1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG của BỆNH NHÂN xẹp đốt SỐNG tại BỆNH VIỆN VIỆT đức năm 2017

56 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 405,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phòng Đào tạo đại học–Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộngViện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộngHội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp bộ môn Kinh tế y tế Tôi xin cam đoan đề

Trang 1

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS PHẠM HUY TUẤN KIỆT

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình từ phía nhà trường và bệnh viện Nhân dịp hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn:

Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo đại học Viện Đào tạo Y học dự phòng

và Y tế công cộng.

Bộ môn Kinh tế y tế - Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng Ban giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức.

Khoa Phẫu thuật cột sống – Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức.

Em xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.

TS Phạm Huy Tuấn Kiệt – giảng viên bộ môn Kinh tế y tế, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng – người thầy đã tận tình bỏ nhiều thời gian

và công sức để hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo và động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.

Và cuối cùng,để đạt được kết quả học tập này, con xin gửi lời cảm ơn tới bố mẹ và người thân – những người đã sinh thành, nuôi dưỡng và chỉ bảo con thành người, đã chia sẻ và động viên những lúc con khó khăn nhất, để con có thể tiếp tục bước trên con đường con đã, đang và sẽ chọn.

Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2017

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 4

Phòng Đào tạo đại học–Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộngViện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng

Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp bộ môn Kinh tế y tế

Tôi xin cam đoan đề tài “Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân xẹp

đốt sống tại bệnh viện Việt Đức năm 2017” là do tôi thực hiện, các số liệu

trong đề tài là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố tại bất kìnghiên cứu nào

Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2017

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 6

THĐSQD: Tạo hình đốt sống qua da

WHO: Tổ chức Y tế Thế giới

VAS: Thang điểm đánh giá sức khỏe tổng quát

WHOQoL: Bộ đo lường chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế Thế giớiEQ-5D: Bộ đo lường chất lượng cuộc sống của châu Âu

QUALEFFO: Bộ đo lường chất lượng cuộc sống dành riêng cho bệnh

nhân loãng xương của châu Âu

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xẹp đốt sống (XĐS) là bệnh lý tủy sống nguy hiểm và phổ biến Bệnhthường xảy ra ở người cao tuổi do nhiều nguyên nhân khác nhau như loãngxương, chấn thương, u máu cột sống, do thuốc,… nhưng chủ yếu là do loãngxương XĐS cũng có thể gặp ở người trẻ tuổi, nguyên nhân thường là cácchấn thương Bệnh gây nên các cơn đau, có thể gây liệt, mất cảm giác,… dođốt sống bị lún và chèn vào các dây thần kinh Điều này gây ảnh hưởng lớnđến các hoạt động hàng ngày, gây giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhânmột cách đáng kể, hơn nữa còn gây ra gánh nặng kinh tế cho bệnh nhân, giađình và xã hội [1],[2],[3]

Trên thế giới, số lượng và gánh nặng bệnh tật do loãng xương nóichung và xẹp đốt sống nói riêng đã được nghiên cứu nhiều năm về trước Tỉ lệgãy xương cột sống trên thế giới là khá cao, ở châu Âu là từ 18% đến 26%,20-24% là tỉ lệ gãy cột sống ở phụ nữ da trắng trên 50 tuổi tại Bắc Mỹ, ở NhậtBản tỉ lệ này cũng lên đến 24% [4] Tỉ lệ XĐS còn tăng đến 40% ở phụ nữ 80tuổi và gia tăng tỉ lệ chết từ 19 trên 1000 người phụ nữ không bị gãy cột sốnglên đến 44 trên 1000 đối với phụ nữ gãy 5 thân đốt sống hoặc nhiều hơn [5].Ngoài ra, XĐS gây giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đáng kể và tiêutốn nhiều tiền bạc Ở Mỹ, năm 1995 đã tốn khoảng 745 triệu đô la Mỹ choviệc điều trị XĐS [6]

Trong hoàn cảnh số lượng XĐS do loãng xương cao, kèm theo chấtlượng cuộc sống của các bệnh nhân bị giảm nhiều, năm 1984 nhóm phẫuthuật của giáo sư Hervé Deramond đã thực hiện phương pháp tạo hình đốtsống qua da (THĐSQD) lần đầu tiên THĐSQD được thực hiện dưới hướngdẫn của X-Quang tăng sáng truyền hình, bệnh nhân sẽ được bơm hỗn dịch ximăng vào thân đốt sống qua da, không cần phẫu thuật, do đó hạn chế xâm lấn

Về sau này xi măng được thay thế bằng xi măng hóa học và sau đó là xi măng

Trang 10

sinh học vào năm 1993 Tại Việt Nam, kỹ thuật THĐSQD đã được thực hiệnthành công từ năm 1999 [7] Hiện nay vẫn song song thực hiện 2 phươngpháp bơm xi măng có bóng và bơm xi măng không bóng [8].

Đối với bệnh nhân XĐS, khôi phục chất lượng cuộc sống trở lại nhưtrước khi mắc bệnh là điều cực kì quan trọng Trong tình trạng XĐS ở ngườicao tuổi đang có xu hướng tăng chủ yếu do gia tăng tuổi thọ, thì tình hình vềchất lượng cuộc sống của các bệnh nhân XĐS lại càng phải được quan tâm.Bên cạnh đó, phương pháp THĐSQD đã và đang được thực hiện ở nhiềutrung tâm y tế, bệnh viện ở các thành phố lớn trên cả nước Việt Đức là bệnhviện đầu ngành về ngoại khoa, do đó kỹ thuật THĐSQD được thực hiện ở đâyrất phổ biến và là một trong những sự lựa chọn hàng đầu của bệnh nhân

Trước đây, đã có các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnhnhân XĐS tại khoa Phẫu thuật cột sống, bệnh viện Việt Đức của Đỗ ThịNhung năm 2014 [9] và Đỗ Mạnh Cường năm 2015 [10] tuy nhiên chỉ dừnglại việc mô tả chất lượng cuộc sống và mối liên quan tại một thời điểm Đồngthời, đầu năm 2015, khoa Phẫu thuật cột sống được chuyển địa điểm và mở

rộng quy mô Do đó, tôi tiến hành nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của

bệnh nhân xẹp đốt sống tại bệnh viện Việt Đức năm 2017” với các mục

tiêu sau:

1 Mô tả chất lượng cuộc sống và mức độ thay đổi của bệnh nhân xẹp đối sống trước và sau điều trị bằng bơm xi măng tại bệnh viện Việt Đức năm 2017.

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến mức độ thay đổi chất lượng cuộc sống trước và sau can thiệp của các bệnh nhân trên.

Trang 11

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Xẹp đốt sống do loãng xương

1.1.1 Định nghĩa xẹp đốt sống và loãng xương

Hiện tại chưa có định nghĩa quốc tế thống nhất cho xẹp đốt sống [11].Nhưng chủ yếu, xẹp đốt sống còn được gọi là gãy thân đốt sống được cho làtình trạng thân đốt sống bị gãy, lún xuống, gây ảnh hưởng đến chức năng củacột sống [12]

Bệnh loãng xương là một tình trạng lâm sàng đặc trưng bởi "khối lượngxương thấp và sự hủy hoại của các cấu trúc vi mô dẫn tới giảm sức xương vàtăng tính dễ bị gãy" [13]

1.1.2 Sinh bệnh học và yếu tố nguy cơ của XĐS do loãng xương

Theo Robbins SL, XĐS do loãng xương là trạng thái vi gãy xươngtrong đốt sống, do lún ép các thân đốt gây nên bởi tình trạng mất chất xương

từ từ, kín đáo

Cơ chế sinh bệnh của XĐS do loãng xương có sự tham gia của nhiềuyếu tố làm giảm mật độ xương Mật độ xương đạt được mức tối đa khi trưởngthành, trước 20 tuổi như nghiên cứu của Gilsanz và cộng sự, sự mất chấtxương sau này do lớn tuổi, sự mãn kinh và lối sống hoặc do cả hai yếu tố trên.Tốc độ mất chất xương bắt đầu từ 30 tuổi ở cả hai giới, tình trạng mất chấtxương ở bè xương dẫn đến loãng xương, trong đó có loãng xương tại các đốtsống và dẫn tới XĐS Đối với phụ nữ trên 65 tuổi, có hai yếu tố quyết định sựmất chất xương ở phần bè xương là tuổi và sự mãn kinh Mất chất xương liênquan đến mãn kinh diễn biến nhanh sau mãn kinh một thời gian ngắn, do sựgiảm Estrogen nhanh chóng theo cấp số mũ, dẫn đến khối lượng xương mấtkhoảng 20% Sau đó là thời kì mất chất xương từ từ như thời gian trước mãnkinh [2],[3]

Trang 12

Một nghiên cứu tại Mỹ năm 1989 cũng chỉ ra rằng tỉ lệ gãy cột sốngtăng theo tuổi, trong một năm có khoảng 29,6 phụ nữ dưới hoặc bằng 85 tuổimắc trên 1000 phụ nữ trong độ tuổi đó Đồng thời nghiên cứu cho thấy khảnăng gãy xương tỷ lệ nghịch với khối lượng xương, ước tính 42% phụ nữ cómật độ khoáng xương cột sống nhỏ hơn 0,6g/cm2 hấp thu bởi photon kép cógãy cột sống [14] Kết quả tương tự với một nghiên cứu ở Trung Quốc, vớimỗi mật độ xương của xương sườn giảm tăng tỉ lệ gãy xương cột sống lên 2,4lần, tỉ lệ gãy cột sống ở phụ nữ 50-59 tuổi là 5% tăng lên 37% ở phụ nữ trên

80 tuổi [15]

Ngoài yếu tố tuổi và mật độ xương nêu trên, còn có các yếu tố nguy cơkhác là di truyền, môi trường, nội tiết tố hoặc bệnh mạn tính [16] Cũng cónghiên cứu đề cập đến việc thiếu vitamin D, thiếu nhận thức đúng đắn và sựchăm sóc sức khỏe cần thiết cũng làm tăng khả năng gãy cột sống ở phụ nữchâu Á [17]

1.1.3 Phân loại XĐS

Năm 1990, Kannis và cộng sự đã phân loại XĐS làm 3 loại [2],[3]:

- Loại 1: Xẹp hình chêm là dạng hay gặp nhất, giảm chiều cao bờ trước 20%trở lên so với chiều cao bờ sau của thân đốt sống

- Loại 2: Xẹp hình lõm hai mặt trên dưới, có giảm chiều cao phần giữa thân đốtsống từ 20% trở lên so với bờ trước và sau

- Loại 3: Lún xẹp khi chiều cao toàn bộ thân đốt sống giảm từ 20% trở lên sovới đốt sống kề cận

Với mỗi loại XĐS nêu trên được đánh giá nặng nhẹ theo 3 độ [18]:

- Độ 1: giảm 20-25% chiều cao đốt sống và 10-20% diện tích đốt sống

- Độ 2: giảm 26-40% chiều cao đốt sống và 24-40% diện tích đốt sống

- Độ 3: giảm trên 40% chiều cao đốt sống và trên 40% diện tích đốt sống

Đối với XĐS do loãng xương, gãy hình chêm là loại XĐS hay gặp nhất

và thường gặp ở độ 2 Trong khi đó XĐS ở người mãn kinh thì tỉ lệ gặp XĐS

Trang 13

do gãy hình chêm và gãy nén là tương tự nhau, đồng thời độ 1 và độ 2 cũnggặp ở mức độ ngang bằng [19].

1.1.4 Triệu chứng lâm sàng của XĐS

Thông thường các triệu chứng lâm sàng của XĐS là không nhiều vàthường không được chú ý đến, các bệnh nhân chỉ đến bệnh viện khi xuất hiệncác biểu hiện cấp tính [18]

Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất trong XĐS bệnh lý là đau cộtsống Đau cột sống khu trú tại vùng tổn thương, tính chất đau dai dẳng tăngdần, bệnh nhân thường đáp ứng tốt với thuốc giảm đau [2],[3] Tuy nhiên chỉ

có dưới 1% bệnh nhân đau lưng là do XĐS [20] Ngoài đau cột sống, bệnhnhân XĐS thường có hạn chế vận động, có những trường hợp không thể ngồi,đứng dậy hay đi lại được, đặc biệt là sau khi bị chấn thương cột sống [2],[3]

So với những người bình thường, các bệnh nhân bị gãy cột sống có tỉ lệđau lưng cao hơn 2,4 lần, mất chức năng lưng cao hơn 2,6 lần; họ phải nghỉngơi tại giường ít nhất 1 ngày, giảm hoạt động ít nhất 7 ngày trong một năm

do đau lưng gây nên [21] Điều này gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộcsống của các bệnh nhân bị XĐS

Giảm chiều cao cũng thường gặp trong XĐS, với tổn thương trên nhiềuđốt sống, mức độ xẹp thường lớn Biến dạng cột sống xảy ra ở XĐS nửa trướcthân đốt sống làm cột sống thường cong ra trước, gây biến dạng cột sống,nguy cơ gù, vẹo cột sống, trượt đốt sống… Khi XĐS mức độ nặng hoặc khibệnh nhân đến muộn, có thể gây tổn thương vào tủy sống hay rễ thần kinh,dẫn đến triệu chứng chèn ép rễ, rối loạn hô hấp, thậm chí liệt hoàn toàn [2],[3] Biểu hiện giảm chiều cao cũng không phải là biểu hiện đáng tin của XĐScho đến khi chiều cao của bệnh nhân giảm trên 4cm dù bệnh nhân có XĐSthuộc loại nào chăng nữa [22]

Trang 14

1.1.5 Chẩn đoán XĐS

- Chụp X-Quang cột sống: cần thiết phải chụp cả cột sống thẳng và nghiêng đểđánh giá tình trạng cột sống Nếu như chụp X-Quang thẳng cho phép đánh giátoàn bộ cột sống thì chụp nghiêng giúp đánh giá loại và mức độ của XĐS.Trong quá trình chụp X-Quang đòi hỏi cột sống của bệnh nhân phải song songvới tấm chắn để có thể đọc kết quả một cách chính xác nhất Tuy nhiên, kếtquả cũng phụ thuộc rất lớn vào khả năng đọc phim của bác sĩ lâm sàng haybác sĩ chẩn đoán hình ảnh [23]

- Chụp cắt lớp vi tính: CT có khả năng nhận biết được XĐS tốt hơn so với Quang nhiều lần, ngoài ra trên phim chụp CT có thể đánh giá được vết gãy làlành tính hay ác tính, cấp tính hay mạn tính Tuy nhiên phương pháp này cóđiểm hạn chế do giá thành cao và vẫn có khả năng bỏ sót vết gãy, do đó đâykhông được coi là phương pháp chẩn đoán ưu tiên [18]

X Chụp cộng hưởng từ: Chụp cộng hưởng từ không chỉ giúp xác định vị tríXĐS, mà còn phản ánh tình trạng phù nề thân đốt sống Đây chính là nguyênnhân chính gây đau cho bệnh nhân, và có chỉ định THĐSQD Có nhữngtrường hợp bệnh nhân bị XĐS mà không gây phù nề thân đốt, thường do tổnthương cũ, ít gây đau lưng Ngoài ra phim cộng hưởng từ cũng cho phép đánhgiá các tổn thương phối hợp gây chèn ép tủy sống, hẹp ống sống, thoát vị đĩađệm, trượt đốt sống… [7],[8],[24],[25],[26],[27],[28]

- Phương pháp DEXA và y học hạt nhân: đây là 2 phương pháp mới được pháttriển DEXA là phương pháp đo đậm độ xương bằng tia X giúp việc chẩnđoán XĐS được dễ dàng hơn Phương pháp y học hạt nhân được sử dụng thaythế cho MRI trong trường hợp MRI không rõ hoặc chống chỉ định [18]

- Đo mật độ xương: Đây là xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân, không giúpchẩn đoán XĐS mà giúp chẩn đoán xác định bệnh nhân loãng xương, thôngqua đo mật độ khoáng trong xương [2],[29]

Bảng 1.1 Phân loại loãng xương theo WHO

Trang 15

T-score Phân loại

-1 hoặc cao hơn Bình thường

Từ -1 đến -2,5 Thiếu xương

-2,5 hoặc thấp hơn Loãng xương

-2,5 hoặc thấp hơn và có gãy xương do loãng

xương

Loãng xương nặngQuá trình THĐSQD chỉ thực hiện với bệnh nhân có T-score ≤ -2,5

1.1.6 Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt XĐS do loãng xương với XĐS do sử dụngcorticoid, do bệnh thận mạn tính, cường giáp, u xơ, ung thư di căn xương[18] Để phân biệt ngoài các xét nghiệm về chẩn đoán hình ảnh cần làm thêmcác xét nghiệm về sinh hóa, đánh giá chức năng các hệ cơ quan

Năm 1985, H Deramond, một nhà nghiên cứu điện quang thần kinhPháp cùng với Pierre Galibert, lần đầu tiên sử dụng kỹ thuật THĐSQD đểbơm xi măng vào thân đốt sống C2 bị phá hủy một phần do u máu thân đốtsống tiến triển (aggressive hemangioma) giúp giảm đau lâu dài, sau đóTHĐSQD còn được ứng dụng để điều trị các trường hợp XĐS do loãngxương [30]

Từ giữa những năm 90 ở Mỹ, các nhà điện quang học cũng đã tiến hànhTHĐSQD để điều trị thành công nhiều trường hợp XĐS thứ phát do loãng

Trang 16

xương, di căn thân đốt sống và u tủy cột sống Đến năm 2000 trên thế giới đã

có 200 trường hợp THĐSQD được báo cáo trong y văn [31]

Năm 2009, Mathew J.M và cộng sự xem xét một cách hệ thống 74 báocáo khoa học về kết quả điều trị THĐSQD từ năm 1980 đến năm 2008 [26]

Từ đó, tác giả đã có đủ bằng chứng để khẳng định THĐSQD giúp giảm đau

và phục hồi khả năng vận động nhanh chóng so với điều trị nội khoa đơnthuần, chỉ trong 3 tháng sau bơm xi măng

1.2.1.2 Tại Việt Nam

Năm 1999, với sự giúp đỡ và hợp tác của tác giả - giáo sư H.Deramond, nhóm bác sĩ điện quang can thiệp – khoa Chẩn đoán hình ảnh,Bệnh viện Bạch Mai, đứng đầu là Phó giáo sư – Tiến sĩ Phạm Minh Thông, đãtiến hành áp dụng kĩ thuật THĐSQD để điều trị thành công một số trường hợplún xẹp đốt sống do u máu tiến triển có biến chứng thần kinh [32]

Ở Việt Nam, từ tháng 8/2002 đến tháng 1/2008, Phạm Minh Thông vàcộng sự đã sử dụng THĐSQD bằng bơm xi măng hóa học để điều trị 31 bệnhnhân: 12 trường hợp xẹp đốt sống do loãng xương, 10 trường hợp u máu đốtsống, 3 trường hợp di căn đốt sống, với kết quả tốt là 66,7% [8]

Năm 2008, Nguyễn Văn Thạch và cộng sự tại khoa Phẫu thuật cộtsống, Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức đã thực hiện thành công kĩ thuậtTHĐSQD bằng bơm xi măng sinh học cho những bệnh nhân bị xẹp đốt sống

do loãng xương và chấn thương cột sống [33]

Tháng 5/2013, khoa Phẫu thuật cột sống, Bệnh viện Hữu nghị Việt –Đức phối hợp với các chuyên gia đến từ Pháp và Israel tổ chức chương trìnhphẫu thuật “Ứng dụng robot định vị chính xác trong phẫu thuật bơm xi măngsinh học thân đốt sống và chỉnh vẹo cột sống cho các bệnh nhân”

Trang 17

1.2.2 Cơ chế tác dụng

THĐSQD là thủ thuật nhằm đưa xi măng vào thân đốt sống giúp ngănngừa sự xẹp, lún của đốt sống, giúp cho đốt sống được đứng vững và giảmđau cho bệnh nhân tại các đốt sống bệnh lý [25]

XĐS là do giảm mật độ xương hay quá trình tiêu xương tạo thành cáchốc hủy xương trong thân đốt sống phản ứng trùng hợp củamethylmethacrylate monomer tạo ra một vật liệu vững chắc nằm trong cáchốc xương sẽ làm cho thân đốt sống cứng và vững chắc hơn, tạo thuận lợi choquá trình hàn gắn tự thân Độ vững của cột sống sẽ đạt mức tối đa một tuầnsau bơm Xi măng sinh học là chất gần giống với xương, phù hợp với đặc tínhsinh học, thích hợp với cơ thể sống [33],[34],[35],[36],[37],[38]

1.2.3 Phương pháp tiến hành THĐSQD

Đối với phương pháp bơm xi măng không bóng, đầu tiên bệnh nhânđược gây tê tại chỗ kết hợp với giảm đau thần kinh Sau đó sử dụng bơm tiêmchuyên dụng, dưới sự hướng dẫn của CT, tránh các dây thần kinh, cơ quan nộitạng để đưa vào vị trí mong muốn Sau khi kim đã vào được vị trí xác định,

CT được chuyển từ chế độ thường sang chế độ cản quang để theo dõi việcbơm xi măng vào thân đốt sống được chính xác Quá trình bơm xi măng sẽđược dừng lại khi có bất kì bất thường nào xảy ra hoặc khi xi măng đã được

đổ đầy vào thân đốt sống [25]

Đối với bơm xi măng có bóng, bước gây tê được thực hiện tương tựnhư với bơm xi măng không bóng, sau đó một dụng cụ rỗng được đưa vào vịtrí mong muốn Tiếp đến đưa bóng vào thân đốt sống theo dụng cụ, từ từ bơmbóng phồng lên cho đến khi nâng được xương vào vị trí bình thường Khixương đã được nâng lên vị trí mong muốn, bác sĩ tháo hơi và lấy bóng ra khỏi

vị trí đó, tại đó sẽ còn lại một khoảng trống cố định Tiếp đến xi măng đượcbơm đầy vào chỗ trống được bóng vừa tạo ra [39]

Trang 18

1.2.4 Chỉ định và chống chỉ định [6],[25],[33],[34],[35],[40]

1.2.4.1 Chỉ định

- XĐS do loãng xương ở các đốt sống lưng, thắt lưng gây đau lưng từ mức độtrung bình đến trầm trọng (dựa theo thang điểm VAS), tương ứng với vị trí tổnthương, không hoặc đáp ứng ít với điều trị nội khoa, trên MRI có hình ảnhphù nề thân đốt sống

- XĐS do chấn thương mức độ nhẹ trên bệnh nhân bị loãng xương,đốt sống vững, không hoặc có tổn thương một phần tường sau đốt sống,không có biểu hiện tổn thương thần kinh, trên MRI có hình ảnh phù nềthân đốt sống

- Ung thư cột sống có triệu chứng

- U cột sống có đau

1.2.4.2 Chống chỉ định

- Bệnh nhân bị rối loạn đông máu, bị suy hô hấp nặng

- Bệnh nhân đang trong bệnh cảnh nhiễm khuẩn huyết, viêm đĩa đệm hay viêmtủy xương tại đốt sống cần bơm xi măng

- Bệnh nhân có tiền sử dị ứng với các thành phần của xi măng

- Tường sau thân đốt sống bị phá hủy hoàn toàn

- Xẹp lớn hơn 66% chiều cao thân đốt sống

- Cột sống mất vững, có mảnh rời chèn ép tủy sống, có biểu hiện tổn thươngthần kinh

- XĐS mà trên MRI không có hình ảnh phù nề thân đốt sống

1.2.5 Tai biến [33],[34],[35],[36],[37],[40],[41],[42],[43]

1.2.5.1 Tai biến do chọc dò

- Chọc qua cuống sống: tai biến chủ yếu do tổn thương vỏ xương phía bêntrong của cuống sống, tai biến này có thể tránh được bằng cách chọn kimđúng kích cỡ và kiểm soát cẩn thận đường đi của đầu kim dưới màn tăngsáng Với đốt sống ngực cao, do cuống sống bé, nên chọn kim với đường kínhnhỏ (13-15G)

Trang 19

- Chọc theo đường sau bên: ở vùng ngực, nguy cơ nhất là chọc vào màng phổigây tràn khí màng phổi Ở vùng thắt lưng, nguy cơ chọc vào thận, gây tụ máutrong cơ thắt lưng chậu.

1.2.5.2 Tai biến trong quá trình bơm xi măng

- Tràn xi măng ra phần mềm xung quanh: ngoài nguy cơ tràn xi măng qua lỗchọc Troca, xi măng cũng có thể tràn ra phần mềm xung quanh qua đường vỡthân đốt sống Thông thường tai biến này không gây triệu chứng gì Có thểtránh tai biến này bằng cách: nếu chọc hỏng thì phải lưu kim, chọc bằng kimkhác, sau khi kết thúc quá trình bơm mới rút kim, kiểm soát chặt chẽ sự dichuyển của xi măng dưới màn tăng sáng

- Tràn xi măng vào hệ thống thần kinh: xi măng có thể tràn vào khoang ngoàimàng cứng gây chèn ép tủy, để tránh biến chứng này phải kiểm soát chặt chẽ

sự di chuyển của xi măng trong quá trình bơm, khi xi măng tiếp cận tường sauthân đốt sống thì phải dừng lại ngay Nếu xi măng tràn vào khoang ngoàimàng cứng gây triệu chứng lâm sàng rõ ràng cần phải mở cung sau giải ép Ximăng có thể tràn vào lỗ liên hợp gây chèn ép rễ thần kinh Thông thường dấuhiệu chèn ép tự biến mất sau vài giây, có thể điều trị bằng thuốc giảm đaukhông steroid, trong trường hợp chèn ép nặng và kéo dài cần phẫu thuật lấybỏ

- Tràn xi măng vào đĩa đệm: biến chứng này xảy ra do đường thông trực tiếp từthân đốt sống với đĩa đệm và thường không gây ra triệu chứng lâm sàng

- Tràn xi măng vào các tĩnh mạch quanh đốt sống gây biến chứng khi xi măngtheo hệ thống tĩnh mạch về phổi gây tắc mạch phổi

1.3 Chất lượng cuộc sống

1.3.1 Định nghĩa

Chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giáchung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trênphạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ sự sảng khoái, hài lòng về

Trang 20

thể chất, tâm thần và xã hội Chất lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vậtchất và giá trị tinh thần Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng caochất lượng cuộc sống cho con người là một nỗ lực của nhà nước, xã hội và cảcộng đồng.

WHO định nghĩa chất lượng cuộc sống là sự hài lòng của cá nhân với

vị trí của họ trong cuộc sống, bối cảnh, văn hóa và hệ thống giá trị Trong đó

họ sống và ràng buộc với mục tiêu, hi vọng, tiêu chuẩn và sự lo lắng của họ

Đó là một định nghĩa có tầm ảnh hưởng rộng với nhiều thành phần: sức khỏe

cá nhân, trạng thái tâm lý, niềm tin cá nhân, mối quan hệ xã hội và mối quan

hệ với các đặc điểm nổi bật của môi trường sống [44]

1.3.2 Chất lượng cuộc sống và sức khỏe con người

Mục tiêu cuối cùng của chăm sóc sức khỏe là duy trì và cải thiện chấtlượng cuộc sống của con người Sức khỏe được xác định là một yếu tố quantrọng của chất lượng cuộc sống một con người mặc dù nó không phải là yếu

tố duy nhất Nhiều yếu tố khác như văn hóa, tôn giáo, môi trường, giáo dục vàtài chính, kinh tế cũng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống nhưngchúng nằmngoài phạm vi của chăm sóc sức khỏe Chất lượng cuộc sống liên quan đếnsức khỏe là mối quan tâm chính của các chuyên gia sức khỏe và đang trởthành một chỉ số đầu ra quan trọng [45],[46]

Chất lượng cuộc sống và hạnh phúc hiện tại của con người tùy thuộcvào mức thu nhập, vào các điều kiện kinh tế và tài chính Nhưng vấn đề làđiều kiện sống có thoải mái hay không? Điều đó tùy thuộc vào sức khỏe, vàomôi trường xã hội, vào kiến thức của từng người, các hoạt động văn hóa, thờigian giải trí, nói chung là vào rất nhiều yếu tố không thể cân, đo, đong, đếmbằng tiền bạc [47]

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe là một khái niệm đachiều bao gồm các lĩnh vực liên quan đến thể chất, tinh thần, tình cảm và

Trang 21

chức năng xã hội Nó nằm ngoài đo lường trực tiếp về sức khỏe dân số, tuổithọ, nguyên nhân tử vong và tập trung vào sự ảnh hưởng của tình trạng sứckhỏe tới chất lượng cuộc sống [47],[48].

1.3.3 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân XĐS được can thiệp bằng

THĐSQD

Khi một bệnh nhân bị XĐS thì cuộc sống của họ bị ảnh hưởng nhiều,

do đó chất lượng cuộc sống của họ bị giảm đi đáng kể so với những ngườikhông bị XĐS Theo thang đo đánh giá sức khỏe tổng quát EQ-5D, bệnh nhânXĐS có số điểm là 62,3 trong khi nhóm chứng không bệnh có điểm 69,9 [49]

Hầu hết các nghiên cứu đều đã chỉ ra rằng sau khi can thiệp bằng bơm

xi măng, bệnh nhân có cải thiện tình trạng đau rất đáng kể [36],[50] Theomột nghiên cứu ở Mỹ so sánh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân can thiệpbằng bơm xi măng và bệnh nhân sử dụng thuốc, sau một ngày, các bệnh nhân

sử dụng bơm xi măng có điểm đau VAS giảm 2,3 so với các bệnh nhân dùngthuốc giảm 0,5 [38] Sự cải thiện cơn đau của bệnh nhân thường không cókhác biệt lớn giữa 1 ngày sau can thiệp với thời gian dài hơn như 2 tuần hay 1năm sau can thiệp [50] Hiện tại, dù có nhiều cách để điều trị bệnh nhân XĐS,tuy nhiên phương pháp THĐSQD vẫn là phương pháp tối ưu, có nhiều bằngchứng hỗ trợ nhất [51]

1.3.4 Bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống

Hiện tại trên thế giới có một số bộ đo lường chất lượng cuộc sống đángtin cậy như WHOQoL của WHO, EQ-5D của châu Âu hay bộ đo lường chấtlượng cuộc sống dành riêng cho bệnh nhân loãng xương của châu Âu(QUALEFFO) gồm 41 câu hỏi, chia làm 7 khía cạnh sức khỏe

Điểm mạnh của WHOQoL và QUALEFFO là đánh giá chi tiết về nhiềukhía cạnh của chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, đồng thời có những bộcâu hỏi được viết chuyên biệt cho từng mặt bệnh khác nhau do đó chất lượng

Trang 22

cuộc sống của bệnh nhân sẽ được đánh giá một cách kĩ càng, chi tiết và baoquát hơn Tuy nhiên chính vì bộ câu hỏi được viết chi tiết do đó khó để phỏngvấn bệnh nhân gián tiếp, hay làm tăng sai số do bộ câu hỏi dài, bệnh nhânngại trả lời hoặc do bệnh nhân không hiểu.

EQ-5D 5L là một công cụ tiêu chuẩn để mô tả và đánh giá sức khỏe Bộcâu hỏi EQ-5D 5L được sử dụng rộng rãi để đánh giá chất lượng cuộc sốngcủa các bệnh nhân mắc các bệnh khác nhau Nó dựa trên một hệ thống địnhnghĩa sức khỏe gồm 5 khía cạnh: sự đi lại, tự chăm sóc, sinh hoạt thườngngày, sự đau – khó chịu, sự lo lắng – u sầu [52] Mỗi khía cạnh bao gồm 5 đáp

án tương ứng với các mức «không có vấn đề», «có vấn đề nhỏ», «có vấn đềvừa phải», «có vấn đề nghiêm trọng» và «có vấn đề cực kì nghiêm trọng».Ngoài ra, đối tượng phỏng vấn cũng đánh giá sức khỏe của họ vào ngàyphỏng vấn trên thang đo trực quan (EQ-VAS) [53] Công cụ này được thiết kế

để phỏng vấn đối tượng trực tiếp và qua điện thoại Đây là bộ câu hỏi ngắngọn, bệnh nhân dễ dàng nắm bắt để trả lời trực tiếp hay trả lời gián tiếp quađiện thoại Đồng thời, bộ câu hỏi vẫn đáp ứng được yêu cầu đưa ra chất lượngcuộc sống của bệnh nhân một cách tin cậy

Trang 23

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân bị xẹp đốt sống được điều trị bằng phương pháp bơm ximăng tại khoa Phẫu thuật cột sống, bệnh viện Việt Đức

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Các bệnh nhân bị XĐS điều trị bằng bơm xi măngtại khoa Phẫu thuật cột sống, bệnh viện Việt Đức đồng ý tham gianghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ:

o Bệnh nhân không có khả năng trả lời (mất trí nhớ, đãng trí, thấtngôn,…)

o Bệnh nhân vắng mặt tại thời điểm thu thập số liệu

o Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: khoa Phẫu thuật cột sống, bệnh viện Hữu nghị Việt-Đức.Thời gian: từ ngày 20/4/2017 đến 30/05/2017

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang so sánh trước và sau điều trị, kết hợp vớinghiên cứu trường hợp bệnh

2.4 Chọn mẫu và cỡ mẫu

Chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện tất cả các bệnh nhân bị XĐS điểu trịbằng bơm xi măng tại khoa Phẫu thuật cột sống, Bệnh viện Việt-Đức Cácbệnh nhân nhập viện trong ngày hôm đó sẽ được rà soát và chọn ra các bệnhnhân nhập viện để điều trị XĐS bằng bơm xi măng để đưa vào nghiên cứu

Cỡ mẫu: trong thời gian thu thập số liệu tổng số có 10 bệnh nhân đápứng đủ tiêu chí và đồng ý tham gia nghiên cứu

2.5 Biến số và chỉ số

Trang 24

Biến số Chỉ số

Thông tin chung

Tuổi Tuổi trung bình của đối tượng nghiêncứu.Giới Tỷ lệ % giới tính của đối tượng nghiêncứu.Nghề nghiệp Tỷ lệ % theo nghề nghiệp của đối tượngnghiên cứu.Nguyên nhân vào

Thời gian đợi trung bình của bệnh nhân

từ khi mắc đến khi can thiệp thủ thuật

- Tỷ lệ % các mức độ khó khăn trong việc

đi lại của đối tượng

- Điểm trung bình và sự chênh lệch trước

và sau can thiệp

Khả năng tự chăm sóc

- Tỷ lệ % các mức độ khó khăn trong việc

tự chăm sóc bản thân của đối tượng

- Điểm trung bình và sự chênh lệch trước

và sau can thiệp

- Tỷ lệ % các mức độ khó khăn trong việcthực hiện các sinh hoạt hàng ngày

- Điểm trung bình và sự chênh lệch trước

và sau can thiệp

Sự đau/ khó chịu

- Tỷ lệ % các mức độ đau/ khó chịu củađối tượng

- Điểm trung bình và sự chênh lệch trước

và sau can thiệp

Sự lo lắng/ u sầu

- Tỷ lệ % các mức độ lo lắng/ u sầu củađối tượng

- Điểm trung bình và sự chênh lệch trước

và sau can thiệp

Đánh giá sức khỏe tổng quát

Điểm trung bình và sự chênh lệch sứckhỏe tổng quát của đối tượng

Trang 25

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

Dựa trên bộ câu hỏi có sẵn thu thập 2 lần: trước và sau can thiệp

Trước can thiệp: phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân theo bộ câu hỏi trước khibệnh nhân tiến hành can thiệp thủ thuật

Sau can thiệp 7 ngày: gọi điện cho bệnh nhân sau khi can thiệp được 7ngày, phỏng vấn gián tiếp bệnh nhân qua bộ câu hỏi

Trang 26

2.7 Sai số và cách khắc phục

- Sai số mắc phải:

o Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu

o Bệnh nhân không trả lời đúng, cố tình làm tăng hoặc giảm tìnhtrạng của bản thân

o Mất bệnh nhân do sau khi bệnh nhân ra viện không liên lạc được

o Sai số do điều tra viên: bỏ sót câu hỏi, làm cho bệnh nhân bị ámthị, sai số ghi chép

- Cách khắc phục:

o Ghi rõ thông tin địa chỉ, điện thoại của bệnh nhân (có thể lấy 2 sốđiện thoại)

o Điều tra viên cần cẩn thận, tỉ mỉ trong quá trình phỏng vấn

o Giải thích rõ cho bệnh nhân các câu hỏi chỉ phục vụ mục đíchnghiên cứu, không ảnh hưởng đến quá trình điều trị của bệnhnhân

o Làm sạch số liệu trước khi nhập và phân tích số liệu

o Tham khảo các nghiên cứu quốc tế và áp dụng đúng chuẩn trongquá trình thu thập số liệu

2.8 Phương pháp quản lý và phân tích số liệu

Số liệu được mã hóa và nhập bằng phần mềm Excel 2010 Sau đó sốliệu sẽ được xử lý và phân tích bằng phần mềm Stata 12.0

Trong quá trình phân tích, sử dụng các test thống kê mô tả số liệu; dùngSigntest ghép cặp để kiểm định sự khác biệt của chất lượng cuộc sốngtrước và sau khi can thiệp; dùng test Spearman để tìm một số yếu tố liênquan đến mức độ thay đổi chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước và saukhi can thiệp; phân tích hồi quy đơn biến để tìm mối liên quan giữa tuổi với

sự thay đổi chất lượng cuộc sống

2.9 Đạo đức nghiên cứu

Trước khi tiến hành phỏng vấn, bệnh nhân được giải thích kĩ mục đích,

lý do tiến hành nghiên cứu

Trang 27

Xin phép bệnh nhân và chỉ tiến hành phỏng vẫn khi bệnh nhân đồng ýtham gia nghiên cứu một cách hoàn toàn tự nguyện.

Mọi thông tin của bệnh nhân đều được mã hóa và giữ bí mật, các thôngtin chỉ được phục vụ cho mục đích nghiên cứu

2.10 Hạn chế của nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu nhỏ do đó kết quả chưa đủ tính đại diện, chưa thểngoại suy ra quần thể XĐS có can thiệp THĐSQD

Trang 28

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm chung

3.1.1 Đặc điểm về tuổi của đối tượng

Đối tượng tham gia nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 64,7 ± 10,4.Trong đó người ít tuổi nhất là 52 tuổi, người cao tuổi nhất là 86 tuổi

3.1.2 Đặc điểm về giới của đối tượng

100% bệnh nhân tham gia nghiên cứu là nữ giới

3.1.3 Đặc điểm về nghề nghiệp

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ nguyên nhân vào viện của đối tượng nghiên cứu Nhận xét: Bệnh nhân chủ yếu là người đã về hưu (50%) và nông dân (30%),

còn lại là kinh doanh và công nhân đều chiếm 10%

3.1.4 Nguyên nhân vào viện

Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ phần trăm nguyên nhân vào viện của bệnh nhân Nhận xét: Nguyên nhân vào viện chủ yếu là do loãng xương nặng và tai nạn

sinh hoạt, đều chiếm 40%, còn lại là do tai nạn giao thông với 20%

3.1.5 Tỉ lệ sử dụng hai loại bơm xi măng

Bảng 3.2 Tỉ lệ sử dụng các loại bơm xi măng của đối tượng nghiên cứu

Bơm xi măng không bóng 1 10%

Nhận xét: Hầu hết tất cả bệnh nhân đều sử dụng bơm xi măng có bóng,

chiếm 90%, chỉ có 10% bệnh nhân sử dụng bơm xi măng không bóng

Ngày đăng: 18/07/2019, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. (2003). Prevention and management of osteoporosis. World Health Organ Tech Rep Ser, 921, 1–164, back cover Sách, tạp chí
Tiêu đề: World HealthOrgan Tech Rep Ser
Năm: 2003
14. Melton L.J., Kan S.H., Frye M.A. và cộng sự. (1989). EPIDEMIOLOGY OF VERTEBRAL FRACTURES IN WOMEN. Am J Epidemiol, 129(5), 1000–1011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J Epidemiol
Tác giả: Melton L.J., Kan S.H., Frye M.A. và cộng sự
Năm: 1989
15. Ling X., Cummings S.R., Mingwei Q. và cộng sự. (2000). Vertebral Fractures in Beijing, China: The Beijing Osteoporosis Project. J Bone Miner Res, 15(10), 2019–2025 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J BoneMiner Res
Tác giả: Ling X., Cummings S.R., Mingwei Q. và cộng sự
Năm: 2000
16. Wasnich R.D. (1996). Vertebral fracture epidemiology. Bone, 18(3), S179–S183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bone
Tác giả: Wasnich R.D
Năm: 1996
17. Mithal A. và Kaur P. (2012). Osteoporosis in Asia: a call to action. Curr Osteoporos Rep, 10(4), 245–247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CurrOsteoporos Rep
Tác giả: Mithal A. và Kaur P
Năm: 2012
18. Panda A., Das C.J., và Baruah U. (2014). Imaging of vertebral fractures.Indian J Endocrinol Metab, 18(3), 295 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian J Endocrinol Metab
Tác giả: Panda A., Das C.J., và Baruah U
Năm: 2014
19. Eastell R., Cedel S.L., Wahner H.W. và cộng sự. (1991). Classification of vertebral fractures. J Bone Miner Res, 6(3), 207–215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Bone Miner Res
Tác giả: Eastell R., Cedel S.L., Wahner H.W. và cộng sự
Năm: 1991
22. Ettinger B., Black D.M., Nevitt M.C. và cộng sự. (1992). Contribution of vertebral deformities to chronic back pain and disability. The Study of Osteoporotic Fractures Research Group. J Bone Miner Res Off J Am Soc Bone Miner Res, 7(4), 449–456 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Bone Miner Res Off J Am SocBone Miner Res
Tác giả: Ettinger B., Black D.M., Nevitt M.C. và cộng sự
Năm: 1992
23. Grigoryan M., Guermazi A., Roemer F.W. và cộng sự. (2003).Recognizing and reporting osteoporotic vertebral fractures. Eur Spine J, 12(Suppl 2), S104–S112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eur Spine J
Tác giả: Grigoryan M., Guermazi A., Roemer F.W. và cộng sự
Năm: 2003
24. Brown D.B., Glaiberman C.B., Gilula L.A. và cộng sự. (2005).Correlation Between Preprocedural MRI Findings and Clinical Outcomes in the Treatment of Chronic Symptomatic Vertebral Compression Fractures with Percutaneous Vertebroplasty. Am J Roentgenol, 184(6), 1951–1955 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am JRoentgenol
Tác giả: Brown D.B., Glaiberman C.B., Gilula L.A. và cộng sự
Năm: 2005
25. Gangi A., Guth S., Imbert J.P. và cộng sự. (2003). Percutaneous Vertebroplasty: Indications, Technique, and Results. RadioGraphics, 23(2), e10–e10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: RadioGraphics
Tác giả: Gangi A., Guth S., Imbert J.P. và cộng sự
Năm: 2003
26. Mathis J.M. và Wong W. (2003). Percutaneous Vertebroplasty: Technical Considerations. J Vasc Interv Radiol, 14(8), 953–960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Vasc Interv Radiol
Tác giả: Mathis J.M. và Wong W
Năm: 2003
27. Trường Đại học Y Hà Nội (2001). Bài giảng chẩn đoán hình ảnh. NXB Y học, 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chẩn đoán hình ảnh
Tác giả: Trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: NXBY học
Năm: 2001
31. Võ Văn Thanh (2005), Những tiến bộ mới trong điều trị biến chứng gãy xương sống do loãng xương, Bệnh viện Bạch Mai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tiến bộ mới trong điều trị biến chứng gãyxương sống do loãng xương
Tác giả: Võ Văn Thanh
Năm: 2005
32. Dư Đức Chiến và Phạm Minh Thông (2003), Quy trình kĩ thuật tạo hình đốt sống qua da bằng phương pháp đổ xi măng, Bệnh viện Bạch Mai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kĩ thuật tạo hìnhđốt sống qua da bằng phương pháp đổ xi măng
Tác giả: Dư Đức Chiến và Phạm Minh Thông
Năm: 2003
33. Nguyễn Văn Thạch (2012). Điều trị bệnh cột sống thắt lưng bằng phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn. Tạp Chí Chấn Thương Chỉnh Hình Việt Nam, 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Chấn Thương Chỉnh HìnhViệt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thạch
Năm: 2012
34. B C., A C., N B. và cộng sự. (1999). Percutaneous vertebroplasty in the treatment of osteoporotic vertebral compression fractures: an open prospective study. J Rheumatol, 26(10), 2222–2228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Rheumatol
Tác giả: B C., A C., N B. và cộng sự
Năm: 1999
35. Phạm Mạnh Cường (2006), Nghiên cứu áp dụng và bước đầu đánh giá hiệu quả của phương pháp tạo hình đốt sống qua da trong điều trị một số tổn thương đốt sống vùng lưng và thắt lưng, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú bệnh viện, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu áp dụng và bước đầu đánh giáhiệu quả của phương pháp tạo hình đốt sống qua da trong điều trị mộtsố tổn thương đốt sống vùng lưng và thắt lưng
Tác giả: Phạm Mạnh Cường
Năm: 2006
36. Kim A.K., Jensen M.E., Dion J.E. và cộng sự. (2002). Unilateral Transpedicular Percutaneous Vertebroplasty: Initial Experience.Radiology, 222(3), 737–741 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Radiology
Tác giả: Kim A.K., Jensen M.E., Dion J.E. và cộng sự
Năm: 2002
37. Cotten A., Boutry N., Cortet B. và cộng sự. (1998). Percutaneous vertebroplasty: state of the art. RadioGraphics, 18(2), 311–320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: RadioGraphics
Tác giả: Cotten A., Boutry N., Cortet B. và cộng sự
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w