1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

y học cổ truyềnkim quỹ yếu lược

30 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 102,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP KIM QUỸ YẾU LƯỢC LỜI MỞ ĐẦU Nền y học cổ truyền phương Đông đã cho ra đời 4 bộ sách kinh điển đến tận ngày nay, đó là Nội kinh, Nạn kinh, Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược (Nội Nạn Thương Kim). “Kim quỹ yếu lược phương luận” là phần tạp bệnh cả sách “Thương hàn tạp bệnh luận” do Trương Trọng Cảnh viết từ thời Đông Hán. Đây là cuốn sách đầu tiên viết về chẩn trị tạp bệnh theo lý luận biện chứng của y học cổ truyền. Sách có giá trị cao cả về lý luận cũng như ứng dụng lâm sàng và là một trong những sách kinh điển của y học cổ truyền. Tên sách là “Kim quỹ yếu lược phương luận”, trong đó “Kim quỹ” có nghĩa là quan trọng và quý giá, “Yếu lược” có nghĩa là tóm lược. “Kim quỹ yếu lược” cho thấy đây là những nội dung quan trọng chủ yếu và cần thiết về y học cổ truyền được tóm tắt lại. Sách “Kim quỹ” bàn về tạp bệnh nội khoa là chính, tuy nhiên cũng đề cập đến một số bệnh phụ khoa và ngoại khoa. Toàn sách chia thành ba phần lớn, tổng cộng có 25 chương. Phần đầu từ chương 1 đến chương 10. phần hai từ chương 11 đên chương 19, phần ba từ chương 20 đến chương 25. Chương đầu “Bệnh tạng phủ kinh lạc trước sau” có tính chất tổng luận, viết về nguyên nhân cơ chế bệnh sinh, dự phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh… Do viết theo hình thực hỏi đáp, nêu các nguyên tắc nên chương này có tính chất cương lĩnh cho toàn cuốn sách. Từ chương 2 “Bệnh kính thấp yết” đên chương 17 “Bệnh nôn ọe hạ lợi” thuộc bệnh nội khoa. Chương 18 “Bệnh sang ung tràng ung phù nề” thuộc bệnh ngoại khoa. Chương 19 “Bệnh phu quyết thủ chỉ tý thũng chuyển cân âm hồ sán ưu trùng” viết về một số hợp bệnh. Chương 20 đến chương 22 chuyên về sản phụ khoa. Ba chương cuối viết về cấm ký, chú ý khi dùng thuốc và ăn uống cùng một số nghiệm phương. Cũng như Thương Hàn Luận, sách Kim quỹ cũng được rất nhiều thầy thuốc chú giải, được hiểu theo nhiều trường phái khác nhau nhưng đều hướng đến cho đọc gỉa cái nhìn sâu sắc nhất về nội dung mà Trương Trọng Cảnh gửi gắm. Chính vì vậy, được sự hướng dẫn của thầy cô bộ môn khoa Y học cổ truyền – trường Đại học Y Dược Huế, nhóm chúng em xin được phép thảo luận về mạch, chứng, phép trị của trúng phong, lịch tiết phong, huyết tý hư lao, phế nuy, phế ung, bôn đồn khí và hung tý, tâm thống, đoản khí. Phần thảo luận gồm 5 chương, từ chương 5 đến chương 10 trong giáo trình “Kim quỹ yếu lược” của khoa Y học cổ truyền – trường Đại học Y Dược Huế. Bài tiểu luận này chỉ là một góc nhìn nhỏ của chúng em về mạch chứng và cách chữa các chứng bệnh trong phần tạp bệnh của cuốn sách kinh điển này. Hy vọng nhận được sự đón đọc và phê bình của thầy cô và bạn đọc.

Trang 1

BÀI TẬP KIM QUỸ YẾU LƯỢC

Lớp YHCT5A金匮匮金

Trang 3

là tóm lược “Kim quỹ yếu lược” cho thấy đây là những nội dung quan trọng chủ yếu và cần thiết

về y học cổ truyền được tóm tắt lại Sách “Kim quỹ” bàn về tạp bệnh nội khoa là chính, tuynhiên cũng đề cập đến một số bệnh phụ khoa và ngoại khoa Toàn sách chia thành ba phần lớn,tổng cộng có 25 chương Phần đầu từ chương 1 đến chương 10 phần hai từ chương 11 đênchương 19, phần ba từ chương 20 đến chương 25

Chương đầu “Bệnh tạng phủ kinh lạc trước sau” có tính chất tổng luận, viết về nguyên nhân

cơ chế bệnh sinh, dự phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh… Do viết theo hình thực hỏi đáp, nêucác nguyên tắc nên chương này có tính chất cương lĩnh cho toàn cuốn sách Từ chương 2 “Bệnhkính thấp yết” đên chương 17 “Bệnh nôn ọe hạ lợi” thuộc bệnh nội khoa Chương 18 “Bệnh sangung tràng ung phù nề” thuộc bệnh ngoại khoa Chương 19 “Bệnh phu quyết thủ chỉ tý thũngchuyển cân âm hồ sán ưu trùng” viết về một số hợp bệnh Chương 20 đến chương 22 chuyên vềsản phụ khoa Ba chương cuối viết về cấm ký, chú ý khi dùng thuốc và ăn uống cùng một sốnghiệm phương

Cũng như Thương Hàn Luận, sách Kim quỹ cũng được rất nhiều thầy thuốc chú giải, đượchiểu theo nhiều trường phái khác nhau nhưng đều hướng đến cho đọc gỉa cái nhìn sâu sắc nhất vềnội dung mà Trương Trọng Cảnh gửi gắm Chính vì vậy, được sự hướng dẫn của thầy cô bộ mônkhoa Y học cổ truyền – trường Đại học Y Dược Huế, nhóm chúng em xin được phép thảo luận vềmạch, chứng, phép trị của trúng phong, lịch tiết phong, huyết tý hư lao, phế nuy, phế ung, bônđồn khí và hung tý, tâm thống, đoản khí Phần thảo luận gồm 5 chương, từ chương 5 đến chương

10 trong giáo trình “Kim quỹ yếu lược” của khoa Y học cổ truyền – trường Đại học Y Dược Huế.Bài tiểu luận này chỉ là một góc nhìn nhỏ của chúng em về mạch chứng và cách chữa các chứngbệnh trong phần tạp bệnh của cuốn sách kinh điển này Hy vọng nhận được sự đón đọc và phêbình của thầy cô và bạn đọc

Trang 4

- Tâm thống là đau tim, đau thắt ngực.

- Đoản khí là thở ngắn mà gấp, hơi thở không điều hòa

II Y HỌC HIỆN ĐẠI

1 Đại cương

- William Heberden là người đầu tiên mô tả thuật ngữ “đau thắt ngực” từ hơn 220 năm nay.Cho đến bây giờ, đây là loại bệnh khá thường gặp ở các nước phát triển và có xu hướng gia tăngrất mạnh ở các nước đang phát triển Theo ước tính hiện ở Mỹ có khoảng gần 7 triệu người bịđau thắt ngực và hàng năm có thêm khoảng 350 000 người bị đau thắt ngực mới

- Đau thắt ngực ổn định còn được gọi là Bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ mạn tính hoặc Suyvành Cơn đau thắt ngực là triệu chứng thường có trong hai tình trạng của bệnh tim thiếu máucục bộ, đó là: đau thắt ngực ổn định và đau thắt ngực không ổn định

- Đau thắt ngực ổn định là tình trạng không có những diễn biến nặng lên bất ổn của cơnđau thắt ngực trong vòng vài tuần gần đây Với đau thắt ngực ổn định thì tình trạng lâm sàngthường ổn định, cơn đau thắt ngực ngắn, xảy ra khi gắng sức, đỡ khi nghỉ và đáp ứng tốt vớiNitrates Đau thắt ngực ổn định thường liên quan đến sự ổn định của mảng xơ vữa

- Đau thắt ngực không ổn định là tình trạng bất ổn về lâm sàng, cơn đau thắt ngực xuấthiện nhiều và dài hơn, xảy ra cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi và cơn đau ít đáp ứng với các Nitrates.Cơn đau này thường liên quan đến tình trạng bất ổn của mảng xơ vữa động mạch vành

2 Nguyên nhân

- Nhiễm mỡ xơ mạch vành: là nguyên nhân trong 90% trường hợp Cơn đau thắt tim donhiễm mỡ xơ mạch, tiên lượng xấu, dễ chuyển sang nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim, suy tim, chếtđột ngột ( 90%)

- Tổn thương thực thể ở động mạch vành hoặc suy chức năng mạch vành: tổn thương thựcthể như viêm động mạch vành do giang mai, viêm quanh nút động mạch, tắc mạch vành do máucục từ xa đưa đến

Trang 5

- Suy động mạch vành chủ yếu do hẹp van động mạch chủ, canxi hóa hay không, hở vanđộng mạch chủ nặng: hẹp 2 lá khít, cơn nhịp nhanh kịch phát, thiếu máu nặng kéo dài.

3 Cơ chế bệnh lý

Do thiếu máu nên thiếu oxy và để có năng lượng sống, tế bào cơ tim phải cho phân hủyAdenonucleotid để tạo năng lượng và trong quá trình phóng chất Adenosin gây đau

4 Phân loại

a Cơn đau thắt ngực điển hình

- Vị trí: thường sau xương ức và là một vùng (không phải một điểm), đau có thể lan lên cổ,vai, tay, hàm, thượng vị, sau lưng Hay gặp là hướng lan lên vai

trái rồi lan xuống mặt trong tay trái, có khi xuống tận các ngón tay 4, 5

- Hoàn cảnh xuất hiện: sau khi gắng sức, xúc cảm mạnh, gặp lạnh, sau bữa ăn nhiều hoặchút thuốc lá Một số trường hợp cơn đau thắt ngực có thể xuất hiện về đêm, khi thay đổi tư thế,hoặc khi kèm cơn nhịp nhanh

- Mức độ đau và các triệu chứng kèm theo: Hầu hết các bệnh nhân mô tả cơn đau thắt ngựcnhư thắt lại, nghẹt, rát, bị đè nặng trước ngực và đôi khi cảm giác buốt giá Một số bệnh nhân cókhó thở, mệt lả, đau đầu, buồn nôn, vã mồ hôi

Trang 6

Phân độ đau thắt ngực theo CCS:

Độ Đặc diểm Chú thích

I Những hoạt động thể lực bình thường

không gây đau thắt ngực

Đau thắt ngực chỉ xuất hiện khi hoạt độngthể lực rất mạnh

II Hạn chế nhẹ hoạt động thể lực bình thường Đau thắt ngực xuất hiện khi leo cao >1 tầng

gác thông thường bằng cầu thang hoặc đi bộdài hơn 2 dãy nhà

III Hạn chế đáng kể hoạt động thể lực thông

b Cơn đau thắt ngực (hay là cơn đau tim) không ổn dịnh

- Dùng để chỉ toàn thể các biểu hiện của cơn đau thắt ngực trung gian giữa cơn đau thắtngực điển hình do gắng sức, mạn tính, ổn định và nhồi máu cơ tim

- Triệu chứng đau ngực cũng giống như trong đau ngực ổn định đã mô tả, chỉ có sự khácnhau về tính chất, trong đau thắt ngực không ổn định tính chất dữ dội hơn, kéo dài hơn, có thểxảy ra cả trong khi nghỉ, có thể không hoặc ít đáp ứng với Nitrates

Trang 7

- Chứng đau ngực (Hung tý) là chứng tắc ở ngực không thông, có biểu hiện chính là khí ởtrong ngực tắc và đau ngực Thiên quyết bệnh Sách Linh khu gọi là chân tâm thông tức là đaungực nặng, còn thể nhẹ chỉ có thấy ngực đầy nghẽn (Kim quỹ yếu lược) Nguyên nhân thường làkhí dương ở trong ngực không phân bố được vì bị khí âm thượng nghịch chiếm mất vị trí của khídương, nói khác đi là trong ngực dương khí bất túc và âm hàn thịnh làm trở ngại cho việc dươngphân bố ở trong ngực Cũng có thể do cả khí, âm ở ngực đều hư gây nên Các chứng bệnh củađộng mạch vành cơ tim (cơn đau thắt ngực nhồi máu cơ tim…) thuộc phạm vi chứng hung tý

- Hung tý tâm thống (cơn đau thắt ngực) biểu hiện đau từng cơn, đau lâu mà không hết,theo Trung Y thuộc Lạc bệnh Trong “Nội kinh” đã chỉ ra bệnh đau tim là do kinh lạc biến đổigây ra, “Tố vấn – Miêu thích luận” nói: “Tà khách vu túc thiếu dương chi lộ” linh nhân tốt tâmthống “Tố vấn – Thiên tý luận” viết: “Tâm tý giả, mạch bất thông”, tâm mạch bất thông dẫn đếnđau thắt ngực, trong ngực thấy khó chịu, huyết ứ lạc trở, đau ngực từng cơn, đau lâu mà khôngngừng, Trung Y cho rằng “cửu thống nhập lạc” chính là chỉ ra đặc điểm của cơ chế bệnh Hung týtâm thống (cơn đau thắt ngực)

- Chứng Tâm thống không chỉ do kinh mạch của tạng tâm bị ức trệ dẫn đến mà còn kinhmạch của Tâm co thắt đột ngột, hình thành bất thông gây đau “Tố vấn- Tà khí tạng phủ bệnhhình thiên” viết: “Tâm mạch….vi cấp vi tâm thống dẫn bối” “Tố vấn – Cử thống luận” nói:

“Tâm hàn thúc quyền tắc mạch trật cấp, truất cấp ngoại dẫn tiểu lạc, cố thốt nhiên nhi thống”

“Chư bệnh nguyên hậu luận” cũng chỉ ra: “Tâm mạch cấp giả vi tâm thống dẫn bối”, nói rõ bảnchất của bệnh do mạch l ạc của tâm co thắt mà thấu phát đau ra lưng

- Tâm khí hư phiếm, vận khí vô lực, là nhân tố trọng yếu hình thành tâm mạch ứ trở, mạchlạc câu cấp mà dẫn đến đột ngột phát cơn đau “Khí là soái của huyết, khí hành thì huyết hành,khí chỉ thì huyết chỉ, khí ôn thì huyết nhuận, khí hàn thì huyết sáp, khí có một tức thì bất vận,huyết có một tức thì bất hành” (Đông Y giám bảo Nội cảnh thiên), Vương Thanh Nhiệm (Y Lâmcải thác viết): “nguyên khí hư, tất bất năng đạt huyết quản, huyết quản vô khí tất đình mà ứ”, nói

rõ tâm khí bất túc, vận huyết vô lực là nhân tố trọng yếu hình thành tâm lạc ứ trở Đa phầnchuyên gia cho rằng mang đặc điểm cơ chế Tâm thống (cơn đau thắt ngực) qui nạp vào “Bản hưtiêu thực” (Qui phạm trị liệu chẩn đoán bệnh cấp trung Y do nhóm nghiên cứu tâm thống cấpbệnh Trung gia thuộc cục quản lý Y dược Quốc gia)

2 Nguyên nhân

- Kinh văn 112:

Trang 8

: , , , , , , 

Sư viết: Phu mạch đương thủ thái quá bất cập, dương vi âm huyền, tức hung tý nhi thống,

sở dĩ nhiên giả, trách kỳ cực hư dã, kim dương hư trú tại thượng tiêu; sở dĩ hung tý tâm thống giả dĩ kỳ âm huyền cố dã (Bắt mạch thấy thái quá, bất cập, như dương vi, âm huyền, là có hung

tý và đau, sở dĩ có như vậy là do có mạch cực hư vậy Mạch dương hư là ở thượng tiêu có hư,nếu là hung tý tâm thống thì có mạch âm huyền)

- Kinh văn 113:

, , 

Bình nhân vô hàn nhiệt đoản khí bất túc dĩ tức giả thực dã (Người có vẻ như bình thường,

không có hàn nhiệt song đoản khí không đủ hơi để thở, là có tà thực)

 Đây là nói về hung tý đau và các nguyên nhân Mạch thái quá là có tà khí

thịnh, mạch bất cập là chính khí hư Mạch dương là mạch thốn, vi là hư, mạch âm là mạch xích,huyền là thái quá, như vậy là có dương hư ở thượng tiêu, âm thịnh ở hạ tiêu Hung tý và đau dodương ở thượng tiêu hư , ở hạ tiêu thực, âm khí ở hạ tiêu thừa thượng tiêu hư lên ngực làmdương không thông (tắc) làm đau ở ngực, ở tâm Người như bình thường, không có hàn nhiệt, làkhông có ngoại cảm tà khí; đoản khí không đủ hơi để thở là có tà thực, tà thực ở đây nếu không

do ngoại cảm thì thường là đờm ẩm ở thượng tiêu Sở dĩ có đờm ẩm ở thượng tiêu là do dươngkhí ở thượng tiêu hư, dẫn đến đờm ẩm đình lưu lại Như vậy bệnh đã chuyển từ hư sang thực

3 Các chứng hung tý, tâm thống, đoản khí

 Hung tý là trong ngực ách tắc; suyễn thở, ho khạc nước bọt, đoản hơi, đau ngực do hàn

ẩm ngưng trệ; mạch thốn trầm trì do dương khí ở thượng tiêu không phấn chấn; mạch quan khẩntiểu do hàn ẩm đình trệ ở vị trở lên (mạch sác sợ không đúng vì mạch thốn trì thì quan không thể

Trang 9

sác được) Như vậy muốn chữa thì phải thông dương khí tán hàn kết (ngưng trệ) làm hết đờm, hạkhí, để hết đau Bài thuốc chủ yếu là Qua lâu giới bạch bạch tửu thang.

- Phép chữa: thông dương khí tán hàn kết.

- Phương thuốc: QUA LÂU GIỚI BẠCH BẠCH TỬU THANG PHƯƠNG

Qua lâu thực 1 củ ( giã nát)

+ Cùng đun lấy 2 thăng, chia 2 lần, uống nóng

+ Ý nghĩa bài thuốc: Qua lâu để khai đờm kết trong ngực, giới bạch để thông dương khí,bạch tửu để dẫn thuốc, công dụng của bài thuốc này là thống dương tán kết, làm hết đờm, hạ khí

b Hung tý do đàm ủng trệ nghịch lên

Kinh văn 115:

, , 

Hung tý bất đắc ngọa, tâm thống triệt bối giả, Qua lâu giới bạch bán hạ thang chủ chi.

(Hung tý, có chứng không thể nằm, tâm đau, và xuyên đến lưng chữa bằng bài Qua lâu giới bạchbán hạ thang)

 Đây là triệu chứng và cách chữa hung tý do đờm giãi úng tắc ở ngực làm dương khíkhông thông dẫn đến tâm đau và xuyên ra sau lưng Như vậy trong điều trị cần tác động mạnhđến sự úng trệ và nghịch lên của đờm gây đau xuyên ra lưng Lúc này vừa phải thông dương, vừaphải trừ đờm mạnh hơn, làm giảm khí nghịch mạnh hơn, vì vậy bài thuốc trên phải thêm bán hạ

- Phép chữa: thông dương, trừ đờm.

- Phương thuốc: QUA LÂU GIỚI BẠCH BÁN HẠ THANG

+ Cùng đun lấy 4 thăng, uống nóng 1 thăng, ngày uống 3 lần

+ Ý nghĩa bài thuốc: đây là bài Qua lâu giới bạch bạch tửu thang, vai trò của Bán hạ ở đây

là trục đờm ẩm, giáng nghịch để giải quyết đau xuyên ra lưng

c Hung tý có khí tắc trong tâm

Kinh văn 116:

Trang 10

+ Ý nghĩa bài thứ nhất: Chỉ thực, hậu phác để tán khí kết, trừ đầy ở ngực; Quế chi để thôngdương giáng nghịch, Qua lâu giới bạch để hóa đờm hạ khí.

+ Ý nghĩa bài thứ hai: Nhân sâm trợ chính khí chữa tâm hạ bĩ (ách tắc), hợp với Can khươngBạch truật làm dương khí phấn chấn nhằm hóa âm hàn kết ở ngực, Cam thảo để điều hòa các vịthuốc Như vậy bài thuốc có tác dụng phấn chấn dương khí, hóa âm kết

d Hung tý mới chỉ có khí tắc trong ngực, đoản hơi

Kinh văn 117:

, , , , 

Hung tý có khí tắc ở trong ngực, hơi ngắn, Bạch phục linh hạnh nhân cam thảo thang chủ

về bệnh ấy Quất bì chỉ thực sinh khương thang cũng chủ về bệnh ấy (Hung tý có khí tắc ở trong

ngực, đoản hơi, dùng bài Phục linh hạnh nhân cam thảo thang cũng có thể dùng bài Quất bì chỉthực sinh khương thang để chữa)

 Đây nói về triệu chứng và cách chữa chứng Hung tý (nhẹ), khí tắc ở ngực, đoản hơi chưagây đau là biểu hiện của khí trệ, thủy khí làm trở ngại đường thở Thủy khí có thể nằm ở phế,làm rối loạn việc thông điều thủy đạo hoặc nằm ở vị làm rối loạn thăng giáng của khí Như vậynếu thấy ngột ngạt khó thở đoản khí là nghĩ đến hung tý “Nếu có thấy thêm triệu chứng cơ máy

ở khoeo, đập ở tâm hạ thì dùng bài Phục linh hạnh nhân cam thảo thang, nếu thấy có thêm triệu

Trang 11

chứng ẩu thổ, ách tắc và nghịch thì dùng bài Quất bì chỉ thực sinh khương thang” Do đó, để cóbài thuốc thích hợp cần khai thác thêm các triệu chứng cần thiết.

BẠCH PHỤC LINH HẠNH NHÂN CAM THẢO THANG PHƯƠNG

+ Dùng 5 thăng nước, đun lấy 2 thăng, uống nóng 2 lần

+ Ý nghĩa bài thuốc sau: Quất bì để lý khí, Chỉ thực để khai bế, Sinh khương tán vị hàn, ôntrung hành thủy

e Hung tý do hàn thấp có lúc cấp lúc hoãn

Kinh văn 118:

, 

Hung tí hoãn cấp giả Ý dĩ nhân phụ tử tán chủ chi (Hung tý ở trạng thái lúc đau (cấp), lúc

không đau (hoãn) chữa bằng bài Ý dĩ phụ tử tán)

 Đây là cách chữa Hung tý do hàn thấp lúc có lúc không có cơn đau ngực, qua bài thuốcthấy nguyên nhân của Hung tý là hàn và thấp, khi hàn thắng co lại làm tắc tăng gây đau, khi thấpthắng thì cơn hoãn, không đau Sở dĩ hàn thấp hoành hành được là do dương khí ở thượng tiêu

hư, muốn chữa phải trợ dương hóa hàn tán thấp thì mới chỉ được đau Bài Ý dĩ phụ tử thang đểđáp ứng yêu cầu này

- Phép chữa: trợ dương hóa hàn tán thấp.

- Phương thuốc: Ý DĨ NHÂN PHỤ TỬ TÁN

Đại phụ tử 10 củ ( bào)

Trang 12

+ Nghiền bột, mỗi lần uống 1 muỗng, ngày 3 lần.

+ Ý nghĩa bài thuốc: Ý dĩ để trừ thấp hạ khí, Phụ tử để tán hàn, khai ách tắc Bài thuốc cótác dụng trợ dương hóa thấp, thông tắc chỉ đau Thuốc dùng dạng tán vì bệnh lúc có cơn đau lúckhông có cơn đau, hiệu lực tốt

f Hung tý do khí trong tâm ách tắc

Kinh văn 119:

, , 

Tâm trung bĩ, chư nghịch huyền thống, Quế chi sinh khương chỉ thực thang chủ chi (Trong

tim ách tắc, khí ở tâm hạ nghịch lên gây nên đau như treo lên, dùng bài Quế chi sinh khương chỉthực thang để chữa)

 Trong tim ách tắc do tâm dương hư không đủ để phân bố, nên âm tà chiếm lĩnh trong tâmlàm khí tắc lại; sự thăng giáng của khí ở tâm hạ bị trở ngại nên nghịch lên, vì thế đau như treolên Quế chi có tác dụng bổ tâm tráng dương, kết hợp với Sinh khương để tán hàn giáng nghịch,lại có Chỉ thực để tiêu bĩ làm

thăng giáng trở lại bình thường nên bài thuốc rất phù hợp với chứng này

QUẾ CHI SINH KHƯƠNG CHỈ THỰC THANG

+ Dùng 6 thăng nước, đun lấy 3 thăng, uống nóng 3 lần

+ Ý nghĩa bài thuốc: Quế chi để thông dương giáng nghịch, Sinh khương để tán hàn hànhthủy, Chỉ thực để tiêu ách tắc để làm thông trên dưới

g Tâm thống do âm hàn kết

Kinh văn 120:

, , 

Tâm thống triệt bối, bối thống triệt tâm, Ô đầu xích thạch chi hoàn chủ chi (Đau ở tâm

xuyên ra lưng, đau ở lưng thấu đến tâm, dùng bài Ô đầu xích thạch chi hoàn để chữa)

 Đau ở tâm xuyên sau lưng do dương ở ngực hư; đau ở lưng thấu vào tâm do dương ởlưng hư; trên 2 cơ sở cái hư đó âm hàn nghịch lên, cố kết ở Tâm và lưng, nếu tâm dương hư âmhàn nặng thì đau thấu lưng, nếu dương ở lưng hư âm hàn nặng thì đau từ lưng thấu tim Tính chấtđau là như co kéo, thời gian thường kéo dài vì âm hàn đã kết

Trang 13

Ô ĐẦU XÍCH THẠCH CHI HOÀN

lưng tự hành và không đánh nhau nữa

Bã đậu 1 lạng (bỏ vỏ, tim, rang nghiền nát như mỡ)

+ Nghiền bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt ngô đồng, uống với rượu Người mạnh ban đầuuống 3 hoàn, ngày 3 lần, người yếu, 2 hoàn

+ Bài này còn dùng để chữa bị trúng ác (độc) bụng trướng đau, mồm không nói được, chữalạnh tích nhiều năm lưu trú ở tâm ngực gây đau, chữa bệnh huyết ứ do chấn thương ngã ngựa xe

Trang 15

CHƯƠNG 2 MẠCH CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ PHÚC MÃN, HÀN SÁN, TÚC THỰC

Chứng đầy bụng hàn sán túc thực vừa có chung đặc điểm liên quan đến tràng vị về mặt vị trílại vừa có chung đặc điểm đau bụng về mặt lâm sàng, chính vì vậy được viết chung trong cùng một chương, chúng ta cùng bàn luận để nhìn nhận đặc điểm chung riêng của mỗi chưng, từ đó đưa ra phép chữa thích hợp

Ngày đăng: 27/08/2019, 11:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w