn xuất
hiện nhiều cây có hoa đẹp khác như các loài trong họ Bóng nước(Balsaminaceae), họ Thu hải đường (Begoniaceae) , một số loài Khuyết thực vật
cũng như nhiều loài cây gỗ: Sấu Dracontomelon duperreanum, Lát hoa Chukrasia tabularis, Chò chỉ Shorea chinensis, Gội nếp Aglaia spectabilis, Các loài tuế Cycas spp, có dáng đẹp đều có thể dùng làm cây cảnh và trồng lấy
bóng mát ven đường phố hoặc trong công viên Ngày nay, khi đời sống xã hộingày một nâng cao, nhu cầu về cây cảnh để trang trí nội thất và phong cảnh ngàycàng nhiều thì không chỉ đòi hỏi việc quản lý tốt nhóm tài nguyên này mà cònphải nhanh chóng phát triển chúng
Nhóm cây cho sản phẩm chiết xuất nhựa: Thống kê được 26 loài chiếm
1,6% tổng số loài Một số cây cho sản phẩm này như là: Sơn lác - Toxicodendron succedana, thuộc họ Đào lộn hột (Anacardiaceae); Trám trắng - Canarium album; Trám đen – Canarium tramdenum; Trám hồng – canarium bengalensis; Trám ba cạnh – Canarium subulatum thuộc họ trám (Burseraceae); Bứa nhuộm – Garcinia tinctoria thuộc họ bứa (Clusiaceae)….
Nhóm cây nguyên liệu hàng mỹ nghệ: Thống kê được 45 loài chiếm
2,8% tổng số loài Họ có nhiều loài làm nguyên liệu hàng mỹ nghệ nhất là họ cỏ
(Poaceae) với 28 loài như là: Tre gai – Bambusa blumeana; Tre xiêm – Bambusa tulda; Lồ ô – Bambusa procera; Nứa - Schizostachyum dulloa… Sau đấy là họ Cau dừa (Arecaceae) với 7 loài trong nhóm công dụng này như là: Mái - Calamus walkeri ; Mây mật – Calamus tetradactylus; Mây tắt – Calamus dioicus …
1.7.2.4 Thực vật rừng ngập mặn
Cùng với rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn là một tài nguyên quý giá tạiđảo Cát Bà Hệ sinh thái rừng ngập mặn của Cát Bà đã tạo nên nét đặc biệt choVườn quốc gia Cát Bà so với nhiều Vườn quốc gia khác Đây là nhóm loài câyphát triển trên vùng đất lầy, ngập nước mặn vùng cửa sông, ven biển, dọc theo cácsông ngòi, kênh rạch có nước lợ do thủy triều lên xuống hàng ngày Nhóm cây nàytạo nên hệ sinh thái rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng chống biến đổi khíhậu và điều hòa khí hậu, chống bão gió, sóng biển…, bảo vệ bờ biển, đê biển, muamùa màng,…góp phần ổn định và phát triển kinh tế… Qua quá trình điều tra,thống kê được 30 loài thực vật ngập mặn ở đây chiếm 1,45% tổng số loài củaVườn Quốc gia (xem chi tiết phụ lục 4) Các loài thực vật ngập mặn ở đây baogồm: Loài cây ngập mặn thực thụ, loài cây tham gia rừng ngập mặn; Các loài câycòn lại là những loài nội địa, phát tán ra vùng ven biển, sống ở nơi đất ít bị nhiễmmặn (bờ đê, bờ đầm) Họ có số lượng loài cây rừng ngập mặn nhiều nhất ở đây là
họ Đước (Rhizophoraceae) với 9 loài, trong đó có những loài là thành phần chính
ở đây như là: Trang Kandelia candel; Vẹt dù Bruguiera gymnorhiza; Đước Rhizophora apiculata Một số diện tích rừng ngập mặn ở đây đang được kết hợp
-với nuôi trồng thủy sản, vì vậy cần có những biện pháp bảo vệ và cơ chế để tránhnhững tác động bất lợi tới hệ sinh thái quan trọng này
Trang 271.8 Khu hệ động vật
1.8.1 Khu hệ động vật rừng
Dựa trên các dẫn liệu của Phạm Nhật , 1998, Đỗ Quang Huy, 2004, ĐỗTước, Đặng Thăng Long, 2006 và Đỗ Quang Huy, 2011 cộng với một số dẫn liệu
2013 đã thống kê được 343 loài động vật có xương sống ở cạn (bảng 8)
Bảng 8 Thành phần loài động vật ghi nhận tại VQG Cát Bà
Như vậy, đợt khảo sát này chỉ bổ sung được 5 loài Tuy vậy, loài Báo gấm
Neofelis nebulosa, Tê tê Manis pentadactyla, và Mang Muntiacus mantjak, không
đủ căn cứ chúng còn tồn tại hay đã bị tiêu diệt ở Cát Bà nên chưa liệt kê vào danhsách
Bảng 9: Tổng hợp đa dạng loài thú
Tên phổ thông Tên khoa học
Trang 28Dơi và Gặm nhấm có số loài đa dạng nhất Các bộ kém đa dạng nhất là: bộ Ăn sâu
bọ, Nhiều răng và Móng guốc chẵn, mỗi bộ chỉ có 1 họ, 1 loài
Bảng 10: So sánh tài nguyên Chim với cả nước
Số loài Số họ Số bộ Nguồn tài liệu
1999Vườn Quốc gia Cát
Bảng 11: Tổng hợp đa dạng loài chim
TT
Bộ - Họ
Số họ Số loài
% Số loài
Tên phổ thông Tên khoa học
Trang 29do Cát Bà không có hệ sinh thái bãi ngập triều, diện tích rừng ngập mặn nhỏ, lại bịtác động quá mạnh.
Về phân bố số loài theo các bộ: Theo bảng 11, bộ Sẻ có số họ và loài đadạng nhất, 25 họ (30.8% tổng số họ), 116 loài (chiếm 56,6% tổng số loài) Đâycũng là tính chất chung của khu hệ chim Việt Nam, vì bộ Sẻ có số lượng họ, loàiđông nhất và gồm phần lớn là các loài chim nhỏ, dễ thích nghi với dạng sinh cảnh
bị tác động Tiếp theo là bộ Rẽ có 4 họ, 16 loài; bộ Cò 1 họ, 14 loài, bộ Cắt 3 họ,
11 loài Các bộ có số loài trung bình: bộ sả (có 9 loài), bộ Sếu và Cu cu (có 8 loài).Các bộ kém đa dạng nhất là: bộ Chim lặn, Hải âu, Gà và Cú muỗi mỗi bộ chỉ có 1
họ, 1 loài
1.8.1.3 Khu hệ bò sát
Kết quả điều tra đã ghi nhận tại Cát bà 55 loài Bò sát thuộc 14 họ và 2 bộ
So với các kết quả điều tra trước đây tại Cát Bà (Phạm Nhật, Đỗ Quang Huy 1998,
1999, 2000; Đỗ Quang Huy 2004; Đỗ Tước và cộng sự 2006); đợt điều tra nàykhông bổ sung cho danh lục Bò sát Cát Bà loài nào
So với tài nguyên Bò sát cả nước có 489 loài, 23 họ, 3 bộ, Khu hệ Bò sátCát Bà có 55 loài bằng 11,3%; 14 họ bằng 60,9%; 2 bộ bằng 66,66% (Đỗ QuangHuy,2010)
Bảng 12 So sánh tài nguyên Bò sát với cả nước
Số loài Số họ Số bộ Nguồn tài liệu
Vườn Quốc gia Cát
Trang 30Theo bảng 13, bộ Có vẩy có số họ và loài đa dạng nhất 12 họ, 53 loài(chiếm 96,4% tổng số loài) Bộ Rùa có 2 họ, 2 loài.
Trong các họ, họ Rắn nước có số loài nhiều nhất, 19 loài (chiếm 34,5%).Các họ có số loài trung bình là: họ Thằn lằn bóng (8 loài), họ Tắc kè, họ Rắn hổ,
họ Rắn lục mỗi họ 5 loài Họ Thằn lằn giun, họ Vích, họ Thằn lằn thực, họ Rắngiun, họ Trăn, họ Rùa đầm, họ Kỳ đà mỗi họ 1 loài
Yếu tố đặc hữu có loài Tắc kè Cát Bà
Kết quả điều tra đã ghi nhận tại Cát bà 25 loài Ếch nhái thuộc 7 họ và 1
bộ So với các kết quả điều tra trước đây tại Cát Bà (Phạm Nhật, Đỗ Quang Huy
1998, 1999, 2000; Đỗ Quang Huy 2004; Đỗ Tước và cộng sự 2006), đợt điều tranày đã bổ sung cho danh lục động vật Cát Bà 4 loài
Bảng 14: So sánh tài nguyên ếch nhái với cả nước
Số loài Số họ Số bộ Nguồn tài liệu
Nguyễn Văn Sáng và cs, 2009
Vườn Quốc gia Cát
Trang 31So với tài nguyên ếch nhái cả nước có 172 loài, 10 họ, 3 bộ, Khu hệ ếchnhái Cát Bà có 25 loài bằng 14,3%; 7 họ bằng 70,0%; 1 bộ bằng 33,3% Căn cứvào chỉ số đánh giá ĐDSH, Khu hệ Ếch nhái Cát Bà mức độ đa dạng cao về số bộ
Trang 32Bảng 16: So sánh tài nguyên động vật Cát Bà với một số Vườn Quốc gia &
khu bảo tồn thiên nhiên khác Lớp động vật
1.8.2 Giá trị bảo tồn của khu hệ động vật
Bảng 17: Danh sách các loài động vật quý hiếm
3 Voọc Cát Bà Trachypithecus
Trang 3314 Cò trắng trung
quốc
18 Dù dì phương
đông
Trang 34Bảng 18 Tổng hợp các loài động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo tồn
tại Vườn Quốc gia Cát Bà
bò sát 6 loài) được xếp hạng EN (nguy cấp) Trong các loài này, Sơn dương, Rắn
hổ mang, Kỳ đà hoa, Rắn cạp nong, Rắn ráo, Rắn ráo trâu đang bị săn bắt mạnh vìmục đích thương mại
1.8.3 Tình trạng và phân bố một số loài nguy cấp, quý hiếm
1.8.3.1 Voọc Cát Bà - Trachypithecus poliocephalus:
Đây là loài Linh trưởng đặc hữu của Việt Nam, ở mức độ Rất nguy cấp(CR) Voọc Cát Bà hiện nay chỉ còn lại duy nhất trên đảo Cát Bà Năm 1998 còn
120 - 150 con; 2004 còn khoảng 63 con Do một số cá thể loài Voọc này sống côlập trên những hòn đảo nên khó hợp đàn, một phần nạn săn bắn vẫn còn lén lút xẩy
ra và do canh tác của người dân địa phương đã gây nhiễu loạn đến vùng sống củachúng Trong tương lai gần nếu không có các biện pháp bảo vệ thích hợp thì loàiVoọc này có nguy cơ tuyệt diệt ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới
+ Khu giữa Cái Minh Tự và Việt Hải (Bán đảo Cái Minh Tự) có khoảng 5
cá thể chiếm 7,9% tổng số cá thể
+ Khu vực Cửa Đông - Áng Vả - Khe Sâu (Bán đảo Cửa Đông tới hồ ÁngVẹm) có khoảng 18 cá thể chiếm 28,6% tổng số cá thể
Trang 35+ Khu vực Hang Cái - áng Dế (Bán đảo Hang Cái - Hòn Con Chó - ĐèoCao) có khoảng 11 cá thể chiếm 17,5% tổng số cá thể.
+ Khu vực đảo Hẹn Táo - Cái So - Lẻ Mòi có 1 cá thể chiếm 1,6% tổng số
cá thể
+ Khu vực áng Vòng : có khoảng 4 cá thể chiếm 6,6% tổng số cá thể
1.8.3.2 Sơn dương - Capricornis milneedwardsii
Đây là loài loài thú móng guốc lớn nhất còn tồn tại ở Cát Bà Trước đây (từ1980), Sơn dương phân bố rộng khắp các sườn núi đá vôi trên đảo và tương đốiphổ biến Tuy nhiên những năm gần đây số lượng đã giảm sút nghiêm trọng do sănbắt
Tại khu vực Tùng Gấu một con Sơn dương bị bẫy vào tháng 1 năm 2005(Rosi Stenke 2005), tại Giỏ cùng một cá thể bị mắc bẫy được lực lượng Kiểm lâmVườn giải cứu năm 2009
Trong các đợt khảo sát chúng tôi đã quan sát được dấu chân, vết ăn vàphân của Sơn dương tại nhiều địa điểm rải rác trong Vườn quốc gia Ước tính hiệnnay trên toàn diện tích Vườn Quốc gia còn khoảng 30 cá thể (Đỗ Quang Huy,2010) Theo phỏng vấn thợ săn, có lẽ khu vực Tiểu khu 1 (Giỏ Cùng) là nơi Sơndương khá tập trung
Bảng 19: Một số địa điểm ghi nhận Sơn Dương tại đảo Cát Bà
Khu vực Số cá thể (cá thể) Tổng Căn cứ ước lượng
- Vị trí tương đối giữa các tuyến
- Tình hình điều tra thực tế
1.8.3.4 Rái cá thường (Lutra lutra), Rái cá vuốt bé ( Aonyx cinerea)
Trang 36Người dân ở xã Phù Long vẫn bắt được hai loài này khi chúng vào đầm bắt
1.8.3.6 Hồng hoàng (Buceros bicornos)
Là loài chim lớn, có giá trị làm cảnh, Sách đỏ Việt Nam 2007 ghi cấp VU,Phu lục IIB NĐ 32 Trước đây khá phổ biến tại Vườn Quốc gia, trong các đợt điềutra năm 1998, 2004, 2006 không còn gặp loài này và một số ý kiến (Đỗ Tước vàcộng sự) cho rằng đã bị tiêu diệt tại Cát Bà Năm 2011 đã quan sát lại được 1 quầnthể tại khu vực gần Ao Ếch (Đỗ Quang Huy và cộng sự, 2011)
1.8.3.7 Các loài chim ăn thịt (Diều hoa, Diều hâu, Dù dì phương đông, Cú lợn lưng xám, Cắt nhỏ họng trắng )
Nhìn chung, các loài chim ăn thịt còn tương đối phổ biến và thường gặp tạiCát Bà, hiện tại chúng không phải là đối tượng săn bắn, môi trường sống và thức
ăn khá dồi rào nên ít chịu nguy cơ tuyệt chủng Trong đó, Diều hâu rất phổ biếnvào mùa đông, đã quan sát 1 đàn gần 30 cá thể ở Việt Nam, mùa hè gặp ở nhiềunơi trong rừng núi đá và rừng ngập mặn Phù Long Diều hâu cũng thường gặp ởvùng này
- Trăn đất, Kỳ đà hoa, Rắn hổ mang chúa, có thể bắt gặp ở sinh cảnh rừng từrừng giàu, trung bình tới rừng nghèo, phục hồi ở độ cao dưới 150m Riêng loài Kỳ
đà hoa thường gặp ven bờ đảo Tiểu khu I (phỏng vấn)
- Các loài Rắn hổ mang, Rắn cạp nong, Rắn ráo, Rắn ráo trâu mặc dù mật
độ đã giảm sút đáng kể nhưng vì khả năng lẩn trốn tốt nên mật độ còn khá cao,người dân các địa phương vẫn thường xuyên bắt gặp (Đỗ Quang Huy và cộng sự,2011)
1.9 Tài nguyên sinh vật biển khu vực Vườn Quốc gia Cát Bà
1.9.1 Thành phần Rong Biển
Do có chế độ nhật triều điển hình với biên độ dao động rất lớn (cao nhất đạt3,8m) nên bãi triều thường bị phơi nắng cả ngày khi thuỷ triều rút Trong khi đó,phần lớn các loài rong biển phân bố trên vùng triều nên chịu ảnh hưởng khôngnhỏ Rong biển tại vùng biển Cát Bà thường phát triển vào thời kỳ từ tháng 11 dếntháng 4 năm sau, thời gian còn lại hầu như không có rong biển phân bố Trongtháng khảo sát (3/2013), chỉ bắt gặp một số nhóm loài có trữ lượng như chi rong
mơ (Sargassum), chi rong bóng (Colpomenia)
Kết quả khảo sát và kế thừa tài liệu Hồ sơ di sản Quần đảo Cát Bà đã xácđịnh được 102 loài rong biển thuộc 4 ngành, 35 họ và 56 chi Trong đó ngành
Trang 37Rong lam có 6 họ, 8 chi và 8 loài; ngành Rong nâu: 5 họ, 11 chi và 30 loài ; ngànhRong đỏ 17 họ, 28 chi và 45 loài và ngành Rong lục: 7 họ, 9 chi và 19 loài Một số
loài rong biển có giá trị kinh tế: Rong đại bò Codium repens, Rong guột nho Caulerpa racemosa, Rong đá cong Gelidiella acerosa, Rong mơ mềm Sargassum tenerrimum, Rong chủn dẹp Grateloupia livida.
1.9.2 Thành phần loài cá biển
Phân tích và tổng hợp tất cả các kết quả điều tra khảo sát và nghiên cứu đã
có và tư liệu mẫu vật mới được cập nhật của chuyến khảo sát tháng 3/2013, và kếthừa tài liệu Hồ sơ di sản Quần đảo Cát Bà đã xác định được 196 loài, thuộc 66 họ
Trang 38Trong số đó chỉ có 5 họ có số loài tương đối cao, gồm họ cá Nục
(Carangidae) với 9 loài; họ cá Liệt (Leiognathidae) - 8 loài; họ cá Đù (Sciaenidae)
- 7 loài; họ cá Bàng chài (Labridae) - 6 loài; họ cá Bống (Gobiidae) - 5 loài; các họ
còn lại có số loài từ 1 - 4 loài/họ
1.9.3 Thành phần loài thực vật phù du
Kết quả khảo sát, phân tích mẫu và kế thừa tài liệu Hồ sơ Di sản Quần đảoCát Bà đã thống kế được 400 loài và dưới loài Chiếm ưu thế là lớp tảo Silic(Bacillariophyceae) có 222 loài, 59 chi; tiếp đó là lớp tảo Giáp (Dinophyceae) gặp
164 loài, 36 chi; Lớp tảo Kim (Dictyochophyceae) gặp 3 loài, 2 chi và lớp tảo Lam(Cynophyceae) gặp 4 loài, 3 chi; lớp Chroococceae có 1 loài và 1 chi; Tảo lục(Chlorophyceae): 5 loài và 3 chi; lớp Conjugatophyceae: 1 loài và 1 chi
1.9.4 Thành phần loài Động vật phù du
Kết quả phân tích mẫu và kế thừa tài liệu Hồ sơ Di sản Quần đảo Cát Bà đãxác định được 131 loài động vật phù du thuộc 60 giống, 47 họ, 10 bộ, 7 lớp và 7ngành
Thành phần loài động vật phù du thể hiện tính đa dạng sinh thái cao, baogồm nhiều khu hệ khác nhau:
- Nhóm loài biển khơi phân bố rộng: bắt gặp với tần suất lớn: Evadne tergestina, Paracalanus aculeatus, Acartia clausi, Sagitta enflata, Creseis virgula, Oikopleura rufescens v.v.
- Nhóm loài biển khơi điển hình: Undinula vulgaris, Nannocalanus minor, Eucalanus attenuatus, Eucalanus crassus, Pontellopsis tenuicauda v.v
- Nhóm loài nước nhạt ven bờ: xuất hiện với số lượng đáng kể như
Centropages furcatus, Temora discaudata, Labidocera minuta…v.v
- Nhóm loài nước lợ điển hình: Schmackeria dubia, Pseudodiaptomus marinus, P incisus, Acartiella sinensis v.v ít khi xuất hiện với số lượng thấp
- Nhóm loài nước ấm ôn đới: đây là những loài ngẫu nhiên có mặt trongvùng biển do dòng hải lưu từ vùng biển phía bắc biển Đông đưa xuống phía nam
với số loài và số lượng đều ít Một số loài nước ấm ôn đới đã bắt gặp là: Calanus sinicus, Centropages mcmurrichi, Pontella spinicauda…
Trang 39Bảng 21 Số lượng thành phần loài động vật phù du đảo Cát Bà
Cho đến nay hiện biết 658 loài động vật đáy thuộc 146
- Tu Hài bị khai thác đang có nguy cơ cạn kiệt Khu vực Vạn Bội được coi
là trung tâm tu hài thì nay không còn Tu hài chỉ còn phân bố tại Ba Trái Đào,Hang Cả và ở Đầu Bê
- Các loài trong họ tôm hùm (Palinuridae), bào ngư Haliotis diversicolor
hiện nay hoàn toàn mất hẳn ở khu vực này
- Hai loài cá ngựa sống trên rạn san hô cũng hoàn toàn biến mất
- Đẻn vảy bụng không đều Thalassophina viperina, Vích Chelonia mydas
vẫn bắt gặp nhưng ở tần xuất rất thấp, thậm chí hàng năm mới có thể thấy dân địaphương bắt được 1 con
- Các loài động vật đáy điển hình và có giá trị cao như Trai ngọc (Pinctada martensii), Bàn mai (Pinna antenuata, Pinna atropurpurea), ốc Nón (Trochus maculatus, T pyramis), họ ốc Sứ (Cypreidae), họ Cua bơi (Portunidae), họ Tôm he (Peneidae), Sao biển (Astropecten polycanthus, A monocanthus), Bọt biển (Tethya seychellensis, Biemna cf Megalosigma,Haliclona subarmigera, Xestospongia cf Testudinaria, Dysidea cinerea
Trang 40trước đây cho thấy sự biến đổi về số lượng giống loài không đáng kể, tuy nhiênđáng chú ý rằng tại các điểm khảo sát gần khu vực gần đảo Cát Bà - nơi đang diễn
ra các hoạt động phát triển du lịch thì số lượng loài cũng như độ phủ san hô sốnggiảm đáng kể như các rạn áng thảm, cát dứa, bãi bèo các đảo xa như khu vực hangtrai và đầu bê ít bị tác động hơn nên khu hệ san hô ở đây cũng ít bị biến đổi hơn
1.10 Các giá trị cảnh quan, môi trường, bảo tồn và du lịch
Cát Bà là một khu vực vô cùng phong phú về tài nguyên thiên nhiên Địahình ăn sâu vào đất liền đã tạo nên những bãi biển, vịnh - tùng - áng và các hangđộng kỳ thú có sức hấp dẫn lớn đối với du khách Biển đã phú cho Cát Bà nhữngcảnh quan đẹp và các loài thực vật quý hiếm dưới biển, đáp ứng các nhu cầu dulịch Rất nhiều loại hải sản quý hiếm của Việt Nam và vùng biển khu vực có tạiđây nên khách du lịch tới Cát Bà có thêm nhiều hứng thú khi được quan sát vàthưởng thức chúng Rừng núi lại sản sinh cho Cát Bà các khu thiên nhiên hoang dãvới nhiều loài động thực vật đa dạng và phong phú Nhiều nơi còn rất nguyên sơnằm dưới những tầng cây cối phủ xanh rì trong một phong cảnh hữu tình núi biểnquấn quýt Sự kết hợp không thể tách rời của các hệ sinh thái rừng, biển và hệthống đảo đá vôi độc đáo mà thiên nhiên đã trao tặng cho là nền tảng để phát triển
du lịch sinh thái Đặc biệt, đảo Cát Bà chính thức được UNESCO công nhận là khu
dự trữ sinh quyển thế giới và hiện nay đang làm thủ tục đề nghị UNESCO côngnhận đảo Cát Bà là di sản thiên nhiên thế giới và công viên địa chất
Tất cả các tiềm năng to lớn trên, cùng với vị trí địa lý thuận lợi, điều kiệnkhí hậu trong lành mát mẻ, giao thông thuỷ bộ thuận lợi, gắn liền với đời sốngcộng đồng mang bản sắc riêng, lòng mến khách của người dân và quyết tâm thựchiện chiến lược phát triển ngành du lịch của thành phố, sẽ là cơ sở khoa học vàthực tiễn vững chắc đảm bảo cho du lịch sinh thái của Vườn Quốc gia nói riêng vàngành du lịch thành phố Hải Phòng nói chung phát triển mạnh
1.10.1 Tiềm năng du dịch sinh thái, cảnh quan
Vườn Quốc gia Cát Bà không chỉ hấp dẫn du khách bởi sự phong phú củacác hệ sinh thái, đa dạng sinh học với rất nhiều loài động thực vật quý hiếm, màcòn thu hút khách tham quan trong và ngoài nước cả về cảnh sắc tuyệt diệu màthiên nhiên đã ban tặng
1.10.1.1 Biển và bãi biển
Biển là một trong những tiềm năng du lịch quan trọng nhất của Vườn Quốcgia Cát Bà
Hệ thống các bãi tắm (Khoảng 20 bãi biển có thể khai thác) Các bãi tắmtuy không lớn song đẹp, nước biển trong xanh, bờ cát trắng mịn đã thu hút nhiều
du khách mọi miền đến du lịch, tắm biển vào dịp hè nóng bức
Hệ thống các khu vực biển có tiềm năng khai thác các loại hình du lịch thú
vị như tổ chức lặn biển, xem san hô và các sinh vật biển qua làn nước trong vắt,chèo kayark, câu cá, …
Ngoài ra, biển còn đóng vai trò kết nối Vườn Quốc gia Cát Bà với Vịnh HạLong tạo ra khả năng kéo dài tour tuyến du lịch, đa dạng hóa sản phẩm