1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KIẾN THỨC, THÁI độ về PHÒNG và xử TRÍ PHƠI NHIỄM với vật sắc NHỌN TRONG TIÊM TRUYỀN của SINH VIÊN điều DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG y tế hà nội

63 284 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 351,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘINGUYỄN THỊ HÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHƠI NHIỄM VỚI VẬT SẮC NHỌN TRONG TIÊM TRUYỀN CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI Chuyên ngành

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HÀ

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHƠI NHIỄM VỚI VẬT SẮC NHỌN TRONG TIÊM

TRUYỀN CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Điều dưỡng

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học:

TS VŨ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

SV Sinh viên

SVĐD Sinh viên điều dưỡng

ĐTV Điều tra viên

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

HBV Vi rút viêm gan B (Hepatitis B vi rút)

HCV Vi rút viêm gan C (Hepatitis C vi rút)

HIV Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodefficiency virus)WHO Tổ chức y tế thế giói

NVYT Nhân viên y tế

NSI Tổn thương do kim tiêm

KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn

VSN Vật sắc nhọn

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.2 Biện pháp phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền .4

1.2.1 Biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền 4

1.2.2 Xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền 7

1.3 Tình hình chấn thương do vật sắc nhọn ở sinh viên điều dưỡng 10

1.3.1 Trên thế giới 10

1.3.2 Tại Việt Nam 12

1.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền 13

1.4.1 Giới 13

1.4.2 Năm học 13

1.4.3 Chương trình đào tạo/hình thức đào tạo 14

1.4.4 Yêu nghề điều dưỡng 15

1.4.5 Tâm lý của sinh viên 15

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 16

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 16

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 16

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 16

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang 16

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 16

2.4 Công cụ và quá trình thu thập số liệu 18

2.4.1 Công cụ thu thập 18

2.4.2 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 19

Trang 4

2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 22

2.8 Sai số và cách khắc phục 23

Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) 24

3.2 Mô tả kiến thức về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên điều dưỡng năm 2 và năm 3 25

3.2.1 Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường máu liên quan tới vật sắc nhọn 25 3.2.2 Kiên thức về thời điểm nhân viên y tế có thể bị tổn thương do vật sắc nhọn 26 3.2.3 Kiên thức về Biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền 27

3.2.4 Kiến thức về xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 29

3.3 Thái độ của sinh viên về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 33

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 37

4.1 Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 37

4.2 Kiến thức, thái độ về phòng và xử lý phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Hà Nội 37

4.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ về phòng và xử lý phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên trường cao đẳng Y tế Hà Nội 37

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 37

DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 24

Bảng 3.2 Một số thông tin liên quan đến việc học tập về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền 24

Bảng 3.3 Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường máu liên quan tới vật sắc nhọn 25

Bảng 3.4 Kiên thức về thời điểm nhân viên y tế có thể bị tổn thương do vật sắc nhọn 26

Bảng 3.5 Kiến thức về biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm trước khi sử dụng vật sắc nhọn 27

Bảng 3.6 Kiến thức về thao tác an toàn với vật sắc nhọn 27

Bảng 3.7 Kiến thức về sử dụng hộp an toàn 28

Bảng 3.8 Kiến thức về xử trí vết thương sau khi phơi nhiễm với vật sắc nhọn 29

Bảng 3.9 Kiến thức về báo cáo sau phơi nhiễm với vật sắc nhọn 30

Bảng 3.10 Lý do sinh viên không báo cáo khi bị tổn thương 30

Bảng 3.11 Kiến thức về đánh giá nguy cơ sau phơi nhiễm với vật sắc nhọn 31

Bảng 3.12 Kiến thức về dự phòng sau phơi nhiễm với vật sắc nhọn 32

Bảng 3.13 Kiến thức chung phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 32

Bảng 3.14 Thái độ của sinh viên về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 33 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thông tin chung với kiến thức và thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm 34

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tuổi của đối tượng nghiên cứu với kiến thức và thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm 34

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa một số thông tin liên quan đến việc học tập với kiến thức và thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm 35

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền 36

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức chung và thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền phơi nhiễm 36

DANH MỤC BẢNG Biểu 3.1 Tuổi của đối tượng nghiên cứu 24

Biểu 3.2 Thực trạng tiêm phòng vắc- xin viêm gan B của đối tượng nghiên cứu 25

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chấn thương do vật sắc nhọn (VSN) trong thực hành lâm sàng là vấn đề sứckhỏe thường gặp ở sinh viên điều dưỡng (SVĐD) Tỷ lệ bị chấn thương do VSN ở

SVĐD trên thế giới rất khác nhau dao động từ 9,4% - 100% [1] [2] Chấn thương do

VSN có thể dẫn đến việc lây truyền các bệnh qua đường máu cho SVĐD như HIV,viêm gan B và viêm gan C [3] Nguy cơ bị lây truyền bệnh theo kim tiêm từ mộtngười bệnh có nhiễm khuẩn máu dao động từ mức 0,3% đối với virus gây suy giảmmiễn dịch ở người (HIV) và 3% - 10% đối với viêm gan C và 40% đối với viêm gan

B [4] Khả năng bị chấn thương do VSN có thể cao hơn ở những đối tượng thiếukinh nghiệm, mệt mỏi mà lại phải thường xuyên làm việc trong môi trường mới,khẩn trương như SV ngành y[5]

Trong khi đó kiến thức về phòng ngừa và xử lý phơi nhiễm với vật sắc nhọncủa SV chưa cao: chỉ có 36,2% SV năm cuối biết đầy đủ chi tiết của việc phòngngừa các tổn thương do kim đâm [6]; 85,9% SV không biết hoặc chỉ biết một phầntrong các bước xử trí sau phơi nhiễm, 35,1% SV không quan tâm đến tác hại sauphơi nhiễm với nguồn bệnh [7], thậm chí 51,6% SV trường đại học khoa học sứckhỏe Arack còn thực hiện nặn máu từ vết thương, hành động xử lý vết thương saitrầm trọng [8]

Ngoài ra, theo nghiên cứu của Honda, điều dưỡng có thái độ chưa đúng vềphòng chống chấn thương do VSN có nguy cơ mắc chấn thương cao gấp 1,86 lần

CI 95% (1,033,38) so với điều dưỡng có thái độ đúng [9]

Ở Việt Nam, tỷ lệ SV xử lý vết thương đúng quy trình sau chấn thương cònthấp: chỉ có 36,8% SV trường cao đẳng Y tế Kiên Giang thực hành xử lý vết thươngđúng sau chấn thương [10] Tương tự, trường Đại học Y khoa Vinh có 63% sinhviên xử lý sai vết thương sau khi bị chấn thương [11] Tỷ lệ học sinh sinh viên cókiến thức không đầy đủ liên quan đến tai nạn nghề nghiệp do kim tiêm truyền đâm

là 69,46% [12]

Trang 7

Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đào tạo sinh viên điều dưỡng hệ cao đẳng 3năm trong đó phần lớn thời gian học năm thứ 2 và năm thứ 3 sinh viên được đi thựchành lâm sàng ở nhiều bệnh viện khác nhau Trong quá trình chăm sóc người bệnhtại bệnh viện thực hiện tiêm truyền là thủ thuật thường quy sinh viên được làm trênngười bệnh cũng đồng nghĩa với việc sinh viên có nguy cơ cao bị phơi nhiễm vớiVSN trong tiêm truyền và có khả năng lây nhiễm các bệnh viêm gan B, viêm gan C

và HIV qua vật sắc nhọn Nhưng nếu sinh viên có kiên thức và thái độ tốt về phòngngừa phới nhiễm với VSN trong tiêm truyền sẽ làm giảm nguy cơ bị phơi nhiễm vàkhi bị phơi nhiễm SV biết cách xử lý đúng vết thương sẽ giảm nguy cơ bị lâynhiễm các bệnh qua đường máu Năm học tới nhà trường có kế hoạch thay đổi vềhình thức đào tạo nội dung phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trongtiêm từ hình thức tự học sang hình thức giảng dạy lý thuyết trên giảng đường cho

SV [13].Với mong muốn tìm hiểu thực trạng kiến thức và thái độ của sinh viên theohình thức học cũ để làm cơ sở cho sự thay đổi trong phương thức truyền đạt chosinh viên những kiến thức, thái độ tốt nhất nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

với tên đề tài là “Kiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc

nhọn trong tiêm truyền của sinh viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nội”

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

Phơi nhiễm nghề nghiệp

Là sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứatác nhân gây bệnh trong khi nhân viên y tế thực hiện nhiệm vụ dẫn đến nguy cơ lâynhiễm bệnh [14]

Tác nhân gây bệnh qua đường máu

Các vi sinh vật có độc lực ( có khả năng gây bệnh) lây truyền do phơi nhiễmvới máu, sản phẩm của máu và gây bệnh trên người Các tác nhân gây bệnh đườngmáu hay gặp bao gồm viêm gan B(HBV), Viêm gan C (HCV),virus gây suy giảmmiễn dịch ở người (HIV) [14]

Tiêm truyền tĩnh mạch

Là kỹ thuật dùng kim đưa thuốc vào tĩnh mạch với góc tiêm 30⁰ so với mặt

da Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ, mềm mại, không di động, da vùng tiêm nguyênvẹn [14]

Tiêm an toàn

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), Tiêm an toàn là một quy trình tiêm:không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm; không phơi nhiễm cho người thựchiện mũi tiêm; không tạo chất nguy hại cho người khác và cộng đồng [15]

Đậy nắp kim tiêm

Kỹ thuật đậy nắp kim một tay: nhân viên y tế cầm bơm tiêm bằng một tay vàđưa đầu nhọn của kim vào phần nắp đặt trên một mặt phẳng, sau đó dùng hai tayđậy lại [14]

Trang 9

Tổn thương( chấn thương) do vật sắc nhọn:

Tổn thương do vật sắc nhọn là tình trạng da bị xâm nhập bởi các vật sắcnhọn và địa điểm xảy ra ở trong một cơ sở y tế Các vật sắc nhọn có thể gồm: kim,lưỡi chích, dao mổ và mảnh thủy tinh vỡ [16]

Thùng đựng chất thải vật sắc nhọn

Còn gọi là “hộp đựng vật sắc nhọn”, “hộp an toàn” Thùng đựng chất thải sắcnhọn được sản xuất bằng chất liệu cứng, chống thủng, chống rò rỉ được thiết kế đểchứa vật sắc nhọn một cách an toàn trong quá trình thu gom, hủy bỏ và tiêu hủy.Thùng (hộp) này phải được thiết kế và quản lý theo đúng Quy chế Quản lý chất thải

y tế của Bộ Y tế [14]

Dự phòng sau phơi nhiễm:

Biện pháp ngăn ngừa lây truyền các tác nhân gây bệnh đường máu sau phơinhiễm [14]

1.2 Biện pháp phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền [14] [17]

1.2.1 Biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

Loại bỏ mối nguy hại: thay thế các mũi tiêm bằng cách quản lý việc kê đơn,

thay bằng cách đưa thuốc vào cơ thể theo các đường khác như thuốc uống, thuốchít, các miếng dán ngoài da… Loại bỏ các vật sắc nhọn và kim tiêm, loại bỏ tất cảcác mũi tiêm không cần thiết Loại bỏ các vật sắc nhọn và kim tiêm khi có thể bằngcách thay thế kim tiêm và kim tiêm bằng các dụng cụ tiêm áp lực, sử dụng bộ kếtnối tĩnh mạch trung ương mà không dùng kim tiêm hoặc dùng kim luồn an toàn

Biện pháp kiểm soát về kỹ thuật: được sử dụng để cô lập và loại bỏ mối

nguy hại khỏi nơi làm việc như sử dụng thùng chứa chất thải sắc nhọn; sử dụng cácthiết bị bảo vệ tránh vật sắc nhọn cho tất cả quy trình ( bơm kim tiêm có tính năng

tự thụt vào, tự đóng hoặc tự cùn đi ngay sau khi sử dụng) khi có thể

Biện pháp hành chính: các chính sách và chương trình can thiệp nhằm hạn

chế phơi nhiễm với các yếu tố nguy hại Ví dụ như áp dụng phòng ngừa phổ cập,xác định các nguồn lực thể hiện cam kết an toàn cho nhân viên y tế, thành lập ủy

Trang 10

ban phòng ngừa TTNN do VSN, xây dựng các kế hoạch kiểm soát phơi nhiễm vàtăng cường đào tạo.

Biện pháp kiểm soát thực hành: nâng cao, củng cố các thao tác, thực hành

an toàn, loại bỏ các thói quen, các thao tác đã được xác định có nguy cơ cao đối vớiTTNN do VSN Ví dụ như không đậy lại nắp kim sau khi tiêm, đặt các hộp chứa vậtthải sắc nhọn ở nơi dễ sử dụng, kiểm tra hộp đựng VSN định kỳ và đưa đi xử lýtrước khi hộp đầy, thiết lập các biện pháp an toàn trong việc bảo quản, chuyên chở

- Tập trung vào công việc tiêm, không nói chuyện và nhìn đi chỗ khác;

- Bảo đảm khu vực làm việc gọn gàng để đảm bảo rằng bạn không phải đưakim tiêm qua các vật cản

- Đảm bảo an toàn cho bàn tay của nhân viên y tế:

+ Không bẻ cong kim;

+ Không dùng ngón tay động vào thân kim khi chọc kim hoặc rút kim;

+ Không dùng hai tay đậy lại nắp kim tiêm;

+ Không dùng tay đậy nắp kim ngay cả trước và sau tiêm Nếu cần thiết phảiđậy nắp dùng kỹ thuật “múc” để phòng ngừa tổn thương;

+ Nếu phải tách kim tiêm khỏi bơm tiêm thì hãy sử dụng panh kẹp;

+ Mỗi khi chuyển vật sắc nhọn cho đồng nghiệp nên đạt vào khay để đưa chođồng nghiệp;

+ Đừng bao giờ dùng tay để đỡ các vật sắc nhọn đang rơi;

+ Không để vật sắc nhọn lên đồ vải;

Trang 11

+ Không cầm bơm kim tiêm nhiễm khuẩn đi lại tại nơi làm việc Nếu khôngthể cô lập vào hộp an toan luôn sau tiêm thì cần để vào khay tiêm để vận chuyển tớihộp an toàn

+ Khi đi tiêm phải mang theo xe tiêm có sẵn hộp an toàn;

+ Sử dụng kim có đặc điểm an toàn

- Tiêu hủy bơm kim tiêm nhiễm khuẩn:

Nguyên tắc:

+ Bơm kim tiêm nhiễm khuẩn phải được coi là chất thải đặc biệt;

+ Bơm kim tiêm nhiễm khuẩn phải được cô lập ngay tại nguồn;

+ Bơm kim tiêm nhiễm khuẩn phải được cho vào hộp kháng thủng;

+ Không để bơm kim tiêm nhiễm khuẩn lộ trên bàn tiêm;

+ Không để bơm kim tiêm nhiễm khuẩn rơi vãi trong khuôn viên bệnh viện.Tiêu chuẩn hộp an toàn:

+ Làm bằng các vật liệu cứng, không bị xuyên thủng;

+ Thu gom cả bơm và kim tiêm;

+ Có quai và có nắp để dán lại khi thùng đã đầy 3/4

+ Hộp có màu vàng, có nhãn đề “Chỉ đựng vật sắc nhọn”

+ Có vạch báo hiệu ở mức ¾ hộp và có dòng chữ: “Không được đựng quá vạch này”.Cách sử dụng hộp an toàn:

+ Treo cạnh xe tiêm hoặc nơi phát sinh chất thải sắc nhọn

+ Đặt tại nơi thuận tiện với tầm với của tay

+ Chỉ chứa đầy ¾ hộp

+ Không bao giờ mở ra một khi hộp đã chứa đầy và đã đóng nắp

Vận chuyển hộp an toàn:

+ Đậy kín nắp hộp an toàn trước khi vận chuyển

+ Khi vận chuyển để hộp cách xa người

+ Cầm quai hộp khi vận chuyển

+ Mang găng dày khi vận chuyển

Tiêu hủy hộp an toàn có chứa bơm kim tiêm nhiễm khuẩn:

+ Không bỏ ra bãi rác lộ thiên

+ Vận chuyển và thiêu đốt cùng với các chất thải y tế nguy hại

Trang 12

Chú ý:

+ Không bao giờ sử dụng lại bơm, kim tiêm dùng một lần;

+ Tiêm và truyền chỉ thực hiện nếu thực sự cần thiết

1.2.2 Xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

Nguy cơ lây nhiễm sau khi phơi nhiễm phụ thuộc vào việc xử trí ngay sauphơi nhiễm Vết thương càng được xử trí sớm theo đúng quy trình thì nguy cơ lâynhiễm càng thấp Các cơ sở y tế đều cần có kế hoạch kiểm soát phơi nhiễm, kếhoạch quản lý sau phơi nhiễm và theo dõi NVYT có nguy cơ phơi nhiễm Việc xửtrí phơi nhiễm vật sắc nhọn trong tiêm truyền cần tuân theo các bước sau:

1.2.2.1 Xử trí vết thương tại chỗ

 Rửa ngay vùng da bị tổn thương bằng xà phòng và nước, dưới vòi nước chảy

 Để máu ở vết thương tự chảy, không nặn không bóp

 Băng vết thương lại

1.2.2.2 Báo cáo người phụ trách và làm biên bản

Khi phơi nhiễm nghề nghiệp xảy ra, những thông tin như hoàn cảnh xảy raphơi nhiễm, xử trí và quản lý sau phơi nhiễm cần được ghi chép đầy đủ trong hồ sơtheo quy định của cơ sở y tế nơi họ đang làm việc Những hồ sơ này phải được giữkín Bên cạnh đó, người bị phơi nhiễm cần tuân theo quy định về quy trình báo cáophơi nhiễm nghề nghiệp của Bộ Y tế

1.2.2.3 Hồ sơ phơi nhiễm nghề nghiệp cần có những thông tin sau:

 Ngày và giờ xảy ra phơi nhiễm

 Thông tin chi tiết về công việc đang thực hiện khi bị phơi nhiễm, địa điểm

và hình thức phơi nhiễm, nếu phơi nhiễm do vật sắc nhọn thì ghi rõ thông tin về loạidụng cụ gây tai nạn, thời điểm và cách thức bị tai nạn trong quá trình thao tác

Thông tin chi tiết về phơi nhiễm: loại và số lượng máu, mức độ trầm trọngcủa phơi nhiễm: độ sâu của vết thương, mức độ xâm nhập của máu vào cơ thể

Thông tin chi tiết về nguồn phơi nhiễm: có chứa HBV, HCV, HIV không ? Thông tin chi tiết về người bị phơi nhiễm: tình trạng tiêm phòng vắc xinVGB, tình trạng đáp ứng với vắc xin, có nhiễm HCV, HIV không?

Trang 13

1.2.2.4 Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm

Tổn thương do kim dính máu đâm xuyên qua da gây chảy máu: Kim nòngrộng cỡ to, chứa nhiều máu, đâm sâu thì có nguy cơ cao hơn kim nòng nhỏ, chứa ítmáu và đâm xuyên nông

1.2.2.5 Xác định tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm

+ Đánh giá nguy cơ dựa vào triệu chứng lâm sàng của người bệnh nguồn + Người bệnh đã được xác định HIV (+): Tìm hiểu các thông tin về tiền sử

và đáp ứng đối với thuốc ARV

+ Nếu chưa biết về tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm: Tư vấn và lấy

máu xét nghiệm HIV

1.2.2.6 Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm

+ Tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV theo quy định.

+ Nếu ngay sau khi phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm có HIV (+) : Đã bị

nhiễm HIV từ trước không phải do phơi nhiễm

+ Nếu HIV (-) : Kiểm tra lại sau 3 và 6 tháng.

+ Xét nghiệm công thức máu và chức năng gan (ALT) khi bắt đầu điều trị

và sau 2- 4 tuần

+ Xét nghiệm HIV sau 3 và 6 tháng

+ Hỗ trợ tâm lý nếu cần thiết.

1.2.2.7 Tư vấn và điều trị sau phơi nhiễm

* Tư vấn sau phơi nhiễm

Người được xác định là phơi nhiễm với máu, dịch cơ thể và vật sắc nhọn từnguồn có chứa HIV, HBV, HCV cần tới gặp bác sĩ kiểm soát nhiễm khuẩn hoặcchuyên khoa truyền nhiễm để được tư vấn về nguy cơ nhiễm HIV, HBV và HCV,những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với cuộc sống của họ, cũng như ưu, nhược điểmcủa điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (khả năng thành công, tác dụng phụ củathuốc, tuân thủ điều trị thuốc kháng vi rút, ) Người bị phơi nhiễm phải đi khámngay khi có bất cứ triệu chứng cấp tính nào trong quá trình theo dõi Kết quả xétnghiệm của họ cần được giữ bí mật hoàn toàn

Trang 14

* Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với HBV

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với HBV cần được thực hiện ngay sauphơi nhiễm (trong vòng 24 giờ), tùy từng trường hợp cụ thể mà có cách dự phòngkhác nhau:

 Nếu NVYT đã có kháng thể với VGB thì tiêm nhắc lại một mũi vắc xin,

 Nếu NVYT đã tiêm phòng VGB nhưng kháng thể (-): Tiêm 1 - 2 liều huyếtthanh kháng HBV (HBIG) và 1 mũi vắc xin,

 Nếu NVYT chưa tiêm phòng VGB và chưa mắc VGB: tiêm 1-2 liều HBIG

và 3 mũi vắc xin

Theo dõi người bị phơi nhiễm với HBV

- Xét nghiệm anti-HBs 1- 2 tháng sau khi tiêm liều vaccin cuối cùng.

- Tư vấn cho cán bộ bị phơi nhiễm không hiến máu hoặc tạng cơ thể, áp dụng

các biện pháp phòng lây nhiễm cho người khác (dùng bao cao su hoặc kiêng quan hệtình dục, cân nhắc không cho con bú sữa mẹ, không dùng chung bơm kim tiêm)

- Tư vấn ổn định tâm lý.

Tiêm ngừa vác-xin viêm gan B và HBIG trong vòng 24 giờ sau tai nạn nếunhân viên chưa có kháng thể HBV

* Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với HIV/AIDS bằng thuốc ARV [18]

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm nên được bắt đầu càng sớm càng tốt cho tấtcả đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV tối ưu nhất trong vòng 72 giờ, tùy thuộc vàotình trạng nhiễm trùng của nguồn và loại phơi nhiễm mà có cách dự phòng khác nháu:

Nguồn HIV dương tính nhóm 1 (nhiễm HIV chưa có triệu chứng hoặc tảivirus thấp):

- Loại phơi nhiễm ít trầm trọng (kim đặc hoạc tổn thương nông): Phác đồ dự

2 thuốc

- Loại phơi nhiễm trầm trọng hơn (kim rỗng, đâm sâu, kim chích động tĩnhmạch): Phác đồ mở rộng 3 thuốc

Nguồn HIV dương tính nhóm 2 (nhiễm HIV có triệu chứng, AIDS): phác

đồ mở rộng 3 thuốc cho các loại phơi nhiễm

Trang 15

Theo dõi người bị phơi nhiễm với HIV/AIDS

- Theo dõi tác dụng phụ của ARV: Tư vấn cho người được điều trị dự phòng

về tác dụng phụ có thể có của ARV Không nên ngừng điều trị khi có tác dụng phụnhẹ và thoáng qua Nếu có các tác dụng phụ nặng, chuyển đến các cơ sở y tế ngay

- Hỗ trợ tâm lý nếu cần thiết

- Xét nghiệm lại HIV sau 3tháng

- Tư vấn về việc không được cho máu, nên quan hệ tình dục an toàn, thựchành tiêm chích an toàn, và không cho con bú cho đến khi loại trừ được tình trạngnhiễm HIV

1.3 Tình hình chấn thương do vật sắc nhọn ở sinh viên điều dưỡng

1.3.1 Trên thế giới

Trên thế giới nhiều nghiên cứu về chấn thương do vật sắc nhọn đã được triểnkhai chỉ ra rằng chấn thương do VSN trong thực tập lâm sàng là vấn đề phổ biến ởsinh viên điều dưỡng Đồng thời kiến thức về phòng ngừa và xử lý sau phơi nhiễmvới kim tiêm và vật sắc nhọn của sinh viên được nhiều tác giả đề cập tới chưa cao

Về kiến thức phòng ngừa phơi nhiễm với kim tiêm và vật sắc nhọn, theonghiên cứu của tác giả Hani A năm 2017 cho thấy hơn 80% SV cho rằng có thể lâytruyền HIV, HBV qua kim tiêm và SV dễ bị tổn thương do kim tiêm, 76% SVkhông ý thức nhận thức được rằng kim không nên uốn cong sau khi sử dụng, 72%

SV tháo kim ra khỏi bơm biêm trước khi thải bỏ, 88% SV đồng ý rằng xử lý kémvật sắc nhọn dẫn đến phơi nhiễm, 98% đồng ý rằng cách xử lý kim an toàn sẽ giúpgiảm tỷ lệ tổn thương [19] Tương tự kết quả nghiên cứu của Hani A, nghiên cứucủa tác giả Taimur Saleem cho thấy hơn 85% HS/SV có kiến thức về khả năngnhiễm viêm gan B, viêm gan C và HIV từ vết thương do kim đâm Chỉ 16,4%HS/SV năm thứ 3; 29,5% HS/SV năm thứ 4 và 36,2% HS/SV năm cuối biết đầy đủchi tiết của việc phòng ngừa các tổn thương do kim [20] Để phòng ngừa tổn thương

do kim tiêm, 31,3% SV cho rằng cần đậy nắp kim bằng cách sử dụng kỹ thuật mộttay hoặc đậy nắp bằng cách giữ nắp trên bàn làm việc 40,6%; 85,5% SV cho rằngnên loại bỏ kim luôn [21] Chỉ có 16,5% SV tự tin rằng họ có đủ kiến thức liên quan

Trang 16

đến tổn thương do kim tiêm [22] Sinh viên cho rằng sự thiếu kiến thức về phòngchống chấn thương do VSN là yếu tố nguy cơ cực kỳ lớn dẫn đến bị chấn thương tại cơsở y tế Nghiên cứu chỉ ra rằng cần phải giáo dục để thúc đẩy nhận thức của sinh viên

về phòng ngừa và sự nguy hiểm của tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn [23]

Khi bị phơi nhiễm với kim tiêm hành động xử lý vết thương ngay lập tứcđúng kỹ thuật sẽ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường máu.Tuy nhiên,kiến thức về xử trí vết thương sau phơi nhiễm của SVchưa được tốt Theo nghiêncứu của Souza-Borges năm 2014 có 85,9% SV không biết hoặc chỉ biết một phần

trong các bước xử trí sau phơi nhiễm [7] Sinh viên nha khoa của Raichur ở Ấn Độ nói rằng họ sẽ nặn bóp máu vết thương sau khi bị chấn thương do kim [24] Tương

tự , nghiên cứu Kin Cheung có 62,1% SV rửa tay ngay dưới vòi nước đồng thời nặn

máu, làm sạch bằng bông cồn 56,9% [25] Thậm chí, theo kết quả nghiên cứu củaBaghcheghi có 51,6% SV trường đại học khoa học sức khỏe Arack còn thực hiệnnặn máu từ vết thương, hành động xử lý vết thương sai trầm trọng và 10% Sv khôngthực hiện bắt cứ hành động nào sau chấn thương [8]

Sau khi bị phơi nhiễm với kim tiêm và vật sắc nhọn SV cần phải báo cáo vớingười phụ trách/ quản lý về tình trạng phơi nhiễm để được tư vấn và điều trị dựphòng nếu cần thiết Tuy nhiên, tỷ lệ SV báo cáo sau chấn thương theo các nghiêncứu còn chưa cao Đánh giá kiến thức của SV về báo cáo chấn thương do VSN có10,4% không biết phải báo cáo, 44,8% biết một số yêu cầu, 27,1% biết tốt, 17,7%biết rất tốt về thủ tục báo cáo sau chấn thương [1] Theo nghiên cứu của Souza-Borges có 32,4% SV bị chấn thương không báo cáo với người quản lý Sinh viênviện giải lý do không báo cáo là: sơ suất 37,5%, vết thương nhỏ không có nguy cơlây bệnh 12,5%; không cần thiết báo cáo 12,5%; sợ bị phạt 12,5% Trong số bệnhnhân nguồn phơi nhiễm có 8,1% bệnh nhân HBV/HCV/HIV (+); 35,1% không quantâm đến tác hại sau phơi nhiễm của nguồn bệnh [1] Khác với kết quả của Souza-Borges, kết quả nghiên cứu của Kin Cheang cho thấy tỷ không báo cáo tổn thương

là 60,7% vì lý do họ coi thiết bị là sạch không bị nhiễm khuẩn (76,5%), nguy cơ lâynhiễm mầm bệnh thấp (50%), quy trình báo cáo phức tạp (14,7%), sợ bị phạt

Trang 17

(11,8%), không biết báo cáo như thế nào và không có thời gian báo cáo (2,9%) [25].Một nghiên cứu khác tại trường đại học Mahatma Gandhi cho thấy tỷ lệ SV khôngbáo cáo sau chấn thương là 77,4% trong đó 47,9% SV không biết phải báo cáo nhưthế nào [26] Vì vậy, nguyên tắc của việc huấn luyện kiểm soát nhiễm khuẩn và tấtcả các chấn thương cần được báo cáo tiếp tục được nhấn mạnh trong quá trình giảngdạy sinh viên điều dưỡng [27].

Sau phơi nhiễm có hơn ½ sinh viên không xác định tình trạng bệnh nhân mà

mình bị phơi nhiễm qua chấn thương, có 11,4% đã dự phòng phơi nhiễm và 19,54%

đã đi xét nghiệm huyết thanh [28]

1.3.2 Tại Việt Nam

Hiện tại, Việt Nam có rất ít đề tài nghiên cứu liên quan kiến thức thái độ vềphòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm trên sinh viên điều dưỡng

Xử lý đúng vết thương và báo cáo sự việc bị chấn thương đến người có trách nhiệm

là hành động sinh viên cần thực hiện nghiêm túc để bảo vệ chính bản thân, đồngthời cung cấp số liệu cho hệ thống giám sát tai nạn nghề nghiệp

Kiến thức của SV về phòng ngừa và xử trí sau phơi nhiễm với kim tiêm vàvật sắc nhọn chưa cao Chỉ có 36,91% HSSV trả lời đúng trên 70% nội dung về kiếnthức về phòng ngừa phơi nhiễm nghề nghiệp do kiêm tiêm truyền, Đa số HSSV chỉbiết một số chi tiết về quy trình xử trí phơi nhiễm với máu và dịch tiết do kim tiêmtruyền [12] Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Văn Luyến, 80% SV đã được giảng vềphòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn nhưng chỉ có 57,8% sinh viên có kiếnthức đúng về phòng ngừa và xử lý chấn thương do vật sắc nhọn [10]

Sau khi bị chấn thương chỉ có 48% SV sơ cứu vết thương ngay lập tức [29],

có 63% sinh viên điều dưỡng xử lý sai vết thương: nặn bóp máu ở vết thương và vệsinh bằng dung dịch khử khuẩn [11], thậm chí 11,2% sinh viên không thực hiện bất

kỳ biện pháp nào để xử lý vết thương [30]

Tỷ lệ báo cáo sau phơi nhiễm còn chưa cao chỉ có 9% SV có báo cáo và14% SV được làm xét nghiệm máu sau phơi nhiễm trong kết quả nghiên cứu của ĐỗNguyên Phương [29] Một nghiên cứu khác tại trường đại học Y khoa Vinh cho kết

Trang 18

quả có 41% sinh viên điều dưỡng báo cáo sau chấn thương,trong đó 31% báo cáođúng người có trách nhiệm, lý do chính SV không báo cáo bởi vì nhận thấy không

có nguy cơ lây bệnh, và báo cáo cũng không giải quyết được vấn đề gì [11]

Người bị chấn thương có thể bị lây nhiễm các tác nhân gây bệnh truyềnnhiễm qua đường máu nguy hiểm như HIV, HBV, HCV, đây là các nhóm bệnhnguy hiểm hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Trường Đại học Y khoa Vinhnăm 2014 có 2 sinh viên điều dưỡng bị kim tiêm cho bệnh nhân AIDS đâm vào tayphải điều trị PEP [46] Cho đến nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về vấn đềkiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyềntrên sinh viên điều dưỡng Qua một số nghiên cứu ở đối tượng sinh viên y đa khoa,cao đẳng và trung cấp điều dưỡng cho thấy thực kiến thức về phòng ngừa và xử lýsau phoi nhiễm còn rất kém [29] [10] [12] [11]

1.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

1.4.1 Giới

Do đặc thù nghề nghiệp nên tỷ lệ sinh viên điều dưỡng đa phần là nữ ít namhơn [12] [11] Sinh viên điều dưỡng nữ bị chấn thương do vật sắc nhọn trong thựctập lâm sàng cao gấp 1,8 lần so với sinh viên nam [11] Tuy nhiên, Nam sinh viên

có sự quan tâm nhiều hơn về yếu tố nguy cơ và tích cực tìm kiếm phương tiện sơcứu sau chấn thương hơn nữ [29] Sinh viên nam có kiến thức chưa đạt về phân loạirác thải gấp 1,9 lần sinh viên nữ [31]

1.4.2 Năm học

Thời gian học là yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thái độ về phòng và xửtrí phơi nhiễm với vật sắc nhọn Các sinh viên năm cuối thường có nhận thức tốthơn kiến thức và thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn, bên cạnh

đó do có thời gian học lâm sàng nhiều hơn, các sinh viên lớp lớn có thể đã từng trảiqua hoặc được chứng kiến các trường hợp bị phơi nhiễm với vật sắc nhọn nhiều hơn

do đó có sự cảnh giác cao hơn Nghiên cứu của Taimur Saleem chỉ ra rằng có sựliên quan giữa số năm được đào tạo và kiến thức về phòng ngừa các tổn thương do

Trang 19

kim tiêm, các sinh viên năm cuối có kiến thức tốt hơn về phòng ngừa các tổnthương do kim tiêm [6] Tương tự, theo tác giả Mohammat Suliman sinh viên nămthứ 4 có kiến thức về tổn thương do kim tiêm cao hơn (điểm trung bình 7,4; SD=1,6) so với sinh viên năm thứ 2 (điểm trung bình 6,5; SD= 1,8) với p< 0,001 [22].Ngược lại, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Thơ SVĐD năm thứ 3 cókiến thức về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn trong thực hành lâm sàng caohơn gấp 2,8 lần SVĐD năm 4 [11].

1.4.3 Chương trình đào tạo/hình thức đào tạo

Việc đào tạo về phòng ngừa và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêmtruyền của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Hà Nội thuộc nội dung học môn kiểmsoát nhiễm khuẩn được thực hiện bởi bộ môn Kiểm soát nhiễm khuẩn vào năm thứnhất với hình thức tự học lý thuyết và đi thực hành lâm sàng bệnh viện 1 tuần Đã

có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng, chương trình đào tạo ảnh hưởng đến kết quả thựchành dự phòng phơi nhiễm với vật sắc nhọn

Trang 20

Thiếu tập huấn, đào tạo về phòng ngừa phơi nhiễm nghề nghiệp với các tácnhân gây bệnh qua đường máu có thể khiến các SV điều dưỡng gặp rủi ro khi họ đithực hành lâm sàng tại bệnh viện Những SV không được đào tạo về phòng ngừatổn thương do kim tiêm và vật sắc nhọn có nguy cơ bị tổn thương cao gấp 3 lần sovới SV được đào tạo [25].

Chương trình đào tạo về phòng lây nhiễm có liên quan đến việc có xử tríđúng sau khi bị chấn thương Tỷ lệ 1/3 sinh viên còn chưa được tập huấn về phònglây nhiễm khi thự tập lâm sàng; những SV được tập huấn thực hiện sơ cứu nhiềuhơn so với sinh viên chưa được tập huấn [29]

Do vậy, SV cần được đào tạo cẩn thận và nghiêm túc về phòng ngừa và xửtrí tổn thương do kim tiêm và vật săc nhọn để làm giảm nguy cơ tổn thương và tăngcường báo cáo phơi nhiễm giúp giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường máu[20] , [32]

1.4.4 Yêu nghề điều dưỡng

Sự yêu nghề là yếu tố có mối liên quan đến kiến thức đạt của sinh viên TheoĐoàn Thị Vân, những sinh viên khi được hỏi trả lời là không yêu nghề điều dưỡng thì

có kiến thức chưa đạt về phân loại chất thải y tế gấp 6,4 lần sinh viên yêu nghề [31]

1.4.5 Tâm lý của sinh viên

Tâm lý của sinh viên liên quan đến khả năng bị tổn thương do vật sắc nhọn

và cách xử trí sau phơi nhiễm để làm giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đườngmáu SV lo lắng khi lần đầu tiên đi thực hiện thủ thuật có thể dẫn đến tổn thương[19], [33] Mức độ lo lắng trung bình 4,72 (SD=2,31) khi tiếp xúc với bệnh nhânchung nhưng tăng lên 7,09 (SD=2,58) khi tiếp xúc với bệnh nhân có tác nhân gâybệnh qua đường máu [1]

Trang 21

SV sợ bị phạt và kỷ luật khi báo cáo tổn thương do vật sắc nhọn cho giáoviên hoặc người phụ trách [7], [23] SV cũng nên yên tâm rằng chấn thương kimtiêm sẽ không dẫn đến hành động bị phạt nên bất kỳ chấn thương do vật sắc nhọnnào cũng phải được báo cáo cho người phụ trách để được dự phòng sau phơi nhiễmcần thiết nếu cần [1].

Tâm lý chủ quan của sinh viên liên quan đến việc tiêm phòng viêm gan B(VGB) trước khi đi thực tập tại các cơ sở y tế Tỷ lệ sinh viên tiêm đủ 3 mũi VGB là42,7%, tỷ lệ chưa tiêm là 42,9%, 14,4% tiêm chưa đầy đủ, trong đó có 8% sinh viênnghĩ rằng mình không cần thiết phải tiêm ngừa và đặc biệt có 1% SV không biết nơinào tiêm ngừa VGB [29] Tiêm phòng VGB cho SV trước khi đi thực hành lâmsàng tại các cơ sở y tế là điều cần thiết [23], [34]

Sau chấn thương do kim tiêm 15% SV phải chịu đựng đau khổ tinh thần,không ai trong số SV này báo cáo về bệnh mãn tính sau chấn thương do vật sắcnhọn [26] Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng trầm cảm giảm theo thời giansau NSI, nhưng bệnh tâm thần kéo dài thêm 1,78 tháng mỗi tháng ở một bệnh nhânNSI chờ đợi kết quả xét nghiệm âm tính [35] Các chương trình quản lý sau phơinhiễm cần phải chú trọng hơn vào các sáng kiến giáo dục và tâm lý học để cải thiệnviệc xác định và điều trị các đối tượng có triệu chứng trầm cảm [36]

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Sinh viên cao đẳng điều dưỡng năm thứ 2 đã học xong môn học: Điềudưỡng cơ sở; Điều dưỡng và kiểm soát nhiễm khuẩn Sinh viên cao đẳng điềudưỡng năm thứ 3 trường Cao đẳng Y tế Hà Nội

- Sinh viên tự nguyện tham gia

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Sinh viên cao đẳng điều dưỡng năm 2 chưa học xong môn học: Điều dưỡng

Trang 22

cơ sở; Điều dường và kiểm soát nhiễm khuẩn

- Sinh viên không có mặt tại trường trong thời gian nghiên cứu hoặc sinhviên không muốn tham gia nghiên cứu

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nội

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01 /2018 đến tháng 04 /2019

Trong đó:

- Thời gian viết đề cương nghiên cứu từ tháng 01 /2018 đến tháng 5 /2018

- Thời gian thu thập số liệu được tiến hành từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2018

- Thời gian viết báo cáo và xử lý số liệu từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 4năm 2019

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

- Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu nghiên cho nghiên cứu cắt ngangcứu tỷ lệ: P =58%

+ P: tỷ lệ ước tính ( tỷ lệ sinh viên có kiến thức tốt về phòng và xử trí với vậtsắc nhọn là 58% [10]

+ d: độ chính xác tuyệt đối mong muốn (d=5%)

Z: Z score tương ứng với mức có ý nghĩ thống kê mong muốn (mức ý nghĩathống kê mong muốn là 95%: Z=1,96)

Tính đến thời điểm tiến hành nghiên cứu (8/2018) trường Cao đẳng y tế HàNội có 668 sinh viên năm thứ 3 (cao đẳng điều dưỡng khóa 11) được chia thành 12lớp từ A đến M và 1066 sinh viên năm thứ 2 (cao đẳng điều dưỡng khóa 12) được

Trang 23

chia thành 41 lớp từ A1 đến A41 Tuy nhiên, đến tháng 8/ 2018 chỉ có 12 lớp đầu từ12A1 đến 12A20 là đã học xong môn Điều dưỡng cơ sở và môn Điều dưỡng vàkiểm soát nhiễm khuẩn Tổng số sinh viên của 20 lớp này là 520 sinh viên Do đó,tổng số sinh viên là: 668+520=1188 sinh viên Vậy số sinh viên cần lấy vào mẫunghiên cứu là:

+ Sinh viên năm thứ 3: 668x380/1188=214 sinh viên

+ Sinh viên năm thứ 2: 520x380/1188=166 sinh viên

- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với hệ sốk=1188/374= 3,2≈4 Vậy lấy k=4

- Cách chọn mẫu: Lập danh sách sinh viên theo thứ tự lớp của từng khóa+ Cao đẳng khóa 11 (sinh viên năm thứ 3) lập danh sách mẫu theo thứ tự từlớp 11A đến lớp 11M, chọn 1 số thứ tự bất kỳ, sau đó lấy tịnh tiến theo hệ số k Sốthứ tự đầu tiên chọn là số (x), số tiếp theo là x+k, x+2k, x+3k… cứ tiếp tục cho đếnkhi lấy đủ 214 sinh viên Lập danh sách mẫu nghiên cứu có đầy đủ họ tên, ngàytháng năm sinh, lớp của 214 sinh viên được lựa chọn

+ Làm tương tự với sinh viên năm thứ 2 (cao đẳng khóa 12) nhưng chỉ lấycho đến khi lấy đủ 166 sinh viên Lập danh sách mẫu nghiên cứu có đầy đủ họ tên,ngày tháng năm sinh, lớp của 166 sinh viên được lựa chọn

2.4 Công cụ và quá trình thu thập số liệu

2.4.1 Công cụ thu thập

2.4.1.1 Qúa trình xây dựng bộ câu hỏi

Bộ câu hỏi nghiên cứu được thiết kế dựa trên bộ câu hỏi về kiến thức phòngngừa phơi nhiễm nghề nghiệp do kim tiêm truyền của tác giả Nguyễn Thị HoàngThu; bộ câu hỏi về kiến thức, thái độ phòng ngừa bệnh viêm gan B nghề nghiệp củatác giả Trần Thị Bích Hải năm 2015 và bộ câu hỏi về kiến thức phòng ngừa tổnthương do vật sắc nhọn của Seham A năm 2015 Các nội dung bao gồm: kiến thức

về phòng và xử lí phơi nhiễm với vật sắc nhọn [12], [20], [37]

Các phần còn lại trong bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên nội dung củaquyết định số: 3671/QĐ - BYT ngày 27/9/2012 của Bộ Y tế về “Hướng dẫn tiêm an

Trang 24

toàn trong các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh” [14] và quyết định số K2ĐT ngày 30/08/2012 của Bộ Y tế về “Tài liệu đào tạo phòng và kiểm soát nhiễmkhuẩn” [17].

5771/BYT-Qúa trình sinh dựng, hoàn thiện bộ câu hỏi gồm các bước:

+ Tham khảo tài liệu

+ Xây dựng bộ câu hỏi

+ Xin ý kiến chuyên gia

+ Thử nghiệm bộ câu hỏi trên bệnh nhân

+ Chỉnh sửa bộ câu hỏi

+ Thu thập trên sinh viên

Bộ câu hỏi được sự góp ý của: 1 Tiến sỹ chuyên về Hồi sức cấp cứu, là giảngviên khoa Điều dưỡng- Hộ sinh, trường Đại học Y Hà Nội Bộ câu hỏi còn nhậnđược sự đóng góp ý kiến của 3 Thạc sỹ: 1 Thạc sỹ chuyên về kiểm soát nhiễmkhuẩn, phụ trách kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện Đại học Y Hà Nội, 1 Thạc sỹ làtrưởng khoa kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện Ung Bướu Hà Nội, 1 Thạc sỹ làtrưởng bộ môn kiểm soát nhiễm khuẩn trường Cao đẳng Y tế Hà Nội

Người nghiên cứu sẽ tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi trên: 26 sinh viên caođẳng điều dưỡng lớp 12A1 - trường Cao đẳng Y tế Hà Nội

2.4.1.2 Nội dung của bộ câu hỏi.

Bộ câu hỏi nghiên cứu bao gồm 2 phần ( phụ lục 1):

Thông tin cơ bản của đối tượng

Các nội dung về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

a Thông tin chung bao gồm

Tuổi

Giới

Năm học

Có yêu nghề điều dưỡng không

Thời gian gần đây đọc tài liệu liên qua đến phơi nhiễm do vật sắc nhọn

Có được hướng đọc, học những kiến thức về phòng ngừa phơi nhiễm với VSN

Trang 25

Có được hướng đọc, học những kiến thức về xử trí phơi nhiễm với VSN

Tự đánh giá mức độ hiểu biết của mình về phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN

Hình thức mong muốn đào tạo liên quan đến phơi nhiễm do vất sắc nhọn

Đã tiêm phòng vắc- xin viêm gan B chưa

Lý do chưa tiêm vắc - xin viêm gan B

b Các nội dung liên quan đến phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường máu liên quan tới vật sắcnhọn: 3 câu

Kiến thức về thời điểm nhân viên y tế có thể bị phơi nhiễm: 5 câu

Kiến thức về biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm: 13 câu

Kiến thức về xử trí phơi nhiễm: 16 câu

Thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong : 9 câu

2.4.2 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

- Công cụ thu thập số liệu: bộ câu hỏi tự điền

- Phương pháp thu thập số liệu: thiết kế sắn bộ câu hỏi tự điền, phát cho mỗiđối tượng nghiên cứu 1 bộ câu hỏi tự điền để thu thập số liệu

- Đối tượng nghiên cứu đã được lập danh sách với đầy đủ họ tên, ngày thángnăm sinh và lớp được mời họp, thông báo, giải thích cụ thể, rõ ràng và giải đáp tất cảcác thắc mắc về nghiên cứu, quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia vào nghiên cứu,sau đó được lấy ý kiến có đồng ý tham gia nghiên cứu Sinh viên nào không đồng ýtham gia nghiên cứu thì cảm ơn, chào ra về Còn những sinh viên đồng ý tham gianghiên cứu được chia ngẫu nhiên vào 5 giảng đường, mỗi bàn 2 sinh viên ngồi, vàđược phát phiếu nghiên cứu tự điền Mỗi giảng đường có 01 điều tra viên hướng dẫncách điền phiếu nghiên cứu, hỗ trợ và giải đáp thắc mắc cho sinh viên

- Điều tra viên: 05 người (02 giảng viên bộ môn Điều dưỡng cơ sở và 03giảng viên bộ môn Kiểm soát nhiễm khuẩn) được tập huấn kĩ lưỡng, cụ thể, tỉ mỉ về

bộ câu hỏi, những vướng mắc có thể gặp phải, cách giải đáp thắc mắc của SV Điều

Trang 26

tra viên sẽ hỗ trợ trong quá trình SV điền phiếu nghiên cứu; đảm bảo các SV khôngtrao đổi với nhau khi điền phiếu; yêu cầu SV có vướng mắc gì chưa hiểu thì hỏi trựctiếp điều tra viên, SV không ghi hoặc ký tên vào phiếu điều tra (phát vấn khuyếtdanh) Khi SV hoàn thành phiếu, điều tra viên phải kiểm tra cẩn thận, nếu chưa đầy

đủ thông tin thì yêu cầu SV hoàn thiện Tập hợp phiếu và đưa lại đầy đủ số phiếucủa phòng mình được phân công phụ trách cho nghiên cứu viên

- Giám sát viên: nghiên cứu viên sẽ giám sát, hỗ trợ điều tra viên trong quátrình thu thập và làm sạch số liệu

2.5 Phương pháp phân tích số liệu

- Quản lý số liệu: Sau khi thu thập, phiếu điều tra được kiểm tra tính đầy đủ

của thông tin Sau đó phiếu được đưa lại cho nghiên cứu viên để làm sạch, mã hóa,nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0

- Phân tích số liệu: Kết quả phân tích được chia làm 2 phần:

+ Phân tích mô tả những bảng, biểu thể hiện tần số của các biến nghiên cứu.+ Các câu hỏi tự điền và in sẽ được chỉnh sửa và mã hóa cho các mục đểnhập máy tính và tất cả các câu hỏi sẽ được kiểm tra lại bởi các điều tra viên chính.Những dữ liệu được nhập vào máy tính, làm sạch và phân tích bằng cách sử dụngIBM SPSS (phiên bản 20.0) Số liệu sẽ được phân tích với một loạt các phươngpháp thống kê được trình bày trong phần này Thống kê mô tả sẽ được sử dụng đểtính toán khoảng tin cậy tần số, độ lệch chuẩn và 95% cho mỗi phân loại ở các phầncủa bộ câu hỏi

Các test thống kê Chi-bình phương sẽ được sử dụng để kiểm tra giữa đặcđiểm chung của đối tượng và sự khác biệt theo biến phân loại trong phần trả lời vềkiến thức, thái độ

2.6 Các tính và cho điểm kiến thức, thái độ ( phụ lục 2)

Phần kiến thức có các câu hỏi từ C12 đến C49 bao gồm cả những câu cónhiều lựa chọn và trừ câu 38 không tính điểm (vì thể hiện quan điểm của người trảlời) Nên mỗi ý trả lời đúng được 1) Dựa vào phần trả lời của các câu hỏi trongphiếu điều tra của ĐTNC, theo thang điểm để tính điểm và đánh giá có kiến thức

Trang 27

đúng hay không đúng được đánh giá cho từng phần Nếu trả lời đúng trên 3/4 các ýđúng được coi là kiến thức đúng cụ thể như sau:

Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường máu liên quan tới vật sắcnhọn: 3 câu có tổng điểm là 8 điểm Kiến thức đúng khi trả lời đúng ≥ 6 điểm, kiếnthức chưa đúng < 6 điểm

Kiến thức về thời điểm nhân viên y tế có thể bị phơi nhiễm: 5 câu có tổng điểm

là 5 điểm Kiến thức đúng khi trả lời đúng ≥ 4 điểm, kiến thức chưa đúng < 4 điểm

Kiến thức về biện pháp phòng ngừa phơi nhiễm: 13 câu có tổng điểm là 27điểm Kiến thức đúng khi trả lời đúng ≥ 20 điểm, kiến thức chưa đúng < 20 điểm

Kiến thức về xử trí phơi nhiễm: 16 câu có tổng điểm là 22 điểm Kiến thứcđúng khi trả lời đúng ≥ 16 điểm, kiến thức chưa đúng < 16 điểm

Điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức chung là: 61 điểm Nếu trả lời đúng trên3/4 các ý đúng được coi là kiến thức đúng Điểm kiến thức chung đúng 46 ≥ điểm;Điểm kiến thức chung chưa đúng < 46 điểm [10], [11]

Nghiên cứu đo lường thái độ của sinh viên về phòng và xử trí phơi nhiễm với

vật sắc nhọn trong tiêm truyền bằng 10 câu hỏi từ C50 đến C58 trong phiếu điều tra.

Nhằm hạn chế những sai lệch do sự đồng ý hoặc phản đối được trả lời theo dâychuyền, những quan điểm đưa ra là sự xen kẽ giữa những quan điểm tích cực vàquan điểm tiêu cực Trong 9 câu hỏi có 4 câu thể hiện quan điểm tiêu cực; 5 câu thểhiện quan điểm tích cực được đặt xen kẽ nhau

Đối với 5 câu thể hiện quan điểm tích cức, gộp mức rất đồng ý và mức đồng

ý là 1 điểm, trung lập và không đồng ý 0 điểm Đối với 4 câu thể hiện quan khôngđồng ý là 1 điểm, trung lập và đồng ý là 0 điểm

Điểm tối đa cho phần đánh giá thái độ là 9 điểm Nếu ĐTNC trả lời đúng 2/3

ý đúng và trả lời đúng C50 và C54 được coi là thái độ đúng Điểm đúng 6 ≥ điểm;không đúng < 6 điểm [37], [38]

2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Để đảm bảo đạo đức nghiên cứu, chúng tôi sẽ thực hiện các công việc sau đây:

Trang 28

- Giải thích mục đích ý nghĩa của cuộc điều tra cho ĐTNC để sinh viên hiểu

và quyết định tham gia nghiên cứu Mọi đối tượng đều có thể hỏi những câu hỏitrước khi tiến hành nghiên cứu liên quan đến mục đích, quyền lợi của đối tượngnghiên cứu

- Điều tra trên những đối tượng tự nguyện đồng ý cộng tác, không ép buộc

và trên tinh thần tôn trọng Đối tượng nghiên cứu có thể bỏ qua những câu trả lờicảm thấy không thích trả lời nó

- Đối tượng nghiên cứu sẽ ký cam kết thoả thuận trước khi tham gia vào

nghiên cứu

- Việc phỏng vấn được tiến hành vào thời điểm thuận tiện cho sinh viên sau

khi đã kết thúc tiết học trong ngày

- Các thông tin cá nhân được đảm bảo giữ bí mật.

- Nghiên cứu chỉ nhằm mục đích xác định kiến thức, thái độ của sinh viên về

phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm tiêm truyền nhằm mục đíchđưa ra những giải pháp nhằm nâng cao kiến thức, thái độ của sinh viên về vấn đềnày trước và trong quá trình đi lâm sàng bệnh viện

- Kết quả nghiên cứu sẽ không ảnh hưởng tới bất kỳ một kết quả xếp loại

hoặc học tập nào của đối tượng tham gia nghiên cứu

2.8 Sai số và cách khắc phục

 Các sai số trong nghiên cứu này có thể là sai số hệ thống

 Các sai số hệ thống có thể gặp trong nghiên cứu này là sai số thông tin, sai

số trong quá trình thiết kế và thu thập thông tin gồm:

- Sai số nhớ lại: vì nghiên cứu có hỏi một số thông tin trong quá khứ

- Sai số chọn mẫu ít xảy ra do trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng chọn mẫutoàn bộ với cỡ mẫu đủ lớn để phát hiện vấn đề của nghiên cứu

Trang 29

- Tập huấn kỹ cho điều tra viên về bộ câu hỏi nhằm thống nhất nội dung từngcâu hỏi.

- Phiếu điều tra được giám sát ngay trong ngày điều tra

- Đối tượng được thỏa thuận tự nguyện tham gia nghiên cứu, khi đó thì thôngtin sẽ chính xác hơn

- Để hạn chế thiếu sót thông tin, có quá trình giám sát trong điều tra thu thập

số liệu trong đó các phiếu điều tra được điều tra viên kiểm tra ngay sau khi ngườitham gia hoàn thành phiếu phỏng vấn để yêu cầu bổ sung những thông tin còn thiếu

- Nhóm nghiên cứu được tập huấn và tuân thủ quy trình nghiên cứu chặt chẽ,đảm bảo vấn đề đạo đức nghiên cứu, đối tượng tham gia nghiên cứu không ghi hay

ký tên vào phiếu điều tra

Trang 30

Chương 3

DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)

Biểu 3.1 Tuổi của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là: … + SD

Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (N=)

Thông tin chung Phân loại Số lượng (N) Tỷ lệ %

Bảng 3.2 Một số thông tin liên quan đến việc học tập về phòng và xử trí phơi

nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền

Thông tin Phân loại Số lượng (N) Tỷ lệ %

Thời gian gần đây học, đọc tài

liệucóliên quan đếnvềphòng

và xử trí phơi nhiễm với tổn

thương do vật sắc nhọn

< 3 tháng

3 – 6 tháng

7 – 12 thángChưa bao giờ đọcĐược hướng dẫn học, đọc

những kiến thức về phòng ngừa

CóKhôngĐược hướng dẫn học, đọc

những KT về xử trí phơi nhiễm

CóKhông

Tự đánh giá mức độ hiểu biết

của mình về phòng và xử trí

phơi nhiễm

Chỉ nghe nói nhưng

k biết chi tiếtBiết một số chi tiếtBiết đầy đủ chi tiếtKhông biết gìHình thức mong muốn được

đào tạo về phòng và xử trí phơi

nhiễm với vật sắc nhọn

Tự đọc tài liệu tronggiáo trình

Giảng lý thuyếtGiảng LS tại BVKhác

Nhận xét:

Trang 31

Biểu 3.2 Thực trạng tiêm phòng vắc- xin viêm gan B của đối tượng nghiên cứu

thể lây truyền qua

đường máu liên

quan đến vật sắc

nhọn

Viêm gan B

ĐúngSaiKhông biếtViêm gan C

ĐúngSaiKhông biếtHIV

ĐúngSaiKhông biết

ĐúngSaiKhông biếtHIV

ĐúngSaiKhông biếtNguy cơ lây truyền HBV cho nhân

viên y tế sau khi bị một tổn thương

do kim tiêm truyền đâm nhiều hơn

HIV

ĐúngSaiKhông biết

Nhận xét:

Ngày đăng: 20/08/2019, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w