Chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống điều trị tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Tỉnh Sơn La năm 2018...49 4.2.1.. Kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế tron
Trang 1MAI HỒNG NHUNG
CHÊT L¦îNG CUéC SèNG CñA NG¦êI BÖNH
CHÊN TH¦¥NG TñY SèNG Vµ VAI TRß CñA NH¢N VI£N
Y TÕ TRONG Hç TRî NG¦êI BÖNH T¹I BÖNH VIÖN PHôC HåI CHøC N¡NG TØNH S¥N LA N¡M 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
HÀ NỘI – 2019
Trang 2MAI HỒNG NHUNG
CHÊT L¦îNG CUéC SèNG CñA NG¦êI BÖNH
CHÊN TH¦¥NG TñY SèNG Vµ VAI TRß CñA NH¢N VI£N
Y TÕ TRONG Hç TRî NG¦êI BÖNH T¹I BÖNH VIÖN PHôC HåI CHøC N¡NG TØNH S¥N LA N¡M 2018
Chuyên ngành: Quản lý bệnh viện
Mã số: 60.72.07.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS.Đỗ Đào Vũ
2 PGS.TS.Trần Thị Thanh Hương
HÀ NỘI – 2019 LỜI CẢM ƠN
Trang 3phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cám ơn các Thầy, Cô Bộ môn Tổ chức và Quản lý Y
tế, Bộ môn Y Đức - Y xã hội học đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tập cao học tại trường.
Tôi xin đặc biệt trân trọng và biết ơn PGS.TS Đỗ Đào Vũ, PGS.TS Trần Thị Thanh Hương đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, trang bị kiến thức và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trên con đường nghiên cứu khoa học Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Đảng Ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La, cùng tập thể Lãnh đạo, nhân viên các khoa phòng trong Bệnh viện và các điều tra viên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cha Mẹ kính yêu đã sinh thành, nuôi dưỡng, luôn động viên, giúp con có nghị lực và ý chí vươn lên.
Xin được gửi tất cả lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình đặc biệt là chồng và con gái luôn là chỗ dựa tinh thần để tôi phấn đấu.
Cuối cùng, xin cảm ơn anh chị em, bạn bè đồng nghiệp tại lớp Cao học khóa 26, chuyên ngành Quản lý bệnh viện đã luôn bên cạnh động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Mai Hồng Nhung
Trang 4Tôi là Mai Hồng Nhung, học viên cao học khóa 26 Trường Đại học Y
Hà Nội, chuyên ngành Quản lý bệnh viện, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫncủa PGS TS Đỗ Đào Vũ và PGS TS Trần Thị Thanh Hương
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãđược công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trungthực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơinghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Học viên
Mai Hồng Nhung
Trang 5ASIA American Spinal Cord Injury Association
Hiệp hội chấn thương tủy sống MỹCLCS Chất lượng cuộc sống
SCIM Spinal Cord Independence Measure
Bảng đánh giá khả năng độc lập chức năngTNGT Tai nạn giao thông
TNLĐ Tai nạn lao động
TNLĐ Tai nạn sinh hoạt
VAS Visual Analogue Scale
Thang đo đánh giá mức độ đau
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số định nghĩa 3
1.1.1 Chấn thương tủy sống 3
1.1.2 Chất lượng cuộc sống 3
1.1.3 Nhân viên y tế 3
1.1.4 Phục hồi chức năng 4
1.1.5 Chăm sóc người bệnh 4
1.2 Dịch tễ học chấn thương tủy sống 4
1.2.1 Trên thế giới 4
1.2.2 Tại Việt Nam 5
1.3 Vai trò của nhân viên y tế trong chăm sóc, phục hồi chức năng 5
1.3.1 Các giai đoạn chăm sóc, PHCN cho người bệnh chấn thương tủy sống 6
1.3.2 Các phương pháp điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh chấn thương tủy sống 7
1.4 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống 9
1.4.1 Phương pháp đánh giá 9
1.4.2 Công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở người bệnh chấn thương tủy sống 10 1.5 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống và vai trò của nhân viên y tế trong hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh 13
1.5.1 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống 13
1.5.2 Các nghiên cứu về vai trò của nhân viên y tế trong hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh chấn thương tủy sống 17
1.6 Khung lý thuyết 20
1.7 Tóm tắt về địa điểm nghiên cứu 21
1.7.1 Tóm tắt về tỉnh Sơn La 21
1.7.2 Giới thiệu về Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La 21
Trang 72.2 Phương pháp nghiên cứu 24
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.2.2 Xác định cỡ mẫu, cách chọn mẫu 24
2.2.3 Thời gian nghiên cứu 24
2.2.4 Địa điểm nghiên cứu 24
2.2.5 Bô công cụ thu thập số liệu 24
2.2.6 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu 29
2.3.1 Nhóm biến số và chỉ số về đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 29
2.3.2 Nhóm biến số và chỉ số của mục tiêu 1 29
2.3.3 Nhóm biến số và chỉ số của mục tiêu 2 30
2.4 Phân tích và xử lý số liệu 30
2.5 Sai số và biện pháp khắc phục 31
2.5.1 Sai số có thể gặp phải 31
2.5.2 Biện pháp khắc phục 31
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 32
3.1.1 Thông tin chung của người bệnh 32
3.1.2 Thông tin chung của nhân viên y tế 35
3.2 Chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống tại bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Sơn La 36
3.2.1 Chất lương cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống thông qua đánh giá khả năng độc lập theo thang điểm SCIM 36
3.2.2 Chất lương cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống thông qua đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS 39
3.2.3 Chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống theo thang điểm EORTC QLQ-C30 40
Trang 83.3.1 Kiến thức của NVYT về chăm sóc PHCN cho NB CTTS 41
3.3.2 Thái độ của NVYT trong hỗ trợ chăm sóc, phục hồi chức năng và tư vấn cho người bệnh chấn thương tủy sống 43
3.3.3 Thực hành của NVYT trong hỗ trợ chăm sóc, phục hồi chức năng và tư vấn cho người bệnh sau CTTS 44
Chương 4: BÀN LUẬN 46
4.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 46
4.1.1 Thông tin chung người bệnh 46
4.1.2 Thông tin chung về nhân viên y tế 48
4.2 Chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống điều trị tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Tỉnh Sơn La năm 2018 49
4.2.1 Chất lượng cuộc sống thông qua đánh giá khả năng độc lập 49
4.2.2 Chất lượng cuộc sống thông qua đánh giá mức độ đau 51
4.2.3 Chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống theo thang điểm EORTC QLQ-C30 52
4.3 Kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế trong hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh chấn thương tủy sống tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Tỉnh Sơn La năm 2018 55
KẾT LUẬN 59
KIẾN NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 3.1 Đặc điểm chung người bệnh chấn thương tủy sống 32
Bảng 3.2 Đặc điểm bệnh lý của người bệnh chấn thương tủy sống 34
Bảng 3.3 Một số thông tin chung của nhân viên y tế 35
Bảng 3.4 Đánh giá về chức năng hô hấp và cơ tròn 36
Bảng 3.5 Đánh giá về khả năng tự chăm sóc bản thân 37
Bảng 3.6 Đánh giá về khả năng di chuyển trong phòng và ra bồn cầu/ nhà vệ sinh 37
Bảng 3.7 Đánh giá về khả năng di chuyển trong nhà và bên ngoài 38
Bảng 3.8 Chất lượng cuộc sống của NB theo thang điểm EORTC QLQ-C30 40
Bảng 3.9 Kiến thức chung của NVYT về chăm sóc, PHCN cho NB CTTS 41
Bảng 3.10 Kiến thức của nhân viên y tế về từng nội dung trong chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh CTTS 42
Bảng 3.11 Thái độ của nhân viên y tế trong hỗ trợ tư vấn chăm sóc, và phục hồi chức năng cho người bệnh chấn thương tủy sống 43
Bảng 3.12 Mức độ tự tin của nhân viên y tế trong thực hiện các hoạt động chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh CTTS 44
Bảng 3.13 Thực hành của nhân viên y tế trong chăm sóc, phục hồi chức năng và tư vấn cho người bệnh chấn thương tủy sống 45
Trang 10Biều đồ 3.1 Khả năng độc lập của NB CTTS theo thang điểm SCIM 38Biểu đồ 3.2 Mức độ đau của người bệnh chấn thương tủy sống theo thang
điểm VAS 39Biểu đồ 3.3 Chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống
theo thang đo EORTC QLQ-C30 41
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 20
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương tủy sống (CTTS) tác động đến hàng nghìn người mỗi nămảnh hưởng tới sức khỏe và để lại nhiều biến chứng nặng nề như: mất chứcnăng vận động; rối loạn cảm giác, bàng quang, đường ruột, hô hấp, tim mạch
và loét do tỳ đè hậu quả làm cho người bệnh giảm hoặc mất khả năng độclập trong cuộc sống, mất cơ hội việc làm, thay đổi tâm lý sức khỏe nặng nề vàgiảm chất lượng cuộc sống [1], [2]
Theo số liệu thống kê hàng năm trên thế giới, tỷ lệ CTTS ngày càng có
xu hướng gia tăng Tại Hoa Kỳ, ước tính năm 2012 tỷ lệ CTTS khoảng 40trường hợp trên 1 triệu dân hay khoảng 12.000 ca mắc mới mỗi năm Tuổitrung bình của người bệnh CTTS là 41 tuổi và 80,6% là nam giới, đang trong
độ tuổi lao động Loại chấn thương thường gặp nhất là liệt tứ chi 56,6%, vàdưới 1% người bệnh được phục hồi thần kinh hoàn toàn khi xuất viện [3].Một nghiên cứu tổng quan có hệ thống cho thấy, tại các nước Đông Nam Á,
tỷ lệ CTTS là 12,1-61,6 người trên 1 triệu dân, tuổi trung bình từ 26,8 đến56,6 tuổi, nam giới có nguy cơ mắc nhiều hơn nữ giới [4] Theo ShiyangYuan và cộng sự, tại Trung Quốc tỷ lệ CTTS dao động từ 23,7 - 60,6 người/triệu dân, nam giới gấp 3-4 lần nữ giới, nguyên nhân chủ yếu gây ra CTTS làtai nạn giao thông [5]
Tại Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ và đại diện cho cả nước về tỷ lệCTTS, một số báo cáo từ số liệu của các bệnh viện lớn trên cả nước cho thấy
tỷ lệ CTTS ngày một gia tăng, đặc biệt do tai nạn giao thông, tai nạn lao động
và tai nạn sinh hoạt, độ tuổi thường gặp là 20-59 tuổi [6], [7]
Những số liệu trên cho thấy CTTS không chỉ ảnh hưởng lớn đến CLCScủa người bệnh mà còn tác động không nhỏ tới phát triển kinh tế, xã hội mỗiquốc gia Tuy nhiên, hiện nay việc hỗ trợ, chăm sóc, phục hồi chức năng
Trang 12nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh CTTS còn chưa đượcquan tâm đúng mức.
Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, nhu cầu người bệnhnói chung và người bệnh CTTS đều mong muốn có chất lượng cuộc sống tốthơn, điều này đòi hỏi sự nỗ lực của các bệnh viện và nhân viên y tế trongcông tác chăm sóc sức khỏe Việc tiến hành các nghiên cứu về thực trạng ảnhhưởng của bệnh và những biện pháp hỗ trợ, can thiệp sẽ giúp các nhà quản lý,nhân viên y tế có cơ sở cho việc hoạch định chính sách hỗ trợ người bệnhCTTS hiệu quả hơn, góp phần xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượngcuộc sống, tăng khả năng hòa nhập cho người bệnh CTTS khi trở về sinh hoạttại gia đình và cộng đồng Theo tham khảo của chúng tôi, chưa có nhiềunghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bệnh sau CTTS và đặc biệt làvai trò của nhân viên y tế trong hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống cho NB
CTTS Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Chất lượng cuộc sống của
người bệnh chấn thương tủy sống và vai trò của nhân viên y tế trong hỗ trợ người bệnh tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Tỉnh Sơn La năm 2018” với
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số định nghĩa
1.1.1 Chấn thương tủy sống
Chấn thương tủy sống là tình trạng bệnh lý gây liệt hoặc giảm vậnđộng tứ chi hoặc hai chân kèm theo các rối loạn khác như: cảm giác, hô hấp,tim mạch, bàng quang, đường ruột, loét do tì đè do nguyên nhân chấnthương hoặc do các bệnh lý khác của tủy sống, thường để lại nhiều di chứngnặng nề và dẫn tới tàn tật nếu không được điều trị, chăm sóc và phục hồichức năng tốt [8]
1.1.2 Chất lượng cuộc sống
Theo Nhóm nghiên cứu về chất lượng cuộc sống thuộc Tổ chức Y tếThế giới (WHOQOL-Group - World Health Organization Quality of Life) thìchất lượng cuộc sống là những cảm nhận của các cá nhân về cuộc sống của họtrong bối cảnh văn hóa, các hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quan đếncác mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ [9]
1.1.3 Nhân viên y tế
Theo định nghĩa của WHO: nhân viên y tế là những người mà hoạtđộng của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe Nhân viên y tế bao gồmnhững người cung cấp dịch vụ y tế: bác sỹ, điều dưỡng, y tế công cộng, dược
sỹ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác: kế toán, cấpdưỡng, lái xe, hộ lý [10]
Theo thông tư số 28/2014/TT-BYT: nhân viên y tế là toàn bộ số laođộng hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (kể cả công và tư, kể cả biên chế
và hợp đồng) [11]
Trang 14Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ phỏng vấn đối tượng NVYT trựctiếp tham gia vào công tác CS, PHCN cho người bệnh là bác sĩ, điều dưỡng
và kỹ thuật viên
1.1.4 Phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng người bệnh CTTS là dùng các biện pháp y học, xãhội học, giáo dục học, kinh tế và kỹ thuật PHCN nhằm đảm bảo cho họ tái hộinhập xã hội, có cơ hội bình đẳng tham gia các hoạt động trong gia đình, xãhội, có cuộc sống bình thường tối đa so với hoàn cảnh của họ [12], [13]
1.1.5 Chăm sóc người bệnh
Chăm sóc NB trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơbản của mỗi NB nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết,
tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị
và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho NB [14]
1.2 Dịch tễ học chấn thương tủy sống
1.2.1 Trên thế giới
Theo báo cáo thống kê trên thế giới, hàng năm tỷ lệ CTTS có xu hướngngày càng gia tăng Năm 2004, Sinha D cho biết tỷ lệ CTTS ở Ấn Độ là 20.000trường hợp/năm, trong đó 80% NB trong độ tuổi lao động [15] Theo trung tâmthống kê CTTS quốc gia Hoa Kỳ, ước tính năm 2012 tỷ lệ CTTS khoảng 40trường hợp trên 1 triệu dân hay khoảng 12000 ca mắc mới mỗi năm Độ tuổitrung bình của NB CTTS là 41 tuổi và 80,6% là ở nam giới, loại chấn thươngthường gặp nhất là liệt tứ chi (56,6%) và dưới 1% người bệnh phục hồi thầnkinh hoàn toàn khi xuất viện [3] Theo Pickett Gwynedd E và cộng sự, Canada
có tỷ lệ CTTS là 42,4 người/triệu dân, tập trung từ độ tuổi 15 đến 64, tai nạngiao thông chiếm 35% [16] Theo số liệu năm 2011, Schoenfeld và cộng sựcho biết tỷ lệ CTTS trong quân đội Hoa Kỳ là 429 trường hợp/triệu quân nhân[17] Ở Bắc Mỹ, tỷ lệ chấn thương tủy sống khoảng 12.000 trường hợp
Trang 15mới/năm, ước chừng dao động từ 300.000 đến 1.275.000 trường hợp [18].Nghiên cứu của Krebs và Pannek [19] cho biết CTTS do tai nạn giao thông,ngã cao luôn chiếm vị trí hàng đầu, rồi đến tai nạn thể thao, tai nạn lao động;Akkoc [20] cho biết tai nạn giao thông chiếm 39,3%, ngã cao 36,1% và nhảycầu 7,9%.
1.2.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam tuy chưa có nghiên cứu thống kê một cách đầy đủ và đạidiện cho cả nước về tỷ lệ CTTS nói chung Song trong những năm gần đây, tỷ
lệ này ngày một tăng, đặc biệt tại các trung tâm đô thị lớn như Hà Nội, thànhphố Hồ Chí Minh, phần lớn do tai nạn giao thông, ngã cao và tai nạn laođộng Chỉ riêng BV Chấn thương Chỉnh hình và Chợ Rẫy có khoảng 1.500 camỗi năm, trong đó lứa tuổi phổ biến từ 20 – 30 [6] Tại bệnh viện Bạch Mai,theo khảo sát cho thấy năm 2008 có khoảng 200 NB CTTS đến điều trị tạiđơn vị tổn thương tủy sống Số lượng NB tăng đều những năm sau đó và cóđến hơn 1000 NB đã được điều trị tại Trung tâm PHCN [7]
CTTS có nhiều nguyên nhân khác nhau, theo Cầm Bá Thức tai nạngiao thông chiếm tỷ lệ cao nhất [21] và Đỗ Đào Vũ [22] tai nạn giao thông lànguyên nhân gây chấn thương cột sống cổ cao nhất 44,4%, rồi đến tai nạn laođộng 33,3% và tai nạn sinh hoạt 22,2%
1.3 Vai trò của nhân viên y tế trong chăm sóc, phục hồi chức năng
Nhiệm vụ, vai trò của nhân viên y tế trong chăm sóc, phục hồi chứcnăng được quy định rõ trong thông tư số 46/2013/TT-BYT ngày 31 tháng 12năm 2013 [12]:
+ Bác sỹ chuyên khoa PHCN có nhiệm vụ khám bệnh, chẩn đoán bệnh,chỉ định điều trị và PHCN cho người bệnh
+ Kỹ thuật viên vật lý trị liệu có nhiệm vụ thực hiện các kỹ thuật vật lýtrị liệu và hoạt động trị liệu cho người bệnh
Trang 16+ Kỹ thuật viên hoạt động trị liệu có nhiệm vụ luyện tập cho người bệnhcác hoạt động tự chăm sóc bản thân trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày,giúp người bệnh tái hòa nhập với môi trường sống ở gia đình và cộng đồng.+ Kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu có nhiệm vụ luyện tập cho người bệnh
có rối loạn chức năng ngôn ngữ và nhận thức giao tiếp
+ Kỹ thuật viên dụng cụ chỉnh hình có nhiệm vụ chế tạo, sản xuất, sửachữa dụng cụ trợ giúp, dụng cụ thay thế và hướng dẫn người bệnh, gia đìnhngười bệnh và cộng đồng tự làm một số dụng cụ trợ giúp phù hợp
+ Điều dưỡng có vai trò quan trọng trong việc phục hồi cho NB ở mọigiai đoạn, đặt ra kế hoạch và đánh giá được quá trình thực hiện kế hoạch, từ
đó xác định mức độ hồi phục của NB Chăm sóc giúp đỡ NB phục hồi Giáodục gia đình trong việc tự chăm sóc NB Giải thích cho gia đình và cộng đồnghiểu, cảm thông với hoàn cảnh người bệnh Phòng ngừa biến chứng Xác địnhnhu cầu của NB cần được đáp ứng Giúp họ phát huy khả năng còn lại để táihội nhập xã hội
1.3.1 Các giai đoạn chăm sóc, PHCN cho người bệnh chấn thương tủy sống [13]
Giai đoạn một: Là giai đoạn có tính chất cấp tính, từ lúc NB bị CTTSđến lúc cột sống đã ổn định Trong giai đoạn này chăm sóc cho người bệnh làquan trọng, tốt nhất là chăm sóc tại bệnh viện hoặc trung tâm y tế
Mục tiêu:
+ Tìm nguyên nhân và giải quyết nguyên nhân
+ Phòng ngừa các thương tật thứ cấp: loét do đè ép, nhiễm trùng phổi,nhiễm trùng tiết niệu, co rút, cứng khớp
+ Chăm sóc đường tiết niệu
+ Chăm sóc đường tiêu hóa
+ Chăm sóc đường hô hấp
Trang 17 Giai đoạn hai: Là giai đoạn hồi phục của tủy sống, có thể phục hồi tạiviện hoặc tại nhà Trong giai đoạn này người bệnh học cách thích nghi với cơthể tàn tật của mình, biết cách tự chăm sóc bản thân bằng các khả năng còn lạinhằm ngăn ngừa các biến chứng.
Mục tiêu:
+ Hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc da
+ Phục hồi chức năng đường tiết niệu
+ Phục hồi chức năng đường ruột
+ Tập sức mạnh cơ và tập di chuyển
+ Tập luyện với các dụng cụ trợ giúp
+ Thực hiện các hoạt động trị liệu (vệ sinh cá nhân, tự ăn uống, tự mặc quần áo)
Giai đoạn ba: Tái hội nhập vào cộng đồng và xã hội
Mục tiêu của giai đoạn này là tạo cho người bệnh một môi trường thíchnghi với gia đình và cộng đồng, giải quyết được vấn đề tâm lý của ngườibệnh, làm giảm bớt gánh nặng cho xã hội
Tạo điều kiện cho người bệnh đi lại dễ dàng: đường bằng phẳng, có cầu bắcqua kênh rãnh, có xe lăn cho người bệnh, nhà cao tầng phải có giá đỡ ở cầu thang,
có thanh song song quanh nhà để người bệnh đi lại Chiều cao của giường phảithích hợp Nhà bếp, nhà vệ sinh phải bố trí phù hợp để người bệnh có thể sử dụng
Hướng nghiệp: Tư vấn, tạo điều kiện cho người bệnh tham gia lao động
để có thêm thu nhập cho bản thân, gia đình
Tham gia mọi sinh hoạt của gia đình và xã hội
1.3.2 Các phương pháp điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh chấn thương tủy sống
Điều trị loét do đè ép: Các yếu tố trong điều trị bao gồm rửa vết
thương, cắt bỏ tổ chức hoại tử, băng bó, phẫu thuật, dinh dưỡng và kiểm soátcác vùng tỳ đè [7], [23]
Trang 18Chăm sóc đường hô hấp: Rung kết hợp dẫn lưu tư thế, tập ho để giải
phóng đờm dãi ra ngoài; tập thở nhằm tăng cường khả năng hô hấp, trao đổikhí, phòng biến chứng viêm phổi, xẹp phổi và suy hô hấp [24], [25]
Chăm sóc đường tiết niệu: Mục tiêu của chăm sóc đường tiết niệu là
đi tiểu chừng 3-4 giờ/lần, duy trì kiểm soát nước tiểu, khi đi ngủ nước tiểukhông rò rỉ ra, tránh nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát Tối thiểu phải đạtđược là giảm sự ảnh hưởng đến hoạt động xã hội, hướng nghiệp và học nghềcủa người bệnh [26], [27], [28]
Chăm sóc đường ruột: Chăm sóc đường ruột có thể đòi hỏi phải sử
dụng hai phương pháp kích thích trực tràng: kích thích cơ học và kích thíchhóa học Hai kích thích này có thể sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp cả haiphương pháp [23], [26] Tập luyện đường ruột là sự bài tiết ở đường ruộtthông qua phản xạ có điều kiện [7]
Điều trị cơn rối loạn thần kinh giao cảm phản xạ: Nhanh chóng hạ
huyết áp bằng cách dựng người bệnh ngồi thả hai chân xuống giường, nếuhuyết áp không hạ mới chuyển sang dùng thuốc hạ áp Tìm nguyên nhân gâycơn rối loạn phản xạ thực vật để loại bỏ Khi tình trạng NB đã ổn định nhanhchóng trao đổi với người nhà NB về nguyên nhân gây ra và các vấn đề cầnphòng ngừa như điều chỉnh kế hoạch điều trị, thảo luận về rối loạn phản xạthực vật, hướng dẫn cách phòng [29]
Điều trị đau do nguyên nhân thần kinh: Đau là một cảm giác khó
chịu, xuất hiện cùng lúc với sự tổn thương của các mô tế bào Đau còn là kinhnghiệm được lượng giá bởi nhận thức chủ quan tùy theo từng người, từngcảm giác về mỗi loại đau, là dấu hiệu của bệnh và phải tìm ra nguyên nhân đểđiều trị [30] Việc điều trị đúng tình trạng đau còn phụ thuộc vào nhận thứcthực tế và sự tôn trọng phức hợp thể chất và tâm thần ảnh hưởng đến tác độngcủa đau đối với cuộc sống của người bệnh [26]
Trang 19Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu: Tập vận động sớm, sử dụng các
dụng cụ tạo áp lực và các thuốc chống đông dự phòng cho những người bệnh
có nguy cơ cao Khi có huyết khối tĩnh mạch sâu cần điều trị theo bác sỹchuyên khoa tim mạch [31]
Điều trị co cứng: Co cứng ở NB cũng có những lợi ích đáng kể như
giảm được tình trạng loãng xương và hạ huyết áp tư thế, tuy nhiên cũng cónhững bất lợi như khi co rút gây tư thế xấu hoặc khó khăn khi vệ sinh cánhân Việc điều trị co cứng có thể bằng các phương pháp vật lý trị liệu, cácthuốc giãn cơ và tiêm phong bế điểm vận động bằng phenol hoặc Botulinumtoxin nhóm A [26], [29]
Tập mạnh cơ, di chuyển bằng dụng cụ trợ giúp và hoạt động trị liệu: Việc sử dụng thành thạo nạng nẹp, thanh song song, khung tập đi, xe lăn
địa hình giúp người bệnh độc lập trong sinh hoạt như ăn uống, mặc quần áo,
vệ sinh cá nhân như đánh răng, rửa mặt, tắm rửa… [24], [32], [33]
Điều trị rối loạn chức năng tình dục: Bao gồm điều trị rối loạn
cương, xuất tinh ở nam giới Ở nữ giới cho dù khả năng mang thai thườngkhông bị ảnh hưởng nhưng nó cũng mang lại nhiều khó khăn cho NB, việc tựchăm sóc phải được tăng cường, đề phòng các biến chứng nhiễm trùng đường
tiết niệu, viêm tĩnh mạch khối, đẻ non [26], [29].
Tái hội nhập vào cộng đồng và xã hội: Đây là giai đoạn quan trọng
giúp giải quyết vấn đề tâm lý cho NB, mặt khác làm giảm bớt sự phụ thuộc vàgia đình, xã hội Hướng nghiệp cho NB để khi về với gia đình, cộng đồng họtìm được việc làm thích hợp để tự nuôi sống bản thân [34]
1.4 Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống
1.4.1 Phương pháp đánh giá
Đánh giá CLCS là đánh giá phản ánh tác động của một bệnh nào đóđến cuộc sống của người bệnh Theo Tổ chức Y tế thế giới, CLCS liên quan
Trang 20đến sức khỏe nói chung được coi là cấu trúc đa chiều bao gồm sức khỏe thểlực, sức khỏe tâm thần, chức năng xã hội và toàn trạng nói chung Nhiều bộcông cụ khác nhau đã được xây dựng để đánh giá CLCS và được phân loại
là đánh giá theo bệnh đặc thù hoặc đánh giá chung [9], [35]
Hiện có nhiều phương pháp để đánh giá CLCS của người bệnh như:
- Người bệnh tự đánh giá;
- Đánh giá thay thế qua người thân chăm sóc;
- Quan sát và phỏng vấn trực tiếp các hành vi và hoạt động liên quanđến chất lượng cuộc sống [36]
1.4.2 Công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở người bệnh chấn thương tủy sống
Có rất nhiều các bộ công cụ đánh giá CLCS ở người bệnh CTTS và cóthể rất khác nhau về các lĩnh vực đánh giá Smith và cộng sự (2015) sử dụngcông cụ đánh giá CLCS ở NB CTTS thông qua FIQL (fecal incontinencequality of life) để xác định mức độ của rò rỉ phân ngoài ý muốn ảnh hưởngđến CLCS của người bệnh CTTS [37] Bochkezanian và cộng sự (2015) đánhgiá CLCS ở người bệnh CTTS thông qua mức độ độc lập [38] CushmanDaniel M và cộng sự (2015) đã đánh giá các khía cạnh trong CLCS của ngườibệnh CTTS bao gồm hoạt động giải trí, quan hệ xã hội, hạnh phúc, công việc
có ý nghĩa, đời sống tình dục và CLCS nói chung [39] Tulsky David S vàcộng sự (2015) đã sử dụng bộ công cụ SCI-QoL (Spinal cord injury-Quality
of Life) để đánh giá CLCS của NB CTTS thông qua tình trạng sức khỏe [40]
Các tiêu chí của bộ công cụ đánh giá CLCS cho người bệnh CTTSđược lựa chọn để phản ánh các lĩnh vực làm ảnh hưởng đến CLCS của NB
Có nhiều công cụ đánh giá khách quan CLCS, tuy nhiên chưa có một bộ công
cụ nào đánh giá đầy đủ các khía cạnh ảnh hưởng đến CLCS của NB CTTS.Đối với NB CTTS đang điều trị tại bệnh viện, chúng tôi tập trung đánh giá hai
Trang 21khía cạnh chính làm ảnh hưởng nhiều nhất đến CLCS của NB là khả năng độclập trong sinh hoạt và mức độ đau Tương ứng với từng khía cạnh trên chúngtôi sử dụng các bộ công cụ phù hợp để thu thập thông tin NB thông qua cácthang điểm SCIM, VAS Các bộ công cụ này đã được hiệp hội tổn thương tủysống thế giới khuyến cáo sử dụng cho đánh giá trên NB CTTS trên toàn thếgiới Các thang điểm này đã được dịch sang nhiều thứ tiếng và áp dụng rộngrãi ở các nước và là bộ công cụ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới đểđánh giá khả năng độc lập của người bệnh CTTS như Hy Lạp [41], Tây BanNha [42], Thụy Điển [43], Hoa Kỳ [44], Thổ Nhĩ Kỳ [45] được chứng minh
có độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu Ở Việt Nam,
bộ công cụ SCIM đã được dịch ra phiên bản tiếng việt, được thử nghiệm,chỉnh sửa để phù hợp với văn phong tiếng Việt cho dễ hiểu hơn và đã được sửdụng thường quy để đánh giá khả năng độc lập của NB sau CTTS tại Trungtâm PHCN bệnh viện Bạch Mai từ năm 2008 và đưa vào quy trình kỹ thuậtcủa chuyên ngành Thang điểm đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìnVAS, đã được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực chuyên khoa y học có
độ tin cậy và có tính giá trị cao [46], [47], [48], [49], [50] Như vậy, thangcông cụ SCIM, VAS nhằm đánh giá chuyên biệt những khía cạnh lớn làm ảnhhưởng đến CLCS của NB CTTS
Bên cạnh đó, có những bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống được
áp dụng chung, phổ biến trên người bệnh với tính chất đánh giá tổng thể: nhưsức khỏe thể chất, tinh thần, xã hội, tài chính… Ví dụ như bộ câu hỏi SF-36,EQ-5D-5L hay EORTC QLQ-C30
Đặc biệt EORTC QLQ-C30, hiện nay đã trở thành một công cụ tiêuchuẩn để đo CLCS liên quan đến sức khỏe ở người bệnh dưới mọi hình thức,bao gồm 30 câu với các thang điểm đánh giá về chức năng, triệu chứng, tácđộng tài chính và tình trạng sức khỏe tổng quát [51]
Trang 22Do vậy trong nghiên cứu này, để đánh giá chất lượng cuộc sống củangười bệnh CTTS một cách chung nhất chúng tôi lựa chọn bộ công cụ SCIM,VAS và EORTC QLQ-C30.
* Bộ công cụ đánh giá khả năng độc lập sau chấn thương tủy sống SCIM (Spinal Cord Independence Measure)
Thang điểm SCIM đánh giá các lĩnh vực: khả năng tự chăm sóc, chứcnăng hô hấp và kiểm soát cơ tròn, khả năng di chuyển trong phòng và nhà vệ
sinh, khả năng di chuyển ở trong nhà và bên ngoài (chi tiết xin xem trong phần phụ lục 1).
Câu trả lời dựa trên 2 mức độ của thang điểm: 1 = không tốt (0-60điểm), 2 = tốt (61-100 điểm) Tổng điểm SCIM nằm trong khoảng từ 0 đến
100 với điểm số cao hơn tương ứng với khả năng độc lập tốt hơn
Đây là bảng công cụ phản ánh khá toàn diện những yếu tố liên quanđến khả năng độc lập của NB sau CTTS Hơn nữa với cấu trúc khá đơn giản,
dễ hiểu sẽ giúp cho việc sử dụng đánh giá chính xác hơn các chức năng của
NB Chính với những ưu điểm vậy, Hiệp hội tổn thương tủy sống đã áp dụng
và khuyến cáo sử dụng cho việc đánh giá sự độc lập của NB sau CTTS.Thang điểm SCIM hoàn toàn đáp ứng được tính chính xác, khánh quan và đầy
đủ thông tin của nhà nghiên cứu [52]
* Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS (Visual Analogue Scale)
Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS là bộ công cụđược sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để đo lường mức độ đau của NB[53] Bộ công cụ VAS được chứng minh có độ tin cậy cao và đã được sửdụng trong rất nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước Mức độ đau tươngứng với thang điểm: VAS = 0 điểm: Không đau; VAS ≤ 3 điểm: Đau nhẹ;VAS từ 4- 6 điểm: Đau trung bình; VAS ≥ 7 điểm: Đau nhiều
(Chi tiết xin xem trong phần phụ lục 1).
Trang 23- Đánh giá tác động tài chính: 1 câu.
- Đánh giá tình trạng sức khỏe tổng quát: 2 câu
(Chi tiết xin xem trong phần phụ lục 1).
1.5 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống và vai trò của nhân viên y tế trong hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh
1.5.1 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống
1.5.1.1 Trên thế giới
- PH Smith và RM Decter (2015) sử dụng bộ công cụ đánh giá CLCScủa người bệnh sau CTTS (FIQL) để xác định mức độ rò rỉ phân ngoài ýmuốn ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh Điểm CLCS (FIQL) được thểhiện ở 4 lĩnh vực: cách sống, cách ứng phó, sự buồn chán/tự nhận thức hay sựxấu hổ Bộ câu hỏi được phát trước và sau phẫu thuật Sử dụng T-test để sosánh trước và sau phẫu thuật Kết quả cho thấy từ 2003-2010, nghiên cứuđược thực hiện trên 17 người bệnh CTTS, bao gồm 10 NB liệt 2 chân và 7
NB liệt tứ chi có thời gian trung bình là 33 năm sau phẫu thuật Có tới 85%người bệnh CTTS trải qua các mức độ của táo bón nặng, việc điều trị ban đầucủa táo bón liên quan đến thần kinh ruột, rối loạn chức năng nói chung baogồm sự kết hợp của phương pháp điều trị đường uống, thuốc đạn và dung dịchthụt tháo, phương pháp điều trị này có lợi ích là không xâm lấn (FIQL) là bộ
Trang 24công cụ đáng tin cậy và hợp lệ để đo CLCS liên quan đến không kiểm soátphân Hơn nữa, khi phân tích tính cho thấy mối tương quan của (FIQL) phùhợp với bộ công cụ đánh giá CLCS toàn cầu SF-36, và nó đã được sử dụngrộng rãi trong các nghiên cứu về CLCS ở NB CTTS [37].
- V Bochkezanian, J Raymond, de Oliveira và cộng sự (2015) dùng kếthợp bài tập aerobic và những bài tập tăng sức mạnh theo vòng tròn đối với
NB CTTS Chất lượng cuộc sống của người bệnh sau CTTS được đánh giáthông qua khả năng độc lập với việc sử dụng thang PEDro (PhysiotherapyEvidence Database); nghiên cứu thực nghiệm bởi hai nhà nghiên cứu khácnhau Kết quả: Nghiên cứu phân tích 7981 NB, trong đó 9 thử nghiệm đạt tiêuchuẩn lựa chọn Từ 9 thử nghiệm trên, 7 cho kết quả của việc tập aerobic, và
2 trong số đó cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê 5 nghiên cứu cho kếtquả tăng sức mạnh cơ, 4 trong số đó có kết quả có ý nghĩa thống kê 2 nghiêncứu khác xem xét chất lượng cuộc sống và 1 trong 2 nghiên cứu cho thấy sựkhác nhau có ý nghĩa giữa các nhóm Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi có sự canthiệp tập thể dục kết hợp NB sẽ có sự suy yếu về thể chất do đó nó ảnh hưởngđến khả năng tập thể dục, dẫn đến CLCS ở những NB CTTS giảm theo [38]
- D M Cushman, K Thomas, D Mukherjee (2015) đã sử dụng bảngcâu hỏi điều tra của các bác sĩ PM&R (Physical Medicine and Rehabilitation)
và EM (Emergency Medicine) Người tham gia nghiên cứu là các bác sĩ cóchứng chỉ thuộc Hiệp hội PHCN Mỹ và giảng viên tại các trường đại học Ykhoa của Mỹ và Canada Nghiên cứu nhằm đánh giá các khía cạnh trongCLCS của người bệnh CTTS bao gồm hoạt động giải trí, quan hệ xã hội, hạnhphúc, công việc có ý nghĩa, đời sống tình dục và CLCS nói chung Kết quảcho thấy trong tổng số 91 bác sĩ cấp cứu và 89 bác sĩ PHCN được hỏi, thì sốlượng bác sĩ PHCN nhiều hơn so với bác sĩ cấp cứu cho rằng NB sẽ có CLCStốt hơn không kể đến mức độ chấn thương hay khía cạnh cuộc sống nào đượcnói đến (p<0.01) Bác sĩ nữ, không kể đến chuyên ngành, chọn mức thấp hơn
Trang 25cho câu hỏi liệu người bệnh có muốn kết thúc cuộc sống nếu bị CTTS không(p = 0.03) Cả hai nhóm bác sĩ đều có xu hướng không đồng ý với nhận địnhmức độ chấn thương thấp hơn thì cho CLCS cao hơn Thái độ của bác sĩ cótác động đáng kể trong chăm sóc sức khỏe cho người bệnh [39]
- Kelly E Ravenek và cộng sự (2012) thực hiện một nghiên cứu tổngquan có hệ thống sử dụng dữ liệu từ PubMed và CINAHL để tìm hiểu cácnghiên cứu sử dụng công cụ đo lường CLCS và đánh giá hiệu quả của hoạtđộng thể chất hay sử dụng hoạt động thể chất để xác định mối liên hệ giữahoạt động thể chất và CLCS Kết quả cho thấy, trong 13 nghiên cứu có 9 công
cụ đo CLCS được sử dụng Hai bộ công cụ đánh giá khách quan (SF-36) vàQWB (Quality of Well-being) Bảy công cụ đánh giá chủ quan: (1) tự đánhgiá CLCS PqoL (Perceived Quality of Life), (2) thang điểm thỏa mãn cuộcsống SWLS (Satisfaction with Life Scale), (3) chỉ số CLCS của NB CTTS -phiên bản III, (4) thang thỏa mãn cuộc LISAT (Life Satisfaction), (5) phảnhồi chất lượng cuộc sống, (6) hồ sơ chất lượng cuộc sống: Phiên bản chongười khuyết tật thể chất và giác quan QOLP-PSD (Quality of Life Profile -Physical and Sensory Disabilities Version) và (7) CLCS theo đánh giá chủquan SQOL (Subjective Quality of Life) [54]
- Nghiên cứu phân tích các công cụ cho thông tin về CLCS liên quanđến sức khỏe HRQoL (Health-related quality-of-life), bao gồm Bản điều trangắn (SF-36), Bản điều tra ngắn 36 dành cho cựu chiến binh (SF-36V), Bảnđiều tra ngắn 12 (SF-12), Bản điều tra ngắn 6 dành cho người khuyết tật (SF-6D), Hồ sơ ảnh hưởng của bệnh thật (SIP-68), Bảng tự đánh giá CLCS(QWB-SA), Qualiveen và Công cụ NB tự đánh giá ảnh hưởng của co cứng(PRISM) Trong số 22 bài báo với 8 công cụ đánh giá CLCS liên quan đếnsức khỏe của người bệnh cho thấy người bệnh CTTS có CLCS kém hơn nhiều
so với dân số nói chung, đặc biệt là về thể chất [55]
Trang 261.5.1.2 Tại Việt Nam
Tác giả Hà Thị Thúy (2011) nghiên cứu trên 33 NB CTTS tại trung tâmPHCN Bệnh viện Bạch Mai bằng bộ câu hỏi đánh giá CLCS (EQ-ED-5L) và
bộ câu hỏi đánh giá độc lập chức năng (SCIM) Kết quả sau 1 tháng điểm trungbình CLCS của NB tăng rõ rệt từ 1,88±1,86 lên 4,12±1,80 Có 29 NB có sự cảithiện điểm CLCS chiếm 87,9%; 3 NB giữ nguyên chiếm 9,1%; có 1 NB cóđiểm CLCS giảm đi chiếm 3,0% (p<0,05) Khả năng hoạt động độc lập SCIMcủa NB tốt giúp cho CLCS cải thiện đáng kể (p<0,05) [56]
Đỗ Đào Vũ (2014) Đánh giá kết quả PHCN bàng quang thần kinh sauCTTS Phương pháp tiến cứu can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng trên 68 NB
có bàng quang thần kinh tăng hoạt do CTTS Những NB này được hỏi bệnh,khám lâm sàng, cận lâm sàng, thăm dò niệu động học để chẩn đoán xác định
và điều trị bằng hai phương pháp: nhóm nghiên cứu tiêm Botox 200 đơn vịvào thành bàng quang, nhóm chứng uống Driptan 20mg/24 giờ NB được theodõi sau 4 tuần, 12 tuần và 24 tuần tại Trung tâm PHCN Bệnh viện Bạch Mai.Kết quả nghiên cứu cho thấy CLCS, mức độ hài lòng của NB có sự cải thiệntại các thời điểm tái khám so với trước điều trị (p<0,05) Nhóm nghiên cứucải thiện tốt hơn hẳn so với nhóm chứng (UDI-6 cải thiện 2-3 điểm; IqoL cảithiện 20 điểm; VAS cải thiện 1-2 điểm) (p<0,05) [57]
Đỗ Thị Ngọc Anh (2015) đánh giá CLCS của NB CTTS giai đoạn táihòa nhập cộng đồng Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 NB CTTS, kết quả
có hơn một nửa số NB có CLCS ở mức thấp chiếm 53,3%; CLCS ở mức caochiếm 23,3%; mức trung bình chiếm 16,7%; mức rất thấp chiếm 6,7% vàkhông có NB nào có CLCS ở mức cao Có 93,3% các NB có tình trạngđau/khó chịu các mức độ từ nhẹ đến nặng, chỉ có 6,7% số NB là khôngđau/khó chịu [58]
Nguyễn Anh Tú (2017) nghiên cứu CLCS của NB sau CTTS và yếu tốảnh hưởng trên 65 NB tại Trung tâm PHCN Bệnh viện Bạch Mai thông qua
Trang 27đánh giá khả năng độc lập và mức độ đau Kết quả: NB sau CTTS có CLCSkhông tốt chiếm tỷ lệ khá cao 76,9%, mức độ tổn thương và vị trí tổn thươngtủy sống có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với CLCS của NB, cụ thểnhững NB có mức độ tổn thương liệt tủy hoàn toàn (ASIA – A) có xu hướngcảm nhận CLCS không tốt cao gấp 10,13 lần so với nhóm NB tổn thươngliệt tủy không hoàn toàn (ASIA – B – D), những NB bị liệt tứ chi (tổn thương
từ D1 trở lên) có xu hướng cảm nhận CLCS không tốt cao gấp 8,58 lần so vớinhóm NB bị liệt 2 chân (tổn thương D1 trở xuống) [59]
Tác giả Vũ Thị Tâm nghiên cứu trên 28 NB CTTS tại Bệnh viện TWThái Nguyên năm 2018, sử dụng bộ công cụ EQ-ED-5L, kết quả cho thấyCLCS trước can thiệp ở mức độ thấp chiếm 53,6%; mức rất thấp chiếm32,1% Sau can thiệp (phục hồi chức năng) 1 tháng CLCS ở mức trung bìnhchiếm 60,7%, mức thấp và rất thấp chiếm 28,6%, mức cao chiếm 10,7 (sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001) [60]
Qua tìm hiểu các nghiên cứu trong nước và ngoài nước, chúng tôi nhậnthấy vấn đề CLCS dần được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, số lượng cácnghiên cứu còn hạn chế, đặc biệt các nghiên cứu trong nước trên đối tượngsau CTTS Do vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này, sử dụng kết quả thuđược để mô tả thực trạng CLCS và tìm hiểu nhu cầu của NB CTTS, từ đó đưa
ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc và điều trị cho nhómđối tượng NB CTTS ngày một gia tăng tại Việt Nam nói chung và tỉnh Sơn
Trang 28Gunningberg L và Carlsson M (năm 2006) cho thấy: khoảng 20% NB chobiết họ không thấy hiệu quả của việc giảm đau, hơn 20% NB cho rằng điềudưỡng viên không quan tâm đến tình hình cuộc sống của họ và họ cũng khôngnhận được những thông tin hữu ích từ điều dưỡng viên về cách tự chăm sócbản thân Nghiên cứu này cho thấy để tăng cường chất lượng dịch vụ chămsóc sức khỏe tại bệnh viện thì cần thực hiện thường xuyên việc đánh giá kiếnthức và chất lượng chăm sóc của điều dưỡng viên thông qua việc đánh giánhận thức của điều dưỡng viên và thăm dò ý kiến phản hồi từ NB [61].
Theo nghiên cứu của Van den Berg-Emons RJ, thời gian của các hoạtđộng năng động và cường độ hoạt động hàng ngày tăng lên trong quá trìnhPHCN nội trú với tỷ lệ tương ứng là 41% và 19% Ngay sau khi xuất viện, đã
có sự sụt giảm mạnh trong thời gian hoạt động năng động Mức độ tổn thương
và vị trí của tổn thương là yếu tố quyết định sự thay đổi mức độ hoạt động thểchất sau khi xuất viện [62] Do vậy thực hành tư vấn cho NB sau khi ra viện
là rất quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả phục hồi của người bệnh CTTS
Theo một nghiên cứu ở Trung tâmPHCN Hoensbroeck [63], các vấn
đề điều dưỡng thường gặp trong chăm sóc NB CTTS là: hạn chế hoạt độngsinh hoạt hàng ngày, giải đáp các thắc mắc của NB, giúp NB đối phó với cáckhuyết tật, đau, chăm sóc bàng quang, tiểu tiện
Một nghiên cứu ở Thụy Điển chỉ ra rằng vai trò của điều dưỡng trong
tư vấn, chăm sóc có mối tương quan với kết quả phục hồi của NB Công tác
tư vấn của điều dưỡng cho NB trong thời gian PHCN sẽ ảnh hưởng đến kếtquả phục hồi và CLCS của người bệnh sau khi xuất viện [64] Nghiên cứu củaCushman Daniel M và cộng sự (2015) cũng cho thấy rằng thái độ của bác sĩ
có tác động đáng kể trong chăm sóc sức khỏe của người bệnh [39]
Việc cung cấp dịch vụ CS, PHCN cho những NB CTTS đòi hỏi kiến thức và kỹ năng của một nhóm NYVT đa chuyên ngành, nhằm đáp ứng nhucầu chăm sóc sức khỏe của NB một cách toàn diện, hỗ trợ NB phát triển khảnăng của bản thân và ngăn ngừa các biến chứng Nhiệm vụ của NVYT sẽ
Trang 29được thực hiện tốt khi họ có kiến thức sâu sắc về bệnh tật Theo nghiên cứucủa Gerhart KA và cộng sự thì kiến thức và thái độ của NVYT có ảnh hưởngđến dịch vụ chăm sóc mà họ cung cấp, đồng thời ảnh hưởng đến CLCS của
NB trong quá trình điều trị [65]
1.5.2.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về vai trò của NVYT nóichung hay cụ thể là kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT trong chăm sóc,phục hồi chức năng cho người bệnh, như:
Nghiên cứu “Thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng qua nhậnxét của NB điều trị nội trú, tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương năm2011” của tác giả Bùi Thị Bích Ngà cho thấy công tác hướng dẫn NB luyệntập PHCN trong và sau quá trình điều trị chỉ đạt khoảng 50% [66]
Nghiên cứu của Diêm Thị Chung về đáp ứng của điều dưỡng khi chămsóc NB bị đột quỵ giai đoạn cấp cho thấy điều dưỡng viên đáp ứng về nộidung CS ăn uống, phòng ngừa loét, táo bón và CS đường tiểu, bàng quangcòn ở mức chưa cao 61,9% NB được đáp ứng đầy đủ nhu cầu hướng dẫn cho
ăn qua thông, 38,5% NB không được hướng dẫn cách ăn để tránh sặc [67]
Theo nghiên cứu của Đỗ Đào Vũ về kiến thức của điều dưỡng viên trongchăm sóc người bệnh đột quỵ năm 2012, 85,7% điều dưỡng viên có kiến thứcđạt về chăm sóc PHCN cho NB ở đột quỵ giai đoạn cấp 100% điều đưỡngviên có kiến thức đúng về CS ăn uống và tầm quan trọng của CS NB 55,4%điều dưỡng viên trả lời đúng về tổn thương thứ cấp [68] Theo Nguyễn Thị HảiYến, khả năng đáp ứng của NVYT tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc trongviệc CS và PHCN cho người bệnh đột quỵ giai đoạn cấp ở mức cao trên 90%[69]
Qua một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy vấn đề vềvai trò của NVYT trong hỗ trợ cải thiện CLCS cho NB thể hiện qua kiến thức,thái độ, thực hành trong công tác CS và PHCN cho NB CTTS còn ít đượcquan tâm và chưa được thực hiện nhiều, đặc biệt là tại Việt Nam
Trang 30Do vậy, chúng tôi nhận thấy cần nghiên cứu sâu về lĩnh vực này nhằmtrả lời câu hỏi: Vai trò của NVYT ra sao trong việc góp phần nâng cao CLCScủa NB? Thông qua việc đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của NVYT,xác định khả năng đáp ứng của NVYT trong công tác CS, PHCN cho NBCTTS Sử dụng kết quả thu được để đưa ra các giải pháp tăng cường chấtlượng dịch vụ CS, PHCN tại bệnh viện, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sứckhỏe ngày càng cao của người bệnh.
1.6 Khung lý thuyết
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu thực trạng CLCScủa NB CTTS và vai trò của nhân viên y tế trong hỗ trợ NB cải thiện CLCS,chi tiết được trình bày trong hình 2.1 dưới đây
Hình 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu
Khả năng độc lập (SCIM): hô hấp
và cơ tròn; tự chăm sóc; di chuyển;
Mức độ đau (VAS): Không đau,
đau nhẹ, đau trung bình, đau nhiều
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NB CTTS
Yếu tố cá nhân
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
Kiến thức
Thái độ
Thực hành
QLQ-C30
Chức năng (thể chất, hoạt động, cảm xúc, nhận
thức, xã hội); triệu chứng (mệt mỏi, buồn
nôn/nôn; đau, mất cảm giác ngon miệng; táo
bón, tiêu chảy,khó thở, RL giấc ngủ; tác động tài
chính; sức khỏe tổng quát.
Kiến thức: CSPHCN đường
ruột, đường niệu, da, đau, tắc mạch, vận động, hô hấp, tổn thương thứ cấp, dụng cụ trợ giúp;
Thái độ: tầm quan trọng của
NVYT trong CS, PHCN;
Thực hành: của NVYT trong
tư vấn và CS&PHCN.
Đặc điểm bệnh lý
Trang 311.7 Tóm tắt về địa điểm nghiên cứu
1.7.1 Tóm tắt về tỉnh Sơn La
Sơn La là tỉnh miền núi ở phía Tây Bắc Việt Nam, có diện tích 14.125 km² Toàn tỉnh có 12 đơn vị hành chính (1 thành phố và 11 huyện) 204
xã phường Dân số 1.195.107 người mật độ 81 người/ km² Gồm 12 dân tộc,
đa phần là dân tộc Thái (chiếm 54%) Địa hình Sơn La rất phức tạp, giaothông đi lại khó khăn Vùng cao chiếm diện tích 3/5 với độ cao từ 800-1000m Do vị trí địa lý, khí hậu và đặc điểm địa hình, địa chất, nên Sơn Laluôn chịu ảnh hưởng của nhiều loại thiên tai, nhất là mưa lớn gây lũ quét vàsạt lở đất, gây thiệt hại nặng nề đến con người, tài sản, môi trường, điều kiệnsống và các hoạt động kinh tế - xã hội, đó là một trong những nguyên nhânlàm gia tăng các tai nạn gây chấn thương cột sống tại tỉnh Sơn La [70], [71]
1.7.2 Giới thiệu về Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La
Bệnh viện Phục hồi chức năng Tỉnh Sơn La tiền thân là “Viện Điềudưỡng cán bộ tỉnh” được thành lập16/9/1966 Do yêu cầu thực tiễn, trải qua 3lần đổi tên, đến ngày 24/12/2014 bệnh viện có tên mới là “Bệnh viện Phục hồichức năng tỉnh Sơn La” Trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, đếnnay Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La trở thành Bệnh viện chuyênkhoa hạng II tuyến Tỉnh, có quy mô 150 giường bệnh, với 121 cán bộ nhânviên y tế Bệnh viện có tổng số 17 khoa, phòng với chuyên ngành gồm: vật lýtrị liệu, vận động trị liệu, hoạt động trị liệu, âm ngữ trị liệu,YHCT, xưởngchỉnh hình có 1 đơn vị điều trị tủy sống được thành lập từ năm 2010
Số giường bệnh theo kế hoạch được giao năm 2018 là 150 giườngbệnh, tuy nhiên số giường thực kê của Bệnh viện lên đến 367 giường bệnh.Theo Báo cáo của Bệnh viện Phục hồi chức năng Sơn La, công suất sử dụnggiường bệnh trong 2 năm 2016 và 2017 đều ở mức cao (khoảng 160%) Tổng
số lượt khám bệnh mỗi năm trung bình khoảng 4 nghìn lượt, số lượt điều trịnội trú khoảng hơn 3 nghìn lượt, điều trị phục hồi chức năng ban ngày khoảng
Trang 321 nghìn lượt/năm.Số lượng người bệnh đến điều trị tại bệnh viện tăng dần quacác năm, đặc biệt là đối tượng người bệnh CTTS [72], [73].
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tại bệnh viện đưa ra những bằngchứng khoa học đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnhCTTS và vai trò của NVYT trong chăm sóc, PHCN cho người bệnh nhằmnâng cao chất lượng cuộc sống Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nàynhằm đề xuất được những khuyến nghị toàn diện và đồng bộ hơn, góp phầnnâng cao hiệu quả chăm sóc PHCN của NVYT cho NB CTTS tại bệnh việnPHCN tỉnh Sơn La nói riêng và các bệnh viện trong hệ thống nói chung
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là người bệnh CTTS: đang điều trị tại Bệnh
viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La; với các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừnhư sau:
+ Tiêu chuẩn lựa chọn:
Người bệnh sau chấn thương tủy sống,
Tuổi từ 18 tuổi trở lên;
Điều trị tại Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La tối thiểu 1 tháng,giao tiếp được; đồng ý tham gia đầy đủ quá trình nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn loại trừ:
Người bệnh có các bệnh lý bẩm sinh hoặc mắc phải ở tứ chi hoặchai chi dưới gây ảnh hưởng đến vận động;
Người bệnh có liệt không do chấn thương cột sống: như u tủy, viêmtủy cắt ngang, tai biến mạch máu não, chấn thương sọ não, gãy xương chi…
- Đối tượng nghiên cứu là nhân viên y tế: (bác sỹ, điều dưỡng, kỹ
thuật viên) đang làm việc tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Tỉnh Sơn La; vớicác tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ như sau:
+ Tiêu chuẩn lựa chọn:
Nhân viên y tế trực tiếp thực hiện công tác khám chữa bệnh
Đồng ý tham gia đầy đủ quá trình nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn loại trừ:
Nhân viên y tế không có mặt tại thời điểm nghiên cứu
Trang 342.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
2.2.2 Xác định cỡ mẫu, cách chọn mẫu
- Chọn toàn bộ số người bệnh đủ tiêu chuẩn lựa chọn đang điều trị tạiBệnh viện Phục hồi chức năng Tỉnh Sơn La từ tháng 8/2018 đến tháng12/2018 Có 100 trong tổng số 104 người bệnh được phỏng vấn (chiếm96,2%) người bệnh đủ tiêu chuẩn, được khám và lượng giá đầy đủ
- Chọn toàn bộ số nhân viên y tế đủ tiêu chuẩn lựa chọn đang làm việctại Bệnh viện Phục hồi chức năng Tỉnh Sơn La trong thời gian từ tháng8/2018 đến tháng 12/2018 Có 80 trong tổng số 87 nhân viên y tế của bệnhviện (chiếm 92%) NVYT đủ tiêu chuẩn được phỏng vấn
2.2.3 Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 07/2018 đến 5/2019
- Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018
2.2.4 Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Phục hồi chức năng Tỉnh Sơn La
2.2.5 Bô công cụ thu thập số liệu
2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu của mục tiêu 1
- Phần hành chính: Thông tin chung của người bệnh: tuổi, giới tính, tình
trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp trước CTTS, nghề nghiệp hiệntại, điều kiện kinh tế, nguyên nhân chấn thương, mức độ tổn thương, vị trí tổnthương, biện pháp can thiệp sau chấn thương, thời gian bị bệnh
- Đánh giá khả năng độc lập của người bệnh sau CTTS (SCIM) (chi tiết xin xem trong phần phụ lục 1) Sử dụng bộ câu hỏi đánh khả năng độc lập của
NB sau CTTS (SCIM) đã được đưa vào quy trình của ngành và đang được sửdụng thường quy tại các đơn vị Phục hồi chức năng trong cả nước
Trang 35- Cách đánh giá khả năng độc lập của người bệnh sau CTTS (SCIM) nhưsau [74].
+ Phỏng vấn NB về các hoạt động tự chăm sóc bản thân thông qua 4câu hỏi: ăn (0-4 điểm), tắm rửa thân trên (0-3 điểm) và thân dưới (0-3 điểm),mặc quần (0-3 điểm), mặc áo (0-3 điểm), vệ sinh vùng đầu mặt (0-4 điểm).Sau khi hỏi xong 4 câu hỏi ta cộng tổng điểm lại, tổng điểm phần này daođộng trong khoảng (0-20 điểm)
+ Phỏng vấn NB thông qua 4 câu hỏi liên quan đến rối loạn chức năng
hô hấp, chức năng đại tiểu tiện: hô hấp chia 6 mức (0-10 điểm), rối loạn tiểutiện chia làm 5 mức (0-15 điểm), rối loạn đại tiên chia 3 mức (0-5-10 điểm),
đi vệ sinh chia 6 mức (0-5 điểm) Sau khi hỏi xong 4 câu hỏi ta cộng tổngđiểm lại, tổng điểm phần này dao động trong khoảng (0-40 điểm)
+ Phỏng vấn NB về khả năng di chuyển trong phòng và tại bồn cầuthông qua 3 câu hỏi: khả năng di chuyển trên giường để phòng ngừa loét do tỳ
đè chia 7 mức độ từ (0-6 điểm), di chuyển từ giường ra xe lăn và ngược lạichia 3 mức độ (0-2 điểm), di chuyển từ xe lăn ra bồn cầu, bồn tắm và ngượclại chia làm 3 mức độ (0-2 điểm) Sau khi hỏi xong 3 câu hỏi ta cộng tổngđiểm lại, tổng điểm của phần này dao động trong khoảng (0-10 điểm)
+ Phỏng vấn NB về khả năng di chuyển ở trong nhà và ngoài nhà thôngqua 5 câu hỏi: di chuyển trong nhà chia 9 mức (0-8 điểm), di chuyển vớikhoảng cách vừa phải 10-100 mét được chia làm 9 mức (0-8 điểm), di chuyểnbên ngoài nhà trên 100 mét được chia làm 9 mức (từ 0-8 điểm), đi thang bộchia làm 4 mức (0-3 điểm), di chuyển từ xe lăn vào ô tô (xe máy) và ngược lạiđược chia làm 4 mức (0-3 điểm) Sau khi hỏi xong 5 câu hỏi ta cộng tổngđiểm lại, tổng điểm của phần này dao động trong khoảng (0-30 điểm)
Sau đó cộng điểm của 4 phần lại ta có điểm từ 0 đến 60 là khả năngđộc lập không tốt, điểm từ 61 đến 100 là khả năng độc lập tốt
Trang 36- Đánh giá mức độ đau (VAS (chi tiết xin xem trong phần phụ lục 1): Bộ
công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS là bộ công cụ được
sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để đo lường mức độ đau của NB Bộ công
cụ VAS được chứng minh có độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong rấtnhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước
Cấu tạo thước VAS: gồm hai mặt, một mặt là hình ảnh thể hiện tìnhtrạng đau của NB, một mặt có số giao động từ 0 (không đau) đến 10 (đaunhiều) Cách đánh giá: NB so sánh mức độ đau của mình trên mặt thướckhông có số và chọn mức độ đau tương ứng Điểm NB đánh dấu sẽ tương ứngvới điểm đau trên mặt kia của thước do người đánh giá đọc Điểm đau VASđược phân loại mức độ theo Salley L Collins và cộng sự [48]
+ VAS = 0 điểm: Không đau
+ VAS ≤ 2 điểm: Đau nhẹ
+ VAS từ 3- 6 điểm: Đau trung bình
+ VAS ≥ 7 điểm: Đau nhiều
- Đánh giá chất lượng cuộc sống: EORTC QLQ-C30 là bộ câu hỏi CLCScủa Tổ chức Châu Âu, hiện đã trở thành một công cụ tiêu chuẩn để đo CLCSliên quan đến sức khỏe ở NB dưới mọi hình thức [51] QLQ-C30 phiên bản3.0 năm 1995 đã được dịch sang tiếng Việt và chuẩn hóa, sử dụng rộng rãi
Bộ câu hỏi gồm 30 câu hỏi, kết hợp 5 thang đo chức năng (thể chất, hoạtđộng, cảm xúc, nhận thức, xã hội), 8 thang đo triệu chứng (mệt mỏi, buồnnôn/nôn, đau, mất cảm giác ngon miệng, táo bón, tiêu chảy, khó thở, rối loạngiấc ngủ), 1 thang đo tác động tài chính và 1 thang đo tình trạng sức khỏetổng quát Đánh giá theo thang điểm likert với các mức khác nhau Điểm cholĩnh vực chức năng, triệu chứng, tài chính theo thang điểm 4, điểm cho sứckhỏe tổng quát theo thang điểm 7 mức độ
Trang 37- Tiếp đó, đánh giá chất lượng cuộc sống được quy đổi ra thang điểm 0-100 Điểm trong lĩnh vực chức năng và sức khỏe tổng quát càng cao thìngười bệnh có CLCS càng tốt Ngược lại, điểm trong lĩnh vực triệu chứng vàtài chính, càng thấp thì chất lượng cuộc sống càng tốt
- Để đánh giá CLCS chung của từng NB điểm lĩnh vực triệu trứng và tàichính đã được chuyển đổi ngược lại, sau đó đánh giá điểm trung bình của 30câu hỏi CLCS tốt nếu điểm trung bình ≥ 50 điểm, không tốt nếu điểm trungbình <50 điểm (thang điểm 100)
(Cụ thể cách tính điểm cho thang điểm QLQ-30 xem trong Phụ lục 4.)
2.2.5.2 Công cụ nghiên cứu mục tiêu 2: Kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế trong hỗ trợ cải thiện CLCS cho người bệnh CTTS.
Bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp đánh giá vai trò của nhân viên y tế trong
hỗ trợ người bệnh được xây dựng dựa trên quyết định số 3109/QĐ-BYT [75],ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị chuyên nghànhphục hồi chức năng” và tham khảo bộ công cụ trong nghiên cứu của tác giảDiêm Thị Chung [67] Bộ câu hỏi gồm 2 phần:
- Phần I: Thông tin chung của NVYT gồm các thông tin: năm sinh, giới,dân tộc, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác
- Phần II: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT trong hỗ trợ
và chăm sóc, phục hồi chức năng NB CTTS
Cách đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT trong hỗ trợ
về chăm sóc PHCN cho NB CTTS:
Kiến thức về chăm sóc PHCN cho NB CTTS được đánh giá qua 13 nộidung kiến thức nhỏ dựa trên thông tin trả lời 20 câu hỏi trong phiếu phỏngvấn (từ câu 07 đến câu 26)
Đánh giá thái độ của NVYT thông qua hai câu hỏi về tầm quan trọng củaNVYT trong CS-PHCN và tư vấn cho người bệnh
Trang 38Đánh giá thực hành của NVYT qua mức độ tự tin khi thực hiện các kỹnăng CS, PHCN; các nội dung NVYT đã thực hiện trong CS-PHCN và tư vấncho NB CTTS.
- Nghiên cứu sử dụng thang điểm để chấm điểm cho từng câu
- Với câu hỏi nhiều lựa chọn, điểm được chấm tương đương giữa các ýtrả lời đúng Nếu NVYT trả lời được từ 2/3 số phương án đúng trở lên sẽđược đánh giá là đạt Nếu dưới mức quy ước này sẽ là không đạt
- Với câu hỏi chỉ có một phương án trả lời, NVYT được đánh giá là đạtnếu chọn được ý đúng, chọn các phương án khác sẽ là không đạt
- Với nội dung kiến thức được đánh giá bằng nhiều câu hỏi, NVYT đượcđánh giá là đạt kiến thức về nội dung đó nếu 100% các câu hỏi đều đạt
- Điểm kiến thức chung bằng tổng điểm của tất cả các câu hỏi (25 câu),với mức điểm tối đa là 88 điểm Kiến thức được đánh giá ở mức đạt nếu điểmkiến thức chung ≥66 điểm; điểm thấp hơn sẽ đánh giá là chưa đạt
- Cách tính điểm cho từng ý trả lời, theo từng câu hỏi đánh giá kiến thức,thái độ, thực hành chi tiết trình bày trong phụ lục 5
2.2.6 Phương pháp thu thập số liệu
- Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người bệnh CTTS
Dựa vào bệnh án thu thập các thông tin chung của NB (tuổi, giới tính,dân tộc, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn nghề nghiệp, điều kiện kinh tế,mức độ tổn thương, vị trí tổn thương, nguyên nhân CTTS, thời gian bị bệnh,phương pháp điều trị trước khi đến Bệnh viện Phục hồi chức năng)
Bước 1: Liên hệ và được sự đồng ý của Giám đốc Bệnh viện cho phéptới khoa phòng để thu thập số liệu
Bước 2: Phối hợp và nêu công việc cụ thể để thu thập với điều tra viên
là Kĩ thuật viên Đại học hiện đang làm bệnh viện Phục hồi chức năng Sơn La
Trang 39Bước 3: Tiến hành thu thập số liệu cho các bộ công cụ SCIM, VAS vàEORTCQLQ-C30 trong khoảng thời gian từ 08/2018 đến 12/2018, địa điểm
tổ chức phỏng vấn là tại buồng bệnh nơi người bệnh điều trị
- Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế:
Bước 1: Lập danh sách NVYT đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn
Bước 2: Tổ chức thu thập số liệu trên 10 NVYT (điều tra thử) thông qua
bộ câu hỏi đã thiết kế và hoàn chỉnh tại các khoa trong bệnh viện
Bước 3: Tiến hành điều tra chính thức: các đối tượng nghiên cứu đượcthông báo mục đích và nội dung chính của nghiên cứu và giải thích rõ cácthắc mắc khi tham gia nghiên cứu Điều tra viên (học viên) sử dụng bộ câuhỏi, phỏng vấn trực tiếp NVYT tại phòng hành chính của khoa và ghi thôngtin trả lời vào phiếu
2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu
2.3.1 Nhóm biến số và chỉ số về đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu:
Người bệnh: Đặc điểm cá nhân: Tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn,nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, điệu kiện kinh tế Đặc điểm bệnh lý: Nguyênnhân, mức độ, vị trí tổn thương, phương pháp điều trị, thời gian bị bệnh
Nhân viên y tế: Tuổi, giới, nghề nghiệp, dân tộc, trình độ chuyên môn,thâm niên công tác công tác
2.3.2 Nhóm biến số và chỉ số của mục tiêu 1: Chất lượng cuộc sống của người bệnh CTTS
Các biến số về khả năng độc lập theo thang điểm SCIM: Bao gồm cácbiến số đó là: ăn, tắm, mặc quần áo, vệ sinh vùng đầu mặt, hô hấp, cơ thắtbàng quang, cơ thắt hậu môn, đi vệ sinh, di chuyển trên giường và hoạt động
để tránh loét tì đè, dịch chuyển từ giường ra xe lăn và ngược lại, dịch chuyển
từ xe lăn ra bồn cầu, bồn tắm, di chuyển trong nhà, di chuyển khoảng cáchvừa phải, di chuyển bên ngoài (hơn 100m), đi thang bộ, dịch chuyển từ xe lăn
ra xe hơi/xe máy
Trang 40 Các biến số về mức độ đau theo thang điểm VAS: không đau, đaunhẹ, đau trung bình, đau rất nhiều.
Các biến số về chất lượng cuộc sống của người bệnh CTTS theo EORTCQLQ-C30: chức năng (thể chất, hoạt động, cảm xúc, nhận thức, xã hội), triệuchứng (mệt mỏi, buồn nôn/nôn, đau, mất cảm giác ngon miệng, táo bón, tiêuchảy, khó thở, rối loạn giấc ngủ), tác động tài chính và sức khỏe tổng quát
(Chi tiết xem trong phụ lục 3).
2.3.3 Nhóm biến số và chỉ số của mục tiêu 2: Kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên y tế trong hỗ trợ cải thiện CLCS cho NB CTTS.
Kiến thức của NVYT: Nhân viên y tế có kiến thức thức đạt theo từngnội dung CS và PHCN: các giai đoạn CS, PHCN, các nội dung CS trong giaiđoạn cấp tính, nội dung CS trong giai đoạn phục hồi, CS đường ruột, CS da,đường tiết niệu, phòng ngừa tắc mạch, tổn thương thứ cấp, vận động, PHCNsinh hoạt hàng ngày, sử dụng dụng cụ trợ giúp, PHCN hô hấp, phối hợp vớinhân viên khác, tái khám
Thái độ: Nhân viên y tế có thái độ tích cực trong CS, PHCN và tư vấncho người bệnh CTTS
Thực hành: mức độ tự tin NVYT khi thực hiện các nội dung CS,PHCN cho người bệnh; thực hiện các nội dung tư vấn và chăm sóc, phục hồi
chức năng (Chi tiết xem trong phụ lục 3).
2.4 Phân tích và xử lý số liệu
- Số liệu sau khi thu thập, được làm sạch, mã hóa, nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0
- Áp dụng các phương pháp phân tích mô tả: tính tỷ lệ phần trăm, giá trịtrung bình, trung vị, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, lớn nhất