1. Định nghĩa Thuốc cổ truyền là một vị thuốc sống hoặc chín hoặc một chế phẩm thuốc được phối ngũ lập phương và được bào chế theo phương pháp y học cổ truyền với một hay nhiều vị thuốc có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật có tác dụng chữa bệnh hoặc có lợi cho sức khỏe con người. Tuy nhiên, nguồn dược liệu tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt dần do vậy con người phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi để tạo ra nguyên liệu. Để sử dụng thuốc cần có sự hiểu biết nhất định về quá trình bào chế, tính năng dược vật, sự quy kinh, phối ngũ và kiêng kị đảm bảo hiệu quả và an toàn. 2. Nguồn gốc
Trang 1CHƯƠNG 4: THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN
1 Định nghĩa
Thuốc cổ truyền là một vị thuốc sống hoặc chín hoặc một chế phẩm thuốc được phối ngũ lập phương và được bào chế theo phương pháp y học cổ truyền với một hay nhiều vị thuốc có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật có tác dụng chữa bệnh hoặc có lợi cho sức khỏe con người Tuy nhiên, nguồn dược liệu tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt dần do vậy con người phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi để tạo ra nguyên liệu Để sử dụng thuốc cần có sự hiểu biết nhất định về quá trình bào chế, tính năng dược vật, sự quy kinh, phối ngũ và kiêng kị đảm bảo hiệu quả và an toàn
2 Nguồn gốc
Thuốc y học cổ truyền gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật và một số chế phẩm hóa học
Sự xuất hiện của thuốc là do kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của nhân dân mà tìm ra Số lượng, chất lượng, tiến bộ theo sự phát triển của nền sản xuất của xã hội
Ngày trước, thực vật hay động vật do nguồn tự nhiên cung cấp Sau này nhu cầu sử dụng tăng dẫn đến thiếu dần nguồn nguyên liệu nên phải gieo trồng, thu hái
và chăn nuôi Các loại thuốc khoáng vật phát triển theo nguồn khai thác mỏ như thạch cao, chu sa, hùng hoàng,
Ở nước ta, trước khi có nền y tế Xã hội chủ nghĩa, các thuốc thường dùng đều phải nhập Hiện nay, ta đã tìm và xác định theo khoa học được nhiều cây thuốc
có trong nước, một số thuốc đã di thực được như: sinh địa, bạch truật, huyền sâm, bạch chỉ,, một số vị thuốc do điều kiện đất đai, thổ nhưỡng chưa di thực được còn phải nhập
3 Thu hái và bảo quản
3.1 Thu hái
Các bộ phận cây thuốc có thời kì sinh trưởng nhất định nên thời gian thu hái khác nhau để đảm bảo tỉ lệ hoạt chất cao nhất
Tùy theo thời tiết, thổ nhưỡng của từng vùng, mà hoạt chất cũng khác nhau nên cần xác định rõ tính chất của dược vật để thu hái có hiệu quả nhất
Gốc, vỏ, củ, rễ: Đầu xuân cuối thu, mùa đông (lúc cây khô héo hoạt chất tập trung tại rễ) Mầm, lá mùa xuân hè Hoa thu hái lúc ngậm nụ hoặc mới nở như hoa cúc, hoa kim ngân Quả thu hái lúc đã chín, hạt thu hái lúc quả thật chín
3.2 Bảo quản
Tránh ẩm thấp, nóng, ánh sáng mặt trời, sâu mọt Đậy kín thuốc có tinh dầu, phơi chỗ râm (âm can) Việc phơi chỗ râm để dược phẩm vừa đủ khô mà có thể tránh sức nóng quá mạnh khiến dược phẩm bị biến chất
4 Bào chế đơn giản
4.1 Mục đích
4.1.1 Làm mất hoặc làm giảm chất độc của thuốc
Trang 2Ví dụ: Bán hạ dùng sống gây ngứa nên phải chế với nước gừng Ba đậu có dầu gây ỉa chảy dữ dội cần bào chế làm mất chất dầu, giảm độc tính
4.1.2 Điều hòa lại tính năng của vị thuốc, làm hòa hoãn hoặc tăng công hiệu
Có một số vị thuốc dùng sống, chín tác dụng khác nhau Ví dụ: sinh địa dùng sống tính lạnh mát dùng để thành nhiệt lương huyết Thục địa là sinh địa đem nấu chín với rượu tính hơi ấm dùng để bổ huyết
4.1.3 Ưa bào chế giúp cho bảo quản dễ dàng, sử dụng thuận lợi, dự trữ dược thuốc vì thuốc thực vật sinh trưởng có mùa
4.1.4 Bỏ tạp chất làm chất sạch
4.2 Phương pháp bào chế
4.2.1 Dùng lửa (hỏa chế)
4.2.1.1 Định nghĩa
Là phương pháp chế biến sử dụng nhiệt khô trực tiếp hoặc gián tiếp ở các mức độ khác nhau lên thuốc Ví dụ như hong, sấy, đốt làm khô ráo, sém vàng, thành than
4.2.1.2 Mục đích
- Tăng dương (+) giảm âm (-): đại hoang sống (tiêu chảy)/ sao cháy (táo báo), thục địa sao khô giảm nê trệ tiêu chảy
- Giảm độc tính, tính mãnh liệt của thuốc, phân hủy các chất độc
- Ổn định hoạt chất
- Giảm độ bền cơ học: phá vỡ liên kết hữu cơ (nung)
4.2.1.3 Phương pháp
a Nung:
Bỏ ngay vị thuốc vào lửa đỏ, hoặc nung trong nồi chịu lửa, thường dùng cho các thuốc khoáng vật: mẫu lệ, từ thạch, làm cho mất nước tăng tác dụng hấp thu hoặc thu sấp
b Bào:
Cho vị thuốc vào chảo sao trong chốc lát, đến khi sém vàng xung quanh, nứt
nẻ, làm giảm tính mãnh liệt của thuốc như bào khương
c Lùi:
Đem vị thuốc bọc giấy ướt hay cám lùi vào tro nóng hoặc than đến khi giấy cháy, cám cháy là được để thu hút một số hoạt chất có dầu, làm giảm bớt độc tính của thuốc như cam toại
d Sao:
Đem vị thuốc cho vào nồi rang, chảo mà sao Là phương pháp hay dùng nhất Tùy mức độ nóng khác nhau ta có sao vàng: bạch truật, hoài sơn Sao cháy, quả dành dành, sao đen (thành than tồn tính giữ nguyên hình dạng chưa thành tro) trắc bá diệp, thường sao vàng để kiện tỳ, sao đen để cầm máu Có các phương pháp sao như:
Trang 3+ Sao qua (vi sao): Đun nồi sao đến khi nóng (từ 50-80°C) nếu dược liệu có tính dầu, nhiệt độ sao <60°C, cho thuốc phiến vào, đảo đều tay, mức lửa nhỏ đến khi mùi thơm nhẹ, lấy ra, để nguội
Tiêu chuẩn: màu tương đương màu dược liệu sống
+ sao vàng (hoàng sao): Đun nồi sao đến khi nóng (50-60°C) cho thuốc vào đảo đều tay, mức lửa vừa phải đến khi bề mặt vị thuốc có màu vàng (với vị thuốc màu trắng) hoặc màu đổi rõ ràng so với dược liệu sống, mùi thơm, lấy ra, để nguội Nhiệt độ sao vào khoảng 100-160°C
Tiêu chuẩn: bề ngoài có màu vàng, bên trong vẫn là màu dược liệu sống + sao vàng cháy cạnh: sao tương tự vàng nhưng đảo chậm để cạnh vị thuốc
có màu đen
Tiêu chuẩn: vị thuốc có màu vàng, cạnh phiến thuốc có màu đen cháy
+ sao vàng hạ thổ: sao vàng, sau đó đố đổ thuốc xuống hố đất đã chuẩn bị trước (hố đất trải mảnh vải xuống đáy), khi thuốc nguội thì lấy ra
+ sao đen (hắc sao) nhiệt độ sao khoảng 180-240°C
Tiêu chuẩn: bề mặt thuốc màuđen, bên trong màu vàng
+ sao cháy (thán sao): đun nồi sao đến khi nóng mạnh (khoảng 180-240°C), cho dược liệu vào, đảo chậm đều đến khi thuốc có màu đen, mùi thơm cháy, lấy ra
để nguội
Tiêu chuẩn: bề mặt thuốc có màu đen, bên trong màu nâu hoặc đen, mùi thơm cháy Chú ý: không để vị thuốc cháy thành than
+ sao cách cát: đun cát đến khi nóng (khoảng 200-250°C) cho thuốc vào đảo đều, đến khi đạt hiệu chuẩn riêng của vị thuốc, sang bỏ cát, để thuốc nguội
Chú ý : nhiệt độ sao được không chế trong khoảng 250°C, không để nhiệt độ quá cao gây hỏng thuốc
+ sao cách hoạt thạch, văn cáp: tiến hành như sao cát
+ sao cách cám: đun chảo nóng (khoảng 60-100°C) cho cám vào, đảo nhanh đến khi cám có màu vàng nhạt, cho thuốc vào sao tiếp tục đến khi có thuốc khói trắng bay lên, vị thuốc chuyển sang màu vàng tối, sàng bỏ cám để thuốc nguội
Tiêu chuẩn: vị thuốc màu vàng tối, mùi thơm đặc trưng của cám rang
Chú ý: để đảm bảo sản phẩm sao đạt tiêu chhuaarn, trong quá trình sao cần
chú ý:
- Nhiệt độ sao: chủ động điều chỉnh nhiệt độ sao bằng cách đun lửa ở nhiều nhiệt độ khác nhau: nhỏ, vừa, to
- Đảo thuốc: đảo ở mức độ khác nhau: nhanh, vừa, chậm
- Quan sát khói thuốc: khói tráng, đen, vàng, nâu
- Tiêu chuẩn sản phẩm dựa chủ yếu vào vị thuốc: màu bề mặt ngoài thuốc và màu bên trong nó
e. Sấy:
Sấy thuốc trên than, trong lò sấy Sấy khô: cúc hoa, kim ngân hoa, sayys vàng khô giòn như: thủy diệt, manh trùng
Trang 4f Chích:
Chích là sao có tẩm mật, đường và các thành phần khácđến khi không dính là được Chính để làm tăng tác dụng của vị thuốc, như chích cam thảo vơi mật để làm tăng tác dụng dinh dưỡng, nhuận phế
4.2.2 Dùng nước (thủy chế)
4.2.2.1 Định nghĩa
Sử dụng tác động của nước hay dịch phu liệu ở điều kiện nhiệt độ tự nhiên nhằm các mục đích khác nhau Chủ yêu là dùng nước làm cho vị thuốc sạch, mềm
dễ thái giảm độc tính
4.2.2.2 Mục đích.
- Giảm độc tính, tác dụng bất lợi
- Thay đổi tác dụng: đường khử/can địa hoàng tăng 10% so với sinh địa hoàng 2% sau ủ
- Giảm tính bền vững: hút nước trương nở, tăng hiệu xuất chiết
- Làm mềm dễ phân chia
- Định hình, bảo vệ thuốc trong nước vôi, phèn chua, nước muối
4.2.2.3 Phương pháp.
a Rửa: làm sạch chất bẩn, đất Đối với dược liệu xốp, nhẹ, dễ hú nước thì phải
rửa nhanh: dương quy,
b Giặt sạch: lâu công hơn rửa, dùng nguồn nước tưới vào thuốc cho trôi tạp
chất
c Ngâm: dùng nước nguội hay nước sôi để ngâm Đào nhân ngâm ước dễ bị
bóc vỏ Nếu vị thuốc cứng phải ngâm lâu cho mềm dễ thái, giảm độc tính
d Tẩm: ngâm cho mềm vị thuốc dễ bào nhỏ.
e Thủy phi: cho thêm ngước vào ngiền chung với thuốc để tán nhỏ mịm và
thuốc không bay ra như hoạt thạch, chu sa, thanh đại
4.2.3 Phối hợp dùng lửa, nước (thủy hỏa hợp chế).
4.2.3.1 Định nghĩa.
Sử dụng tác động của nước/dịch phụ liệu ở nhiệt độ sôi lên thuốc
4.2.3.2 Mục đích.
- Biến đổi tính chất của dược liệu qua thủy phân (chế thục địa, hạ thủ ô đỏ, hoàng tinh, )
- Hạn chế tác dụng KMM (hạ thủ ô đỏ, hoàng tinh, bấn hạ, )
- Giảm độc tính (chế phu tử)
- Tăng khả năng bảo quản (diệt men, vi khuẩn, nấm, )
- Làm mềm dược liệu tiện cho bào, thái phân chia miếng được dễ
4.2.3.3 Phương pháp.
a Chưng :
Chưng cách thủy cho chín, hoặc chưng với rượu như thục địa để làm mất tính đắng lanh của thuốc, thay đổi công hiệu
b Nấu:
Trang 5Đem thuốc nấu với nước, nước sắc vị thuốc khác, giấm Nấu lấy tinh chất hòa tan rồi cô thành cao
c Tôi:
Đem vị thuốc nung đỏ tôi với nước, giấm làm cho tan rã và ngậm nước thường dùng cho các loại khoáng vật
Ngoài ra còn dùng giấm, rượu, nước cơm, nước muối ăn mà chế chung với các cách tẩm, ngâm nước, nướng, sao, chưng, để đạt yêu cầu chữa bệnh: rượu dưa lên, gừng phát tán, muối vào thận, giấm vào can
5 Tính năng dược vật
Tính năng dược vật là tác dụng dược lí của vị thuốc để điều chỉnh lại sự mất thăng bằng về âm dương trong cơ thể
Tính năng của vị thuốc gồm : khí vị, thăng giáng, phù trầm và bổ tả
5.1 Tứ khí
Thuốc cổ truyền có tứ khí (bốn khí) gồm : nhiệt (nóng), ôn (ấm), lương (mát), hàn (lạnh) Tứ khí chỉ mức độ làm nóng, lạnh khác nhau của các vị thuốc; đương nhiên tính hàn có mức độ lạnh hơn tính lương; tương tự tính nhiệt có mức
độ nóng hơn tính ôn Ở giữa mức độ của hàn lương, ôn nhiệt còn có tính bình Như vậy tính của vị thuốc tồn tại một cách khách quan và mang tính chất tương đối Tính của mỗi vị thuốc được quyết định thông qua tác dụng của chúng với những bệnh có tính đối lập
5.1.1 Tính hàn, lương
Những vị thuốc được gọi là thuốc chữa có tính hàn hoặc lương là trên thực
tế, chúng có thể được dùng để điều trị những bệnh thuộc chứng nhiệt
Ví dụ: Thạch cao có tính hàn có tác dụng đối với bệnh sốt cao ; Hoàng liên cũng có tính hàn vì nó có tác dụng thanh tâm hỏa; Miết giáp có tính hàn vì nó có thể trừ nhiệt phục do thể âm hư Trong khi đó Mạch môn, kim tiền thảo, lạc tiên
có tính lương vì tính lạnh của nó thấp hơn, mạch môn có tác dụng chữa bệnh ho do nhiệt, kim tiền thảo chữa bàng quang thấp nhiệt dẫn đến tiểu tieẹn vàng, đỏ, buốt, dắt…
Tóm lại thuốc có tính hàn, lương có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa, lương huyết(làm mát máu) giải độc, lợi tiểu…thường được dùng để chữa sốt, chữa chứng
âm hư gay nóng trong cơ thể, hoặc chữa mụn nhọt, mẫn ngứa, dị ứng Nói một cách khác chúng có tác dụng ức chế sự hưng phấn quá mức của cơ năng toàn bộ hay cục
bộ như ức chế trung khu điều hòa nhiệt độ, ức chế hệ thống thần kinh, giảm trương lực hoặc nhu động ruột Về thành phần hóa hóa, các vị thuốc mang tính hàn lương, phần lớn trong thành phần có các hợp chất glycozid, alcaloid, chất đắng…
5.1.2 Tính nhiệt, ôn
Những vị thuốc được gọi là có tính nhiệt hoặc ôn trên thực tế chúng được dùng để điều trị các bệnh thuộc chứng hàn
Trang 6Ví dụ: Quế nhục, phụ tử… có tính nhiệt vì chúng tác dụng với các bệnh chứng hàn :hàn nhập lý( dùng quế nhục), thận hư hàn( dùng phụ tử) Trong khi đó
ma hoàng, tía tô, kinh giới có tính ôn nó chữa các bệnh có tính hàn song ở mức độ thấp hơn như đau bụng, cảm mạo phong hàn
Tóm lại, các thuốc có tính nhiệt hoặc ôn có tác dụng giải cảm hàn, phát hàn, thông kinh, thông mạch hoạt huyết, giảm đau, hồi dương cứu thoát… Nói cách khác nó có tác dụng hưng phấn đối với sự suy nhược của cơ năng cục bộ hay toàn
bộ, ví dụ chức năng tuần hoàn tiêu hóa kém, chuyển hóa cơ bản thấp, suy nhược cơ thể, suy nhược hô hấp hoặc khả năng tạo huyết kém… về thành phần hóa học, các
vị thuốc mang tính nhiệt, ôn được thể hiện rõ trong thành phần có các hợp chất tinh dầu ( đa phần chứa nhân thơm) : quế, đại hồi, xương bồ, đinh hương…
5.1.3 Tính bình
Các vị thuốc có tính bình trên thực tế chúng có tác dụng lợi thấp, lợi tiểu, hạ khí, long đờm, bổ tỳ vị : hoài sơn, cam thảo, bạch cương tằm, tỳ giải, kim tiền thảo, râu ngô…
5.2 Ngũ vị
Mỗi dược liệu được đặc trưng bởi một hay nhiều vị do cảm giác của lưỡi đem lại; có thể chỉ có một vị đắng; có thể có hai vị đắng lại ngọt; hoặc vừa đắng lại vừa cay; vừa cay lại vừa mặn; cay mà chua Cũng có khi có 3 vị như tê giác : đắng, chua, mặn Cá biệt có tới 5 vị như vị tử : chua, cay , đắng, măn, ngọt Trên thực tế còn có vị nhạt, chát là những vị thứ yếu
5.2.1.Vị cay (vị tân)
Có tính chất phát tán, giải biểu, phát hãn, hành khí, hành huyết giảm đau, có tác dụng bổ dưỡng các chứng hư, hòa hoãn để giảm cơn đau, bớt độc tính của thuốc hay giảm độc cơ thể khi dùng làm thuốc Thướng dùng vị cay cho các bệnh nhân cảm mạo hoặc các bệnh đầy bụng, trướng bụng, đau bụng, dùng thuốc cay với tính chất khử hàn ôn trung chỉ thống: chữa đau răng, đau buốt cơ nhục…
Tác dụng bất lợi : gây táo, tổn thương tân dịch, thận trọng âm hư, biểu hư,
mồ hôi nhiều…
Về thành phần hóa học, vị cay chủ yếu là vị của các thành phần tinh dầu trong dược liệu, đôi khi là alcaloid Ví dụ : Đẳng sâm, Hoàng kỳ bổ khí; Thục địa, Mạch môn bổ âm…
5.2.2 Vị ngọt (vị cam)
Có tác dụng hòa hoãn, giải co quắp của cơ nhục, tác dụng nhuận tràng, làm
cơ thể tỉnh taó và bồi bổ cơ thể Ví dụ : mật ong, cam thảo, di đường, cam giá…
Tác dung bất lợi : hay nê trệ hại tỳ, thận trọng tỳ hư, đầy chướng…
Về thành phần hóa học: vị ngọt chủ yếu là do các loại đường…Nhiều loại thuốc khi dùng với tác dụng bổ còn trích với mật ong để tăng vị ngọt Ví dụ: Hoàng
kỳ, đảng sâm, cam thảo trích với mật ong để bổ tỳ, kiện vị…
5.2.3 Vị đắng(vị khổ)
Trang 7Có tác dụng thanh nhiệt( thanh nhiệt tả hỏa và thanh nhiệt táo thấp), chống viêm nhiễm, sát khuẩn, chữa mụn nhọt hoặc chữa rắn độc, côn trùng cắn
Tác dụng bất lợi : dùng lâu sẽ gây táo, ảnh hưởng xấu đến thần kinh vị giác làm cho ăn uống không biết ngon; kích thích niêm mạc dạ dày ruột( đặc biệt lúc đói) tạo ra cảm giác buồn nôn khó chịu
Về thành phần hóa học: chứa các hợp chất glycozid, alcaloid,còn các thành phần polyphenol flavonoid thường cho vị đắng nhẹ
5.2.4 Vị chua (vị toan)
Có tác dụng thu liễm( làm săn da), liễm hãn(giảm ra mồ hôi), cố sáp( làm chắc chắn lại), chỉ ho, chỉ tả, sát khuẩn, chống thối, chữa mồ hôi nhiều, tiểu nhiều lần…
Về thành phần của thuốc là vị của các hợp chất hữu cơ : acid ascorbic, oxalic, malic…
5.2.5 Vị mặn(vị hàm)
Có tác dụng nhuyễn kiên(làm mềm khối rắn), nhuận hạ, tiêu đờm, tán kết, bổ thận, tráng dương, chữa ứ trệ, táo bón,ung nhọt, bướu cổ…
Nói chung vị mặn có tác dungj dẫn thuốc vào kinh thận; tuy nhiên đối với từng loại bệnh thận cụ thể phải có cách trích muối sao cho phù hợp, tránh các tác dụng phụ
Ngoài 5 vị chính trên còn có các vị thường xuất hiện sau:
5.2.6 Vị nhạt (vị đạm)
Có tác dụng làm tăng tính thẩm thấp tăng lợi thủy, lợi tiểu, có tác dụng thanh lọc, thanh nhiệt Thường dùng các vị thuốc nhạt để trị các bệnh phù thũng, ung nhọt, nhiệt độc, viêm nhiễm,sốt cao hoặc chứng nhiệt trong cơ thể, các trường hợp tiểu tiện bí dắt, nước tiểu vàng đỏ… Những vị thuốc có vị nhạt thường có thể chất nhẹ, màu trắng như: bạch mao căn, đăng tâm thảo, thông thảo, bạch phục linh…
5.2.7 Vị chát
Có tác dụng như thu liễm, cố sáp như vị chua Tính chất sát khuấn, chống thối của vị chát mạnh hơn vị chua Ngoài ra còn có tác dụng kiện tỳ, sáp tinh Thường dùng vị thuốc có vị chát để điều trị các bệnh tiết tả, di tinh, bỏng, mụn nhọt
vỡ loét hoặc lâu liền miệng
Ví dụ: thạch lựu bì, búp ổi, búp sim, liên nhục, khiếm thực Bài thuốc nổi tiếng của vị chát là “thủy lục nhị tiên đơn” trị bệnh thận hư gây dị tinh, hoạt tinh,
mồ hôi trộm…
5.3 Mối quan hệ giữa khí và vị
Khí và vị của các vị thuốc trên thực tế không thể tách rời nhau; có quan hệ một cách rất hữu cơ Ví dụ: vị thuốc có tính hàn thường có vị đắng, mặn… thuốc có tính nhiệt thường có vị cay, ngọt; thuốc có tính bình có vị nhạt… Khi nhận xét về
vị của vị thuôcs ta cần lưu ý đối với một số vị thuốc cho nhiều vị như sơn thù du vừa chát lại vừa chua, long cốt vừa ngọt lại vừa chát Vì thế khi sắp xếp vị của nó,
Trang 8ta ưu tiên cho những vị sẽ cho công năng rõ hơn lên trên Ví dụ: ngũ vị tử có năm
vị, song vị chua được xếp ưu tiên trước nhất…
Ngoài ra cần quan tâm đến một số mối quan hệ sau:
5.3.1 Các vị thuốc có khí và vị giống nhau
Các vị thuốc có khí và vị giống nhau thì tác dụng của nó giống nhau hoặc gần giống nhau
Ví dụ: hoàng bá, hoàng cầm đều có vị đắng tính hàn, chúng đều tác dụng thanh nhiệt, táo thấp, chống viêm, thoái nhiệt
Do đó trong những trường hợp cần thiết, ta có thể dùng chúng thay thế cho nhau mà vẫn đạt được những hiệu quả mong muốn Tùy nhiên ở nhưng trường hợp
cụ thể cũng cần xem xét đến tác dụng đặc thù của từng vị thuốc Ví dụ: bạch chỉ tán hàn giải biểu, giảm đau, song conf có tác dụng bài nùng( làm hết mủ) ; quế chi cũng có tác dụng giải biểu, tán hàn, song lại tác dụng ứ huyết thông kinh bế, trục thai chết lưu…
5.3.2 Một số vị thuốc cùng khí nhưng khác vị, tác dụng cũng khác nhau
Ví dụ: Hoàng liên, sinh địa cùng tính hanf, nhưng hoàng liên vị đắng, sinh địa đắng nhẹ, ngọt Hoàng liên có tác dụng táo thấp; sinh địa có tác dụng tư âm, lương huyết, sinh tân, chỉ khát Hoặc ma hoàng tính ấm vị cay có tác dụng phát hãn Hạnh nhân, tính ấm vị đắng tác dụng hạ khí
5.3.3 Một số vị thuốc có khí khác nhau, vị giống nhau, tác dụng cũng khác nhau
Ví dụ: bạc hà vị cay, tính lương có tác dụng giải cảm nhiệt Tô diệp vị cay, tính ôn tác dụng giải cảm hàn Hoặc: thạch cao vị cay tính hàn tác dụng thanh nhiệt, giải hỏa Sa nhân vị cay tính ấm tác dụng hành khí, giảm đau kiện tỳ, hóa thấp
5.3.4 Những vị thuốc có khí và vị khác nhau, tác dụng khác hẳn nhau
Nhục quế vị cay ngọt, tính đại nhiệt tác dụng khử hàn ôn trung Hoàng liên
vị đắng, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt táo thấp Ô mai vị chua tính ấm tác dụng thu liễm, chỉ ho, sinh tân, chỉ khát
5.3.5 Khí và vị của thuốc cũng thay đổi khi tiến hành chế biến nó bằng các phương pháp chế của dược cổ truyền, và tác dụng của nó cũng thay đổi
Ví dụ: sinh địa đắng tính hàn tác dụng lương huyết Sau khi chế biến thành thục địa, tính trở nên ấm, vị trở nên ngọt, tác dụng bổ huyết Đỗ trọng vị ngot hơi cay sau khi trích muối, đỗ trọng thêm vị mặn, tăng cường tác dụng bổ thận Cam thảo vị ngọt tính bình Sau khi trích mật ong tính trở nên ấm hơn, tác dụng kiện vị chỉ ho tốt hơn
5.4 Khuynh hướng thăng, giáng, phù, trầm của vị thuốc
5.4.1 Định nghĩa
Thăng, giáng, phù, trầm chỉ 4 khuynh hướng tác dụng của thuốc cổ truyền Cần nắm chắc các khuynh hướng tác dụng của chúng để phát huy hiệu quả sử dụng
Trang 9Khuynh hướng tác dụng của thuốc , đa số các trường hợp luôn luôn ngược với chiều của bệnh tật mới đạt kết quả tốt trong điều trị, hoặc cùng chiều vơi chiều của bệnh như thế mới phát huy được tác dụng về mặt điều trị
5.4.2 Thăng
Khuynh hướng của khí vị thuốc hướng lên thượng tiêu, sau khi uống thuốc vào cơ thể, với mục đích để chữa các bệnh có khuynh hướng sa giáng( sa dạ dày, sa
lá lách, gan, tử cung, trĩ ) để đưa các tạng phủ đó về vị trí nguyên thủy Các vị thuốc chủ thăng thường có tính chất kiện tỳ ích khí thăng dương khí như hoàng kỳ, đảng sâm, thăng ma, sài hồ
5.4.3 Giáng
Khuynh hướng của khí vị thuốc hướng xuống hạ tiêu sau khi uống vào cơ thể, với mục đích để chữa các bệnh có khuynh hướng đi lên thượng tiêu( thượng nghịch) như bệnh hen suyễn khó thở, ho đờm, nôn mửa Các vị thuốc chủ giáng thường có tính chất hạ khí, giáng khí, bình suyễn như ma hoàng, hạnh nhân, cát cánh…
5.4.4 Phù
Khuynh hướng cua khí vị thuốc hướng ra phía ngoài( phía biểu) với mục đích để chữa các bệnh có xu hướng lấn sâu vào phía trong( phía lý) Ví dụ các bệnh cảm mạo phong hàn, cảm mạo phong nhiệt Các vị thuốc chủ phù thường có tính chất phát hãn, phát tán giải biểu, hạ nhiệt Đó là các vị thuốc tân ôn giải biểu như quế chi, phòng phong, tế tân, bạch chỉ… hoặc các vị thuốc giải biểu như cát căn, tang diệp, cúc hoa, mạn kinh tử
5.4.5 Trầm
Khuynh hướng của khí vị thuốc đi vào phía trong( phiá lý) với mục đích để chữa các bệnh có xu hướng phù nổi ra phía biểu như bênh đạo hãn, tự hãn, bệnh phù thũng, bệnh mụn nhọt, ban chẩn, dị ứng, mẩn ngứa Đó là các vị thuốc thẩm thấp lợi niệu như kim tiền thảo, xa tiền tử, tỳ giải… hoặc thuốc tả hạ như đại hoàng, mang tiêu, trầm hương, tô mộc hoặc thuốc thanh nhiệt, giải độc như liên kiều, bồ công anh, kim ngan hoa, sài đất
Tóm lại các vị thuốc có tính thăng phù có tác dụng phát biểu( thoát ra phía ngoài), thăng dương, tán hàn; còn các vị thuốc có tính trầm giáng có tính chất tiềm dương giáng nghịch, thanh nhiệt, thẩm thấp, tả hạ, thu liễm Tuy nhiên mỗi vị thuốc đều có khuynh hướng tác dụng của nó, song không cố định mà có tính chất tương đối Thông qua sao tẩm chế biến hoặc thông qua phối ngũ với các vị thuốc khác có thể là thay đổi hoặc giảm nhẹ khuynh hướng tác dụng của nó
Trong khi bào chế cần chú ý đến một số nguyên tắc sau: đối với vị thuốc có tính thăng phù không nên đun lâu và nên dùng lửa nhỏ còn các vị thuốc trầm giáng thì có thể dùng lửa tovaf thời gian đun lâu hơn, cũng không ảnh hưởng đến dược tính của nó
6 Sự quy khinh của các vị thuốc
6.1 Định nghĩa
Trang 10Sự quy nạp khí vị tinh hoa( hoạt chất) của các vị thuốc vào tạng, phủ, kinh mạch nhất định, nói các khác là sự quy nạp tác dụng của thuốc vào tạng phủ kinh mạch, được gọi là quy kinh
Mỗi vị thuốc có thể quy vào một hoặc nhiều kinh khác nhau Quy vào 1 kinh như tang bạch bì, quy tơí 10 kinh như đại hoàng, quy tới 12 kinh như cam thảo…Dĩ nhiên khi sắp xếp thứ tự thì ưu tiên những kinh mà nó có tác dụng nhất
6.2 Cơ sở của sự quy kinh thuốc y học cổ truyền
6.2.1 Dựa vào lý luận y học cổ truyền
Trên thực tế dựa vào thuyết ngũ hành, tạng tượng, kinh lạc Dựa vào màu sắc mùi vị của thuốc như thuốc có màu xanh, vị chua quy vào hành mộc( tạng can, phủ đờm) Thuốc có màu đỏ, vị đắng quy vào hành hỏa( tâm, tiểu tràng), Thuốc có màu vàng, vị ngọt quy vao hành thổ( tỳ vị ) Thuốc có màu trắng, vị cay quy vào hành kim( phế, đại tràng) Thuốc có màu đen, vị mặn quy vào hành thủy( thận, bàng quang)
Tuy nhiên sư quy kinh mang tính chất tương đối Trên thực tế lâm sàng người ta thường dùng vị thuốc có màu vàng, vị ngọt để kiện tỳ như mật ong, cam thảo, hoàng kỳ… Vị thuốc chữa tâm như liên tâm, hoàng liên…
6.2.1 Dựa vào thục tiễn lâm sàng
Người ta tổng kết dựa vào sự tác dụng của vị thuốc với tạng phủ và kinhlạc nhất định Từ đó biết được sự quy kinh của thuốc như hạt sen có tác dụng cầm ỉa chảy, cầm di tính, an thần vào kinh tỳ, thận, tâm Ô mai vào kinh phế, tỳ, can nên
có tác dụng chữa ho, cầm ỉa chảy, chữa đau bụng giun
6.2.2 Chế biến làm tăng sự quy kinh của thuốc
Chế biến có thể làm tăng sự quy kinh của thuốc
Đối với sự quy kinh của thuốc, để phát huy thêm khả năng nạp cuả chúng vào những kinh cụ thể, có thể tiến hành chế biến chúng với các phụ liệu nhất định
Ví dụ: đỗ trọng, hương phụ, trạch tả trích với muối ăn để cho chúng tăng nhập vào kinh thận; diên hồ sách tẩm giấm để tăng nhập vào kinh can; xương bồ tẩm chu sa
để tăng nhập vào kinh tâm… Cũng có thể đem sao (ở muức độ khác nhau) để vị thuốc có màu sắc đen, để chúng tăng quy nạp vào kinh thận, ví dụ: hà diệp, trắc bách diệp, hoa hòe sao cháy…
Trên thực tế lâm sàng cho thấy, khi dùng thuốc đúng kinh mà chúng quy nạp thì phát huy được tác dụng Ví dụ: đau đầu, đau vùng trán và xương lông mày là đau theo kinh dương minh vị và đại tràng, dùng bạch chỉ thì phát huy được các tác dụng, nếu đau hai bên thái dương hoặc đau nửa đầulà đau theo kinh thiếu dương đởm, dùng mạn kinh tử thì phát huy tác dụng Nếu đau vùng chẩm, vùng gáy, là đau theo đường kinh bàng quang, dùng cát căn thì phát huy tác dụng Đau ở chính đỉnh đầu là đau theo đường kinh can, dùng cảo bản thì phát huy tác dụng
Mặt khác mỗi vị thuốc có quy vào mỗi kinh nhất định, cho nên khi sử dụng cần quan tâm đến sự quy kinh của nó; điều đó cũng còn có ý nghĩa khi ta tiến hành phối hợp các vị thuốc trong đơn thuốc với nhau