“Đánh giá cảnh quan cho quy hoạch phát triển rừng phòng hộ và rừng cải tạo đất ở vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị” Biến đổi khí hậu làm gia tăng biến động và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt ảnh hưởng đến các định hướng quy hoạch lãnh thổ trong tương lai. Trong những năm gần đây, đặc biệt là giai đoạn 2011 2016 các hiện tượng cực đoan thường xuyên xảy ra và có xu hướng tăng về tính chất và mật độ ngày càng lớn. Trước thực tế sử dụng tài nguyên đất đai cho quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp trong nhiều năm qua ở nhiều vùng lãnh thổ cho thấy sự thiếu đánh giá tổng hợp tài nguyên và các điều kiện tự nhiên cho các loại hình cây trồng trước khi quy hoạch sử dụng và phát triển đã đem lại hậu quả khá nghiêm trọng: Làm cho năng suất cây trồng không ổn định, đất đai suy thoái nhanh chóng, môi trường ngày ô nhiễm. Vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị nằm ở vị trí chịu nhiều ảnh hưởng khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên. Đặc biệt là chịu ảnh hưởng của thiên tai và hiệu ứng gió Tây Nam biến tính. Kinh tế của người dân chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp là chính. Do vậy, nhiều năm qua kinh tế của vùng có tốc độ phát triển chậm, cuộc sống người dân không được cải thiện. Hoạt động chủ yếu của người dân là sản xuất nông nghiệp. Các hoạt kinh tế của con người đã tác động không nhỏ vào tự nhiên gây nên sự suy thoái, ô nhiễm, các tai biến thiên nhiên ngày càng nhiều và tác động tới môi trường một cách rõ rệt, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thiên tai tác động mạnh mẽ tới kinh tế xã hội khu vực.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu làm gia tăng biến động và cường độ của các hiện tượng thời tiếtcực đoan gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt ảnh hưởngđến các định hướng quy hoạch lãnh thổ trong tương lai Trong những năm gần đây, đặcbiệt là giai đoạn 2011 - 2016 các hiện tượng cực đoan thường xuyên xảy ra và có xuhướng tăng về tính chất và mật độ ngày càng lớn Trước thực tế sử dụng tài nguyên đấtđai cho quy hoạch phát triển nông - lâm nghiệp trong nhiều năm qua ở nhiều vùng lãnhthổ cho thấy sự thiếu đánh giá tổng hợp tài nguyên và các điều kiện tự nhiên cho cácloại hình cây trồng trước khi quy hoạch sử dụng và phát triển đã đem lại hậu quả khánghiêm trọng: Làm cho năng suất cây trồng không ổn định, đất đai suy thoái nhanhchóng, môi trường ngày ô nhiễm
Vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị nằm ở vị trí chịu nhiều ảnh hưởng khắc nghiệtcủa điều kiện tự nhiên Đặc biệt là chịu ảnh hưởng của thiên tai và hiệu ứng gió TâyNam biến tính Kinh tế của người dân chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp làchính Do vậy, nhiều năm qua kinh tế của vùng có tốc độ phát triển chậm, cuộc sốngngười dân không được cải thiện Hoạt động chủ yếu của người dân là sản xuất nôngnghiệp Các hoạt kinh tế của con người đã tác động không nhỏ vào tự nhiên gây nên sựsuy thoái, ô nhiễm, các tai biến thiên nhiên ngày càng nhiều và tác động tới môitrường một cách rõ rệt, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thiên tai tác động mạnh mẽtới kinh tế - xã hội khu vực
Thực trạng trên đã làm nảy sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết Việc đánh giácảnh quan và các mối quan hệ của nó đóng vai trò quan trọng trong việc quy hoạchphát triển rừng phòng hộ và rừng cải tạo đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hợp lýtài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường khu vực, giảm thiểu các thiệt hại củathiên tai gây ra, là cơ sở vững chắc cho việc hoạch định chiến lược phát triển bền vữngcủa từng địa phương và mỗi vùng
Xuất phát từ thực tiễn đó và với lòng mong muốn được góp phần vào việc pháttriển kinh tế - xã hội của vùng theo hướng bền vững đã thôi thúc tôi chọn đề tài:
“Đánh giá cảnh quan cho quy hoạch phát triển rừng phòng hộ và rừng cải tạo đất
ở vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị” làm đề tài khóa luận
Trang 22 Mục tiêu và nhiệm vụ
a Mục tiêu
Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá được mức độ thích nghi của một số loại câyrừng trồng chủ yếu theo từng đơn vị cảnh quan, đồng thời đề xuất quy hoạch phát triểnrừng phòng hộ và rừng cải tạo đất ở vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị
b Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu đề ra trên thì đề tài cần phải thực hiện được các nhiệm vụnhư sau:
- Tổng quan cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng cát Đông Nam tỉnhQuảng Trị
- Xây dựng hệ thống phân vị và hệ thống phân loại cảnh quan lãnh thổ nghiêncứu
- Thành lập bản đồ cảnh quan và bảng chú giải ma trận bản đồ cảnh quan vùngcát Đông Nam tỉnh Quảng Trị tỷ lệ 1/25.000
- Đánh giá mức độ thích nghi của một số loại cây rừng phòng hộ và rừng cải tạođất chủ yếu theo các đơn vị cảnh quan
- Đề xuất các mô hình và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường, hiệuquả kinh tế - xã hội và phát triển bền vững của khu vực
3 Giới hạn phạm vi và nội dung nghiên cứu
Giới hạn về không gian: Do hạn chế về thời gian, tài liệu và khả năng hiểu biết
của bản thân nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu khái quát về vùng cát Đông Nam tỉnhQuảng Trị có đường ranh giới bao quanh 03 huyện gồm: Huyện Gio Linh (có 6 xãgồm: Gio Mỹ, Trung Giang, Gio Hải, Gio Việt, Gio Thành, Gio Mai) Huyện TriệuPhong (có 6 xã: Triệu An, Triệu Phước, Triệu Vân, Triệu Thạch, Triệu Sơn, TriệuLăng) Huyện Hải Lăng (có 13 xã: Hải An, Hải Khê, Hải Dương, Hải Quế, Hải Ba, HảiXuân, Hải Vĩnh, Hải Thiện, Hải Thành, Hải Thượng, Hải Thọ, Hải Trường, Hải Lâm)
và thị trấn Hải Lăng Toàn bộ khu vực nghiên cứu có diện tích 366,9 km2 (tính theo ranhgiới hành chính của khu vực và một phần diện tích 04 xã Hải Thượng, Hải Thọ, HảiTrường, Hải Lâm)
Về nội dung: Đề tài tiến hành nghiên cứu lãnh thổ vùng cát Đông Nam tỉnh
Quảng Trị về các vấn đề sau:
- Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan được kế thừa có điều chỉnh từ hệ thốngphân loại cảnh quan của Phòng Địa lý tự nhiên (nay là Viện Địa lý thuộc Viện Hàn lâmkhoa học - công nghệ Việt Nam)
- Việc lựa chọn loại cây rừng trồng để đánh giá được căn cứ vào hiện trạng theođiều tra, khảo sát thực tế và đặc điểm nhu cầu sinh thái các loại cây rừng trên địa bàn
Trang 3từng loại cảnh quan của khu vực gồm: Phi lao, Keo tai tượng và Keo lưỡi liềm Vớirừng phòng hộ, loại cây được lựa chọn bao gồm cả 03 loại trên Với rừng cải tạo đất,loại cây được lựa chọn là cây Keo tai tượng và cây keo lưỡi liềm.
- Việc đề xuất quy hoạch sử dụng lãnh thổ được dựa trên kết quả đánh giá, các môhình và kiểu rừng trồng hiện có Nội dung đề xuất quy hoạch chỉ tập trung cho 03 loạicây rừng trồng, còn các quy hoạch khác không đề cập
4 Cấu trúc khóa luận
Cấu trúc của đề tài ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụlục thì nội dung chính được trình bày trong 3 chương sau:
Chương 1: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Khái quát các nhân tố sinh thái cảnh quan và thành lập bản đồ cảnhquan vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị
Chương 3: Đánh giá cảnh quan cho quy hoạch phát triển rừng phòng hộ và rừngcải tạo đất ở khu vực nghiên cứu
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1.1.Khái niệm cảnh quan
a Cảnh quan
Cảnh quan là thuật ngữ ra đời vài cuối thế kỷ XIX, với hướng ban đầu là nghiêncứu các tổng thể địa lý tự nhiên các lãnh thổ ở giai đoạn phân tích các thông tin địa lý,khái niệm về tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ được hình thành nhờ sự tiến bộ củaphương pháp nghiên cứu đi từ các phương pháp phân tích đến tổng hợp các quy luậtcủa khoa học tự nhiên Cùng với sự ra đời hai môn khoa học: Sinh địa học và thổnhưỡng học, thuyết tiến hóa của Đacuyn xuất hiện trong khoa học sinh vật đã đề cậpđến mối quan hệ tương hỗ, phức tạp giữa giới vô sinh và hữu sinh Chính điều này đãtiến gần đến sự tổng hợp của địa lý Với sự ra đời của mỗi ngành khoa học, mục đíchcuối cùng đều phục vụ cho các nhu cầu của xã hội loài người Vì vậy, giữa sự pháttriển của khoa học và sự phát kinh tế - xã hội tồn tại những mối quan hệ ràng buộc lẫnnhau Vào thời kỳ này, thực tiễn sản xuất đã chỉ ra rằng muốn giải quyết những vấn đềnóng trong quá trình khai thác tự nhiên, cần phải hiểu biết rõ ràng, đầy đủ các mốiquan hệ giữa các hợp phần tự nhiên của môi trường tự nhiên và các tổng hợp thể tựnhiên của lãnh thổ cụ thể Với những đặc điểm trên được xem như là tiền đề cho sựphát triển học thuyết cảnh quan
Nền móng của khoa học cảnh quan được xây dựng trong các công trình nghiêncứu của V.V Đôcutraev (1846 - 1903) về thổ nhưỡng và quá trình phát triển của nógắn liền với sự phát triển xã hội loài người Học thuyết cảnh quan được con ngườinhận thức ngày càng rõ nét và được hoàn thiện thể hiện ở sự khác nhau qua các thời
kỳ L.X Berg, người kế tục sự nghiệp của V.V Đôcutraev và đồng thời là người đầutiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu cảnh quan ở Liên Xô (cũ) Từ những khởixướng học thuyết đới tự nhiên của V.V Đôcutrev, ông viết: “Cảnh quan là một tập hợpđối tượng và hiện tượng mà trong đó các đặc tính của địa hình, của khí hậu, của thủyvăn, của lớp phủ thổ nhưỡng - thực vật, của giới động vật và ở một chừng mực nhấtđịnh, bao gồm cả kết quả tác động của con người, đã hình thành một thể thống nhấthoàn chỉnh, được lặp lại một cách điển hình suốt một đới nào đó trên Trái đất” [6]
Sự hình thành môn khoa học cảnh quan vào những năm 50 - 60 của thế kỷ XX đãthúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về cảnh quan S.V Kalexnik (1959) đưa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một bộ phận nhỏ của
bề mặt trái đất, khác biệt về chất với các bộ phận khác nhau, được bao bọc bởi các
Trang 5lẫn nhau một cách có quy luật được biểu hiện một cách điển hình trên một khoảngkhông gian rộng và có quan hệ chặt chẽ với lớp vỏ địa lý [6].
Theo A.A Xônxev (1962), ông đã đưa ra định nghĩa rõ ràng về cảnh quan hơn:
“Cảnh quan là một tổng hợp thể tự nhiên đồng nhất về mặt phát sinh, có một nền địachất đồng nhất, một kiểu địa hình, một kiểu khí hậu giống nhau và bao gồm một tậphợp những cảnh dạng chính và phụ quan hệ với nhau về mặt động lực và lặp lại mộtcách có quy luật trong không gian, có diện tích dao động từ vài trăm đến vài ngàn
km2” [6]
A.G Ixatrenco (1965) có sự bổ sung cho định nghĩa cho cảnh quan đồng bằng:
“Cảnh quan là một bộ phận được tách ra trong quá trình phát sinh một miền, của mộtđới địa lý và nói chung là của bất kỳ một đơn vị lãnh thổ nào lớn hơn, có đặc điểm làđồng nhất về mặt địa đới cũng như phi địa đới, có cấu trúc riêng và cấu tạo hình tháiriêng” Đối với miền núi A.G Ixatrenco định nghĩa như sau: “Cảnh quan miền núi làmột bộ phận của tầng cảnh quan, trong phạm vi hệ thống đai cao riêng (địa phương),đồng nhất về phương diện cấu trúc, nham thạch và địa mạo” [6]
Kế thừa các nhà cảnh quan học Liên Xô (cũ), qua thời gian nghiên cứu nhiều năm
ở nước ta, Vũ Tự Lập đã đưa ra định nghĩa về cảnh quan và một hệ thống phân loạitheo quan điểm riêng của mình, ông còn định nghĩa cho dạng và diện địa lý Trongcông trình nghiên cứu “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam”, xuất bản năm 1976,ông đã định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một tổng hợp thể được phân hóa ra trongphạm vi một đới ngang ở đồng bằng hoặc một đai cao ở miền núi, có cấu trúc đứngtương đối đồng nhất về mặt nền địa chất, một kiểu địa hình, một kiểu thủy văn, mộtđại tổ hợp đất, một đại tổ hợp thực vật và bao gồm một tập hợp có quy luật của cácdạng địa lý có diện tích tối thiểu 100 km2 đến hàng chục km2” [6] Tuy kế thừa nhữngquan điểm của các nhà cảnh quan học A.G Ixatrenco và N.A Xonlxev nhưng Vũ Tựlập đã phát triển một cách sáng tạo Khái niệm cảnh quan của ông có phần cụ thể, đầy
đủ và phù hợp hơn với lãnh thổ Việt Nam, ông đưa ra các chỉ tiêu để xác định cấp diện
và cấp dạng
Qua các định nghĩa và khái niệm trên cho thấy khoa học về cảnh quan rất đa dạng,phong phú và phức tạp Đa số các nhà cảnh quan học đều thống nhất cho rằng cảnhquan là đơn vị địa lý tự nhiên cơ sở, đơn vị cấp thấp của phân vùng địa lý tự nhiên, làmột bộ phận tương đối nhỏ của bề mặt Trái đất có diện tích hạn chế, là đơn vị khôngthể tách biệt được về mặt địa đới cũng như phi địa đới và nó được xem như là tiêuchuẩn cơ sở cho các điều kiện tự nhiên
Trang 6b Sinh thái cảnh quan
Khi nghiên cứu cảnh quan thường nói đến tính chất lượng mới, tính tự điều chỉnhcân bằng vật chất và năng lượng, mối tác động tương hỗ giữa các thành phần và lấyđất làm đối tượng nghiên cứu chính Còn sinh thái học là khoa học nghiên cứu về mốiquan hệ tương hỗ giữa các cá thể sinh vật và quần xã của chúng với môi trường xungquanh, ảnh hưởng của mối nghiên cứu trung tâm Nếu chỉ ngiên cứu sinh thái thìkhông xác định được hệ động lực tự điều chỉnh tiến tới cân bằng về mặt động lực pháttriển của nó Với những hạn chế đó, các nhà cảnh quan nhận thấy rằng cần nghiên cứucác hệ sinh thái đang tồn tại và phát triển trên nó, đồng thời các nhà sinh thái họckhẳng định cần nghiên cứu mối liên hệ giữa sinh thái học với cấu trúc cảnh quan Sựhội tụ của hai bộ môn khoa học cảnh quan và sinh thái cần thiết để con người có thểhiểu rõ hơn về tự nhiên, mối tác động qua lại giữa các hợp phần tự nhiên, mối quan hệ
và tác động giữa con người với môi trường tự nhiên
Sự kết hợp giữa hai bộ môn khoa học sinh thái và cảnh quan thành môn khoa họcchung đã được nghiên cứu thực hiện ở nhiều quốc gia, môn khoa học đó được gọi làmôn cảnh quan ứng dụng Hiện nay tại Việt Nam tồn tại hai quan điểm về thuật ngữtên gọi cảnh quan ứng dụng
Quan điểm “Cảnh quan sinh thái”, với đại diện là Nguyễn Thế Thôn và Nguyễn
Bá Linh
Từ những năm 80, Nguyễn Bá Linh đã nhắc tới thuật ngữ “Cảnh quan sinh tháitrong hội thảo Khoa Học ở viện các Khoa học Trái đất Với công trình nghiên cứu củamình ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Nguyễn Bá Linh sử dụng thuật ngữ này
để thành lập bản đồ cảnh quan sinh thái Trên bản đồ này, thành phần sinh vật đượcông phản ánh với các quần xã bình đẳng như các thành phần khác nhau của cảnh quan,
về thực chất bản đồ này vẫn là bản đồ cảnh quan chung bình thường
Năm 1991, Nguyễn Thế Thôn khẳng định thêm sự hiện diện của thuật ngữ trên vàđưa ra khái niệm: Cảnh quan sinh thái là tổng thể hiện tại, có cấu trúc cảnh quan địa lý
và có chức năng sinh thái của các hệ sinh thái đang tồn tại và phát triển trên đó Theoông, cảnh quan sinh thái mang trong mình hai khía cạnh của nội dung cơ bản lãnh thổcảnh quan và hệ sinh thái cảnh quan Hai khía cạnh này độc lập nhưng liên kết chặtchẽ với nhau trong cùng lãnh thổ thống nhất
Năm 1939, nhà khoa học người Mỹ, Troll đưa ra quan niệm nghiên cứu “sinh tháicảnh quan” như một môn khoa học trong đó nêu lên hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
Thứ nhất: Nghiên cứu cảnh quan bằng cách phân tích sinh thái mối quan hệ qua lại
giữa các quần thể sinh vật với môi trường
Thứ hai: Nghiên cứu quan hệ giữa các tổng thể địa lý với nhau kể cả các hoạt
động của con người Sau này được bổ sung bằng các phương pháp nghiên cứu cân
Trang 7bằng vật chất và năng lượng bên trong với bên ngoài của các thành phần và hợp phần
tự nhiên
Sự tác động qua lại với nhau một cách bình đẳng, có chức năng của mọi thànhphần, có chức năng chung của cảnh quan tạo nên sự hoạt động của hệ thống cảnhquan Còn hoạt động của hệ sinh thái là các thành phần của môi trường tác động qualại với chủ thể sinh vật tạo nên chức năng sinh thái của chủ thể sinh vật mà không tínhđến tác động lẫn nhau của các thành phần sinh cảnh (hệ thống sinh vật với môi trườngsống)
Thông qua các phân tích trên cho thấy, hai thuật ngữ có cánh giải thích khác nhau
về môn khoa học cảnh quan ứng dụng nhưng chúng đều thống nhất rằng bộ môn khoahọc cảnh quan ứng dụng là bộ môn khoa học nghiên cứu về cấu trúc của các hợp phầncủa cảnh quan và chức năng sinh thái của các hệ sinh vật đang tồn tại và phát triển trên
đó Đó là môn khoa học nghiên cứu về cấu trúc không gian ba chiều của các hợp phần
tự nhiên, nghiên cứu sự tồn tại và phát triển của các hợp chất hữu cơ trong cấu trúc đó
và nó có thể được biểu hiện bằng mô hình hệ địa sinh thái sau (Hình 1.1)
1 Hướng tác động qua lại các thành phần cảnh quan
2 Hướng tác động qua lại của hệ sinh thái trong địa hệ
Hình 1.1 Mô hình địa hệ sinh thái (Sinh thái cảnh quan)
Trang 81.1.2 Vai trò của cảnh quan đối với sự phát triển thảm thực vật rừng
Cảnh quan tự nhiên đóng vai trò quan trọng và có mối quan hệ mật thiết với sựphát triển thảm thực vật rừng, cảnh quan quyết định đến các yếu tố quan trọng trongcấu trúc của rừng Mối quan hệ liên quan giữa cảnh quan và các loại thảm thực vật nóichung và thảm thực vật rừng nói riêng Mặc dù một trong những hợp phần tự nhiên lànguyên nhân hình thành nên các loại thảm phủ thực vật, trong thực tế những điều kiện
và tiền đề ảnh hưởng được xác định do đặc điểm cấu trúc của địa hệ nói chung Chẳnghạn sự phân bố của các loại cây rừng được xác định bởi các điều kiện lập quần, tức làkhí hậu, chế độ nước, đất,…
Như vậy, mỗi một địa hệ được xem như là một môi trường địa lý đặc biệt Sự pháttriển của thảm thực vật rừng luôn luôn chịu ảnh hưởng từ cảnh quan hình thành Nó làyếu tố chi phối sự đa dạng và phân tầng trong cấu trúc của thực thể Các đối tượngluôn chịu nhiều ảnh hưởng từ các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài Không có một thựcthể nào mà chỉ chịu ảnh hưởng từ một yếu tố nhất định, mức ảnh hưởng nhiều hay ítphụ thuộc vào sự tác động của yếu tố đó
1.1.3 Ảnh hưởng của rừng phòng hộ đối với cảnh quan, môi trường và các hoạt động kinh tế - xã hội
Rừng nói chung và rừng phòng hộ nói riêng đóng vai trò quan trọng trong mốiquan hệ giữa con người với tự nhiên và các hoạt động của con người Rừng phòng hộđược hình thành khi con người nhận thức được tầm quan trọng của tự nhiên tới hoạtđộng sống của mình Tự nhiên luôn vận động và phát triển không ngừng, chính nhữngvận động này đã tác động trực tiếp lên môi trường sống của sinh vật nói chung và cáchoạt động của con người nói riêng Hoạt động con người luôn phụ thuộc vào tự nhiên
và rừng phòng hộ là một phần trong tổng thể tự nhiên đó Với cảnh quan, rừng phòng
có tính bền vững cao và ít chịu ảnh hưởng của hoạt động con người Khi cảnh quan cótính bền vững cao thì môi trường ở đó sẽ ổn định và phát triển bền vững, với nhữngliên kết qua lại đó mà môi trường sống của con người phát triển theo chiều hướng cólợi cho mọi hoạt động sống của sinh vật
Có thể nói rằng giữa rừng phòng hộ và hoạt động kinh tế - xã hội có mới quan hệchặt chẽ, tác động tương hỗ lẫn nhau theo thời gian Giữa con người và môi trường nóichung và cảnh quan với hoạt động kinh tế - xã hội nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ,nếu giữa chúng có sự biến động thì yếu tố còn lại cũng sẽ chịu sự tác động Mọi hoạtđộng kinh tế - xã hội luôn luôn chịu sự tác động của tự nhiên, các hoạt động tự nhiêndiễn ra theo nhiều chiều hướng khác nhau, từ bất lợi cho đến có lợi Tuy nhiên, để hạnchế và khắc phục những thiệt hại mà tác động bất lợi của tự nhiên lên hoạt động sốngcủa con người thì các hoạt động sống con người phải tuân theo hoạt động phát triểntích cực của tự nhiên Đặc biệt là rừng phòng hộ tới mọi hoạt động của con người,
Trang 9chính những ảnh hưởng tích cực của rừng phòng hộ tới hoạt động kinh tế - xã hội màcon người ngày càng nhận thức rõ ràng hơn về tự nhiên.
Như vậy, rừng phòng hộ là tiền đề để hình thành và phát triển các hoạt động kinh
tế - xã hội của con người, tác động lên tự nhiên, lên cảnh quan
1.1.4 Mối quan hệ giữa con người và cảnh quan
Con người làm thay đổi khá mạnh mẽ các cảnh quan tự nhiên, tác động trực tiếphay gián tiếp đã làm thay đổi hoặc làm mất đi một số đặc tính ban đầu của tự nhiên.Tuy nhiên, cảnh quan về cơ bản vẫn tuân theo các quy luật địa lý tự nhiên chi phối.Theo quan điểm A.G Ixatrenckô, con người không thể xóa bỏ được quy luật tự nhiên
mà chỉ biết tuân theo quy luật tự nhiên đó với mục đích của chính mình, làm thay đổi
ít nhiều hướng và tốc độ của quá trình tự nhiên Trong tất cả cảnh quan chịu sự tácđộng của con người thì nền địa chất, kiểu địa hình, những nét quan trọng nhất của khíhậu thường không tự biến đổi Con người tác động lên cảnh quan tự nhiên vào quátrình địa mạo như tạo các khe rãnh rửa trôi đất, thêm vào cảnh quan những giống loàimới Thấy rằng, con người tác động lên cảnh quan tự nhiên làm biến đổi cảnh quan tạo
ra những cảnh quan mới, khác với dạng cảnh quan ban đầu Mức độ và tính chất tácđộng của con người còn phụ thuộc vào lịch sử xã hội và trình độ phát triển của lựclượng sản xuất Theo F.Enghen: “Tất cả những phương thức sản xuất còn tồn tại chođến nay chỉ có thể hình dung là thành tựu các hiệu quả lao động có ích trực tiếp nhất,tác động một cách tự phát bừa bãi tới thiên nhiên đã dẫn tới thiên nhiên sẽ trả thù conngười bằng những hậu quả bất ngờ” [6] Giai đoạn hình thành xã hội, con người chỉtác động vào cảnh quan một cách thụ động và không có chủ đích Càng về sau, xã hộiloài người phát triển thêm một bậc mới, nhận thức được nâng cao thì cảnh quan tựnhiên bị tác động một cách mạnh mẽ theo nhiều hướng khác nhau
Con người không chỉ tác động một chiều tới cảnh quan mà trong quá trình vậnđộng phát triển của cảnh quan, con người cũng chịu sự tác động của các hoạt động tựnhiên Còn người có thể làm thay đổi cảnh quan tuy nhiên lại không thể làm thay đổicác hoạt động bên trong của tự nhiên Các hoạt động này tác động lên hoạt động củacon người, làm thay đổi các hoạt động của con người theo hướng của tự nhiên Sự tácđộng của con người lên tự nhiên và tác động của tự nhiên tới con người đã hình thànhnên mối quan hệ giữa con người và cảnh quan, mối quan hệ này dù ít hay nhiều vẫntồn tại trong mọi hoạt động sống hiện nay
1.2 PHƯƠNG PHÁP, QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ
1.2.1 Phương pháp nghiên cứu và đánh giá
a Phương pháp nghiên cứu chung
- Phương pháp thống kê
Là phương pháp ứng dụng nhằm thu thập các số liệu liên quan đến đề tài, đến lãnhthổ nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội và môi trường Những số liệu
Trang 10nói trên cung cấp cho người nghiên cứu có cái nhìn tổng quát về lãnh thổ để từ đó thựchiện các phương pháp tiếp theo nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra của đề tài Khi sử dụngphương pháp này cần dựa vào đề cương đã vạch sãn để tránh dư thừa các số liệukhông cần thiết cũng như thiếu các số liệu theo yêu cầu nghiên cứu Nguồn tài liệuđược thống kê gồm:
+ Các báo cáo, sổ sách lưu trữ
+ Các tài liệu khảo sát thực địa
+ Các dữ liệu tính toán, thống kê từ bản đồ
- Phương pháp bản đồ
Bản đồ được xem như là ngôn ngữ của khoa học địa lý, nó có khả năng biểu thịtrực quan, rõ ràng nhất không gian của đối tượng trên bề mặt đất, đồng thời cũng biểuthị sự phân hóa của các nhân tố sinh thái cảnh quan và các đơn vị cảnh quan Mặtkhác, kết quả đánh giá cảnh quan cũng bắt đầu từ thành lập bản đồ cảnh quan và kếtthúc bằng bản đồ đề xuất các đơn vị cảnh quan thích nghi cho phát triển rừng phòng
hộ và rừng cải tạo đất Bản đồ còn giúp các nhà quản lý, các nhà quy hoạch có cái nhìn
vĩ mô về lãnh thổ để hoạch định các chiến lược và phát triển phù hợp Vì tính chất vàvai trò quan trọng như vậy mà phương pháp bản đồ có mặt trong mọi nghiên cứu địa lýnói chung và đánh giá cảnh quan nói riêng Trong đánh giả cảnh quan lãnh thổ nghiêncứu cho mục đích phát triển rừng phòng hộ và rừng cải tạo đất, phương pháp bản đồđược sử dụng để thu thập số liệu, xây dựng bản đồ cảnh quan, đặc biệt là công tácphân vùng mức độ thích nghi của các đơn vị cảnh quan đối với rừng phòng hộ và rừngcải tạo đất từ đó đưa ra các đề xuất phát triển vùng hợp lý
- Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp mang tính truyền thống và không thể thiếu trong khoa học địa
lý, là bước thẩm định và điều chỉnh những kết quả đã được nghiên cứu, thu thập trước
đó Phương pháp này trong đề tài được ứng dụng khảo sát theo điểm cơ bản được xácđịnh trước, cụ thể như sau:
+ Khảo sát và kiểm tra lại ranh giới lại một số đơn vị cảnh quan
+ Thu thập các số liệu theo đề cương đã vạch ra
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa hiện tượng tự nhiên với nhau và với con người.+ Khảo sát lãnh thổ nghiên cứu các đơn vị cảnh quan trong hiệu quả của rừngphòng hộ và rừng cải tạo đất
+ Kiểm tra, điều chỉnh lại những kết quả nghiên cứu trong phòng
- Phương pháp phân tích trong phòng
Phương pháp này là hệ thống hóa các nhân tố tự nhiên của cảnh quan, từ đó nhận
ra các yếu tố tương đồng, các yếu tố nỗi trội giúp cho người nghiên cứu hiểu rõ sựphân hóa lãnh thổ và phục vụ phân loại các cảnh quan cùng cấp Đối với lãnh thổnghiên cứu, việc đánh giá cảnh quan đòi hỏi phương pháp trong phòng một vai tròquan trọng Vì dữ liệu từ các dữ liệu trước đó giúp cho người nghiên cứu có được cái
Trang 11Bảng chú giải bản đồ cảnh quan là sự đan xen giữa hai hệ thống cột dọc và cộtngang, nên trong đề tài sử dụng phương pháp ma trận để thiết lập bảng chú giải matrận cho bản đồ cảnh quan.
Mặc dù các phương pháp trên được đưa ra tách biệt rõ ràng nhưng trong quá trìnhnghiên cứu các phương pháp này được vận dụng một cách linh hoạt và đan xen nhautùy thuộc vào các công việc cị thể để thu được kết quả cao nhất
b.Phương pháp đánh giá
Đánh giá cảnh quan là hướng đánh giá tổng hợp trong địa lý phục vụ sử dụng hợp
lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Đánh giá tổng hợp tự nhiên phải gắnliền với việc nghiên cứu các điều kiện sinh thái nhằm đưa ra các phân vùng phù hợpnhằm đáp ứng các chỉ tiêu sau: Phù hợp với điều kiện sinh thái, đảm bão hiệu quả vaitrò rừng phòng hộ và cải tạo đất, hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường cảnh quan Vìvậy, việc đánh giá tổng hợp phải được xem xét trên nhiều phương diện
- Đánh giá định tính
Trong việc đánh giá định tính cũng có hai mức độ: Định tính cảm tính của thời kỳtrước và định tính trên cơ sở số liệu định lượng, có tính khoa học trong giai đoạn hiệnnay Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thì phương pháp này không đưa ra được giá trịchính xác
- Đánh giá định lượng
Đánh giá định lượng còn gọi là đánh giá kinh tế, nghĩa là kết quả đánh giá thườngđược biểu thị dưới dạng giá trị kinh tế của việc đầu tư hoặc số lượng sản phẩm thu được.Trong đánh giá định lượng, phương pháp phân tích chi phí - lợi ích được sử dụng mộtcách phổ biến Vì ngoài ý nghĩa sinh thái môi trường, người ta còn quan tâm đến cảnhững đầu tư ban đầu lẫn hiệu quả kinh tế đầu ra Tuy nhiên, với mục đích là phòngchống thiên tai, các hiện tượng bất lợi của tự nhiên nên việc đánh giá hiệu quả kinh tếchỉ xem xét đến phía cạnh sau cùng
- Đánh giá bán định lượng
Trong nghiên cứu không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được đánh giá địnhlượng Đối với những lãnh thổ rộng lớn và số liệu chưa đầy đủ thì công tác đánh giáđịnh lượng vô cùng phức tạp Từ những năm 1970 , để khắc phục những hạn chế và khókhăn này, một số phương pháp đánh giá bán định lượng ra đời như: Phương pháp thứ tựHolmes, phương pháp số của Odum…
Như vậy, việc sử dụng các nhóm phương pháp đánh giá định tính, định lượng haybán định lượng các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đều là những côngviệc cần thiết Thông thường, người ta đánh giá định tính trước những kết quả nghiêncứu sơ bộ đã có Tiếp theo, là đánh giá bán định lượng và cuối cùng là thực hiện côngtác đánh giá định lượng để từ đó đưa ra những dự kiến cho việc quy hoạch sử dựnglãnh thổ hợp lý
Qua xem xét các phương pháp đánh giá như đã nêu trên, căn cứ mục tiêu và nhiệm
vụ, đề tài sử dụng phương pháp đánh giá phân tích tổng hợp cảnh quan, phương pháp
Trang 12thể hiện kết quả đánh giá trên bản đồ Thực chất của các phương pháp này là đánh giámức độ thích nghi sinh thái và tiềm năng tự nhiên của từng đơn vị cảnh cảnh quan, đồngthời phân tích lợi ích về mặt môi trường và lợi ích về mặt hiệu quả kinh tế cho rừngphòng hộ và rừng cải tạo đất trên địa bàn nghiên cứu
1.2.2 Quy trình nghiên cứu và đánh giá
Với mục đích đã được xác định, đối với việc đánh giá cảnh quan cho quy hoạchphát triển rừng phòng hộ và rừng cải tạo đất, quy trình đánh giá có 7 bước và được thểhiện ở hình 1.2
Hình 1.2 Quy trình đánh giá cảnh quan vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị
Các bước trong quy trình được nêu một cách tách biệt nhưng giữa chúng lại cómối quan hệ chặt chẽ với nhau và phải hướng đến kết quả nghiên cứu đó là đề xuấtđúng đắn, có cơ sở về định hướng sử dụng lãnh thổ cho quy hoạch phát triển rừngphòng hộ và rừng cải tạo đất Các bước trong quy trình bao gồm:
1 Công tác chuẩn bị: Công tác chuẩn bị được thực hiện tốt sẽ góp phần quantrọng trong toàn bộ quy trình đánh giá cảnh quan Xác định trước được các mục tiêu,đối tượng và phương pháp nghiên cứu, đồng thời đảm bảo kết hoạch thực hiện đúnghướng, đúng đối tượng, hoàn thành nội dung nghiên cứu Công việc chủ yếu của giaiđoạn này là:
Trang 13- Khảo sát sơ bộ nhằm xác định các loại hình sản xuất hiện có trên địa bàn nghiêncứu.
- Tiến hành điều tra, phỏng vấn để kiểm chứng và đánh giá mức độ thích nghicủa loại hình sản xuất
- Lựa chọn hình thức đánh giá và xây dựng kế hoạch thực hiện
2 Thu thập số liệu, tài liệu có liên quan: Đối với mục tiêu của đề tài khóa luận đãđặt ra thì cần phải có các số liệu về khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, thảm phủ, cũng nhưcác số liệu về môi trường và kinh tế - xã hội Ngoài ra, cần có các loại bản đồ như:Bản đồ địa mạo, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ thảm phủ thực vật, bản đồ khí hậu,… cũng
vô cùng cần thiết
3 Xây dựng bản đồ cảnh quan: Trên cơ sở các loại bản đồ, kết hợp với việcnghiên cứu thực địa từ đó thành lập nên bản đồ cảnh quan Việc xây dựng bản đồ cảnhquan được thực hiện theo 3 bước chính sau:
- Xác lập hệ thống phân loại và chỉ tiêu các cấp phân vị cảnh quan
- Thiết lập bảng chú giải ma trận và xác lập cấp cơ sở bản đồ cảnh quan
- Xây dựng bản đồ cảnh quan
4 Xác định đối tượng đánh giá: Để xác định đối tượng đánh giá của đề tài cần dựavào bản đồ hiện trạng sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất Các loại hình sử dụngđất được xác định thông qua việc thu thập, xử lý số liệu và trong quá trình khảo sátthực địa tại lãnh thổ nghiên cứu
5 Đánh giá và phân hạng mức độ thích nghi của một số cây rừng trồng phòng hộ
và cây rừng trồng cải tạo đất Việc đánh giá và phân hạng thích nghi được tiến hànhtheo trình tự như sau:
- Lựa chọn và phân cấp chỉ tiêu cho các loại hình đánh giá
- Áp dụng phương pháp đánh giá và phân hạng
- Đánh giá và phân hạng theo các loại hình được chọn
- Xây dựng bản đồ phân hạng kết quả đánh giá
6 Đánh giá hiệu quả môi trường và kinh tế - xã hội
- Về mặt môi trường, cần phân tích: Môi trường đất (mức độ xói mòn đất, cátchảy, bổ sung dinh dưỡng cho đất); môi trường nước (làm sạch nước, giữ nước, ngănchặn nước chảy tràn, hạn chế xâm nhập mặn); môi trường không khí (điều hòa khôngkhí, cát bay, chắn gió)
Trang 14- Về mặt kinh tê - xã hội, cần phân tích: Hiệu quả kinh tế (hiệu quả đồng vốn, năngsuất lao động); vốn đầu tư; yêu cầu kỹ thuật; hiệu quả xã hội (giải quyết việc làm, gópphần xóa đói giảm nghèo).
7 Đề xuất sử dụng hợp lý lãnh thổ
Việc đề xuất hướng quy hoạch và phát triển cần dựa trên các cơ sở sau:
- Kết quả đánh giá và phân hạng thích nghi của các loại cảnh quan cho loại hìnhrừng phòng hộ và rừng cải tạo đất
- Kết quả đánh giá hiệu quả môi trường và kinh tế - xã hội của 2 loại hình sản xuấtvừa đề cập
- Phân tích hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên trên địa bàn nghiên cứu
- Định hướng quy hoạch và phát triển tại địa bàn nghiên cứu
1.3 HIỆN TRẠNG RỪNG PHÒNG HỘ, CẢI TẠO ĐẤT VÙNG CÁT ĐÔNG NAM QUẢNG TRỊ VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.3.1 Hiện trạng rừng phòng hộ và cải tạo đất ở khu vực nghiên cứu
Vùng cát Đông Nam ven biển tỉnh Quảng Trị gồm 26 xã thuộc 3 huyện (Gio Linh,Triệu Phong, Hải Lăng), trải dài trên 40 km bờ biển, với tổng diện tích tự nhiên34.979,7 ha, trong đó diện tích bãi cát, cồn cát khoảng 18.800,0 ha Những vùng venbiển chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các hiện tượng biến đổi khí hậu, nên hầu hết đây làvùng cát cằn khô với các cồn cát di động, đất cát bán ngập nước, nhạy cảm cao với cácthay đổi của khí hậu, thời tiết Theo thống kê Sở Nông nghiệp tỉnh Quảng Trị, diện tíchđất chưa sử dụng và sử dụng có hiệu quả thấp đang còn cao Nhiều khu vực diện tíchkhông sử dụng thường xãy ra các hiện tượng cát bay, cát chảy… ảnh hưởng tới sảnxuất và đời sống người dân ở đây
Theo báo cáo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị năm 2015,vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị có khoảng 7.351 ha đất rừng phòng hộ và 2.843 hađất rừng sản xuất
Về chất lượng rừng phòng hộ chủ yếu là trồng trên diện tích cát trắng, cát biển nêncây trồng sinh trưởng và phát triển chậm (chủ yếu trồng Keo lưỡi liềm và Phi lao), bêncạnh đó do trồng trên lập địa khó khăn (cát trắng, cát bay, cát nhảy) nên chất lượngrừng trồng chưa cao
Với những ảnh hưởng của các vấn đề môi trường liên quan, trong những năm qua
nhiều dự án hỗ trợ phục hồi và phát triển rừng vùng cát Đông Nam ven biển tỉnhQuảng Trị được diễn ra bao gồm:
Trang 15- Dự ánn trồng mới 5 triệu ha rừng (1990 - 2010): Đầu tư trồng rừng khoảng1.964 ha Dự án trồng rừng Việt - Đức: Đã trồng khoảng 600 ha Dựa án trồng rừng NaUy: 2000 - 2016 đã trồng được khoảng 186 ha.
- Chương trình hỗ trợ trồng rừng sản xuất các xã ven biển khoảng 1.347 ha; rừngphòng hộ khoảng 200 ha Chương trình khuyến nông khuyến lâm: Từ năm 2011 - 2016trồng keo lưỡi liềm trên vùng cát ven biển khoảng 96,5 ha
- Dự án trồng rừng trên cát nhằm giảm nhẹ thiên tai và cải thiện đời sống củangười dân vùng cát huyện Triệu Phong, Hải Lăng, dự án đã triển khai trồng 200 harừng năm 2013 và tiếp tụ chăm sóc bảo vệ
Hằng năm, diện tích rừng phong hộ và rừng sản xuất ngày càng được tăng lên về
số lượng và chất lượng Tuy nhiên, vẫn còn nhiều diện tích đất trống chưa được sửdụng nên nhiều khu vực vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ các tai biến môi trường [12]
1.3.2 Các vấn đề môi trường và tai biến thiên nhiên liên quan đến hệ thống rừng phòng hộ và cải tạo đất
- Bão, áp thấp nhiệt đới
Theo số liệu thống kê bình quân 0,8 cơn bão/năm ảnh hưởng trực tiếp đến vùngcát Đông Nam tỉnh Quảng Trị, có năm không có bão, nhưng lại có năm liên tiếp 2 - 3cơn bão đổ bộ trực tiếp Ảnh hưởng lớn nhất là bão gây ra gió xoáy giật kèm theo mưa
to dài ngày gây ra lũ lụt nghiêm trọng Tỷ lệ mưa do bão và áp thấp nhiệt đới gây rachiếm tới 40 - 50% tổng lượng mưa trong các tháng 9 - 11 Lượng mưa do một cơnbão gây ra khoảng 300 - 600 mm, có khi đến 700 - 800 mm Tác động lên đặc điểm tựnhiên khu vực như tàn phá vùng ven biển, đẩy nước mặn vào sâu, làm giảm chất lượngmôi trường Chính những tác động lên mặt tự nhiên đã dẫn đến thay đổi đến sự phân
bố nhiều loài sinh vật cửa sông và ven biển trong khu vực, sinh vật nỗi chết hàng loạt,ảnh hưởng đến nguồn chuỗi thức ăn trong mắt xích sinh học Hệ sinh thái thủy vựcthay đổi theo nhiều hướng khác nhau
- Cát bay, cát chảy
Trang 16Nạn cát bay, cát nhảy xảy ra chủ yếu ở khu vực nghiên cứu, các cồn cát phát triểnmạnh tập trung ở các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh Hiện tượng cát bay xảy
ra do nguyên nhân mùa khô kéo dài, tốc độ gió trong mùa đạt 3 - 5 m/s đã làm cho cátkhô ở các cồn chuyển dịch từ phía biển vào nội đồng, tốc độ trung bình 2 - 3 m/năm.Hiện tượng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đất, năng suất, diện tích cây trồngnơi đây Ngược lại mùa khô, mùa mưa ở khu vực kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 vớilượng mưa có thể đạt trên 600 mm/tháng đã tạo ra dòng chảy mặt tập trung trên vùngcát Dòng chảy này đã kéo theo một lượng cát lớn xuống lấp đồng ruộng Những vùng
có nguy cơ xảy ra cát bay cát chảy bao gồm các xã Hải Khê, Hải An, một phần các xãHải Dương, Hải Ba của các huyện Hải Lăng; các xã Triệu Vân, Triệu Trạch, Triệu Anmột phần xã Triệu Sơn của huyện Triệu Phong; các xã Gio Việt, Gio Hải, Gio Mỹ vàTrung Giang của huyện Gio Linh
Khí hậu biến đổi cực đoan thường xuyên liên tục trong nhiều năm đã làm ảnhhưởng tiêu cực đến chất lượng môi trường đất khá rõ nét Thực trạng hạn hán kéo dàitrong mùa khô làm cho cấu trúc lớp đất bề mặt dễ bị biến đổi theo hướng bạc màu,thực trạng cát bay cát nhảy diễn ra mạnh mẽ đặc biệt là vào những thời điểm gió
“Lào”, nguy cơ đất bị hoang mạc hoá do nắng nóng và độ ẩm thấp
- Giảm sự đa dạng loài thủy sinh
Khu vực hạ lưu sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và ven biển tỉnh Quảng Trị đã từng
là một trong những vùng được đánh giá là có giá trị đa dạng sinh học cao của nước ta.Tuy nhiên, trải qua nhiều thập niên cho đến nay, do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốkhác nhau như tác động của môi trường, sự khai thác quá mức của con người, đặc biệt
là sự tác động của thay đổi khí hậu cực đoan đã làm cho số lượng loài sinh vật trongkhu vực, trong đó có các loài cây ngập mặn, các loài cỏ biển ngày càng giảm sút Diệntích phân bố giảm đi rất nhiều so với trước kia
Trang 17Chương 2 KHÁI QUÁT CÁC NHÂN TỐ SINH THÁI CẢNH QUAN VÀ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ CẢNH QUAN VÙNG CÁT ĐÔNG NAM TỈNH QUẢNG TRỊ 2.1 KHÁI QUÁT CÁC NHÂN TỐ SINH THÁI CẢNH QUAN
2.1.1 Vị trí địa lý
Vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị nằm trên tọa độ từ 16o64’38” đến 17o01’23”
vĩ độ Bắc, 107o08’08” đến 107o38’06” kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Linh
- Phía Nam giáp huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phía Đông giáp Biển Đông
- Phía Tây giáp các huyện tỉnh Quảng Trị
Vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị có lợi thế về địa lý - kinh tế, là đầu mối giaothông, nằm ở trung điểm đất nước, ở vị trí quan trọng, điểm đầu trên tuyến đườnghuyết mạch hành lang kinh tế Đông - Tây nối với Lào - Thái Lan - Mianmar qua cửakhẩu quốc tế Lao Bảo đến các cảng biển Miền Trung như: Cửa Việt, Chân Mây, ĐàNẵng, Vũng Áng Đây là điều kiện rất thuận lợi để tỉnh Quảng Trị nói chung và vùngcát Đông Nam nói riêng mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao thương hàng hóa,vận tải quốc tế, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch Có điều kiện giao thông kháthuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ Địa phận khu vực nằm gần cáctuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam và Quốc lộ
9 gắn với đường xuyên Á cho phép thể giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng và cảnước Cảng Cửa Việt là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyểnhàng hóa trong vùng và trung chuyển hàng hóa qua đường xuyên Á Cách không xatrung tâm tỉnh lỵ Đông Hà có sân bay Phú Bài, Thừa Thiên Huế (khoảng 80 km) vàsân bay quốc tế Đà Nẵng (khoảng 150 km)
Thời gian qua, cũng như các tỉnh trong khu vực miền Trung được Nhà nước quantâm đầu tư, cùng một số chính sách ưu đãi khác, tiềm lực kinh tế của Quảng Trị nóichung và vùng cát Đông Nam nói riêng có những bước phát triển mới: Các khu côngnghiệp Nam Đông Hà, khu công nghiệp Quán Ngang; các cụm tuyến du lịch Cửa Việt,Gio Hải,
Những lợi thế về vị trí địa lý - kinh tế và tiềm lực kinh tế đã đạt được đang tạo khuvực một nền tảng rất cơ bản để có thể tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tếtrong nước và tăng cường liên kết, hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế,đẩy nhanh hơn nữa phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới
Trang 182.1.2 Các nhân tố sinh thái tự nhiên
a Địa chất
Vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị là một bộ phận của đồng bằng ven biển BắcTrung Bộ, được hình thành trên cấu trúc uốn nếp của dãy Trường Sơn Bắc Tại khu vựcphổ biến cát tạo bở rời là trầm tích đại Tân sinh (Kainôzôi - Kz) mà chủ yếu là Hôlôxen(QIV) do sông, gió và biển lấp đầy địa hình trũng của móng cổ có tuổi cổ sinh (Palêôzôi -Pz) Ở đây hoàn toàn vắng mặt các thành tạo Trung sinh (Mêzôzôi - Mz) Nền địa chất
có cấu trúc hai tầng: Tầng trên là trầm tích Tân sinh phủ lên, tầng dưới là móng Cổ sinh.Trầm tích Hôlôxen ở khu vực nghiên cứu có thành phần thạch học chủ yếu là cátthô, cát nhỏ và cát mịn màu trắng, xám, vàng nhạt, có sự thay đổi về kích thước hạt,thành phần, màu sắc từ biển vào đất liền và có chứa quặng sa khoáng (cát thuỷ tinh vớihàm lượng SiO2 tới 98 - 99%), than bùn và sét
b Địa hình
Địa hình khu vực nghiên cứu thuộc dạng cơ bản địa hình đồng bằng và ven biển
- Địa hình đồng bằng: Là những vùng đất được bồi đắp phù sa từ hệ thống các sông,địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tương đối từ 25 - 30 m Bao gồm đồng bằngTriệu Phong được bồi đắp từ phù sa sông Thạch Hãn; đồng bằng Hải Lăng, đồng bằngsông Bến Hải tương đối phì nhiêu Đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, nhất làsản xuất lúa ở các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh
- Địa hình ven biển: Chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biển Một sốkhu vực có địa hình phân hóa thành các bồn trũng cục bộ dễ bị ngập úng khi có mưalớn hoặc một số khu vực chỉ là các cồn cát khô hạn, sản xuất chưa thuận lợi, làm chođời sống dân cư thiếu ổn định
- Địa hình vùng cát: Dạng địa hình này được thành tạo chủ yếu do gió biển Cácđụn cát thường tập trung ở gần biển và ven đồng bằng Có địa hình thấp dần về phíaNam Vùng cát ở huyện Triệu Phong, Hải Lăng có độ cao các cồn cát thường từ 7 - 15
m Song nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng Phía sau các cồn cát gần bờ là cácbãi cát có địa hình thấp hơn chạy song song với biển Độ cao trung bình của bãi cátnày từ 4 - 5 m Đây cũng là loại hình cát di động nhưng do địa hình thấp hơn và thảmthực vật tương đối phát triển nên mức độ di chuyển ít hơn
Trang 19c Khí hậu
Vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị nằm trong vùng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệtđới gió mùa tương đối điển hình: Gió Tây khô nóng về mùa hè, gió Đông Bắc ẩm vềmùa đông và mang đầy đủ đặc trưng của khí hậu Quảng Trị, đồng thời có những đặcđiểm riêng của tiểu vùng khí hậu ven biển
- Cán cân bức xạ
Cũng như toàn lãnh thổ Việt Nam, vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị nằm trongkhu vực nội chí tuyến Bắc bán cầu nên hàng năm đều có hai lần mặt trời đi qua thiênđỉnh Điều đó dẫn đến lãnh thổ nhận được một lượng bức xạ rất lớn khoảng 125 - 130kcal/cm2/năm Phân bố lượng bức xạ tổng cộng năm theo không gian lãnh thổ có xuhướng tăng lên khi đi ra biển nhưng không đáng kể Trong năm, lượng bức xạ tổngcộng phân bố theo mùa, thời kỳ có lượng bức xạ lớn kéo dài từ tháng IV - IX (12 - 15kcal/cm2), trong đó cao nhất là tháng V, VI và tháng VII đạt khoảng 14 - 15 Kcal/cm2
có khi lên đến 24 - 25 Kcal/cm2 (2007) Các tháng giữa mùa đông có lượng bức xạthấp nhất khoảng 6,5 - 8,5 Kcal/cm2/tháng
Tổng lượng bức xạ năm lớn, chênh lệch bức xạ giữa các tháng không lớn, cán cânbức xạ luôn dương và lớn là cơ sở của nền nhiệt độ tương đối cao và ít bị biến đổitrong năm
Trang 20Nguồn: Trung tâm khí tượng - thủy văn tỉnh Quảng Trị.
Nhiệt độ trung bình năm tại khu vực khoảng 24,90C, nhiệt độ cao nhất là tháng VII
và thấp nhất là tháng I Mùa nóng bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng IX Vàonhững ngày có gió Tây Nam khô nóng (V đến tháng VIII), nhiều nơi nhiệt độ không khílên trên 40oC, tại các khu vực không có thảm thực vật lên trên 50oC Số ngày có nhiệt độ
> 35oC và độ ẩm < 45% trên vùng cát khoảng 35 - 36 ngày Mùa lạnh kéo dài từ cuốitháng XII năm trước đến tháng III năm sau Nhiệt độ trung bình các tháng mùa lạnhkhoảng dưới 20oC Số ngày có nhiệt độ ≤ 15oC chỉ có 5 - 6 ngày Biên độ nhiệt ngày lớnnhất vào mùa nóng và nhỏ nhất vào mùa lạnh Trị số biên độ nhiệt ngày lớn nhất vàotháng IV, có khi tới 10oC
Nhiệt độ cao làm cho lượng nước dưới đất bốc hơi mạnh cộng với đất ở khu vựcchủ yếu là đất cát nên vào những ngày nhiệt độ cao thì đất ở đây thường rất khô là điềukiện rất tốt cho quá trình cát bay diễn ra
- Gió
Do nằm trong khu vực gió mùa Đông Nam Á, vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trịcũng mang tính chất chung về gió mùa như các vùng khác ở nước ta Khu vực này cóchế độ gió thổi theo mùa, có hai mùa gió chính là gió mùa đông và gió mùa hạ Giómùa đông thổi từ tháng XI - III năm sau, hướng gió thịnh hành là hướng Đông Bắcchiếm đến 40 - 50% tần suất gió, các hướng còn lại tần suất xuất hiện nhỏ hơn Thổixen kẽ gió mùa Đông Bắc là những đợt gió Đông và Đông Nam làm mùa đông đỡ lạnhhơn
Gió mùa hạ thổi từ tháng V-VIII, hướng gió thịnh hành là gió Tây Nam chiếm 50%tần suất xen kẽ giữa các đợt gió Tây Nam khô nóng là những đợt gió Đông và ĐôngNam mát mẻ trong mùa hè
Trang 21Bảng 2.2 Tốc độ gió trung bình ở đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị.
Nguồn: Trung tâm khí tượng - thủy văn tỉnh Quảng Trị.
Gió ở Quảng Trị có tốc độ trung bình năm từ 1,9 - 3,7 m/s và ít thay đổi giữa cáctháng
- Lượng mưa
Vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị có số ngày mưa trong năm giao động từ 130
-180 ngày, kéo dài từ tháng IX đến tháng I năm sau Trong đó chỉ riêng ba tháng IX, X và
XI đã chiếm đến 70 - 80% lượng mưa năm (trung bình năm khoảng 2438,8 mm) Trongnhững tháng này, số ngày mưa từ 15 - 20 ngày/tháng Có những ngày lượng mưa caonhất trên 500 mm Do lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian cộngvới trên vùng đồng bằng ven biển độ che phủ thấp, phần lớn diện tích là đất trống nênvào thời kỳ mưa lớn, tập trung gây rửa trôi và xói mòn mạnh làm cho đất càng nghèokiệt, còn thời kỳ khô hạn thì nạn cát bay ngày càng gia tăng
- Độ ẩm và lượng bốc hơi
Độ ẩm trung bình trong năm chỉ 80%, tháng cao nhất lên đến 91%, tháng thấp nhất
độ ẩm chỉ xuống dưới < 50%, có nơi còn xuống thấp chỉ còn 30% (tháng V và VIII).Lượng bốc hơi trung bình cả năm là 1.508,6mm, tháng cao nhất dao động từ 170 - 236
mm Vào các tháng mùa hè (tháng V đến tháng VII) lượng bốc hơi chiếm tới 70 - 75%lượng bốc hơi cả năm Đây là nguyên nhân làm thiếu nước vào mùa khô, ảnh hưởng đếnhoạt động sản xuất của người dân, đồng thời kiến lớp phủ thực vật nghèo nàn, đất thiếunước nghiêm trọng đã làm gia tăng quá trình cát bay
- Bão, lũ
Trang 22Bão lụt uy hiếp trực tiếp đến vùng đồng bằng ven biển, bão thường xuất hiện trongmùa mưa và tập trung nhiều nhất là các tháng VIII, IX, X Tần suất xuất hiện bão lớnnhất vào tháng IX là 37 % Bão thường kèm theo mưa to và gió lớn làm cho quá trìnhcát bay diễn ra mạnh mẽ hơn.
Vào mùa mưa nước trên các hệ thống sông dồn về vùng đồng bằng và vùng cát venbiển Mặt khác trong các cơn bão mực nước biển dâng cao cuốn trôi nhà cửa của ngườidân và các công trình xây dựng ven bờ và vùng cửa sông
d Thủy văn
Khu vực nghiên cứu có hệ thống sông ngòi phân bố không đồng đều, mật độ trungbình 0,8 - 1 km/km2 Toàn khu vực có 02 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sôngThạch Hãn
- Hệ thống sông Bến Hải: Bắt nguồn từ khu vực Động Châu có độ cao 1.257 m, có
chiều dài 65 km Lưu lượng trung bình năm 43,4 m3/s Diện tích lưu vực rộng khoảng
809 km2 Sông Bến Hải đổ ra biển ở Cửa Tùng, nằm ở phía Bắc của vùng nghiên cứu
- Hệ thống sông Thạch Hãn: Có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn nhất 2.660
km2 Nhánh sông chính là Thạch Hãn bắt nguồn từ các dãy núi lớn Động Sa Mùi,Động Voi Mẹp (nhánh Rào Quán) và động Ba Lê, động Dang (nhánh Đakrông) SôngThạch Hãn đổ ra biển ở Cửa Việt
Thuỷ triều trên dải bờ biển Quảng Trị có chế độ bán nhật triều không đều, gần ½
số ngày trong hàng tháng có 2 lần nước lớn, 2 lần nước ròng
Nguồn nước ngầm trên địa bàn nghiên cứu cũng rất phong phú nhưng lại biếnđộng phức tạp Vào mùa mưa, vùng cát tỉnh Quảng Trị có mực nước ngầm tương đốidồi dào, có khu vực mực nước ngầm sát bề mặt đất Vào mùa khô nước ngầm ở độsâu 50 - 130 cm
đỏ Lớp vỏ phong hoá khá dày, thành phần cơ giới trên 97% là cát Đất nghèo cácnguyên tố vi lượng
Một số nhóm đất và loại đất tại khu vực nghiên cứu:
Trang 23 Nhóm cồn cát, bãi cát và đất cát biển - C (Arenosols - AR): Cồn cát trắng (Cc),
cát biển (C), phân bố chủ yếu ở huyện Gio Linh, Hải Lăng, Triệu Phong
Nhóm đất mặn - M (Salic Fluvisols - FLS): Đất mặn nhiều (Mn) phân bố tập
trung gần khu vực Cửa Tùng Đất mặn trung bình (M), phân bố tập trung chủ yếu ở xãGio Mai, huyện Gio Linh Đất mặn ít (Mi), phân bố ở huyện Triệu Phong, Gio Linh
Nhóm đất phù sa - P (Fluvisols - FL): Đất phù sa được bồi (Pb), đất phù sa
không được bồi (P), đất phù sa glây (Pg), đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf), đấtphù sa ngòi suối (Py)
Ngoài ra còn nhiều loại đất khác phân bố trong khu vực nghiên cứu như: Đất lầy(J), Đất than bùn (T)…
f Thảm thực vật
- Kiểu thảm thực vật tự nhiên:
Được gọi là quần hệ thực vật cát biển, yếu tố sinh thái nổi trội phát sinh thảm thựcvật là lớp thổ nhưỡng với các loại cát trắng và cát vàng có nguồn gốc phong thành vàthuỷ thành Các quần xã phân bố và tồn tại trong nền khí hậu mang tính nhiệt đới giómùa đặc trưng Đây là hệ sinh thái rất đặc sắc của địa phương Quần hệ này bao gồm 5quần xã chính:
+Trảng cỏ tiên phong trên cát hình thành ven biển với các quần xã ưu thế: cỏChông, rau Muống biển Phân bố chủ yếu ở Triệu Phước, Triệu Lăng (huyện TriệuPhong)…có diện tích lớn và tập trung
+ Trảng cây bụi xanh nhiệt đới trên đụn cát và dải cát ven biển với quần xã cây lárộng chiếm ưu thế: Dứa dại, Hếp, Tra… có nguồn gốc từ kiểu rừng tương ứng, xuấthiện sau nhân tác, có khả năng phục hồi trở thành rừng có chu kỳ tương đối dài (20 -
25 năm)
+ Trảng cỏ xen cây bụi thấp mọc trên cát khô ven biển với các loại ưu thế gồm: Mao
đỏ, Mao tái, Hải đằng, Chổi xể… có mặt ở các xã Triệu Vân, Triệu Lăng
+ Trảng cỏ trên dải cát trắng, ngập nước tạm thời với quần xã ưu thế: Bần thảo, Anđiền… có khả năng thích nghi với sự ngập nước theo chu kỳ
- Kiểu thảm thực vật nhân tác:
Gồm 2 kiểu quần xã cây trồng lâu năm và quần xã cây trồng hàng năm
- Quần xã cây trồng lâu năm
Trang 24+ Phi lao: Đây là loại cây trồng rất phù hợp tại khu vực, vì chúng vừa đem lại hiệuquả kinh tế đồng thời khả năng chống cát bay, xói lở bờ biển và cân bằng sinh thái rấttốt Loại này trồng nhiều ở các xã: Triệu An, Hải An, Hải Khê…
+ Các cây trồng lâu năm ở khu vực dân cư nông thôn như: Xoài, Xoan, Đu đủ,Tre, Mít, Dừa…có mặt rộng khắp trên khu vực nghiên cứu
+ Trên địa bàn còn có các loại cây rừng trồng khác như: Bạch đàn, Keo lá tràm,Keo tai tượng…có khả năng thích nghi với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt tại khu vực.Hiện nay, chúng phân bố khắp lãnh thổ
- Quần xã cây trồng cạn ngắn ngày:
+ Cây lúa nước: Phân bố thành dải hẹp ở giữa của vùn cát biển và vùng cát nộiđồng, phát triển trên các loại đất phù sa, tập trung nhiều ở các xã: Hải Thành, Hải Vĩnh,Triệu Trạch, Triệu Phước…
+ Cây trồng cạn hàng năm trên đụn cát và đất phù sa: Ngô, khoai từ, hoa màu vàrau các loại…phân bố khắp lãnh thổ với diện tích không lớn
2.1.3 Các nhân tố sinh thái nhân văn
a Các yếu tố kinh tế - xã hội
Nhìn chung trong những năm qua nền kinh tế của vùng cát Đông Nam tỉnhQuảng Trị đả có sự chuyển biến đáng kể, việc phát triển các nhà máy xí nghiệp giúptăng trưởng về kinh tế bên cạnh đó việc sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi trồngthủy hải sản củng đem đến nguồn lợi cho việc xuất khẩu ra nước ngoài lớn Đến nay
hệ thống trường học trên vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng trị đã xây dựng khá khangtrang Chất lượng xây dựng của trường học từ bán kiên cố trở lên, một số xã trườnghọc cấp II đã được xây dựng cao tầng Phòng học cho học sinh đầy đủ, học sinhkhông còn phải học ba ca
Tất cả các xã vùng cát Đông Nam đều có trạm y tế đủ để phục vụ các bệnh thôngthường cho người dân Tuy vậy điều đáng quan tâm nhất là chất lượng đội ngũ cán bộ y
tế cơ sở vẫn đang còn yếu kém, các trạm y tế xã chỉ có 5 - 6 nhân viên bằng 7 % đội ngũnhân viên y tế cơ sở Cở sở hạ tầng và trang thiết bị khám chữa bệnh vẫn còn thiếu thốn
Vì vậy vẫn còn gây khó khăn trong việc khám chữa và cấp phát thuốc
b Dân cư và lao động
Vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị có điều kiện tự nhiên tương đối phức tạp, vì
Trang 25Tuy nhiên, do điều kiện tiếp giáp với biển thuận lợi phát triển kinh tế nên người dânngày càng tập trung đông đúc Đến năm 2015, tổng số dân trong vùng cát là 110.285người Mật độ dân số trong toàn vùng 300 người/km2, cao nhất là xã Gio Việt có mật
độ dân số lên đến 1.359 người/km2, thấp nhất là xã Hải Lâm với chỉ 48 người/km2.Dân
cư của vùng ven biển có tỷ suất tăng dân số tự nhiên là 9,83%
Dân cư tập trung ngày càng đông, cùng với đó là diện tích đất sản xuất và cáccông trình phụ trợ đi kèm đã làm giảm diện tích đất tự nhiên
Bảng 2.3. Dân số, số thôn, mật độ dân số vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị.
Trang 26c Cơ sở hạ tầng - Cơ sở vật chất kỹ thuật
Vùng cát Đông Nam tỉnh Quảng Trị có hệ thống giao thông khá phát triển, thuậnlợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thủy Các tuyến quốc lộ được đầu tư nâng cấp,các tuyến đường tỉnh, đường huyện nối các trung tâm phát triển được nhựa hóa 100%
số xã có đường ô tô đến trung tâm xã thông suốt 04 mùa trong năm Trong vùng, hệthống sông ngòi khá dày đặc, cùng với đó là đường bờ biển dài 45km với 2 cảng biển:Cửa Việt và Cửa Tùng là thích hợp cho phát triển hệ thống giao thông đường thủy.Bưu chính viễn thông phát triển, hệ thống cấp điện, nước dùng cho sinh hoạt vàsản xuất được đảm bảo Các dịch vụ vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục đang phát triển nhanh chóng Hiện nay, các xả trong vùng cát đều có điện lưới quốcgia và hầu như tất cả các thôn xóm đều có điện để sử dụng Điều này đã tạo điềukiện thuận lợi cho người dân phát triển sản xuất và cải thiện đời sống cho nôngthôn vùng cát
Hệ thống đê và kênh tiêu nước trên cát đã được hình thành ở các huyện Hải Lăng,Triệu Phong, Gio Linh Đê cát có 02 loại: Đê phân thuỷ và đê chính Hệ thống đê này
đã có tác dụng không cho nước ở các vùng cát trên cao chảy xuống vùng thấp hơn,ngăn dòng chảy mặt trên cát về phía đồng ruộng và tạo ra được các hồ chứa nước mưatrên vùng cát Hệ thống kênh tiêu nước trên cát đưa nước đổ ra trong mùa mưa Ở cácthôn xóm trên cát bằng phẳng không có kênh tiêu này, hộ dân không thể trồng cây lâunăm trong vườn nhà Tuy nhiên do nguồn đầu tư hạn hẹp, hệ thống đê và kênh tiêutrên cát chưa được nhiều và chưa có sự đồng bộ Bên cạnh đó do công tác tổ chứcquản lý, sử dụng chưa được quan tâm đúng mức làm giảm hiệu quả của hệ thống thuỷlợi này