1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG của NGƯỜI CAO TUỔI THÀNH PHỐ hà nội năm 2018 và một số yếu tố LIÊN QUAN

82 151 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 662,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018... Một số khái niệm về chất lượng cuộc sống Vấn đề CLCS và nâng cao CLCS dân cư là nội

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Trang 2

chÊt lîng cuéc sèng cña ngêi cao tuæi

Trang 3

các thầy cô trong trường Đại học Y Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Viện Đàotạo Y học Dự Phòng và Y tế Công cộng, các thầy cô trong bộ môn Tổ chức và Quản

lý Y tế đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong 6 năm học vừa qua Vốn kiến thứctrong quá trình học không chỉ là nền tảng để em thực hiện khóa luận này mà còn làhành trang quý báu cho quá trình công tác sau này của bản thân

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ lời cảm ơn tớiThs.Bs.Nguyễn Hữu Thắng, giảng viên bộ môn Tổ chức và Quản lý Y tế, người đãhướng dẫn, dành nhiều thời gian tận tình hỗ trợ, chỉ bảo em trong quá trình học tập

và thực hiện khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ y tế phường xã, các bác trưởng thôn,

tổ trưởng tổ dân phố, chủ tịch hội người cao tuổi của các quận Đống Đa, Nam TừLiêm, Long Biên và các huyện Đông Anh, Thanh Trì, Thoanh Oai đã tận tình giúp

đỡ và tạo điều kiện cho nhóm điều tra viên trong quá trình lấy số liệu phục vụ chokhóa luận này

Cuối cùng xin chân thành cảm ơn bạn bè đã bên cạnh chia sẻ, góp ý và giúp

đỡ em trong suốt quá trình học tập, đặc biệt là gia đình đã luôn dành sự yêu thương,tạo điều kiện để em yên tâm học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Như Ngọc

Trang 4

 Phòng Quản lý đào tạo Đại học Trường Đại học Y Hà Nội

 Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng

 Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp

Em là Nguyễn Thị Như Ngọc, sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội niên khóa2013- 2019 chuyên ngành Bác sĩ Y học dự phòng

Em xin cam đoan đây là khóa luận do em trực tiếp thực hiện dưới sự hướngdẫn của Ths.Bs Nguyễn Hữu Thắng Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu làhoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được chấp thuận tại cơ sở nghiêncứu

Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Như Ngọc

Trang 5

ASEAN : Association of Southeast Asian Nations

CASP : Control Autonomy Seft-realization and Pleasure

OPQOL : Older People's Quality of Life

TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh

WHO : World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

WHOQOL : The World Health Oranization Quality of Life

Trang 6

CHƯƠNG I – TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về người cao tuổi 3

1.1.1 Một số khái niệm về người cao tuổi 3

1.1.2 Một số đặc điểm của người cao tuổi 4

1.2 Chất lượng cuộc sống 8

1.2.1 Một số khái niệm về chất lượng cuộc sống 8

1.2.2 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống 10

1.2.3 Đánh giá chất lượng cuộc sống 12

1.3 Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người cao tuổi 15

1.3.1 Trên thế giới 15

1.3.2 Tại Việt Nam 17

1.4 Địa điểm nghiên cứu 18

CHƯƠNG II – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu: 20

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 20

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 20

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu 20

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 20

2.3.2 Cỡ mẫu 20

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 21

2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 22

2.4.1 Công cụ thu thập số liệu 22

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.5 Biến số và chỉ số 23

Trang 7

2.8 Sai số 25

2.8.1 Các loại sai số có thể gặp 25

2.8.2 Khống chế sai số 25

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 25

CHƯƠNG III – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 26

3.2 Điểm chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 .31

3.3 Một số yếu tố liên quan với chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 35

CHƯƠNG IV – BÀN LUẬN 38

4.1 Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 38

4.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 38

4.1.2 Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 39 4.2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 43

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 46

KẾT LUẬN 47

KHUYẾN NGHỊ 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.2 Đặc điểm tình trạng kinh tế của người cao tuổi thành phố Hà Nội

năm 2018 .28

Bảng 3.3 Tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính kèm theo của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 29

Bảng 3.4 Đặc điểm về người chăm sóc chính của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 30

Bảng 3.5 Điểm chất lượng cuộc sống về khía cạnh Giác quan 31

Bảng 3.6 Điểm chất lượng cuộc sống về khía cạnh Tự chủ 31

Bảng 3.7 Điểm chất lượng cuộc sống về khía cạnh Hoạt động xã hội 32

Bảng 3.8 Điểm chất lượng cuộc sống về khía cạnh Hoạt động quá khứ, hiện tại, tương lai 32

Bảng 3.9 Điểm chất lượng cuộc sống về khía cạnh Cái chết 33

Bảng 3.10 Điểm chất lượng cuộc sống về khía cạnh Tình thương 33

Bảng 3.11 Điểm chất lượng cuộc sống chung 34

Bảng 3.12 Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về các đặc điểm cá nhân của người cao tuổi 35

Bảng 3.13 Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về đặc điểm kinh tế của người cao tuổi 36

Bảng 3.14 Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về tình trạng sức khỏe của người cao tuổi 37

Trang 9

Biểu đồ 3.1 Phân loại tình trạng sức khỏe của người cao tuổi thành phố Hà Nội

năm 2018 29Biểu đồ 3.2 Nhóm các bệnh mạn tính kèm theo hay gặp ở người cao tuổi thành

phố Hà Nội năm 2018 30Biểu đồ 3.3 Xếp loại chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà

Nội năm 2018 34

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Già hóa dân số đang là xu thế chính trong thế kỷ XXI [1] Không nằm ngoài

xu thế đó, tuổi thọ người dân Việt Nam cũng đang ngày càng cao và tỷ lệ dân số giàđang tăng nhanh [2] Báo cáo tổng quan ngành y tế năm 2016 đã nhận định ViệtNam là một trong những nước có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới Chỉ số già hóacủa dân số Việt Nam đã tăng gấp hơn 2,8 lần trong giai đoạn 1979 - 2015, từ 17 lênđến 47, cao hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực [3] Quá trình già hoá quánhanh dẫn đến chúng ta không có nhiều thời gian chuẩn bị để ứng phó với các tháchthức mà nó mang đến

Một vấn đề cần được chú trọng trong xã hội đang phát triển hiện nay là chấtlượng cuộc sống (CLCS) của người cao tuổi (NCT) CLCS là một khái niệm đachiều, mang tính chủ quan cao và theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), CLCS là “sựhiểu biết của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa, hệ thống cácgiá trị và trong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâmcủa họ” [4] Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng những khía cạnh quan trọng ảnhhưởng tới CLCS là sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, điều kiện kinh tế, môitrường và tôn giáo [5],[6] Cụ thể đối với NCT tại Việt Nam, CLCS cao hơn ởnhững người có trình độ học vấn cao hơn, có điều kiện kinh tế xã hội tốt hơn, là chủ

hộ gia đình và không có ốm đau bệnh tật trong 6 tháng qua [7],[8],[9],[10] CLCS

có những đặc điểm khác nhau tại các vùng kinh tế, xã hội, văn hóa khác nhau

Thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của Việt Nam với sựphát triển kinh tế hàng đầu, dân cư đông đúc, trong đó nhiều hộ gia đình Việt Nam

có cấu trúc từ 2 đến 3 thế hệ cùng sinh sống Gánh nặng từ vấn đề già hóa dân sốnhanh chóng đang gây áp lực nặng nề lên sự phát triển chung của thủ đô đặc biệt làtrong vấn đề đảm bảo CLCS cho NCT Năm 2016, kết quả từ nghiên cứu của VũToàn Thịnh tại phường Trung Tự, quận Đống Đa, Hà Nội cho thấy điểm trung bìnhCLCS của NCT ở tất cả các khía cạnh đều ở mức trung bình so với thang điểm 100;trong đó thấp nhất là khía cạnh thể chất (nam-52,94; nữ-53,69) [11] Những năm

Trang 11

gần đây, mặc dù chất lượng cuộc sống của NCT thủ đô đã được cải thiện cùng vớinhững tiến bộ nhất định của hệ thống y tế, chính sách, pháp luật và những nỗ lực từphía Thành phố Hà Nội tuy nhiên vẫn còn nhiều thách thức trong quá trình này Mộtphần nguyên nhân không nhỏ của vấn đề này là do thiếu các bằng chứng kháchquan để thiết kế và thực hiện các chính sách và chương trình can thiệp phù hợpnhằm nâng cao CLCS của NCT Do đó, em quyết định tiến hành đề tài nghiên cứu:

“Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 và một

số yếu tố liên quan” nhằm mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018.

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018.

Trang 12

CHƯƠNG I – TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về người cao tuổi

1.1.1 Một số khái niệm về người cao tuổi

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NCT Trước đây thuật ngữ người giàthường được dùng để chỉ những người có tuổi, hiện nay “người cao tuổi” ngày càngđược sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa họcsong về tâm lý, “người cao tuổi” là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độtôn trọng

NCT - thường được định nghĩa theo một loạt các đặc điểm bao gồm: tuổi đời,thay đổi vai trò xã hội và những thay đổi về năng lực chức năng Ở các nước pháttriển, định nghĩa NCT thường được xác định liên quan đến việc nghỉ hưu từ việclàm có lương và nhận trợ cấp, thường là từ 60 hoặc 65 tuổi trở lên Với xu hướngtuổi thọ ngày càng tăng, một số quốc gia đã định nghĩa nhóm người già nhất lànhững người trên 85 tuổi Những quốc gia có nguồn lực hạn chế và tuổi thọ trungbình thấp hơn hơn, NCT có thể được định nghĩa là những người trên 50 tuổi [12].Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do lứa tuổi có các biểu hiện về già củangười dân ở các nước đó khác nhau Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sứckhỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao Do đó, cácbiểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn và quy định về tuổi của các nước theo

đó cũng khác nhau

Tổ chức Liên hợp Quốc đến nay vẫn chưa thông qua một tiêu chí chuẩn nàonhưng mốc 60 năm thường sử dụng khi đề cập đến NCT Trong đó phân ra làm banhóm: sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên) [13]

Tổ chức Y tế thế giới cũng chấp nhận mốc 60 tuổi và chia thành 3 nhóm: ngườitrung niên từ 45-59 tuổi, người cao tuổi từ 60-74 tuổi, người già từ 75-90 tuổi,người già sống lâu từ 90 tuổi trở đi Về mặt sinh học, việc phân chia các nhóm tuổikhông phản ánh chính xác quá trình sinh học của con người Vì vậy sự phân chiatheo tuổi chỉ có tính chất ước lệ và có một giá trị tương đối

Trang 13

Tại Việt Nam, ngoài việc NCT đã từng đóng góp trong công cuộc xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, nhiều người tuy tuổi cao nhưng vẫn tham gia các hoạt động tíchcực, đóng góp một phần không nhỏ cho xã hội, đất nước Việc đưa ra khái niệmNCT có ý nghĩa rất quan trọng trong việc CSSK và thể hiện tính nhân đạo củaĐảng, Nhà nước ta Năm 2010, Quốc Hội nước ta đã ban hành Luật Người cao tuổi

trong đó quy định: NCT là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [14].

1.1.2 Một số đặc điểm của người cao tuổi

1.1.2.1 Một số đặc điểm sức khỏe người cao tuổi

a Quá trình lão hóa

Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống Lão hóa có thể đến sớm haymuộn tùy thuộc vào cơ thể từng người Khi tuổi già các đáp ứng kém nhanh nhạy,khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất nhiên sức khỏe về thể chất

và tinh thần giảm sút Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có những thayđổi theo chiều hướng đi xuống

- Diện mạo thay đổi: Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn Da trở nên khô

và thô hơn

- Các cơ quan cảm giác: Cả 5 giác quan đều trải qua quá trình lão hóa Thị lựcgiảm sút, khả năng phân biệt màu sắc cũng kém hơn, thủy tinh thể trở nên vàng dẫntới đục thể thủy tinh tiến triển ở NCT Thính lực giảm do hệ quả của giảm lượngnước trong cơ thể NCT dẫn đến tích tụ ráy tai NCT giảm vị giác và khứu giác do sốlượng các nụ lưỡi giảm khoảng 30% Viêm lợi, bệnh quanh răng và các rối loạnkhác phổ biến ở NCT có thể làm giảm khả năng nếm và ngửi đồ ăn Điều này cũnggiải thích vì sao người cao tuổi thường không nhận ra những mùi vị như mùi thức

ăn được đun sôi hoặc bị cháy Giảm khả năng ngửi và nếm có thể dẫn tới việc ngườicao tuổi cố gắng gia tăng đậm độ của thức ăn bằng cách nêm thêm muối và đường.Tuy nhiên việc gia giảm này sẽ gây rắc rối nếu người cao tuổi có các bệnh như tănghuyết áp hay tiểu đường [15]

- Các cơ quan nội tạng: Tim là một cơ bắp có trình độ chuyên môn hoá caocùng với tuổi tác cũng phải chịu những vấn đề tương tự như các cơ bắp khác của cơ

Trang 14

thể Tim phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn, mà có thể là nguyênnhân phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến lão hoá Phổi của NCT thường làm việc íthiệu quả khi hít vào và lượng ôxy giảm Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơquan khác cùng với cũng giảm sút [15].

- Khả năng tình dục giảm: Do sự thay đổi của nội tiết tố, ham muốn tình dục ởNCT cũng giảm rõ rệt Ở NCT xương và khớp không còn linh hoạt, mềm dẻo, các

cơ đều yếu đi dẫn đến mọi cử động đều chậm chạp, vụng về NCT hay bị mệt mỏi,mọi hành vi, cử chỉ yêu đương gặp khó khăn [15]

b Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng già không phải là bệnh nhưng già tạo điềukiện cho bệnh dễ phát sinh và phát triển vì khả năng đề kháng và miễn dịch giảm.Bệnh mắc ở tuổi già thường khác so với bệnh mắc ở lứa tuổi trẻ, tuổi già thườnghay mắc bệnh và mắc nhiều bệnh cùng một lúc, bệnh thường lâu khỏi, đáp ứng vớithuốc điều trị chậm [16],[17] Kết quả điều tra trên 1305 NCT tại 3 xã/phườngthuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam năm 2007 cho thấy trung bình một NCT mắc 2,69bệnh với các nhóm bệnh thường gặp theo thứ tự giảm dần là: bệnh về Giác quan,Tim mạch, Xương khớp, Nội tiết-chuyển hoá, Tiêu hoá, Tâm thần kinh, Hô hấp,Thận tiết niệu [18] Một nghiên cứu khác năm 2015 cho thấy NCT từ 80 tuổi trở lêntrung bình mắc 6,9 bệnh [17]

Ở Bệnh viện Lão khoa trung ương, cơ sở đầu ngành về chăm sóc y tế choNCT, 10 bệnh thường gặp nhất ở NCT chiếm 56,9% tổng số NCT đến KCB năm

2008 [16] Trong đó, chỉ có 2 bệnh truyền nhiễm (viêm phổi và viêm phế quản)chiếm gần 10% tổng số lượt KCB của NCT Bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ lớn nhấtgồm tai biến mạch máu não (21,9%), tăng huyết áp (THA) (7,7%), và suy tim(2,4%) Các bệnh hay gặp còn lại là đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,Parkinson, hội chứng tiền đình, loãng xương Có sự khác biệt đáng kể về mô hìnhbệnh tật theo giới ở bệnh nhân cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Lão khoa trung ương.Các bệnh liên quan tới nội tiết-chuyển hóa, cơ xương khớp và bệnh tai và xương

Trang 15

chũm phổ biến hơn ở nữ, trong khi bệnh hô hấp, ung thư, bệnh sinh dục tiết niệuhay gặp hơn ở nam [16].

Tại tuyến y tế cơ sở, số liệu điều tra tại 4 tỉnh đại diện năm 2014 cho thấy chỉriêng 10 bệnh thường gặp nhất đã chiếm tới 84% tổng số lượt KCB của NCT ởtuyến xã; 52% lượt khám ngoại trú và 45% lượt điều trị nội trú của NCT ở tuyếnhuyện Trong đó, bệnh thường gặp nhất là THA, chiếm 49,5% tổng số lượt KCBcho NCT tại tuyến xã, 15,4% lượt khám ngoại trú và 12,5% lượt điều trị nội trú tạibệnh viện huyện Bệnh truyền nhiễm cũng chiếm tỷ lệ đáng kể ở NCT, chiếm22,1% bệnh nhân cao tuổi tại tuyến xã; 16,4% bệnh nhân ngoại trú và 15,4% bệnhnhân nội trú bệnh viện huyện, chủ yếu là bệnh hô hấp cấp tính, cúm và viêm dạ dày,

tá tràng Các bệnh cơ xương khớp cũng hay gặp ở cả 3 loại hình dịch vụ, chiếm6,1% bệnh nhân cao tuổi ở tuyến xã, 9,4% bệnh nhân ngoại trú và 5,0% nội trú tạibệnh viện huyện [19]

1.1.2.2 Một số đặc điểm tâm lý tình cảm người cao tuổi

Trạng thái tâm lý và sức khỏe của NCT không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bảnthân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa - tình cảm

và quan trọng nhất là môi trường gia đình Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thayđổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu chung những thay đổi thường gặp là:

a Hướng về quá khứ

Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, NCT thườngthích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia các hội nhóm, hội cựu chiến binh

Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng

về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…[15]

b Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”

Khi về già NCT phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghềnghiệp Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sangtrạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêucực xả hơi Do vậy NCT sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới và dễ gặpphải “hội chứng về hưu” trong giai đoạn này [15]

Trang 16

c Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi

Những biểu hiện tâm lý của NCT có thể được liệt kê như sau:

- Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn : Con cháu thườngbận rộn với cuộc sống Điều này làm cho NCT cảm thấy mình bị lãng quên, bị bỏrơi Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được người khác coimình không là người vô dụng Họ rất muốn được nhiều người quan tâm, lo lắng chomình và ngược lại Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình

- Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số NCT nếu còn sức khỏe vẫn còn cóthể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình, hoặc có thểtham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng Nhưng cũng có một số NCT do tuổitác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ thuộc vào con cháu Dovậy dễ nảy sinh tâm trạng chản nản, buồn phiền, hay tự dằn vặt mình NCT mà tuổicàng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi lại chậm chạp, không còn khả năng laođộng, quan niệm sống khác với thế hệ sau nên chỉ một thái độ hay một câu nóithiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái, tủi thân cho rằng mình già rồi nên bị con cháucoi thường

- Nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho concháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên họ hay bắt lỗi,nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu Với một bộ phận NCT bảothủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút của sức khỏe, khả năngthực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước mơ không thực hiện được,hoặc không thỏa đáng, không hài lòng có thể xuất hiện triệu chứng của bệnh trầmcảm Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào cuộc sốngriêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó

- Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh – tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy NCT vẫn sợphải đối mặt với cái chết Cũng có những trường hợp các cụ bàn việc hậu sự cho mình,viết di chúc cho con cháu có những cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết[15]

Trang 17

Với những thay đổi chung về tâm lý của NCT đã trình bày ở trên dẫn đến việcmột bộ phận NCT thường thay đổi tính nết Con cháu cần chuẩn bị sẵn tâm lý đểđón nhận thực tế này nhằm có những ứng xử phù hợp.

1.2 Chất lượng cuộc sống

1.2.1 Một số khái niệm về chất lượng cuộc sống

Vấn đề CLCS và nâng cao CLCS dân cư là nội dung chủ yếu trong chiến lượcphát triển con người, đã trở thành mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội của mọi quốc gia, là vấn đề được nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Namhết sức quan tâm CLCS với tư cách là một khái niệm khoa học đã được sử dụng rấtnhiều trong khoa học xã hội và y tế công cộng, đặc biệt là với NCT Có rất nhiều địnhnghĩa khác về CLCS, tùy thuộc vào trình độ phát triển, quan niệm văn hóa xã hội,truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng Khái niệm CLCS tuy đã ra đời khá lâunhưng đến nay vẫn chưa có sự thống nhất

Theo R.C.Sharma, tác giả của cuốn sách nổi tiếng: "Dân số, tài nguyên, môitrường và chất lượng cuộc sống" - nghiên cứu về mối tương tác giữa CLCS dân cư vớiquá trình phát triển dân cư, phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia - thì CLCS là mộtkhái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏa mãn cộng đồng chung xã hội, cũng như nhữngkhả năng đáp ứng được nhu cầu cơ bản của chính bản thân xã hội Ông đã định nghĩa:

"Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc) hoặc (thỏa mãn) vớinhững nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối vớibản thân một con người Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng vớinhững gì mà con người có được Dù sự thỏa mãn, niềm hạnh phúc hay sự hài lòng lànhững nhân tố trung tâm trong định nghĩa này, nhưng chúng ta không nên xem chúngnhư là một sự khẳng định mang tính chất nhất thời về niềm hạnh phúc hay sự hài lòng,

mà ta nên xem chúng là kết quả sau cùng trong sự cảm giác của niềm hạnh phúc Cóthể ta có cách giải tốt hơn, thì nó như là cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn củacuộc sống" [20] Định nghĩa này về CLCS của ông đã được chấp nhận rộng rãi Theo

đó, mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội được coi là yếu tố quantrọng để tạo ra CLCS

Trang 18

Tác giả Oleson M cho rằng: Chất lượng cuộc sống là mức độ hài lòng, thỏa mãncủa con người trong những lĩnh vực mà họ cho rằng quan trọng nhất trong cuộc sống.Đây là một khái niệm rộng và ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: Tình trạng kinh tế, chỗ

ở, việc làm, tôn giáo, chính sách trợ cấp xã hội và tình trạng sức khỏe.v.v Tùy theolĩnh vực nào của cuộc sống được xem là quan trọng nhất và mức độ hài lòng, thỏa mãncủa một người với lĩnh vực đó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của họ [21]

Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa chất lượng cuộc sống là “sự hiểu biếtcủa cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống các giá trị vàtrong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâm của họ” [4],[22] CLCS thường được đánh giá về bốn khía cạnh chính là sức khỏe thể chất, sứckhỏe tâm lý, các mối quan hệ xã hội và môi trường sống [23],[24]

Nghiên cứu của Kamp và cộng sự đã đề xuất khung lý thuyết các thành phần củaCLCS như sau:

Nhìn chung, CLCS là một khái niệm đa chiều cạnh, mang tính chủ quan cao và

có đặc trưng riêng biệt trong những bối cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau Nóphản ánh sự thoải mái, thỏa mãn và những phản ứng chủ quan của con người đối vớinhững khía cạnh như sức khỏe thể chất, đời sống tinh thần, mối quan hệ gia đình,hoạt động xã hội, nghề nghiệp, … CLCS là một chỉ số tổng hợp về thể hiện trí tuệ,tinh thần và vật chất của con người, là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng sự phát triển

Trang 19

bền vững của mọi quốc gia CLCS càng cao thì con người càng có nhiều lựa chọntrong việc phát triển cá nhân và trong việc hưởng thị các giá trị vật chất và tinh thần

mà xã hội tạo ra [25]

1.2.2 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống

CLCS của người dân nói chung và CLCS của NCT nói riêng đặc biệt bị ảnhhưởng bởi nhiều yếu tố Theo đơn vị nghiên cứu CLCS của trường đại học Toronto,Canada thì các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS được chia ra làm ba phạm vi chính:phạm vi thứ nhất là các yếu tố nội tại bản thân; phạm vi thứ hai là mối liên quan vớicác yếu tố bên ngoài; phạm vị thứ ba là việc đạt được những mục đích cá nhân,cũng như niềm hy vọng, mong muốn và khát vọng [26] Các yếu tố ảnh hưởng tớiCLCS lại được xác định bới hai nhân tố là tầm quan trọng và mức độ hài lòng Nhưvậy CLCS gồm các mối liên hệ quan trọng hoặc có ý nghĩa gắn bó với từng khíacạnh riêng biệt tới sự hài lòng hay sự thích thú của các nhân [27]

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS thì sức khỏe là yếu tố quan trọng nhất,bao gồm sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần [28],[29],[30] Trên thế giới, rấtnhiều nghiên cứu đã ghi nhận mối liên quan mật thiết giữa CLCS và sức khỏe [31],[32],[33],[34] Con người không thể có được một cuộc sống tốt nếu thường xuyênđau ốm, bệnh tật hoặc bị tàn tật Một nghiên cứu ở Bangladesh đã chỉ ra rằng sự ốmyếu đã gây ảnh hưởng xấu tới CLCS của nghười tàn tật, ảnh hưởng theo nhiều khíacạnh khác nhau về tâm lý, xã hội và kinh tế Tương tự nghiên cứu ở Phần Lan cũngcho thấy sức khỏe thể chất tốt và ít ốm đau bệnh tật là điều kiện căn bản cho mộtcuộc sống có chất lượng [31] Tiếp theo đó là các yếu tố như sức khỏe tinh thần,giao tiếp và vị thế xã hội, tình trạng kinh tế, tín ngưỡng, điều kiện sống, môi trường

và một số yếu tố khác [35] Mặt khác, nghiên cứu trên NCT vùng nông thôn ThụyĐiển chỉ ra rằng riêng với NCT yếu tố được hỗ trợ người khác, được người khácchia sẻ và được cảm thấy mình có ích cho gia đình, xã hội là yếu tố rất quan trọng,góp phần nâng cao CLCS của NCT [29, 36] Một số nghiên cứu khác cũng đã chỉ rarằng có mối liên quan có ý nghĩa giữa tình trạng kinh tế xã hội, trình độ học vấn và

Trang 20

thu nhập với CLCS ở NCT, các phát hiện tương tự đang được báo cáo Cụ thể, trình

độ học vấn và thu nhập cao hơn có liên quan đến điểm CLCS cao hơn [37] Thamgia vào các hoạt động xã hội chẳng hạn như chăm sóc tình nguyện hay tương tự nhưvậy được thấy có liên quan đến CLCS tốt hơn [38] Một số nghiên cứu cũng chỉ rarằng hành vi sức khỏe có liên quan đến CLCS của NCT [30] Trong đó một nghiêncứu ở Đài Loan đã chỉ ra có yếu tố liên quan giữa lối sống của NCT và CLCS chỉ cóbệnh thiếu máu dẫn đến CLCS thấp hơn Ngược lại, một số yếu tố lối sống chẳnghạn như uống rượu, thói quen tập thể dục và lái xe ô tô có liên quan đến CLCS tốthơn, trong khi béo phì bụng và đi xe gắn máy lại có liên quan đến CLCS thấp hơn[39]

Tại Việt Nam, năm 2012, Nguyễn Thị Thanh Hương và cộng sự đã thực hiệnmột nghiên cứu định tính tìm hiểu về chất lượng cuộc sống của NCT tỉnh Hải Dương

sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung Nghiên cứu đã chỉ

ra rằng các khía cạnh vật lý, tâm lý, xã hội, môi trường, tôn giáo và kinh tế là các khíacạnh quan trọng đối với CLCS Đối với những NCT tham gia nghiên cứu ở cả thànhthị và nông thôn thì sức khỏe thể chất, quan hệ xã hội, tài chính và kinh tế, môitrường xã hội và thể chất và sức khỏe tâm lý được cho là có ảnh hưởng quan trọng.NCT sống tại nông thôn cũng cho biết thực hành tôn giáo là một khía cạnh quantrọng của CLCS Về mối quan hệ, NCT ở thành thị ưu tiên những người có con cái,trong khi NCT ở nông thôn tập trung sự quan tâm của họ vào các mối quan hệ cộngđồng và điều kiện kinh tế [7] Năm 2016, nghiên cứu của Lê Thị Hoàn và cộng sự đãtìm ra mối liên quan giữa CLCS của NCT và các yếu tố giới, tình trạng gia đình,nguồn thu nhập, điều kiện kinh tế hộ gia đình và tình trạng sức khỏe Đặc biệt nhómNCT là nữ giới có CLCS kém hơn nhóm NCT nam giới và NCT sống độc thân cóCLCS kém hơn NCT sống cùng gia đình [8] Mối liên quan mật thiết giữa giới tính

và CLCS cũng đã được ghi nhận trong nghiên cứu năm 2017 của Nguyễn Văn Tiến

và cộng sự khi tỷ lệ nam giới cao tuổi có mức CLCS cao về sức khỏe thể chất, sứckhỏe tâm lý và môi trường cao hơn so với phụ nữ Ngược lại, trong số những người

có CLCS trung bình và thấp hơn, nữ chiếm tỷ lệ lớn hơn nam giới [40]

Trang 21

Như vậy, các yếu tố liên quan đến CLCS của NCT rất đa dạng, bao gồm: đặcđiểm dân số xã hội (tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp tình trạng hôn nhân), tìnhtrạng kinh tế, thu nhập, lối sống, mối quan hệ gia đình, xã hội.v.v Vậy những yếu tốnào có ảnh hưởng đến CLCS của NCT thành phố Hà Nội và từ đó có thể có những canthiệp gì nhằm nâng cao CLCS của NCT là câu hỏi thứ hai được đặt ra khi thực hiệnnghiên cứu này.

1.2.3 Đánh giá chất lượng cuộc sống

Có thể nhận thấy rằng CLCS là một khái niệm đa chiều, bao gồm các đánh giá

về cả khía cạnh tích cực và tiêu cực của cuộc sống [41] Sức khỏe được coi là mộttrong những yếu tố quan trọng nhất của CLCS, bên cạnh các yếu tố như công việc,nhà ở, trường học, môi trường, văn hóa… [42] Vì vậy, các nhà nghiên cứu cần pháttriển các công cụ để đo lường CLCS theo nhiều yếu tố và mối liên quan của các yếu

tố với nhau

Trong lĩnh vực lão khoa cộng đồng, định nghĩa CLCS của George và Bearsonđược xem là khái niệm phổ biến nhất Theo các tác giả CLCS bao gồm 4 chỉ sốchính, trong đó 2 chỉ số đầu tiên đóng vai trò khách quan và 2 chỉ số cuối phản ánhđánh giá chủ quan của cá nhân:

- Hoạt động của các chức năng cơ thể và sức khỏe nói chung

Một nghiên cứu khác về mối quan hệ giữa công nghệ thông tin và CLCS của tácgiả Anderson đã phân tích khái niệm CLCS với 5 khía cạnh bao gồm các chỉ số khá chitiết:

- Sự hài lòng về thể chất: Sức khỏe, các hoạt động và an toàn cá nhân

Trang 22

- Sự hài lòng về vật chất: Tài sản, chất lượng nhà ở, tổng chi tiêu/tổng thu nhập,

bữa ăn/ thực phẩm, sự đi lại (giao thông, vận tải), sự riêng tư, an ninh, sự ổn định/nhiệm kỳ

- Sự hài lòng về xã hội: Mối quan hệ cá nhân, bạn bè và đời sống xã hội; sự

tham gia vào cộng đồng; cuộc sống gia đình, người thân; các hoạt động và sự kiện;chấp nhận và hỗ trợ

- Sự hài lòng về cảm xúc: Lòng tự trọng, niềm tin, sự hài lòng với công việc và

gia đình, tình cảm tích cực

- Sự phát triển và hoạt động: Công việc, giáo dục, việc nhà, thời gian giải trí/

các thói quen, năng lực/ khả năng độc lập, năng suất/ sự đóng góp, sự lựa chọn/ khảnăng kiểm soát [43]

Sự phức tạp và tính chất chủ quan của khái niệm này đã trở thành một tháchthức cho ra đời nhiều công cụ lượng giá và giải thích nó Thấy được tầm quan trọngcủa đánh giá CLCS, Tổ chức Y tế thế giới đã phát triển dự án xây dựng bộ công cụ

đo lường CLCS - WHOQOL bắt đầu với sự tham gia của 15 trung tâm khác nhautrên toàn cầu và tăng lên đến hơn 40 trung tâm hiện nay Kết quả là sự ra đời của bộcông cụ WHOQOL-100 bao gồm 100 câu hỏi thuộc 24 khía cạnh liên quan đếnCLCS được nhóm thành 6 lĩnh vực Trong đó bao gồm 2 câu về CLCS và sức khỏetổng thể nói chung [35] Tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định, WHOQOL-

100 là quá dài để sử dụng trong thực tế Do đó nhóm nghiên cứu của WHO tiếp tụcsoạn thảo ra một phiên bản rút gọn của WHOQOL-100 là WHOQOl-BREF BộWHOQOL-BREF có 26 câu hỏi đánh giá một cách toàn diện 4 khía cạnh liên quanđến CLCS:

- Sức khỏe thể chất: Các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, sự phụ thuộc vào thuốc

và viện trợ y tế, năng lượng và mệt mỏi, tính di dộng, đau và khó chịu, ngủ và sựnghỉ ngơi, năng suất làm việc

- Sức khỏe tâm thần: Vẻ ngoài và hình ảnh bản thân; cảm xúc tích cực và cảm xúc

tiêu cực; tâm linh, tôn giáo và tín ngưỡng cá nhân; suy nghĩ, học tập, trí nhớ và sự tậptrung

Trang 23

- Các mối quan hệ xã hội: Mối quan hệ cá nhân, hỗ trợ xã hội, hoạt động tình

dục

- Môi trường: Nguồn lực tài chính; tự do, an toàn về thể chất và an ninh; y tế và

chăm sóc xã hội (chất lượng và khả năng tiếp cận; môi trường gia đình; cơ hội để cóđược thông tin và kĩ năng mới; sự tham gia và cơ hội tham gia các hoạt động vui chơi,giải trí; môi trường vật lý (ô nhiếm tiếng ồn, giao thông, khí hậu); giao thông vận tải[27]

Một trong những câu hỏi đầu tiên phát sinh trong đánh giá chung về CLCS làliệu các bảng câu hỏi đã được phát triển ở quần thể người trưởng thành trẻ tuổi cóthể được sử dụng một cách thích hợp cho những người lớn tuổi hơn? Câu hỏi thứhai là có hay không có những lĩnh vực cụ thể đặc biệt về CLCS quan trọng hơn ởngười lớn tuổi? Rõ ràng là nó không đủ cho các yêu cầu cụ thể để đánh giá CLCScho NCT [44] Vì vậy đối với đối tượng là NCT, nhóm nghiên cứu WHOQOL tiếptục phát triển và cho ra đời bộ công cụ Chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế thếgiới ( WHOQOL-OLD), theo phương pháp của nhóm WHOQOL [45] WHOQOL-OLD gồm 24 câu hỏi được nhóm thành 6 khía cạnh đặc trưng liên quan đến CLCScủa NCT:

- Giác quan: mất chức năng giác quan; sự suy giảm giác quan ảnh hưởng đến cuộc

sống

- Tự chủ: quyền tự quyết, tự kiểm soát cuộc sống, được tôn trọng và có khả

năng làm được những điều muốn làm

- Hoạt động trong quá khứ, hiện tại và tương lai: hài lòng với những cơ hội,

những gì nhận được, xứng đáng nhận được và những điều mong chờ trong tươnglai

- Hoạt động xã hội: việc làm, cách dùng thời gian, mức độ hoạt động, cơ hội

tham gia hoạt động xã hội

- Cái chết: cách chết, kiểm soát cái chết, sợ chết, sợ đau trước khi chết.

- Tình thương: cảm nhận được tình thương trong cuộc sống, trải nghiệm tình

thương, cơ hội để yêu thương và được yêu thương

Trang 24

Cho đến nay, WHOQOL-OLD đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ và đã cónhiều nghiên cứu báo cáo độ tin cậy cũng như tính giá trị của nó [44],[46],[47],[48] Một số công cụ khác đã được phát triển để đánh giá chất lượng cuộc sống ởNCT, như Chỉ số chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (EQOLI), WHOQOL-AGE, CASP-19 (kiểm soát, tự chủ, tự giác, niềm vui) và Câu hỏi chất lượng cuộcsống của người già (OPQOL) [49],[50],[51],[52]

Có ba lý do để chọn đo lường CLCS bằng WHOQOL-OLD trong nghiên cứunày thay vì các công cụ khác: Đầu tiên, WHOQOL-OLD là công cụ chuyên biệtđược Tổ chức Y tế thế giới phát triển dành riêng cho đối tượng NCT đã được sửdụng thường xuyên ở nhiều quốc gia trên thế giới, do đó cho phép so sánh quốc tế

và liên văn hóa Thứ hai, WHOQOL-OLD chứa các mục đề cập đến quyền tự chủ,cái chết và tình thương phù hợp với NCT; hầu hết các khía cạnh này đều không cótrong các bộ công cụ khác Thứ ba, bộ công cụ này đã được kiểm định độ tin cậy vàtính phù hợp cho kết quả tốt tại Việt Nam [53],[54]

1.3 Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

1.3.1 Trên thế giới

Dân số đang già đi ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới [1] Theo số liệu từTriển vọng Dân số Thế giới, số lượng NCT (những người từ 60 tuổi trở lên) đã tăngđáng kể trong những năm gần đây ở hầu hết các quốc gia và khu vực Năm 2017, sốNCT dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2050 và gấp ba lần vào năm 2100, từ 962triệu người trên toàn cầu trong năm 2017 lên 2,1 tỷ vào năm 2050 và 3,1 tỷ năm

2100 [1] Việc tuổi thọ tăng đánh dấu một thành tựu quan trọng của quá trình pháttriển của nhân loại mặt khác nó cũng có tác động sâu sắc đến xã hội, gia tăng áp lựctài chính và chính trị ở nhiều quốc gia trong những thập kỷ tới đặc biệt là về đảmbảo CLCS cho người dân nói chung và NCT nói riêng

Khái niệm “Chất lượng cuộc sống” ra đời trên thế giới từ khá sớm Từ chỗ chỉđánh giá trên người bệnh, các ghi nhận về CLCS dần dần được ghi nhận cả trên dân

số bình thường Số lượng các nghiên cứu về CLCS ngày càng tăng nhanh chóng.Kết quả từ một số nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng cũng như mong muốn về CLCS

Trang 25

dường như khác nhau theo thế hệ [5] Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề này vẫn còn ítđược chú ý tới đối với nhóm NCT.

Năm 2008, M Tajvar, M Arab và A Montazeri đã thực hiện một nghiên cứutrên 400 người từ 65 tuổi trở lên tại Tehran, Iran Nghiên cứu sử dụng Khảo sát sứckhỏe ngắn gọn (SF-36) cho thấy điểm trung bình CLCS của khía cạnh tinh thần caohơn sức khỏe thể chất (63,8 so với 55,0) Ngoài ra NCT nữ giới có điểm CLCS kémhơn đáng kể so với nam giới Độ tuổi, giới tính, giáo dục và tình trạng kinh tế lànhững yếu tố quyết định đáng kể khiến sức khỏe thể chất kém hơn; trong khi đốivới khía cạnh tinh thần chỉ có tình trạng kinh tế và giới là yếu tố liên quan khiếnCLCS kém hơn [55] Năm 2014, một nghiên cứu khác của Y Khaje-Bishak, L.Payahoo, B Pourghasem và cộng sự được thực hiện tại Tabriz, Iran trên 184 NCTđang sống trong cộng đồng sử dụng bộ câu hỏi Chất lượng cuộc sống của Tổ chức

Y tế Thế giới (WHOQOL-BREF) cho thấy kết quả: Tổng điểm CLCS ở cả hai giới

là 90,75 ± 13,37 (trong khoảng: 26-130); NCT là nam giới có điểm CLCS cao hơn

nữ giới tuy nhiên khác biệt này là không đáng kể Sự khác biệt đáng kể được tìmthấy giữa các bệnh tim mạch, bệnh hô hấp và bệnh đường tiêu hóa, khiếm thính vàkhiếm thị với điểm CLCS Ngoài ra, không có sự khác biệt đáng kể giữa điểmCLCS với các biến giới tính và độ tuổi [56]

Năm 2016, Josep L Conde-Sala đã thực hiện một nghiên cứu tại Châu Âu trên

33241 người từ 65 tuổi trở lên về CLCS và một số yếu tố liên quan đến mô hìnhphúc lợi xã hội tại đây Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hài lòng hơn trong cuộc sống,trầm cảm ít, thu nhập đủ, chủ quan hơn về sức khỏe, hoạt động thể chất, không cósuy giảm chức năng, tuổi trẻ hơn và có tham gia các hoạt động có mối liên quan vớiCLCS tốt hơn ở tất cả các quốc gia Các quốc gia có xã hội dân chủ (cụm Bắc Âu)hoặc mô hình phúc lợi xã hội có chỉ số kinh tế xã hội tốt hơn và điểm số CLCS caohơn (trung bình = 38,5 ± 5,8) so với các nước Đông Âu và Địa Trung Hải, đặc trưngbởi các điều kiện kinh tế xã hội nghèo nàn, cung cấp phúc lợi xã hội hạn chế vàđiểm số CLCS thấp hơn (trung bình = 33,5 ± 6,4) [23]

Trang 26

1.3.2 Tại Việt Nam

Sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành TrungƯơng khóa VII và các chủ chương chính sách của Nhà nước, công tác dân số và kếhoạch hóa gia đình đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào côngcuộc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước [57] Từ năm 2012, ViệtNam đã bước vào giai đoạn dân số già khi số người từ 60 tuổi trở lên chiếm đến10,2% tổng dân số và dự báo sẽ trở thành nước có dân số rất già năm 2038 với tỷ lệngười từ 60 tuổi trở lên đạt 20,1% [58],[59] Tuổi thọ trung bình nước ta tăngnhanh, đã đạt 73,4 tuổi năm 2016, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bìnhquân đầu người [57] Trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm;100% NCT có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh,được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung [57]

Ở Việt Nam, CLCS của NCT là một vấn đề mới nổi và đang được quan tâmchú ý trong thời gian gần đây Tuy nhiên khái niệm CLCS ở Việt Nam vẫn chưađược tìm hiểu và đánh giá một cách toàn diện Trước đây khi CLCS chủ yếu đượcnhìn nhận trên khía cạnh “cơm no áo ấm” hay không có bệnh tật đã là hạnh phúc thìngày nay yếu tố tinh thần đang trở nên đặc biệt quan trọng Như ở các nước phươngTây, khi nhu cầu vật chất đang trở nên bão hòa thì một cuộc sống có chất lượng tốtnhất thiết phải có các yếu tố như sức khỏe, việc làm, môi trường, văn hóa, thông tin,giải trí…[60] Theo bảng xếp hạng MERCER hàng năm của Anh Quốc, năm 2017,CLCS của Việt Nam vẫn tương đối thấp so với các nước khác trên thế giới (116/182nước), đứng thứ 4 trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) sau Lào,Campuchia và Myanmar [61] Bên cạnh đó CLCS của NCT nói riêng vẫn đang làcâu hỏi còn bỏ ngỏ đối với Việt Nam mặc dù cũng đã có một số bằng chứng đượcghi nhận gần đây

Nghiên cứu của Ninh Thị Hà và cộng sự năm 2014 tại vùng nông thôn tỉnhLong An cho thấy trung bình điểm CLCS của NCT chỉ đạt mức trung bình so vớithang điểm của WHO [62] Năm 2016, kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hoàn vàcộng sự tại xã Trung Lương, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam sử dụng bộ công cụ

Trang 27

WHOQOL-BREF là: điểm trung bình CLCS chung và bốn khía cạnh của CLCS đều

ở mức trung bình theo thang điểm của Tổ chức Y tế thế giới (từ 0 –100 điểm).Trong đó, điểm trung bình về khía cạnh xã hội là cao nhất (62,1 điểm) và khía cạnhthể chất có điểm trung bình thấp nhất (50,1 điểm) [8] Cũng trong năm 2016, ĐàoThị Minh An và cộng sự đã thực hiện đánh giá CLCS của NCT bằng bộ công cụWHOQOL-BREF tại phường Trung Tự, quận Đống Đa, Hà Nội Kết quả chỉ rarằng điểm trung bình CLCS của NCT ở tất cả các khía cạnh đều ở mức trung bình

so với thang điểm 100; trong đó khía cạnh xã hội có số điểm cao nhất (60,44) sau

đó là tâm lý, thể chất và môi trường [11] Gần đây hơn, nghiên cứu năm 2017 củaNguyễn Văn Tiến và cộng sự tại vùng nông thôn tỉnh Thái Bình cũng ghi nhận hầuhết NCT có CLCS chung ở mức trung bình (90,5% ở nam và 89,6% ở nữ), tuynhiên chỉ có 0,5% NCT là nữ có CLCS đạt mức cao trong khi ở nam giới là 4% và

tỷ lệ NCT nam có CLCS thấp là 5,5% trong khi ở nữ giới chiếm tới 10% [40] Tuy nhiên tại Hà Nội – thủ đô và trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của ViệtNam; nơi có hệ thống y tế và nền kinh tế phát triển bậc nhất cả nước vẫn chưa cómột bằng chứng khoa học nào mang lại cái nhìn chung về CLCS của NCT toànthành phố Vậy câu hỏi đặt ra đầu tiên ở đây là thực trạng CLCS của NCT thànhphố Hà Nội hiện nay như thế nào?

1.4 Địa điểm nghiên cứu

Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị - hành chính quốc gia; một trungtâm lớn về văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, kinh tế và đầu mối giao thôngquan trọng của cả nước Sau đợt mở rộng địa giới hành chính năm 2008, Hà Nội códiện tích 3.345,24 km², chia thành 30 đơn vị hành chính cấp huyện – gồm 12 quận,

17 huyện, 1 thị xã – và 584 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 386 xã, 177 phường và

21 thị trấn Về quy mô dân số, Hà Nội là thành phố đông dân thứ hai cả nước (sauTPHCM) với dân số trung bình năm 2017 là: 7.657.374 người, chiếm khoảng 8%dân số cả nước, toàn thành phố đã đạt mức sinh thay thế Mật độ dân số trung bìnhcủa Hà Nội là 2505 người/km²

Trang 28

Trong nghiên cứu này, em tiến hành chọn mẫu tại 3 quận nội thành là Đống

Đa, Long Biên và Nam Từ Liêm Trong đó Đống Đa là quận có mật độ dân số đôngnhất Hà Nội với 35.341 người/km² Quận Long Biên nằm ở phía Đông thành phố, làquận duy nhất nằm ở tả ngạn sông Hồng đồng thời là quận có diện tích lớn nhất HàNội Quận Nam Từ Liêm là một quận nằm ở phía Tây trung tâm thành phố Theoquy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến 2030 tầm nhìn 2050, Nam Từ Liêm là mộttrong những đô thị lõi, là trung tâm hành chính, dịch vụ, thương mại của Thủ đô

Em cũng chọn được 3 huyện ngoại thành là: Thanh Trì, Thanh Oai và Đông Anh.Trong đó Thanh Trì là một huyện ngoại thành phía Nam thành phố có truyền thốngnông nghiệp lâu đời đồng thời cũng có nhiều nhà máy công nghiệp và nhiều khu đôthị lớn đã và đang hình thành Thanh Oai là một huyện nằm ở ven đô, giáp nộithành và nằm chính giữa trung tâm của Thủ đô Hà Nội Huyện đang chuyển dầnsang đô thị hóa và đang xây dựng rất nhiều khu đô thị mới Đông Anh là một huyệncách trung tâm thành phố 15 km về phía Bắc là một trong 4 địa phương đầu tiên của

TP Hà Nội được công nhận là huyện nông thôn mới Hiện nay huyện đang dồn lựccho việc xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu Đông Anh cũng đang có những bướctiến mạnh mẽ về kinh tế

Trang 29

CHƯƠNG II – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

- NCT (từ 60 tuổi trở lên) hiện đang sinh sống trong địa bàn thành phố Hà Nội năm2018

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Người từ 60 tuổi trở lên

- Sống tại hộ gia đình liên tục ít nhất 12 tháng qua

- Tự nguyện tham gia trả lời phỏng vấn

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Người không tình nguyện tham gia nghiên cứu

- Người gặp khó khăn để hiểu câu hỏi hay hoàn thành bộ câu hỏi

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Thành phố Hà Nội

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 09/2018 đến tháng 06/2019

- Thời gian thu thập số liệu từ tháng 10/2018 đến tháng 12/2018

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang

s: độ lệch chuẩn = 10,16 (ước tính từ nghiên cứu trước đó *) [53].

∆= 0,93: khoảng sai lệch cho phép giữa điểm trung bình CLCS thu được từ

mẫu nghiên cứu và tham số của quần thể

Trang 30

α: Mức ý nghĩa thống kê lựa chọn = 0,05

Z 1−α /22 :Giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với giá trị α = 0,05 là 1,96.Ước tính được cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu (10% dự trữ cho những trường hợp

có thể từ chối tham gia nghiên cứu) bằng 504 NCT

* Nam Xuan Vo, Trung Quang Vo, Somtip Watanapongvanich, et al (2018),

"Measurement and Determinants of Quality of Life of Older Adults in Ho Chi Minh City,

Vietnam", Social Indicators Research.

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn

 Bước 1: Chọn 3 quận nội thành và 3 huyện ngoại thành thuộc địa bàn thành phố HàNội

Cách tiến hành: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Tiến

hành đánh số thứ tự các quận nội thành từ 1 đến hết Đầu tiên chọn ngẫu nhiên 1đơn vị trong danh sách; sau đó cứ cách đều 3 đơn vị lại chọn ra 1 đơn vị vào mẫu…

cứ như thế cho đến khi chọn đủ 3 quận Kết quả 3 quận được chọn là: Đống Đa,Long Biên và Nam Từ Liêm Tương tự đối với các huyện ngoại thành, 3 huyệnđược chọn là: Thanh Trì, Thanh Oai và Đông Anh

 Bước 2: Chọn 3 phường / xã thuộc mỗi quận / huyện đã chọn

Cách tiến hành: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống đối với

từng quận/ huyện đã được chọn ở bước 1 Tiến hành đánh số thứ tự các phường / xã

từ 1 đến hết Đầu tiên chọn ngẫu nhiên 1 đơn vị trong danh sách; sau đó cứ cách đều

3 đơn vị lại chọn ra 1 đơn vị vào mẫu… cứ như thế cho đến khi chọn đủ 3 phường /xã

 Bước 3: Chọn 2 tổ dân phố / thôn thuộc mỗi phường / xã đã chọn

Cách tiến hành: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện chọn 2 tổ dân phố

/ thôn thuộc mỗi phường / xã đã chọn ở bước trên

 Bước 4: Chọn 21 NCT trong mỗi tổ dân phố / thôn đã chọn theo phương pháp

“cổng liền cổng”

Trang 31

Cách tiến hành: Tại mỗi tổ dân phố / thôn chọn nhà văn hóa hoặc nhà tổ trưởng,

trưởng thôn làm mốc; sau đó bắt đầu điều tra từ hộ gia đình đầu tiên bên trái mốc Tạimỗi hộ gia đình sẽ tiến hành phỏng vấn 1 NCT đủ điều kiện tham gia nghiên cứu.Trường hợp không có NCT hoặc không NCT nào trong hộ gia đình đó hoàn thànhphỏng vấn được ta tiếp tục đi đến hộ gia đình tiếp theo sát bên tay trái Cứ thế chođến khi đủ 21 NCT

 Như vậy, tổng số đối tượng đã được chọn tham gia là 504 người

2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.4.1 Công cụ thu thập số liệu

Công cụ thu thập số liệu là phiếu phỏng vấn người bệnh bao gồm các phầnthông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu (ĐTNC), thang đo CLCS bằng tiếngViệt được dịch từ bộ câu hỏi Chất lượng cuộc sống người cao tuổi của WHO(WHOQOL-OLD) bao gồm 24 câu hỏi [63] Công cụ này là một phần của bộ công

cụ nghiên cứu về môi trường sống người cao tuổi tại 5 nước Đông Nam Á củaTrường Đại học Mahidol, Thái Lan Bộ công cụ được dịch sang tiếng Việt, sau đóxin ý kiến chuyên gia, hiệu chỉnh về ngôn ngữ sau đó thử nghiệm trên 30 NCT tạihuyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội vào tháng 10 năm 2018 để đánh giá tính giátrị và sử dụng của bộ câu hỏi cho chỉ số Cronbach's Alpha = 0,842 (Chi tiết xemphụ lục 2)

Phiếu phỏng vấn gồm 2 phần:

 Phần 1: Thông tin chung về đặc điểm cá nhân gồm: tuổi, giới, tôn giáo, tìnhtrạng hôn nhân, trình độ học vấn, thu nhập, nợ nần, bệnh đang mắc, sức khỏe tựđánh giá, người sống cùng, người chăm sóc chính, chủ hộ gia đình, con cái, khu vựcsống

 Phần 2: Thang đo chất lượng cuộc sống WHOQOL - OLD gồm 24 câu hỏi về

6 khía cạnh (mỗi khía cạnh gồm 4 câu hỏi): Giác quan, Tự chủ, Hoạt động xã hội,Hoạt động quá khứ, hiện tại và tương lai, Tình thương và Cái chết

Trang 32

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Điều tra viên (ĐTV): sinh viên là nghiên cứu viên chính tham gia thu thập trựctiếp và tuyển chọn thêm ĐTV khác là sinh viên YTCC có kinh nghiệm tham giađiều tra, thu thập số liệu cho các nghiên cứu trước đó và được tập huấn điều tratrước khi thực hiện

- Giám sát viên: giảng viên và nghiên cứu viên chính trực tiếp tập huấn về thuthập số liệu và giám sát các ĐTV còn lại

- Lập danh sách và chọn mẫu theo phương pháp đã trình bày tại mục trên

- Liên hệ với chính quyền, nhân viên y tế cơ sở của từng địa phương để xin hỗtrợ

- ĐTV đến từng hộ gia đình để phỏng vấn

- Phỏng vấn theo hình thức phỏng vấn trực tiếp:

 ĐTV thông báo mục đích của nghiên cứu, giải thích rõ những thắc mắc vàxin phép phỏng vấn khi có sự đồng ý của đối tượng

 Rà soát, kiểm tra lại thông tin trong phiếu hỏi xem có thông tin nào bất hợp

lý hoặc thiếu hay không để kịp thời chỉnh sửa và bổ sung

- Thu thập lại tất cả các phiếu để đảm bảo tính bảo mật thông tin và đảm bảo đủ

 Điểm trung bình CLCS từng khía cạnh

 Điểm trung bình CLCS chung của NCT

 Tỷ lệ đối tượng đạt điểm CLCS theo mức độ

- Mục tiêu 2:

 Điểm trung bình CLCS của từng nhóm các yếu tố khác nhau của NCT: tuổi,giới, tôn giáo, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, thu nhập từ công việc,

Trang 33

nợ nần, mắc bệnh, sức khỏe tự đánh giá, người sống cùng, người chăm sócchính, chủ hộ gia đình, con cái, khu vực sống.

- Chi tiết các biến số, chỉ số nghiên cứu được trình bày tại phụ lục 2

2.6 Cách đánh giá CLCS theo bộ công cụ WHOQOL-OLD

Bảng 2.1 Cấu trúc bộ câu hỏi WHOQOL-OLD

Điểm CLCS được chuyển sang thang điểm 0-100 theo hướng dẫn của WHO như sau sau[63]:

Điểm CLCS khía cạnh (vd: Giác quan) = 100 x

- 0-25 điểm: CLCS kém

- 26-50 điểm: CLCS trung bình

- 51-75 điểm: CLCS khá

- 76-100 điểm: CLCS tốt

Trang 34

2.7 Quản lý và phân tích số liệu

- Thông tin được thu thập được nhập, mã hóa bằng phần mềm Epidata 3.1 vàphân tích bằng phần mềm STATA 15.0

- Áp dụng các phương pháp phân tích mô tả: tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trịtrung bình, độ lệch chuẩn

- Sử dụng kiểm định test phi tham số Mann-Whitney và Krusk Wallis để sosánh sự khác biệt về điểm CLCS giữa các nhóm yếu tố

 Sai số do dịch không sát nghĩa

 ĐTV không hiểu hết câu hỏi

 Sai số trong làm sạch, nhập liệu

2.8.2 Khống chế sai số

- Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu đúng, phù hợp

- Giải thích đầy đủ thông tin cho đối tượng trước khi phỏng vấn, tạo lòng tinvới đối tượng được phỏng vấn

- Tập huấn ĐTV về cách thức tiếp cận và phỏng vấn bằng bộ câu hỏi có sẵn

- Điều tra thử trên 30 đối tượng

- Giám sát làm sạch số liệu trước khi nhập liệu

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.

- Nghiên cứu này là một phần trong nghiên cứu của Đại học Mahidol, Thái Lantriển khai tại 5 quốc gia Đông Nam Á đã được hội đồng đạo đức Trường đại họcMahidol phê duyệt với mã số 2018/218.2809

- Tiến hành nghiên cứu trên tinh thần trung thực, áp dụng các nguyên lý vềnghiên cứu và phổ biến kết quả nghiên cứu

- Thông báo cho đối tượng về mục đích nghiên cứu

Trang 35

- Đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu.

- Đảm bảo vô danh và bí mật các thông tin cá nhân

- Các thông tin thu thập chỉ dành cho mục đích nghiên cứu

Trang 36

CHƯƠNG III – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm cá nhân của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 (N=504)

Trang 37

Nhận xét: Bảng 3.1 cung cấp một số thông tin chung về đặc điểm cá nhân của

đối tượng NCT tham gia nghiên cứu Chiếm tỷ lệ lớn nhất là đối tượng từ 60-69tuổi (63,43%), nhóm ≥80 tuổi ít nhất với 5,25% Độ tuổi trung bình của đối tượng là67,97 ± 6.93; nhỏ nhất là 60 tuổi và lớn nhất là 92 tuổi NCT là nữ giới chiếm đa sốvới 56,94%, chủ yếu là không tôn giáo (75,2%) Chủ yếu NCT có trình độ học vấnbậc tiểu học (26,59%) và trung học cơ sở (48,81%) nhưng có đến 7,54% NCTkhông được đi học Về tình trạng hôn nhân, phần lớn NCT có vợ/ chồng chiếm

74,61%, 22,22% đã góa/ ly thân/ ly dị; còn lại 3,17% độc thân Đa số NCT đang

sống cùng với vợ, chồng hoặc con cái (89,09%) nhưng có 8,53% NCT hiện đangsống một mình 4,17% đối tượng không có con Tỷ lệ đối tượng sinh sống tại khuvực nông thôn chiếm 53,17%

Trang 38

Bảng 3.2 Đặc điểm tình trạng kinh tế của người cao tuổi thành phố Hà Nội

Nhận xét: Về tình hình kinh tế của NCT tham gia nghiên cứu này ta có thể

thấy: Phần lớn NCT có thu nhập từ công việc chiếm 76,39%; chỉ có 4,37% NCT có

nợ nần Tỷ lệ NCT tự làm chủ hộ gia đình là lớn nhất với 42,46%, sau đó là vợ/chồng (38,29%) và con cái (10,91%)

Trang 39

Biểu đồ 3.1 Phân loại tình trạng sức khỏe của người cao tuổi thành phố Hà Nội

năm 2018

Nhận xét: Tự đánh giá về tình trạng sức khỏe hiện tại của mình, đa số NCT tự

đánh giá ở mức độ trung bình (51,39%) Tỷ lệ NCT tự đánh giá mức độ tốt vàkhông tốt tương đương nhau lần lượt là 20,83% và 21,43% Có 5,16 % NCT tựđánh giá ở mức rất tốt và 1,19% ở mức rất không tốt

Bảng 3.3 Tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính kèm theo của người cao tuổi thành phố

Nhận xét: Trong nghiên cứu này, 43,85% đối tượng mắc từ 2 bệnh mạn tính

kèm theo trở lên và 32,54% đối tượng mắc 1 bệnh mạn tính kèm theo

Không tốt Trung bình Tốt

Rất tốt

Trang 40

Hệ tu

ần hoàn

M

và ph

ần phụ

0 20

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các bệnh mạn tính mà NCT hay

mắc phải là bệnh của hệ thống cơ, xương và mô liên kết (39,29%) và bệnh của hệtuần hoàn (38,69%); tiếp sau đó là bệnh của hệ hô hấp (27,18%) Bệnh của hệ tiếtniệu sinh dục và các khối u là ít gặp nhất (1,19% và 0,79%)

Bảng 3.4 Đặc điểm về người chăm sóc chính của người cao tuổi thành phố Hà

Nhận xét: Trong sinh hoạt hàng ngày, phần lớn NCT tự chăm sóc cho mình

chiếm 70,04% Tỷ lệ NCT được chăm sóc bởi vợ/chồng là 21,63% Rất ít NCT cầnđến sự chăm sóc của con cái (7,54%) hoặc cháu (0,79%) trong sinh hoạt

3.2 Điểm chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 Bảng 3.5 Điểm chất lượng cuộc sống về khía cạnh Giác quan (N=504)

Ngày đăng: 24/08/2019, 08:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
34. P. R. Colussi, F. N. Hugo, F. W. Muniz, et al. (2017), "Oral Health-Related Quality of Life and Associated Factors in Brazilian Adolescents", Braz Dent J, 28(1), 113-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oral Health-RelatedQuality of Life and Associated Factors in Brazilian Adolescents
Tác giả: P. R. Colussi, F. N. Hugo, F. W. Muniz, et al
Năm: 2017
35. M. Power, A. Harper and M. Bullinger (1999), "The World Health Organization WHOQOL-100: tests of the universality of Quality of Life in 15 different cultural groups worldwide", Health Psychol, 18(5), 495-505 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Health OrganizationWHOQOL-100: tests of the universality of Quality of Life in 15 differentcultural groups worldwide
Tác giả: M. Power, A. Harper and M. Bullinger
Năm: 1999
36. P. Due (1989), "Quality of life, health and social contacts in elderly people unable to go out-of-doors", Ugeskr Laeger, 151(44), 2879-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life, health and social contacts in elderly peopleunable to go out-of-doors
Tác giả: P. Due
Năm: 1989
37. Knesebeck O.V.D., Wahrendorf M. and Hyde M (2007), "Socio-economic position and quality of life among older people in 10 European countries: results of the SHARE study.", Ageing Soc, 27, 269–284 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Socio-economicposition and quality of life among older people in 10 European countries: resultsof the SHARE study
Tác giả: Knesebeck O.V.D., Wahrendorf M. and Hyde M
Năm: 2007
38. Siegrist J. and Wahrendorf M., "Participation in socially productive activities and quality of life in early old age: findings from SHARE", J Eur Soc Policy, 19(4), 317–326 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Participation in socially productive activities andquality of life in early old age: findings from SHARE
39. Wu T.-Y., Chie W.-C., Liu J.-P., et al. (2015), "Association of quality of life with laboratory measurements and lifestyle factors in community dwelling older people in Taiwan", Aging Ment Health, 19(6), 548–559 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Association of quality of life withlaboratory measurements and lifestyle factors in community dwelling olderpeople in Taiwan
Tác giả: Wu T.-Y., Chie W.-C., Liu J.-P., et al
Năm: 2015
40. T. Van Nguyen, H. Van Nguyen, T. Duc Nguyen, et al. (2017), "Difference in quality of life and associated factors among the elderly in rural Vietnam", J Prev Med Hyg, 58(1), E63-E71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Difference inquality of life and associated factors among the elderly in rural Vietnam
Tác giả: T. Van Nguyen, H. Van Nguyen, T. Duc Nguyen, et al
Năm: 2017
41. A. L. Lau, K. McKenna, C. C. Chan, et al. (2003), "Defining quality of life for Chinese elderly stroke survivors", Disabil Rehabil, 25(13), 699-711 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Defining quality of lifefor Chinese elderly stroke survivors
Tác giả: A. L. Lau, K. McKenna, C. C. Chan, et al
Năm: 2003
42. Centers for Disease Control and Prevention (2000), Measuring healthy days:Population assessment of health-related quality of life, Atlanta, Georgia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring healthy days:"Population assessment of health-related quality of life
Tác giả: Centers for Disease Control and Prevention
Năm: 2000
44. I. Conrad, H. Matschinger, S. Riedel-Heller, et al. (2014), "The psychometric properties of the German version of the WHOQOL-OLD in the German population aged 60 and older", Health Qual Life Outcomes, 12, 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The psychometricproperties of the German version of the WHOQOL-OLD in the Germanpopulation aged 60 and older
Tác giả: I. Conrad, H. Matschinger, S. Riedel-Heller, et al
Năm: 2014
45. M. Power, K. Quinn, S. Schmidt, et al. (2005), "Development of the WHOQOL-old module", Qual Life Res, 14(10), 2197-214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of theWHOQOL-old module
Tác giả: M. Power, K. Quinn, S. Schmidt, et al
Năm: 2005
46. N. Bilgili and F. Arpaci (2014), "Quality of life of older adults in Turkey", Arch Gerontol Geriatr, 59(2), 415-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life of older adults in Turkey
Tác giả: N. Bilgili and F. Arpaci
Năm: 2014
47. A. Leplege, C. Perret-Guillaume, E. Ecosse, et al. (2013), "A new instrument to measure quality of life in older people: The French version of the WHOQOL-OLD", Rev Med Interne, 34(2), 78-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new instrumentto measure quality of life in older people: The French version of theWHOQOL-OLD
Tác giả: A. Leplege, C. Perret-Guillaume, E. Ecosse, et al
Năm: 2013
48. Ana Luisa González-Celis and Juana Gómez-Benito (2013), "Quality of life in the elderly: Psychometric properties of the WHOQOL-OLD module in Mexico", HEALTH, 5(12A), 110-116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of lifein the elderly: Psychometric properties of the WHOQOL-OLD module inMexico
Tác giả: Ana Luisa González-Celis and Juana Gómez-Benito
Năm: 2013
49. S. M. Paschoal, W. J. Filho and J. Litvoc (2007), "Development of elderly quality of life index - EQOLI: theoretical-conceptual framework, chosen methodology, and relevant items generation", Clinics (Sao Paulo), 62(3), 279-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of elderly qualityof life index - EQOLI: theoretical-conceptual framework, chosen methodology, andrelevant items generation
Tác giả: S. M. Paschoal, W. J. Filho and J. Litvoc
Năm: 2007
50. F. F. Caballero, M. Miret, M. Power, et al. (2013), "Validation of an instrument to evaluate quality of life in the aging population: WHOQOL- AGE", Health Qual Life Outcomes, 11, 177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Validation of aninstrument to evaluate quality of life in the aging population: WHOQOL-AGE
Tác giả: F. F. Caballero, M. Miret, M. Power, et al
Năm: 2013
51. M. Hyde, R. D. Wiggins, P. Higgs, et al. (2003), "A measure of quality of life in early old age: the theory, development and properties of a needs satisfaction model (CASP-19)", Aging Ment Health, 7(3), 186-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A measure of quality of lifein early old age: the theory, development and properties of a needssatisfaction model (CASP-19)
Tác giả: M. Hyde, R. D. Wiggins, P. Higgs, et al
Năm: 2003
52. A. Bowling (2009), "The Psychometric Properties of the Older People's Quality of Life Questionnaire, Compared with the CASP-19 and the WHOQOL-OLD", Curr Gerontol Geriatr Res, 2009, 298950 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Psychometric Properties of the Older People'sQuality of Life Questionnaire, Compared with the CASP-19 and theWHOQOL-OLD
Tác giả: A. Bowling
Năm: 2009
54. Huỳnh Ngọc Vân Anh (2017), Trầm cảm và các yêu tố liên quan của người cao tuổi tại thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, Hội nghị khoa học kỹ thuật lần 34 đại học y dược 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm cảm và các yêu tố liên quan của ngườicao tuổi tại thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Huỳnh Ngọc Vân Anh
Năm: 2017
55. M. Tajvar, M. Arab and A. Montazeri (2008), "Determinants of health-related quality of life in elderly in Tehran, Iran", BMC Public Health, 8, 323 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of health-relatedquality of life in elderly in Tehran, Iran
Tác giả: M. Tajvar, M. Arab and A. Montazeri
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w