1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO ĐẠI CƯƠNG VỀ THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN

19 150 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 748,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục1. Nguồn gốc21.1. Y học cổ truyền phát triển theo chiều dài lịch sử xã hội21.2. Nguồn gốc xuất hiện của các loại thuốc Y học cổ truyền22. Thu hái, bảo quản52.1.Thu hái52.2.Bảo quản:63. Bào chế đơn giản63.1. Mục đích63.2.Phương pháp bào chế73.2.1. Làm sạch dược liệu73.2.2. Chọn lựa73.2.3. Làm khô sản phẩm73.3. Các phương pháp bào chế74. Tính năng dược vật84.1. Tứ khí94.2. Ngũ vị94.3. Thăng, giáng, phù, trầm124.3.1. Thăng124.3.2. Giáng124.3.3. Phù124.3.4. Trầm124.4. Bổ tả135. Sự quy kinh của thuốc135.1. Định nghĩa135.2. Cơ sở của sự quy kinh:136. Sự phối hợp của các vị thuốc146.1. Định nghĩa146.2. Mục đích146.3. Các loại phối ngũ:157. Sự cấm kị khi dùng thuốc168. Quy chế thuốc độc Y học cổ truyền:21 1. Nguồn gốc Thuốc y học cổ truyền gồm các loại có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật và chế phẩm hóa học. Nguồn gốc xuất hiện của thuốc: do kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của con người trong suốt chiều dài lịch sử của xã hội.

Trang 1

Mục lục

1 Nguồn gốc 2

1.1 Y học cổ truyền phát triển theo chiều dài lịch sử xã hội 2

1.2 Nguồn gốc xuất hiện của các loại thuốc Y học cổ truyền 2

2 Thu hái, bảo quản 5

2.1.Thu hái 5

2.2.Bảo quản: 6

3 Bào chế đơn giản 6

3.1 Mục đích 6

3.2.Phương pháp bào chế 7

3.2.1 Làm sạch dược liệu 7

3.2.2 Chọn lựa 7

3.2.3 Làm khô sản phẩm 7

3.3 Các phương pháp bào chế 7

4 Tính năng dược vật 8

4.1 Tứ khí 9

4.2 Ngũ vị 9

4.3 Thăng, giáng, phù, trầm 12

4.3.1 Thăng 12

4.3.2 Giáng 12

4.3.3 Phù 12

4.3.4 Trầm 12

4.4 Bổ tả 13

5 Sự quy kinh của thuốc 13

5.1 Định nghĩa 13

5.2 Cơ sở của sự quy kinh: 13

6 Sự phối hợp của các vị thuốc 14

6.1 Định nghĩa 14

6.2 Mục đích 14

6.3 Các loại phối ngũ: 15

7 Sự cấm kị khi dùng thuốc 16

8 Quy chế thuốc độc Y học cổ truyền: 21

Trang 2

1 Nguồn gốc

- Thuốc y học cổ truyền gồm các loại có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật và chế phẩm hóa học

- Nguồn gốc xuất hiện của thuốc: do kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của con người trong suốt chiều dài lịch sử của xã hội

1.1 Y học cổ truyền phát triển theo chiều dài lịch sử xã hội

- Thời thượng cổ:

 Con người phát hiện một số cách bảo vệ sức khỏe thông qua các tập quán, phong tục văn hóa, ẩm thực như ăn trầu, nhuộm răng với mục đích làm chắc răng, thơm miệng, ấm áp cơ mặt,…

 Dùng gừng, tỏi, ớt làm gia vị ăn hàng ngày giúp tiêu hóa tốt, phòng bệnh đường ruột; nấu rượu để uống làm thuốc;… Ngoài ra còn phát hiện một số

vị thuốc như mộc hương, quế,…

- Giai đoạn từ năm 179 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên:

 Nước ta bị đô hộ bởi các triều đại phong kiến Trung Quốc, họ đưa người sang lấy nhiều vị thuốc của chúng ta đem về nước như ý dĩ, sắn dây, hoắc hương, sả,…

 Đồng thời nhiều thầy thuốc Trung Quốc sang hành nghề chữa bệnh, từ đây nhiều phương thức và vị thuốc du nhập thêm vào nước ta

- Giai đoạn các triều đại phong kiến nước ta từ năm 938 đến khi nhà Nguyễn sụp đổ:

 Tìm ra nhiều phương thức chữa bệnh mới như châm cứu, bấm huyệt, …

 Phát hiện thêm rất nhiều vị thuốc, nghiên cứu thành các bài thuốc để chữa bệnh

 Giai đoạn này có nhiều lương y, thầy thuốc nổi tiếng với nhiều cuốn sách

y học như Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác, Hải Thượng Lãn Ông, …

 Nghiên cứu và phát triển trường phái thuốc Nam, tách biệt với thuốc Bắc của Trung Quốc

- Giai đoạn Pháp thuộc:

 Thực dân Pháp đưa Tây y vào nước ta, y học cổ truyền bị chèn ép đè nén

 Nhiều hội y học cổ truyền được thành lập, cố gắng hoạt động để gìn giữ vốn quý của cha ông

- Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay:

 Nhà nước chú trọng phát triển cả Y học cổ truyền và Y học hiện đại, nhằm muc đích cuối cùng là chữa bệnh hiệu quả

 Y học cổ truyền vẫn được nghiên cứu, hoàn thiện và phát triển từng ngày 1.2 Nguồn gốc xuất hiện của các loại thuốc Y học cổ truyền

- Thuốc có nguồn gốc tự nhiên:

 Thời nguyên thủy, nhờ sống gần gũi với thiên nhiên con người phát hiện

ra có những loài thực vật, động vật hay khoáng vật có khả năng điều chỉnh một sự rối loạn sức khỏe nào đó, từ đó mới đi đến dùng chúng với mục đích điều trị

Trang 3

 Sau đó, thực vật, động vật do tự nhiên cung cấp ngày càng cạn kiệt, đòi hỏi con người phải tiến hành gieo trồng, thu hái và chăn nuôi để tạo nguồn nguyên liệu

 Hiện nay, ở Việt Nam đã xác định được nhiều cây thuốc và đã di thực được một số cây thuốc quý không có tại nước ta Một số vị thuốc chưa di thực được thì phải nhập từ nước ngoài

 Các loại thuốc khoáng vật phát triển theo nguồn khai thác mỏ như thạch cao, chu sa, hung hoàng, …

Bạch thược

Hải sâm

Trang 4

- Chế phẩm hóa học:

 Theo thời gian, nhu cầu đổi mới, cải thiện hiệu quả và cách dùng đối với các bài thuốc y học cổ truyền được đưa ra, đòi hỏi người nghiên cứu dựa vào cơ chế tác dụng của Y học cổ truyền và đặc điểm thành phần hóa thực vật của các dược liệu để đề ra các phương pháp chế biến và chiết xuất dược liệu phù hợp vừa theo các học thuyết của Y học cổ truyền, vừa giữ được các hoạt chất có tác dụng quan trọng theo các nghiên cứu về dược lý của các dược liệu đó, đồng thời vận dụng những công nghệ sản xuất hiện đại để đưa các bài thuốc thành các chế phẩm hóa học

 Một số ví dụ về chế phẩm hóa học: Kim tiền thảo, Cao ích mẫu,…

Trang 5

2 Thu hái, bảo quản

2.1.Thu hái

- Những quy định, yêu cầu khi thu hái:

 Cần bảo đảm được sự tồn tại lâu dài của các quần thể hoang dã và các môi trường sống của chúng

 Cần xác định mật độ của loài sẽ thu hái trong quần thể, tại địa điểm thu hái và không được thu hái những loài hiếm

 Phải đảm bảo duy trì được số lượng khả quan các cây thuốc còn lại trong quần thể để giúp sự tái sinh của các dược liệu nguồn

 Cần thu hái dược liệu trong thời vị hay khoảng thời gian thích hợp để bảo đảm chất lượng tốt nhất có được của cả nguyên liệu và thành phẩm Vì nồng độ định lượng của các hợp chất hoạt tính sinh học thay đổi tùy theo giai đoạn cây tăng trưởng và phát triển

 Không được thu hái các cây thuốc ở trong hay gần những khu vực đang

có nồng độ thuốc trừ sâu cao hoặc những chất ô nhiễm, độc hại khác

- Nguyên tắc chung quy định thời kì thu hái cho từng bộ phận của cây:

 Rễ và thân rễ nên thu hoạch vào thời kỳ sinh dưỡng, thường là vào thời kỳ thu đông Nhưng rễ bồ công anh nên hái vào giữa mùa

 Vỏ cây thường thu hoạch vào mùa đông, là thời kỳ nhựa cây hoạt động mạnh

 Lá và ngọn cây có hoa phải hái vào thời kỳ quang tổng hợp mạnh nhất thường là thời kỳ cây bắt đầu ra hoa, không nên hái khi quả và hạt đã chín

 Hoa phải hái lúc trời nắng ráo, trước hoặc đúng vào thời kỳ hoa thụ phấn (trừ một vài trường hợp như nụ hòe, nụ đinh hương)

 Quả thì cũng tùy loại, hái khi quả đã già như tiểu hồi, sà sàng, có khi hái trước khi quả chín như quả mơ, hồ tiêu Cũng có trường hợp khi quả còn xanh thì hoạt chất nhiều Ví dụ: cây Conium maniculatum L chứa alcaloid coniin

Trang 6

2.2.Bảo quản:

- Bảo quản dược liệu nhằm giữ hình thức và phẩm chất của dược liệu để không

bị giảm sút (nếu bảo quản không tốt thì dược liệu dễ bị nhiễm nấm mốc, sâu mọt, biến đổi màu sắc mùi vị)

- Một số yêu cầu khi bảo quản:

 Nếu dược liệu dễ hút ẩm thì phải đựng trong bao bì bằng nhựa tổng hợp hoặc bằng sắt và dưới đáy có để chất hút ẩm

 Nếu dược liệu cần sử dụng tươi thì phải giữ đông lạnh, trong bình, lọ, hộp, cát hoặc bảo quản bằng enzim hay những biện pháp bảo quản khác

 Tránh dùng chất bảo quản Nếu có, phải dùng theo đúng quy định

 Khi dược liệu bị nấm mốc thì phải xử lý như rửa, lau nước hoặc lau cồn rồi phơi sấy lại, nếu nhiễm nặng thì loại bỏ

- Muốn bảo vệ dược liệu tốt thì phải xây dựng kho chứa đúng quy cách theo tiêu chuẩn: xây dựng bằng các nguyên liệu chống cháy; phải mát, thoáng gió, khô ráo;giữa các giá phải có lối đi lại; các dược liệu phải được xếp đặt theo từng khu vực để dễ tìm, dễ kiểm soát; kho phải dễ điều chỉnh và khống chế nhiệt và hàm

ẩm, …

3 Bào chế đơn giản

3.1 Mục đích

- Làm mất hoặc làm giảm chất độc của thuốc như : Bá hạ dùng sống gây ngứa nên phải chế với nước gừng

 Lựa chọn được đúng bộ phận dùng như : mạch môn bỏ lõi, ve sầu bỏ đầu

và chân, ngưu tất bỏ đàu, kim anh bỏ hạt, bỏ rễ phụ tử …

- Điều hòa lại tính năng của các vị thuốc, làm hòa hoãn hoặc tăng công hiệu

 Một số vị thuốc dùng sống chín có tác dụng khác nhau nên khi bào chế hoặc chế biến một số vị thuốc có thể thay đổi tác dụng tạo ra các tác dụng mới ngoài tác dụng vốn có của nó như:

o Táo nhân, tâm sen để sống gây mất ngủ

o Sài hồ có tác dụng thăng đề, sau khi chế biến với dấm có tác dụng giáng

o Sống địa (sống) vị đắng,ngọt,tính mát có tác dụng thanh nhiệt,lương huyết,sau khi nấu chín với rượu tính hơi ấm tác dụng

bổ âm bổ huyết

o Tóc chỉ làm thuốc cầm máu sau khi đốt tồn tính

 Tránh được mùi vị khó chịu,giúp cho việc chiết suất thuận lợi,nâng cao chất lượng dược liệu,chất lượng thuốc và hiệu quả điều trị

- Bỏ tạp chất làm cho sạch

 Làm thuốc sạch và đảm bảo vệ sinh an toàn dược phẩm

 Các tạp chất vô cơ và hữu cơ lẫn lộn trong dược liệu càn phải loại bỏ bao gồm : nấm,mốc,mọt,cát,sỏi,đất,xác thực vật chết v.v

 Các loại không phải là dược chất và những thành phần hóa học được đưa vào khi trồng trọt và bảo quản,bỏ bớt các bộ phận không cần thiết của dược liệu để vị thuốc tinh khiết hơn

Trang 7

- Qua bào chế,giúp cho bảo quản dễ dàng,sử dụng thuận lợi,dự trữ được thuốc vì thuốc thực vật sinh trưởng có mùa

3.2.Xử lý dược liệu trước khi bào chế

3.2.1 Làm sạch dược liệu

- Rửa:

 Các dược liệu là củ, rễ, hột (củ, rễ phức tạp phải tách nhỏ trước)…cần rửa sạch trước khi đưa ra bào chế

Chú ý: không nên ngâm lâu dược liệu vì vị thuốc mất hoạt chất

 Các loại dược liệu như hoa, cành nhỏ hoặc một số dược liệu không rửa được thì không nên rửa, ví dụ như bối mẫu

- Sàng, sẩy: Dùng giần sàng để bỏ rác, tạp chất lẫn trong dược liệu (Tử tô, Liên

kiều, Màn kinh tử…)

- Chải, lau: Dùng bàn chải lông, tre mềm để chải các dược liệu mốc (Hoài sơn, các loại Sâm…), những lông gây ngứa ở thân, lá (ví dụ lá cây Han) Khi chải, lau có thể dùng rượu, nước

3.2.2 Chọn lựa

- Lựa chọn lấy bộ phận dùng của dược liệu có tác dụng của vị thuốc phù hợp với yêu cầu điều trị Loại bỏ bộ phận không cần thiết

 Bỏ gốc, mắt: Ma hoàng dùng phát hãn thì dùng thân bỏ rễ, đốt

 Bỏ rễ con,lông: Do chúng ít tác dụng, lại gây hại, làm nặng và mất cảm quan của thang thuốc (Hoàng liên, Hương phụ, Xương bồ…)

 Bỏ hạch (hột): Nhằm nhẹ thang thuốc, loại bộ phận không có tác dụng như Sơn tra, Sơn thù du…

Bỏ màng, vỏ: Nếu chúng không có tác dụng như Sử quân tử, Hạnh nhân,

Đào nhân…

 Bỏ lõi ruột: Ví dụ: lõi Mạch môn, Thiên môn, Bách bộ gây chứng ” phiền” cần phải bỏ

Bỏ chân, đầu: Nhằm loại phần không có tác dụng, hoặc gây độc hại Ví

dụ: Thiền thoái, Toàn yết cần bỏ chân, răng khi dùng làm thuốc tán, cóc cần bỏ đầu khi chế biến

3.2.3 Làm khô sản phẩm

- Mục đích: Loại bỏ nước đến độ ẩm qui định, giữ hàm ẩm của dược liệu càng

thấp càng tốt, để giảm sự hư hỏng do nấm mốc, vi khuẩn, …

- Tùy theo loại dược liệu mà chọn cách làm khô thích hợp, ví dụ như phơi gió, phơi nắng, sấy trực tiếp bằng lửa, nướng, sấy bằng tia hồng ngoại, …

3.3 Các phương pháp bào chế

- Dùng lửa (hoả chế): Dùng lửa trực tiếp hay gián tiếp hong, sấy, đốt làm khô

ráo, sém vàng, thành than

 Nung:dùng nhiệt độ cao để đốt trực tiếp vị thuốc đó cho chảy hoặc dễ tán thành bột, bỏ ngay vị thuốc vào lửa đỏ, hoặc nung trong nồi chịu lửa để

Trang 8

làm tăng tác dụng hấp thu hoặc thu sấp Thường dùng cho các loại khoáng vật như mẫu lệ, từ thạch, …

 Bào: cho vị thuốc vào chảo sao trong chốc lát, đến khi sém vàng xung quanh, nứt nẻ, làm giảm tính mãnh liệt của thuốc như Bào khương

 Lùi:khi tro bếp đang nóng,đặt vị thuốc vào trong đó để lấy sức nóng của tro làm thuốc chín.Đem vị thuốc bọc giấy ướt hay cám lùi vào tro nóng hoặc than đến khi giấy cháy, cám cháy là được để thu hút một số hoạt chất

có dầu,8 làm giảm bớt độc tính của thuốc như cam toại,cam thảo,gừng,mộc hương,

 Sao:là phương pháp dùng hơi nóng của lửa làm cho thuốc khô,sém vàng hoặc cháy đen.Mục đích làm thay đổi tính năng của thuốc theo ý muốn của người dùng.Tuỳ mức độ nóng khác nhau ta có sao vàng: Bạch truật, Hoài sơn; sao cháy: Quả dành dành; sao đen (thành than tồn tính vẫn giữ nguyên hình dạng chưa thành tro): Trắc bá diệp Thường sao vàng để kiện

tỳ, sao đen để cầm máu

 Sấy: sấy thuốc trên than, trong lò sấy Sấy khô: Cúc hoa, Kim ngân hoa; sấy vàng khô ròn như: Thuỷ điệt, Manh trùng

 Chích:dùng mật, đường và các thành phần khác tẩm dược liệu xong đem sao cho đến khi thấy khô,thơm, không dính là được Mục đích lấy vị ngọt làm tăng tác dụng của vị thuốc Ví dụ: chích hoàng kỳ,chích cam thảo với mật để tăng tác dụng dinh dưỡng, nhuận phế, …

- Dùng nước (thuỷ chế): Dùng nước làm cho vị thuốc sạch, mềm dễ thải giảm độc tính

 Rửa: làm sạch chất bẩn, đất

 Giặt sạch: Lâu công hơn rửa, dùng nguồn nước tưới vào thuốc cho trôi tạp chất

 Ngâm:Dùng nước nguội hay nước sôi để ngâm Đào nhân ngâm nước dễ bóc vỏ Nếu vị thuốc cứng phải ngâm lâu cho mềm dễ thái, giảm độc tính

 Tẩm: Ngâm cho mềm vị thuốc dễ bào nhỏ

 Thuỷ phi: Cho thêm nước vào nghiền chung với thuốc để tán nhỏ mịn và thuốc không bay ra như Hoạt thạch, Chu sa, Thanh đại

- Phối hợp dùng lửa nước (thuỷ hoả hợp chế)

 Chưng: chưng cách thuỷ cho chín, hoặc chưng với rượu như thục địa để làm mất tính đắng lạnh của thuốc, thay đổi công hiệu

 Nấu: đem thuốc nấu với nước, nước sắc vị thuốc khác Nấu lấy tinh chất hoà tan rồi cô thành cao

 Tôi: đem vị thuốc nung đỏ tôi với nước, giấm làm cho tan rã và ngậm nước, thường dùng cho các loại khoáng vật

Ngoài ra còn dùng giấm, rượu nước cơm, nước muối ăn mà chế chung với các cách tẩm, ngâm nước, nướng, sao, chưng để đạt yêu cầu chữa bệnh: rượu đưa lên, gừng phát tán, muối vào thận, giấm vào can

Trang 9

4 Tính năng dược vật

- Tính năng dược vật là tác dụng dược lý của vị thuốc để điều chỉnh lại sự mất thăng bằng về âm dương trong cơ thể

- Tính năng của vị thuốc gồm khí vị, thăng, giáng, phù, trầm và bổ tả

4.1 Tứ khí

- Thuốc cổ truyền có bốn tứ tính (bốn khí), đó là hàn (lạnh), lương (mát), ôn (ấm), nhiệt (nóng)

- Bốn loại tính chất này do sự phản ứng cơ thể khi dùng thuốc mà nhận thấy Tứ khí chỉ mức độ lạnh và nóng khác nhau của vị thuốc; đương nhiên tính hàn có mức độ lạnh hơn tính lương; tương tự tính nhiệt có tính nóng hơn tính ôn

- Những vị thuốc được gọi là thuốc có tính hàn hoặc lương trên thực tiễn, chúng

có thể được dùng để thanh nhiệt hỏa, giải độc, tính chất trầm giáng điều trị những bệnh thuộc chứng nhiệt, dương chứng, lương huyết( làm mát máu), giải độc, lợi tiểu, … thường được dùng để chữa sốt, chữa chứng âm hư gây nóng trong cơ thể, hoặc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, dị ứng

 Ví dụ : thạch cao có tính hàn vì thạch cao có tác dụng đối với bệnh sốt cao, hoàng liên cũng có tính hàn vì hoàng liên có tác dụng thanh tâm hỏa.Trong khi đó mạch môn, kim tiền thảo, lạc tiên…lại có tính lương (tính mát) Mạch môn có tác dụng chữa bệnh ho do nhiệt,kim tiền thảo chữa bàng quang thấp nhiệt dẫn đến tiểu tiện vàng,đỏ, buốt, dắt, …

Nói một cách khác chúng có tác dụng ức chế sự hưng phấn quá mức của cơ năng toàn bộ hay cục bộ, ức chế trung khu điều hòa nhiệt

- Những vị thuốc được gọi là thuốc có tính nhiệt hoặc tính ôn trên thực tế chúng được dùng để điều trị các bệnh thuộc chứng hàn, có tác dụng giải cảm hàn, thông kinh, thông mạch hoạt huyết, giảm đau, hồi dương cứu thoát…

 Ví dụ: quế nhục, phụ tử, …có tính nhiệt vì chúng có tác dụng với các bệnh chứng hàn.Trong khi đó mà hoàng, tía tô, kinh giới có tính ôn, vì bản thân chúng chữa các bệnh mang triệu chứng hàn, song mức độ hàn thấp hơn (cảm mạo phong hàn )

Nói cách khác, nó có tác dụng hưng phấn đối với sự suy nhược của cơ năng cục

bộ hay toàn bộ như chức năng tuần hoàn tiêu hóa kém,suy nhược cơ thể,suy nhược hô hấp hoặc khác năng tạo huyết kém

4.2 Ngũ vị

- Thông qua vị giác mà nhận thấy vị: cay, chua, đắng, ngọt, mặn Ngoài ra còn

có vị đạm không có vị rõ rệt.Trên thực tế vị đạm, vị chát là những vị thứ yếu

 Vị cay (vị tân): Có tính chất phân tán, giải biểu, phát hãn, hành khí, hành huyết, giảm đau, khai khiếu Thường dùng vị cay trong các bệnh cảm mạo hoặc các bệnh đầy bụng, trướng bụng, đau bụng, dùng thuốc cay với tính chất khử hàn ôn trung chi thống, chữa đau răng đau buốt cơ nhục Trên thực tế có một ít vị thuốc thực chất nhấm không có vị cay, song do có tác dụng phát hàn nên cũng được coi như có vị cay như vị cát căn Về thành phần hóa học vị cay chủ yếu là vị của tinh dầu trong dược liệu, đôi khi là alkaloid

Trang 10

 Vị ngọt (vị cam): Có tác dụng hòa hoãn, giải có quắp của cơ nhục, tác dụng nhuận tràng, làm cho cơ thể tỉnh táo và bồi bổ cơ thể Ví dụ mật ong, cam thảo, di đường, cam gia…Về thành phần hóa học vị ngọt chủ yếu do các loại đường Nhiều vị thuốc khi dùng với tác dụng bổ còn tiến hành chích với mật ong để tăng vị ngọt Ví dụ hoàng kì, đảng sâm, cam thảo chích với mật ong để bổ tỳ, kiện vị

 Vị đắng (vị khổ): Có ở rất nhiều vị thuốc Nói chung vị đắng có tác dụng tương đối mạnh Mức độ đắng của vị thuốc có thể từ đắng nhẹ như nhân sâm, tam thất đến rất đắng như xuyên tâm liên, long đởm thảo Vị đắng có tác dụng thanh nhiệt, chống viêm nhiễm, sát khuẩn, chữa mụn nhọt, hoặc chữa rắn độc côn trùng cắn Ngoài ra vị đắng còn có tác dụng độc với cơ thể (đương nhiên còn phụ thuộc vào liều lượng dùng) Các thuốc có tính độc thường có vị đắng Các thuốc có vị đắng dùng lâu thường gây tác dụng phụ cho cơ thể: trước hết ảnh hưởng xấu đến thần kinh vị giác làm cho ăn uống không ngon, kích thích niêm mạc dạ dày ruột (đặc biệt là lúc đói) tạo cảm giác buồn nôn khó chịu Nhiều vị thuốc sau khi chế biến trở nên đắng như đởm nam tinh Sau khi sao tổn tinh hay sao cháy, vị thuốc thường trở nên đắng nhẹ Về thành phần hóa học, vị đắng phần lớn là do các hợp chất glycozid, alkaloid, còn các thành phần polyphenol, flavonoid thường cho vị đắng nhẹ

 Vị chua (vị toan): Một số vị thuốc có vị chua như sơn tra, táo nhu, ô mai, ngũ vị tử… Vị chua có tác dụng thu liễm (làm săn da), liễm hàn (giải ra

mồ hôi), cố sáp (làm chắc chắn lại), chi ho, chi tả, sát khuẩn, chống thối

Vị chua được quy vào kinh can đởm: nhiều vị thuốc được tẩm với giấm

để dẫn vào kinh can Vị chua trong thuốc là vị của các hợp chất acid hữu cơ: acid ascorbic, acid oxalic, acid malic…

 Vị mặn (vị hàm): Nhiều vị thuốc bản thân đã có vị mặn như hải tảo, thạch quyết minh, long cốt… Nhiều khi, khi dùng phải tẩm chích với muối ăn

để tăng vị mặn như đỗ trọng, hương phụ, trạch tả, … Vị mặn có tác dụng nhuyễn kiên (làm mềm khối rắn), nhuộm hạ, tiêu đờm, tán kết Thường được sử dụng trong các bệnh loa lịch (bênh tràng nhạc), ung nhọt, bướu

cổ Nói chung vị mặn có tác dụng dẫn thuốc vào kinh thận, tuy nhiên đối với từng loại bệnh cụ thể phải có cách chích muối sao cho phù hợp tránh các tác dụng phụ về sau

 Vị nhạt (vị đạm): Có tác dụng làm tăng thêm tính thấm tháp, tăng lợi thủy, lợi tiểu có tác dụng thanh lọc, thanh nhiệt Thường dùng các vị thuốc có vị nhạt để chữa các bệnh phù thũng, ung nhọt, nhiệt độc hoặc cơ thể bị viêm nhiễm, sốt cao hoặc chứng nhiệt trong cơ thể Các trường hợp tiểu tiện bí dắt, nước tiểu vàng đó rất thích hợp với loại vị này Những thuốc vị nhạt có chất nhẹ, màu trắng như: bạch mao căn, đăng tâm thảo, thông thảo, bạch phục kinh…

 Vị chát: Khi nhấm thuốc có vị chát sẽ cho cảm giác se lưỡi, cũng có tác dụng thu liễm, cố sáp như vị chua Tác dụng sát khuẩn, chống thối của vị chát mạnh hơn vị chua Ngoài ra còn có tác dụng tiên kỳ, sáp tinh

Ngày đăng: 10/09/2019, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w