A. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM Việt Nam có lịch sữ 4000 năm dựng nước và giữ nước. Trong nền Văn Minh Văn Lang và nền Văn Minh Đại Việt những y lý và y thuật dựa trên nền tảng của sự kết hợp lý luận y học Phương Đông (đông y) với các kinh nghiệm chữa bệnh của cộng đồng gồm 54 dân tộc Việt Nam, cùng với kinh nghiệm sử dụng các nguồn dược liệu, thảo dược phong phú của đất nước ta trong vùng nhiệt đới tạo thành một nền y học truyền thống hay được gọi là nền Y Học Cổ Truyền Việt Nam. Nền Y Học Cổ Truyền Việt Nam đã được xây dựng và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau gắn liền với các thời kì phát triển của dân tộc Việt Nam : 1.Thời kì dựng nước( thời kì Hùng Vương 2900 năm TCN)
Trang 1ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA HÓA
-
-BÀI TIỂU LUẬN
LỊCH SỬ NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN
SVTH:
LỊCH SỬ NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN
VIỆT NAM
Trang 3A SƠ LƯỢC LỊCH SỬ Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Việt Nam có lịch sữ 4000 năm dựng nước và giữ nước Trong nền Văn Minh Văn Lang và nền Văn Minh Đại Việt những y lý và y thuật dựa trên nền tảng của sự kết hợp lý luận y học Phương Đông (đông y) với các kinh nghiệm chữa bệnh của cộng đồng gồm 54 dân tộc Việt Nam, cùng với kinh nghiệm sử dụng các nguồn dược liệu, thảo dược phong phú của đất nước ta trong vùng nhiệt đới tạo thành một nền
y học truyền thống hay được gọi là nền Y Học Cổ Truyền Việt Nam
Nền Y Học Cổ Truyền Việt Nam đã được xây dựng và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau gắn liền với các thời kì phát triển của dân tộc Việt Nam :
1.Thời kì dựng nước( thời kì Hùng Vương- 2900 năm TCN)
Thời kì này y học còn truyền miệng, theo các truyền thuyết còn lưu lại thì tổ tiên ta
đã có ý thức phòng bệnh như lấy gỗ làm nhà, đào giếng lấy nước để ăn uống, phát minh ra lửa để nấu chín thức ăn,sưởi ấm, dùng gừng,riềng làm gia vị và chữa bệnh, biết ăn trầu để làm ấm cơ thể, biết nhuộm răng để bảo vệ răng
Theo Long ùy bí thư chép lại đến đầu thế kỉ thứ II trước Công Nguyên đã có hàng trăm vị thuốc được phát hiện và sử dụng như quả giun ( sử quân tử) ,sắn dây,sen, quế
2.Thời kì đấu tranh dành độc lập lần thứ nhất( năm 111 TCN)
Gần 1000 năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, dân tộc đã không ngừng đứng lên chống ách ngoại xâm giành độc lập cho đất nước Lúc này cha ông ta vẫn tiếp tục phát huy nền y học cổ truyền, tìm tới các phương pháp chữa bệnh và chác vị thuốc
có trong nước, mặt khác tiếp thu nền y học Trung Quốc du nhập sang nước ta Các vị thuốc được đưa sang Trung Quốc trần hương, tê giác, một số thầy thuốc sang Việt Nam trị bệnh như : Đổng Phụng, Lâm Thắng,… qua đó nước ta đón nhận nền Y học Trung Quốc
Từ thời kì này trở đi, nền y học cổ truyền của nước ta tiếp thu những kinh nghiệm phòng chữa bệnh của dân tộc và những kinh nghiệm của trung y áp dụng sáng tạo ở nước ta
3.Thời kì độc lập giữa các triều đại Ngô, Đình, Lê, Lý, Trần,Hồ (năm 939-1406)
Chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của người anh hung dân tộc Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938 đã kết thúc ách thống trị 1000 năm của bọn xâm lược và mở ra một kỉ nguyên dân tộc độc lập tự chủ cho đất nước
Trang 4Không còn tìm thấy tài liệu ghi chép về tình hình y học dưới thời Ngô,Đinh,Lê chỉ còn lại lịch sữ y học thời Lý,Trần,Hồ
a.Thời nhà Lý( 1010- 1224)
Tổ chức Ty thái y chăm lo bảo vệ sức khỏe cho vua quan trong triều, có nhiều nhà thuốc chuyên nghiệp chuyên chữa bệnh cho nhân dân, phát triển việc tổ chức trồng thuốc (di tích hiện nay còn để lại ở xã Đại Yên quận Ba Đình Hà Nội có truyeefnt hống trồng và sử dụng thuốc từ thời đó
Phương pháp trị bệnh bằng tâm lý phát triển,đem lại nhiều màu sắc duy tâm được triều đình chú ý: Năm 1136 lương y Nguyễn Chí Thành người Gia Viễn Ninh Bình dùng tâm lý trị bệnh cho vua Lý Thánh Tông khỏi bệnh và sau đó đượcphong làm quốc sư
b.Thời nhà Trần( 1225- 1399)
Nho giáo phát triển mạnh, chống mê tín dị đoan, làm cho nền y học phát triển một bước rõ rệt
Ở triều đình,Ty Thái Y đổi thành Viện Thái Y.Từ năm 1362, triều đình có chủ trương phát thuốc cho quân đội và nhân dân góp phần bảo vệ sức khỏe để phòng và chống quân xâm lược Nguyên Mông
Thời kì này đã xuất hiện một số danh y và một số tác phẩm y học đã được xuất bản :
+Phạm Công Bản ở thế kỉ XIII làm Thái y lệnh dưới thời vua Trần Anh Tông và Trần Nhân Tông, đã nêu gương y đức hết lòng thương yêu người bệnh, không phân biệt giàu nghèo, tự bỏ tiền ra xây dựng nơi chữa bệnh và phát thuốc cho nhân dân,
đã cứu sống được nhiều người
+Tuệ Tĩnh đỗ tiến sĩ không ra làm quan, đi tu, chuyên làm thuốc chữa beejnhcho nhân dân, phát hiện cây thuốc và viết sách truyền bá y học Tác phẩm của Tuệ Tĩnh
để lại gồm: Bộ sách nam dược thần hiệu, Quyển Hồng Nghĩa giác tư y thư Là người đầu tiên nêu cao khẩu hiệu “ Nam dược trị nam nhân”, phổ biến y học một cách dễ hiểu, dễ làm để nhân dân tự chữa bệnh bằng các phương pháp xông, cứu, uống thuốc
+Chu Văn An đã để lại một số tư liệu, bệnh án về kinh nghiệm chữa các dịch bệnh Thời kì này có Nguyễn Bá Tĩnh với tác phẩm Nam dược thần hiệu, Hồng nghĩa giác tư y thư
c.Thời nhà Hồ( 1400- 1406)
Trang 5Nhà Hồ đẩy mạnh cải cách xã hội và mở rộng việc chữa bệnh cho nhân dân, xây dựng các cơ sở chữa bệnh, đẩy mạnh việc sử dụng châm cứu
Danh y thời này là Nguyễn Đại Năng phụ trách bộ thư quảng tế chuyên tổ chức các
cơ sở y tế chữa bệnh cho nhân dân, đã viết quyền châm cứu tiệp hiệu diễn ca vận dụng 120 huyệt chữa trên 100 chứng bệnh thông thường
4.Thời kì đấu tranh dành độc lập lần thứ hai( 1407- 1427)
Nước nhà bị nhà Minh xâm lược, thời kì này tuy ngắn nhưng rất tai hại đến nền văn hóa dân tộc Chúng vơ vét sách vở, thuốc, đưa các sĩ phu, danh y Việt Nam về nước
y học do đó không phát triển
5.Thời kì độc lập dưới triều đại Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn( 1428- 1876)
a.Thời nhà Hậu Lê( 1428- 1788)
Bộ luật Hồng Đức có đặt quy chế về nghề y: trừng phạt thầy thuốc kém đạo đức, ban hành quy chế pháp y khám án mạng tử thi
Cấm phá thai, phổ biến phương pháp vệ sinh phòng dịch, luyện tập giữ gìn sức khỏe
Ở triều đình có Thái Y Viện, ở các tỉnh có Tế Sinh Đường lo chữa bệnh cho nhân dân nhất là công tác chống dịch
Mở các khóa thi tuyển lương y, tổ chức khóa giảng dạy ở thái y viện, đặt các học chức ở phủ, huyện để dạy nghề thuốc Cho biên soạn các tác phẩm : Y Học Nhập Môn Diễn Ca, Nhân Thân PhúThời gian này có nhiều danh y như Nguyễn Trực với tác phẩm Bảo Anh Lương Phương, Lê Hữu Trác với tác phẩm Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh gồm 28 tập và 66 quyển, Hoàng Đôn Hòa với tác phẩm Hoạt nhân tất yếu bàn về kế sách tổ chức y tế quân đội
b.Thời Tây Sơn( 1788- 1802)
Chiến tranh liên tiếp, mất mùa, dịch phát triển, nên triều đình đã tăng cường chống dịch cho nhân dân( Nguyễn Hoàng và Nguyễn Quang Tuân phụ trach cục này)
Tổ chức được Cục Nam dược nghiên cứu thuốc trị bệnh cho quân đội và nhân dân Thời kì này có các tác phẩm : Liệu Dịch Phương Pháp Toàn Tập + Hộ Nhi Phương Pháp của danh y Nguyễn Gia Phan, La Khê Phương Dược + Kim Ngọc Quyển của danh y Nguyễn Quang Tuấn
c.Thời nhà Nguyễn(1802- 1883)
Trang 6Tổ chức y tế thời nhà Nguyễn giống như cuối thời Hậu Lê:Ở triều đình có Thái Y Viện , ở các tỉnh có các lương y, có mở trường dạy thuốc ở Huế
Thời kì này có các phẩm như : Nam Dược Tập Nghiệm Quốc Âm của danh y Nguyễn Quang Lương, Nam Thiên Đức Bảo Toàn của danh y Lê Đức Huệ
6.Thời kì Pháp xâm lược( 1884- 1945)
Thực dân pháp chủ trương tiêu diệt nần văn hóa dân tộc ta trong đó có nền y học cổ truyền, giải tán các tổ chức y tế thời nhà Nguyễn, loại y học cổ truyền ra khỏi tổ chức y tế bảo hộ, đưa nền y tế thực dân thâm nhập Với chính sách ngu dân, chúng chỉ xây dựng một số tổ chức y tế què quặt, hạn chế, tập trung ở các tỉnh thành phố chủ yếu phục vụ cho giai cấp thống trị
Thực chất việc chữa bệnh cho nhân dân lao động là do các lương y phụ trách, do do
đó nhân dân vẫn tín nhiệm y học cổ truyền
Âm mưu chia rẽ, làm mất tính chất dân tộc Việt Nam của thực dân Pháp trên các lĩnh vực chính trị văn hóa đã để lại nhiều ảnh hưởng không tốt đến việc đoàn kết những người làm công tác y tế hiện nay, đến việc thực hiện chủ trương kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, xây dựng nền y tế Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam
7.Thời kì Việt Nam dân chủ cộng hòa( 1945- 1976)
Đảng và chính phủ đã động viên các thầy thuốc, lương y, dược sĩ và các chuyên viên y tế tham gia kháng chiến cứu nước, bảo vệ sức khỏe cho cán bộ chiến sĩ, nhân dân ta
Để giải quyết vấn đề thiếu thuốc do dịch phong tỏa, việc tìm kiếm và thay thế thuốc bằng nguồn dược liệu trong nước phát triển, nhất là ở Nam Bộ đã sớm để ra việc sử dụng thuốc Nam, châm cứu, điển hình là phương pháp chữa bệnh bằng toa căn bản
8.Y học cổ truyền hiện nay
Đa số các phường xã đều có các phòng, tổ chẩn trị Y học cổ truyền.Hệ thống hóa các lương y vào các đoàn thể Hội Đông Y, Hội Châm Cứu
Thành lập các bộ môn giảng dạy y học cổ truyền tại các trường trung học, đại học.Đã có 1 học viện y học cổ tuyền và 2 viện y học cổ truyền ở miền bắc và nam Dịch thuật, biên soạn nhiều loại sách kinh điển, sách chuyên đề, chuyên sâu phục
vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy.Nhiều trường trung cấp y sỹ y học cổ truyền, viện y học cổ truyền được mở ra
*Những thành tựu đạt được :
Trang 7Hơn năm mươi năm qua, kiên trì thực hiện đường lối của Ðảng, ngành y tế đã đạt được một số thành tựu quan trọng:
- Ðã đưa YHCT có vị trí trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân; có hệ thống tổ chức từ trung ương đến các địa phương Cả nước có 5 Viện nghiên cứu; 46 bệnh viện YHCT cấp tỉnh; có khoa hoặc tổ YHCT ở 80% viện, bệnh viện YHHÐ cấp quận, huyện; 30% trạm y tế xã có hoạt động khám chữa bệnh bằng YHCT; có trên 10.000 cơ sở YDHCT tư nhân
- Ðã đào tạo được đội ngũ thầy thuốc YHCT và kết hợp YDHCT với YDHHÐ gồm 35 tiến sĩ; 100 thạc sĩ; 100 bác sĩ chuyên khoa cấp 2; 500 bác sĩ chuyên khoa cấp 1; 2000 bác sĩ y học cổ truyền; 5000 cán bộ trung học YDHCT
- Tổ chức kế thừa được nhiều bài thuốc hay, cây thuốc quý của các lương y trên mọi miền đất nước Nhiều địa phương như Lạng Sơn, Thanh Hoá, Sóc Trăng, Thái Nguyên, đã sưu tầm và lưu lại hàng ngàn cây thuốc, bài thuốc kinh nghiệm của đồng bào các dân tộc ít người; tổ chức nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu kết hợp, từng bước phát huy được tiềm năng của YDHCT phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc
và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
- Dược liệu nói chung và thuốc YHCT nói riêng đã có trong danh mục thuốc thiết yếu Ðã điều tra khảo sát có 3850 loài thực vật được sử dụng làm thuốc thuộc
309 họ, trong đó đại đa số là cây mọc tư nhiên Về động vật, có 406 loài thuộc 22 lớp, 6 ngành được sử dụng làm thuốc Về khoáng vật, thống kê được 70 loại khoáng vật có ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc
Các cơ sở sản xuất thuốc YHCT ngày càng được nâng lên cả về chất lượng và
số lượng.Hiện nay, cả nước có trên 450 cơ sở, xí nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc YHCT (Nhà nước, dân lập, tư nhân, cổ phần).Bộ Y tế đã cấp số đăng ký cho trên
2000 chế phẩm thuốc YHCT được sản xuất lưu hành trên thị trường.Thuốc YHCT
đã đa dạng về chủng loại với giá cả phù hợp đáp ứng nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân Thuốc YHCT Việt Nam đã được xuất khẩu sang nhiều nước như Cộng hoà Liên bang Nga, Cộng hoà Ucraina, Cu Ba, Lào, Thái Lan, Campuchia,
- Hàng năm tuy số cơ sở YDHCT còn ít, nhưng số lượng bệnh nhân đến khám
và điều trị ngày một nhiều Có khoảng 30% số bệnh nhân trong cả nước được khám
và điều trị bằng YHCT, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn.YHCT đã góp phần thực hiện chính sách xã hội và công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân
- Công tác xã hội hoá về YDHCT cũng được đẩy mạnh Ngành y tế đã phối hợp với Hội Ðông y tổ chức tuyên truyền và vận động nhân dân trồng, sử dụng những cây thuốc sẵn có ở địa phương, những bài thuốc đơn giản để tự phòng và chữa một
số bệnh thông thường, không những đã góp phần tích cực thực hiện chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân mà còn góp phần thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo và cải thiện môi trường
- Hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng, uy tín của các phương pháp chữa bệnh của Y Học Cổ Truyền Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Hiện tại, Việt Nam có quan hệ hợp tác về YDHCT với hơn 40 nước
Trang 8
*KẾT LUẬN : Nhìn lại chặng đường phát triển của nền Y học cổ truyền Việt Nam nói chung và nền YHCT nói riêng từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là sau hơn mười lăm năm đổi mới, có thể khẳng định rằng sự nghiệp chăm sóc và bảo
vệ sức khoẻ cho nhân dân đã đạt được những thành tựu to lớn
B.Ý NGHĨA VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP KẾT HỢP CHẶT CHẼ GIỮA Y HỌC HIỆN ĐẠI VÀ Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM I.Ý NGHĨA
1 Kết hợp YHHĐ với YHCT dân tộc là một cuộc cách mạng khoa học trong y học để xây dựng một nền y học Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiến bộ nhất, có đầy
đủ tính chất dân tộc,khoa học đại chúng
Y học ngày nay là do thành quả bảo vệ cuả nhân dân và do những thành tựu về khoa học tạo ra Nền y học cổ truyền của dân tộc ta gồm những kinh nghiệm vô cùng phong phú của cha ông ta kết hợp với kinh nghiệm cổ truyền của y học của nước láng giềng anh em kết áp dụng trong các hoàn cảnh cụ thể về đất nước con người và bệnh tật của nhân dân ta
Mỗi nền y học đều có những ưu điểm và tồn tại nhất định Khi kết hợp hai nền y học lại sẽ bổ sung cho nhau làm cho nền YHCT Việt Nam mang tính chất hơn hẳn
về khoa học, xây dựng nền y học tiến bộ phù hợp với yêu cầu của thời đại
Nền y học dân tộc kết hợp YHHĐ và YHCT có tính chất dân tộc nhất vì nó phục vụ cho quảng đại quầng chúng nhân dân, được quầng chúng nhân dân ưa thích nhất, động viên được toàn bộ cán bộ y tế, lương y và nhân dân các dân tộc Việt Nam đóng góp xây dựng
2.Kết hợp YHCT và YHDT sẽ đoàn kết và thống nhất được toàn bộ cán bộ y tế Việt Nam, động viên, thừa kế được các kinh nghiệm tốt trong nhân dân phục
vụ cho công cuộc xây dựng XHCN
Tổ chức y tế nước ta hiện nay có một đội ngũ cán bộ đông đảo từ trung ương đến
cơ sở thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau
Hiện nay ở miền đồng bằng và miền núi, trong nhân dân các dân tộc còn rất nhiều kinh nghiệm chữa bệnh rất có giá trị, có nhiều cây thuốc quý cần gấp rút sưu tầm ,thừa kế và phát huy Chỉ có kết hợp hai nền y học thành nền y học XHCN mới hiện thực được vấn đề này
Trang 9Đội ngũ cán bộ đông đảo có chất lượng với kinh nghiệm của 2 nền y học là điều kiện để ngành y tế thực hiện nghiêm chỉnh Nghị Quyết Đại Hội Đảng lần thứ IV :” Nâng cao chất lượng khám bệnh và chữa bệnh”
3.Nền y học Việt Nam kết hợp YHHĐ và YHCT mang đầy đủ tính chất tự lực cánh sinh, phát huy nội lực, có tính chất kinh tế lớn trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
Những phương pháp phòng bệnh có hiệu quả, dễ áp dụng,ít tốn kém như dưỡng sinh, xoa bóp, châm cứu, thuốc Nam…cần được phổ biến rộng rãi cho nhân dân để
tự phòng bệnh chữa bệnh,thực hiện được tính chất dự phòng của nền y học cách mạng
Nguồn dược liệu của nước ta rất lớn, có nhiều cây thuốc có giá trị chữa bệnh.Nước
ta lại là nước ở vùng nhiệt đới, có nhiều độ cao khác nhau, kéo dài nhiều vĩ tuyến,
có khí hậu đa dạng rất thuận lợi cho việc phát triển phong phú nguồn dược liệu, nhanh chóng xây dựng nền công nghiệp dược phẩm (trích nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IV) giảm nhẹ nhập nhập khẩu ,tăng cường xuất khẩu làm giàu cho đất nước
II NHỮNG BIỆN PHÁP KẾT HỢP
1.Về mặt nhận thức tư tưởng
Cần làm cho mọi người nhất là cán bộ y tế thấy rõ sự cần thiết, sự ích lợi của việc xây dựng nền y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại Trên cơ sở đó khắc phục một số nhận thức, tư tưởng và khuynh hướng sai lầm
-Thiếu tin tưởng chấp hành không nghiêm túc nghị quyết của Đại Hội Đảng lần thứ
tư và các nghị quyết V- VI- VII- VII
-Coi nhẹ giá trị của nền y học cổ truyền dân tộc trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh do tư tưởng hoài nghi của một số cán bộ chưa được biết,được học và thực hiện các công tác phòng và chữa bệnh của nền y học cổ truyền dân tộc
-Tư tưởng coi nhẹ thuốc và các phương pháp chữa bệnh của cha ông ta của một số người chịu ảnh hưởng của sách vở ngoài
-Tư tưởng và khuynh hướng hẹp hòi của một số người có kinh nghiệm cổ truyền trước việc tiếp thu nền y học hiện đại và nền y học của các nước láng giềng
2.Kiện toàn tổ chức kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc từ trung ương đến cơ sở
Trang 10-Xây dựng và kiện toàn các tổ chức làm tham mưu cho Bộ Y tế và các cơ sở Y tế để chị đạo có hiệu lực công tác kết hợp về các mặt: đường lối, chỉ đạo thực hiện vè tổ chức , chữa bệnh công tác dược liệu, đào tạo,
-Đẩy mạnh hoạt đông tổ chức quần chúng: Hội Y học cổ truyền Trung ương, Tỉnh hội, Hội Châm cứu để động viên toàn thể lương y chuyên nghiệp , bán chuyên nghiệp cống hiến, thừa kế, sưu tầm, tổ chức các tổ hợp tác chữa bệnh dần dần thống nhất dưới sự quản lý của nhà nước
-Tổ chức một mạng lưới chữa bệnh bằng các phương pháp y học cổ truyền của dân tộc từ trung ương đến cơ sở nằm trong tổ chức y tế nhà nước đặc biệt là các viện nghiên cứu, các bệnh viện trung ương, bệnh viện tỉnh là nơi có điều kiện hiện đại hóa các phương pháp chữa bệnh thông thường
3.Gấp rút kế thừa những kinh nghiệm của y học cổ truyền
-Những kinh nghiệm chữa bệnh những bài thuốc quý còn nằm rất nhiều trong nhân dân, nhất là miền núi và đồng bằng các dân tộc ít người Những kinh nghiệm này xưa nay được truyền lại theo tính chất gia truyền( cha truyền con nối) cần có cách làm thích hợp và chính sách rõ ràng mới thực hiện được kế thừa này
-Những vị lương y có tài, nhiều uy tín và kinh nghiệm chữa bệnh cho nhân dân hiện nay phần nhiều tuổi đã cao, cần gấp rút thừa kế bằng cách động viên viết tâm đắc, truyền thụ, phổ biến kinh nghiệm
-Cần đào tạo một số người biết tiếng Hán- Nôm để sưu tầm biên dịch các tài liệu lưu truyền lại, tìm hiểu những trước tác của danh y thời trước góp phần vào việc biên soạn tài liệu lịch sử nền y học cổ truyền dân tộc
4.Đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ và phổ biến những kinh nghiệm phương pháp chữa bệnh của nền y học cổ truyền của dân tộc
-Cần gấp rút mở rộng quy mô đào tạo một đội ngũ cán bộ đảm nhiệm được các mặt công tác như: giảng dạy, kế thừa chữa bệnh bằng cách kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền, nghiên cứu khoa học,…
-Cần phổ cập cho mọi cán bộ y tế trong toàn ngành có một số kiến thức thực hành các biện pháp chữa bệnh nhất là châm cứu và thuốc có trong nước, đặc biệt là cán
bộ y tế ở các cơ sở như xã, đại đội, công nông, trường, xí nghiệp
-Đối với cán bộ dược , cần được đào tạo nhiều cán bộ chuyên về dược liệu, nắm được kĩ thuật bào chế thuốc Đông dược bằng các phương pháp cổ truyền và công nghệ
Cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác đào tạo cán bộ và phổ cập nền y học cổ truyền của dân tộc cho cán bộ y tế, chỉ khi nào đội ngủ này đông đảo làm