1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thay đổi kiến thức về phòng té ngã cho người bệnh của sinh viên điều dưỡng trường cao đẳng y tế hà nam sau can thiệp năm 2019

90 105 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 794,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH MAI XUÂN THƯ THAY ĐỔI KIẾN THỨC VỀ PHÒNG TÉ NGÃ CHO NGƯỜI BỆNH CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NAM SAU CAN THIỆP NĂM 2019 LUẬN VĂN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

MAI XUÂN THƯ

THAY ĐỔI KIẾN THỨC VỀ PHÒNG TÉ NGÃ CHO NGƯỜI BỆNH CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG

TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NAM SAU CAN THIỆP

NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

MAI XUÂN THƯ

THAY ĐỔI KIẾN THỨC VỀ PHÒNG TÉ NGÃ CHO NGƯỜI BỆNH CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG

TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NAM SAU CAN THIỆP

NĂM 2019

Chuyên ngành: Điều dưỡng

Mã số: 8720301 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ MINH CHÍNH

NAM ĐỊNH - 2019

Trang 3

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức về té ngã và đánh giá sự thay đổi

kiến thức về té ngã của của sinh viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà

Nam sau can thiệp giáo dục năm 2019

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp dạng

trước sau với biện pháp can thiệp là giáo dục sức khỏe được thực hiện trên 70 sinh viên điều dưỡng chính quy đang theo học tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam năm 2019 Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Dữ liệu nghiên cứu được thu thập bằng bộ câu hỏi được thiết

kế sẵn để đánh giá thực trạng kiến thức của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp và những thay đổi ngay sau can thiệp cũng như 1 tháng sau can thiệp giáo dục

Kết quả: Trước can thiệp kiến thức của sinh viên điều dưỡng về té ngã

đạt loại tốt chiếm 41,4% tuy nhiên sau can thiệp tăng lên 97,1% và sau can thiệp 1 tháng là 92,9% Điểm trung bình kiến thức trước can thiệp là 20,1 ± 2,4 điểm tăng lên 24,0 ± 2,0 tại thời điểm ngay sau can thiệp và sau can thiệp

1 tháng điểm trung bình là 23,2 ± 2,1 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Kết luận: Kiến thức của sinh viên điều dưỡng về phòng té ngã cho

người bệnh phần lớn ở mức trung bình Nhiều nội dung kiến thức của sinh viên mức độ kém ở thời điểm trước can thiệp giáo dục nhưng có cải thiện đáng kể sau can thiệp giáo dục sức khỏe Vì vậy để nâng cao kiến thức về té ngã cho sinh viên điều dưỡng, giảng viên cần có sự cập nhật kiến thức mới, đổi mới phương pháp dạy và học

Từ khóa: Kiến thức về té ngã, sinh viên điều dưỡng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn: Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, các Phòng ban, Bộ môn - Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, rèn luyện và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Minh Chính, người Cô tận tâm và nhiệt tình, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu, cán bộ giảng viên khoa Lâm sàng - Trường Cao đẳng Y tế Hà Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian theo học và thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các em sinh viên Cao đẳng Điều dưỡng khóa 9 Trường Cao đẳng Y tế Hà Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và người thân đã tạo điều kiện và luôn ở bên tôi, chia sẻ những khó khăn, vướng mắc

và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Nam Định, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

MAI XUÂN THƯ

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,

đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi

tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!

Nam Định, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Mai Xuân Thư

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về té ngã 4

1.2 Kiến thức của sinh viên điều dưỡng về té ngã 11

1.3 Biện pháp thay đổi kiến thức về té ngã cho sinh viên điều dưỡng 15

1.4 Học thuyết nghiên cứu 18

1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu: 21

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.3 Thiết kế nghiên cứu 22

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 23

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 24

2.6 Các biến số nghiên cứu 26

2.7 Phương pháp phân tích số liệu 28

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 28

2.9 Sai số và biện pháp khắc phục 29

Trang 7

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Thực trạng kiến thức về té ngã của sinh viên 32

3.3 Thay đổi kiến thức của sinh viên điều dưỡng về té ngã sau can thiệp 37 Chương 4: BÀN LUẬN 43

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 43

4.2 Thực trạng kiến thức về té ngã của sinh viên 44

4.3 Thay đổi kiến thức của sinh viên điều dưỡng về phòng té ngã cho người bệnh sau can thiệp 48

4.4 Hạn chế đề tài 53

KẾT LUẬN 55

KHUYẾN NGHỊ 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Bản đồng thuận nghiên cứu

Phụ lục 2: Bộ câu hỏi nghiên cứu

Phụ lục 3: Các biến số nghiên cứu

Phụ lục 4: Nội dung can thiệp giáo dục

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AHRQ (Agency for Healthcare Research

and Quality )

Tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ

NDNQI (National Database of Nursing

Quality Indicator):

Cơ sở dữ liệu quốc gia về chỉ tiêu chất lượng điều dưỡng

RNAO (Registered Nurses' Association

of Ontario):

Hiệp hội điều dưỡng Ontario

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 30 Bảng 3.2 Đặc điểm liên quan đến kiến thức phòng té ngã của đối tượng

nghiên cứu 31 Bảng 3.3 Thực trạng kiến thức về nhận biết yếu tố nguy cơ té ngã 32 Bảng 3.4 Thực trạng kiến thức về các biện pháp dự phòng té ngã của sinh

viên điều dưỡng 33 Bảng 3.5 Mức độ kiến thức về nhận biết yếu tố nguy cơ té ngã của sinh viên

điều dưỡng 35 Bảng 3.6 Mức độ kiến thức về các biện pháp dự phòng té ngã của sinh viên

điều dưỡng trước can thiệp giáo dục 36 Bảng 3.7 Kết quả đánh giá kiến thức chung về phòng té ngã của sinh viên

điều dưỡng trước can thiệp giáo dục 37 Bảng 3.8 Kết quả kiến thức về nhận biết yếu tố nguy cơ té ngã của sinh viên

điều dưỡng trước và sau can thiệp giáo dục 37 Bảng 3.9 Kết quả kiến thức về các biện pháp dự phòng nguy cơ té ngã của

sinh viên điều dưỡng trước và sau can thiệp giáo dục 38 Bảng 3.10 Kết quả đánh giá sự thay đổi kiến thức về nhận biết yếu tố nguy

cơ té ngã của sinh viên điều dưỡng trước và sau can thiệp giáo dục 39 Bảng 3.11 Kết quả đánh giá sự thay đổi kiến thức về các biện pháp dự phòng

té ngã của sinh viên điều dưỡng trước và sau can thiệp 40 Bảng 3.12 Kết quả đánh giá sự thay đổi kiến thức chung của sinh viên điều

dưỡng về phòng té ngã trước và sau khi can thiệp 41

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 23 Biểu đồ 3.1 Phân bố theo địa bàn sinh sống của đối tượng nghiên cứu 30 Biểu đồ 3.2 Mong muốn tham gia chương trình đào tạo phòng té ngã 31 Biểu đồ 3.3 Mức độ kiến thức chung về phòng té ngã của sinh viên điều

dưỡng 36 Biểu đồ 3.4 Mức độ kiến thức phòng té ngã của sinh viên điều dưỡng trước

và sau khi can thiệp 42

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cùng với sự phát triển đi lên của nền kinh tế, xã hội trong nước và trên thế giới, những thành tựu của y học trong chẩn đoán, điều trị, chăm sóc đã giúp phát hiện sớm và điều trị thành công cho nhiều người bệnh mắc các bệnh nan y mà trước đây không có khả năng cứu chữa, mang lại cuộc sống và hạnh phúc cho nhiều người và nhiều gia đình Tuy nhiên, theo các chuyên gia y tế thách thức hàng đầu trong lĩnh vực y tế hiện nay là bảo đảm cung cấp các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe an toàn cho người bệnh Té ngã là một trong những chỉ

những vấn đề sức khỏe phức tạp và tốn kém nhất hiện nay [43]

Theo nghiên cứu của tác giả Patricia Quigley năm 2013 ước tính có khoảng 25.500 người Mỹ đã chết vì té ngã trong môi trường chăm sóc sức khỏe và cộng đồng, vô số người bị thương nặng như gãy xương và chấn thương sọ não Chi phí cho một cú ngã nghiêm trọng với chấn thương trung bình khoảng 14,056 đô la Úc cho mỗi người bệnh [37] Chi phí chăm sóc sức khỏe trực tiếp cho té ngã ở Canada ước tính khoảng 2 tỷ đô la hàng năm [9]

Ngăn ngừa té ngã sẽ giảm chấn thương và tử vong liên quan đến ngã cho phép mọi người duy trì cuộc sống độc lập và chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể, giảm gánh nặng chi phí điều trị cho gia đình và xã hội… [51]

Sinh viên điều dưỡng là những người điều dưỡng tương lai, có vai trò quan trọng trong việc làm giảm thiểu té ngã ở người bệnh Vì họ sẽ trở thành những người trực tiếp chăm sóc người bệnh trong suốt quá trình nằm viện, họ

sẽ đánh giá được nguy cơ té ngã của người bệnh khi nằm viện, vì vậy họ có thể trao đổi với bác sỹ, người nhà người bệnh và lên kế hoạch để giảm thiểu các nguy cơ này [45], [51] Để đáp ứng vai trò đó ngay từ khi còn đang học trong nhà trường sinh viên điều dưỡng cần phải có kiến thức và hiểu biết về

Trang 12

vấn đề này Tuy nhiên các nghiên cứu lại chỉ ra rằng kiến thức của họ còn rất hạn chế trong việc phòng té ngã cho người bệnh Theo nghiên cứu của Kim Myoung Hee trên 404 sinh viên điều dưỡng từ bốn trường đại học ở Chungbuk, Hàn Quốc cho thấy kiến thức của họ về phòng ngừa té ngã cho

và cộng sự trên 178 sinh viên y khoa đại học Monash, Melbourne, Victoria Australia cho thấy kiến thức của sinh viên về các biện pháp dự phòng té ngã cho người bệnh chỉ đạt 29,7% số câu trả lời đúng [18] Nghiên cứu của Jamehl LD trên 63 sinh viên y khoa đại học Wake Forest, Winston-Salem, North Carolina, Hoa Kỳ Kết quả kiến thức của sinh viên về các yếu tố nguy

cơ té ngã đạt 44,5% số câu trả lời đúng [26]

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kiến thức và năng lực của sinh viên điều dưỡng về phòng ngừa rủi ro té ngã tăng lên sau khi tiếp xúc với các chương trình giáo dục về dự phòng té ngã [30],[36],[52] Hiện nay an toàn người bệnh là một trong những nội dung đang được triển khai giảng dạy trong các trường đào tạo y khoa và điều dưỡng Với mong muốn cung cấp thêm các bằng chứng khoa học về hiệu quả của việc đào tạo trong nhà trường, chúng tôi

tiến hành thực hiện đề tài “Thay đổi kiến thức về phòng té ngã cho người bệnh của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nam sau can thiệp năm 2019”

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng kiến thức của sinh viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nam về phòng té ngã cho người bệnh

2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức của của sinh viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nam về phòng té ngã cho người bệnh sau can thiệp giáo dục

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về té ngã

1.1.1 Định nghĩa té ngã

Theo cơ sở dữ liệu quốc gia về chỉ tiêu chất lượng điều dưỡng Hoa Kỳ

(NDNQI) năm 2012 thì “té ngã là rơi xuống sàn nhà không có kế hoạch, có hoặc không có thương tích cho người bệnh” [33]

Theo hiệp hội điều dưỡng Ontario của canada (RNAO) thì “té ngã là một sự kiện khiến một người vô tình nằm trên mặt đất hoặc trên sàn nhà hoặc các tầng thấp khác” [39]

Hiện nay dù định nghĩa về té ngã đã được nhiều tổ chức y tế cũng như các chuyên gia về sức khỏe đưa ra tuy nhiên định nghĩa về té ngã của tổ chức

Y tế Thế giới vẫn được sử dụng rộng dãi trên thế giới:

“Té ngã là những người vô tình nằm trên mặt đất, sàn nhà hoặc vị trí thấp khác, không bao gồm sự thay đổi có chủ ý trong vị trí để nghỉ ngơi trong

đồ nội thất, tường hoặc các vật thể khác” [51]

1.1.2 Thực trạng té ngã của người bệnh trong và ngoài nước

* Trên Thế giới

đến 1.000.000 người bị ngã trong bệnh viện [16], từ 30% - 35% những người bệnh đó bị chấn thương do ngã và khoảng 11.000 người ngã đã tử vong [7], chấn thương liên quan đến té ngã có thể dẫn đến tăng thêm chi phí nằm viện 13,316 đô la và kéo dài thêm 6,3 ngày nằm viện [48],[50] Té ngã hiện nay là một thách thức lớn đối với thế giới Số lượng người té ngã có xu hướng gia tăng trong những năm tiếp theo [28]

Trang 15

Theo hiệp hội điều dưỡng Ontario (Registered Nurses' Association of

thứ 6 ở người cao tuổi Ngã là nguyên nhân hàng đầu khiến các ca nhập viện

do chấn thương tại trung tâm chăm sóc cấp tính Ontario (Ontario Acute Care Center) Ngã chiếm tới 84% các sự cố nội trú [9],[39]

Té ngã có thể dẫn đến những chấn thương cho người bệnh, từ đó đặt ra một gánh nặng đáng kể về giảm chất lượng cuộc sống và chi phí kinh tế, tăng nguy cơ tử vong sớm và tránh các hoạt động dẫn đến cách ly xã hội [19],[44]

Tỷ lệ nhập viện do ngã của những người ở độ tuổi từ 60 trở lên ở Úc, Canada

và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (Anh) dao động từ 1,6 đến 3,0 trên 10.000 dân [51] Một nghiên cứu của Australia chỉ ra rằng tỷ lệ té ngã tăng dần theo tuổi: 8% phụ nữ ở độ tuổi bốn mươi, 14% ở phụ nữ năm mươi, 25% trong những năm sáu mươi và 40% ở độ tuổi bảy mươi đã trải qua một

sự cố té ngã trong 12 tháng trước đó [35]

Theo dịch vụ y tế quốc gia Hoa Kỳ (National Health Service – NHS) hậu quả của té ngã bao gồm: đau khổ, đau đớn, thương tích, mất tự tin, mất độc lập và tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong Ngã cũng ảnh hưởng đến các thành viên gia đình và người chăm sóc những người bị ngã, và có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, sức khỏe và chi phí chăm sóc xã hội Con số này chiếm khoảng 25% trong tổng chi phí 2,3 tỷ bảng mỗi năm [34] Các chuyên gia y tế

đã nhận ra một hiện thực là bệnh viện không phải là nơi an toàn cho người bệnh như mong muốn và mâu thuẫn với chính sứ mệnh của nó là bảo vệ sức khỏe và tính mạng của con người [3]

* Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, té ngã đang là vấn đề được quan tâm Khi té ngã xảy ra, người bệnh và gia đình người bệnh trở thành nạn nhân, phải gánh chịu hậu quả tổn hại tới sức khỏe, tính mạng, tài chính [3] Ở Việt nam hiện nay chưa

Trang 16

có một thống kê rõ ràng của một tổ chức y tế về tỷ lệ té ngã xong theo báo cáo của Ủy ban an toàn vào năm 2003 thì sự cố tai nạn té ngã dẫn đến tử vong đứng thứ hạng cao trong danh mục sự cố thường gặp Các tai nạn té ngã chiếm khoảng 4,6% các sự cố [2],[3]

1.1.3 Nguyên nhân của té ngã [1],[2],[3],[15],[51]

Ngã là một vấn đề phổ biến đối với người già và thường là lý do chính khiến người bệnh phải nhập viện Những lý do hoặc nguyên nhân của sự té ngã được gọi là các yếu tố rủi ro Một số người già có nhiều khả năng bị ngã hơn những người khác Nguy cơ té ngã có thể do môi trường chăm sóc hoặc

do bản thân người bệnh

* Nguyên nhân từ môi trường bệnh viện

- Xe đẩy, giường bệnh vẫn còn khe hở để người bệnh lọt ra ngoài

- Giường bệnh cao, không có thanh chắn giường, người bệnh rất dễ lăn

ra khỏi giường khi ngủ

- Thiếu dụng cụ hỗ trợ người bệnh di chuyển như tay vịn trong nhà

vệ sinh…

- Nhà vệ sinh trơn trượt, hành lang ẩm ướt

- Lan can cầu thang thấp không có song chắn

- Thiếu biển cảnh báo tại những nơi có nguy cơ ngã (cầu thang, dốc, khu vệ sinh…)

- Thiếu ánh sáng ở những khu vực dễ trơn trượt, chỗ gồ ghề…

- Thiếu chuông báo cho tất cả các giường bệnh

- Người bệnh chưa được đánh giá đúng đắn về nguy cơ té ngã, cũng như kiến thức về té ngã của nhân viên y tế, người bệnh, người chăm sóc người bệnh còn hạn chế

Yếu tố bản thân người bệnh được chia thành yếu tố sinh học và yếu tố hành vi

Trang 17

* Yếu tố hành vi của người bệnh

- Người bệnh uống nhiều rượu có thể làm chậm phản ứng của người bệnh và khiến người bệnh không ổn định và làm tăng nguy cơ té ngã

- Thuốc: Một số loại thuốc có thể làm tăng nguy cơ té ngã cho người bệnh Nguy cơ có thể lớn hơn khi người bệnh dùng nhiều thuốc kết hợp với nhau Đặc biệt các loại thuốc dùng cho các bệnh như: trầm cảm hoặc khó ngủ Các tác dụng phụ có thể xảy ra như:

* Yếu tố sinh học của người bệnh

- Thị lực kém: Người bệnh nhìn không rõ, ít có khả năng phán đoán khoảng cách, độ sâu, không thể đối phó với thay đổi đột ngột về ánh sáng

- Người bệnh càng nhiều tuổi cân bằng kém hơn, cơ bắp yếu hơn và khớp cứng hơn

- Ít cảm giác ở chân, thậm chí thay đổi hình dạng và tính linh hoạt của bàn chân

- Lịch sử té ngã, bao gồm cả nguyên nhân và hậu quả (như chấn thương

Trang 18

- Hạ huyết áp tư thế, chóng mặt

- Rối loạn tiểu tiện làm cho người bệnh phải vào nhà vệ sinh nhiều lần Điều này có thể làm tăng nguy cơ bị ngã, đặc biệt là vào ban đêm

- Ăn uống không tốt và không uống đủ nước

- Loãng xương: Người bệnh bị loãng xương (xương mỏng, yếu) tăng nguy cơ bị gãy xương nếu ngã

1.1.4 Biện pháp dự phòng té ngã

Té ngã có thể ngăn chặn được giúp mọi người duy trì sức khỏe và cuộc sống độc lập [11] Nhân viên bệnh viện cần điều trị và giữ an toàn cho người bệnh và giúp người bệnh duy trì hoặc phục hồi chức năng thể chất và tinh thần Vì vậy, dự phòng té ngã phải được cân bằng với các ưu tiên khác Một

số thực hành đã được chứng minh là làm giảm sự xuất hiện của té ngã, tuy nhiên những thực hành này chưa được sử dụng một cách có hệ thống trong tất

cả các bệnh viện [6]

Để dự phòng té ngã và các chấn thương xảy ra cho người bệnh cần có các chương trình can thiệp để giảm nguy cơ té ngã cho người bệnh như: Cải thiện quy trình đánh giá rủi ro ngã, cải thiện hệ thống cảnh báo người bệnh, cải thiện liên lạc giữa các nhân viên về tình trạng nguy cơ té ngã của người bệnh, đảm bảo an toàn người bệnh khi đi vệ sinh, sử dụng các thiết bị như giường thấp, cải thiện nhân viên và giáo dục người bệnh [21]

Theo Patricia Quigley để giảm nguy cơ té ngã do môi trường không an toàn cần duy trì nhận thức liên tục về an toàn môi trường và thực hiện các hành động sau: Loại bỏ các nguy cơ trượt và vấp ngã, giữ giường ở độ cao phù hợp trong khi di chuyển và khi người bệnh đứng lên ở tư thế đứng Không giữ giường ở vị trí thấp mọi lúc Kiểm tra ghế, nhà vệ sinh và an toàn thanh chắn Sử dụng ánh sáng trong phòng thích hợp Hãy chắc chắn rằng người bệnh đi giày dép phù hợp [37]

Trang 19

Một lộ trình phòng chống té ngã hiệu quả được tác giả Patricia Quigley đưa ra cho các nhân viên y tế bao gồm 4 bước:

Bước 1: Tạo môi trường phù hợp cho người bệnh bằng việc sử dụng thực hành dựa trên bằng chứng

Bước 2: Xác định người bệnh có nguy cơ bằng việc xem xét các yếu tố rủi ro cho có thể gây ngã cho người bệnh và sàng lọc tất cả các người bệnh có liên quan đến tiền sử té ngã

Bước 3: Hãy dự phòng té ngã cho người bệnh bằng cách cung cấp một môi trường an toàn và giải quyết các yếu tố sinh lý, chẳng hạn như suy yếu tầm nhìn

Bước 4: Ngăn ngừa thương tích bằng cách cân nhắc sử dụng thảm sàn, giường và các thiết bị bảo vệ [37]

Thay đổi hành vi với lối sống lành mạnh là một thành phần quan trọng

để tránh té ngã như; không hút thuốc, uống rượu vừa phải, duy trì cân nặng trong phạm vi bình thường ở độ tuổi trung niên đến già, chơi một môn thể thao ở mức độ chấp nhận được để bảo vệ người già khỏi bị ngã [38] Hơn nữa, hành vi tự chăm sóc sức khỏe như lắp đặt các thiết bị bảo vệ cầu thang như lan can, thanh chắn và bề mặt chống trơn trượt trong phòng tắm và cung cấp ánh sáng và tay vịn [51]

Theo Đại học Y tế Michigan khuyến cáo các biện pháp dự phòng té ngã cho người bệnh và người chăm sóc khi ở nhà bao gồm: Thiết lập đồ đạc khoa học để khi đi bộ xung quanh mà không có gì cản đường Nếu ánh sáng bị mờ, hãy sử dụng bóng đèn sáng hơn Sử dụng đèn ngủ hoặc giữ đèn pin vào ban đêm, dây điện an toàn Hủy bỏ các vật dụng lỏng lẻo khỏi sàn nhà Nếu có một tấm thảm bao phủ một sàn trơn, hãy chắc chắn rằng tấm thảm được cố định chắc chắn Thêm tay vịn vào cầu thang Lắp đặt bồn cầu nâng cao Nếu phòng tắm không gần với phòng ngủ hãy cẩn thận khi di chuyển Lắp thanh

Trang 20

kẹp và tay vịn bên cạnh nhà vệ sinh và bên trong vòi hoa sen, không bao giờ

sử dụng giá treo khăn để làm tay vịn đứng lên vì chúng không đủ mạnh để giữ trọng lượng Dán miếng chống trượt lên sàn bồn hoặc vòi hoa sen Mua ghế tắm và vòi sen cầm tay để có thể ngồi trong khi tắm Khi đứng dậy từ tư thế nằm, luôn luôn ngồi bên giường vài phút trước khi đứng dậy [49]

Các khuyến nghị để dự phòng té ngã trong môi trường ngoại trú được viết bởi Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ/Hiệp hội Lão khoa Anh bao gồm sàng lọc tất cả các người bệnh từ 65 tuổi trở lên về tiền sử hai hoặc nhiều lần ngã trong

12 tháng qua hoặc tự báo cáo khó khăn về dáng đi Những hướng dẫn này bao gồm các khuyến nghị người bệnh được sàng lọc dương tính sẽ nhận được đánh giá rủi ro giảm đa yếu tố bao gồm cả đánh giá về thuốc, đánh giá dáng

đi, sự cân bằng, khả năng vận động, thị lực, sức mạnh cơ bắp, tư thế hạ huyết

áp và tình trạng bàn chân Can thiệp cho người bệnh cảm thấy có nguy cơ gia tăng sau đánh giá rủi ro đa yếu tố nên bao gồm: giảm thiểu thuốc, tập thể dục phù hợp với từng cá nhân chương trình, điều chỉnh thị lực, kiểm soát hạ huyết

áp tư thế và bất thường nhịp, bổ sung Vitamin D, quản lý các vấn đề về chân

và giày dép, sửa đổi nhà và giáo dục [5]

Theo tài liệu đào tạo đảm bảo an toàn cho người bệnh của Bộ Y tế một

số biện pháp cải tiến môi trường giúp giảm té ngã bao gồm: Lắp đặt chuông báo động tại giường hoặc thiết kế lại hệ thống kiểm soát và kiểm tra chuông báo động tại giường Lắp đặt các ổ khoá tự động ở các phòng phục vụ (như phòng giặt, v.v ) Hạn chế việc mở cửa sổ khi có nguy cơ Lắp đặt chuông báo động ở các lối ra vào Bổ sung phần dự phòng té ngã vào chương trình huấn luyện người bệnh và gia đình họ Cải tiến và chuẩn hoá hệ thống gọi điều dưỡng Sử dụng “giường thấp” cho những người có nguy cơ té ngã [2]

Theo tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế năm 2016 để giảm thiểu nguy cơ té ngã trong khi người bệnh nằm viện phải có cảnh báo

Trang 21

nguy hiểm tại tất cả các vị trí có nguy cơ trượt ngã như: sàn trơn, nhà vệ sinh, cầu thang, vị trí không bằng phẳng Các vị trí có nguy cơ trượt, vấp, ngã do

cơ sở hạ tầng không đồng bộ, do thiết kế xây dựng hoặc xuống cấp được ưu tiên xử lý Chiều cao của lan can và chấn song cửa sổ được thiết kế đủ cao, bảo đảm từ 1m40 trở lên để không có người bị ngã xuống do vô ý (chấp nhận các khối nhà cũ xây trước 2016 có lan cao cao từ 1m35 trở lên) Lan can và chấn song cửa sổ được thiết kế đủ hẹp không có lỗ hổng đút lọt quả cầu đường kính từ 10 cm trở lên để phòng chống trẻ em chui lọt qua Tại các vị trí chuyển tiếp không bằng phẳng của sàn nhà có dán các vật liệu thay đổi màu sắc để dễ nhận biết, tránh vấp ngã (hoặc sử dụng vật liệu xây dựng cố định có màu sắc khác nhau) hoặc bổ sung tay vịn Có giải pháp phòng chống tự tử tại các vị trí đã có người tự tử hoặc vị trí có nguy cơ cao (lắp lưới an toàn bảo vệ khi rơi, camera quan sát…) Toàn bộ các giường bệnh được thiết kế an toàn,

có thành giường hoặc thanh chắn hạn chế nguy cơ bị rơi, ngã và được nhân viên y tế hướng dẫn cho các đối tượng có nguy cơ sử dụng thường xuyên Có dán các vật liệu tăng ma sát tại các vị trí có nguy cơ trượt ngã như cầu thang, lối đi dốc…Triển khai thực hiện các giải pháp khắc phục toàn bộ những nguyên nhân dẫn đến các trường hợp trượt ngã đã xảy ra trong danh sách thống kê [1]

1.2 Kiến thức của sinh viên điều dưỡng về té ngã

1.2.1 Khái niệm kiến thức về té ngã ở sinh viên

Kiến thức là hiểu hoặc thông tin về một chủ đề mà người đó có được bằng kinh nghiệm hoặc nghiên cứu, được biết bởi một người hoặc bởi mọi người [10]

Kiến thức về té ngã của sinh viên điều dưỡng là sự hiểu biết hoặc thông tin có được về phòng té ngã cho người bệnh mà người học học được bằng đào tạo, nghiên cứu hoặc kinh nghiệm

Trang 22

1.2.2 Thực trạng kiến thức của sinh viên điều dưỡng về té ngã

Nguyên tắc hàng đầu của thực hành y khoa là “ Điều đầu tiên không gây tổn hại cho người bệnh - First Do No Harm to patient” đang là điều trăn trở đối với người hành nghề khám chữa bệnh và đã có những sự kiện y tế gây tâm lý bất an cho cả người sử dụng và người cung cấp dịch vụ y tế Bằng chứng nghiên cứu đa quốc gia đã khẳng định người bệnh đang phải gánh chịu nhiều thiệt hại do sai sót chuyên môn và sự cố y khoa Mặc dù những sai sót

và sự cố này không ai muốn và không ai chấp nhận nhưng nó vẫn xảy ra hàng ngày [2]

Theo nghiên cứu của Susan KP chỉ ra rằng các sinh viên điều dưỡng sẽ

có nhiều kiến thức tiến hành đánh giá rủi ro té ngã nếu họ được giáo dục về vấn đề té ngã Một sinh viên có kinh nghiệm làm trợ lý điều dưỡng nhận xét rằng trước khi có sự can thiệp của giáo dục, cô đã nhận thức được tầm quan trọng của việc ngăn ngừa té ngã trong bệnh viện nhưng chưa bao giờ nghĩ về việc người bệnh bị ngã tại nhà Cô đã nói về việc tăng cường nhận thức giữa các điều dưỡng và người bệnh để ngăn ngừa té ngã sau khi xuất viện [46]

Nhiệm vụ của sinh viên điều dưỡng khi đi bệnh viện là tập trung vào phát triển kiến thức và kỹ năng đã được giảng dạy tại trường học để xây dựng năng lực lâm sàng Tại mọi thời điểm, sinh viên điều dưỡng cần chứng minh rằng họ có kiến thức, kỹ năng và khả năng cần thiết để thực hiện một nhiệm

vụ cụ thể/can thiệp điều dưỡng, sinh viên điều dưỡng cũng phải tuân thủ phạm vi thực hành của họ Các sinh viên điều dưỡng phải đảm bảo họ đang làm việc trong phạm vi thực hành thích hợp [47]

Theo nghiên cứu của Jamehl LD và cộng sự (2014) trên 63 sinh viên y khoa tại đại học Wake Forest, Winston-Salem, North Carolina, Hoa Kỳ Kết quả kiến thức của sinh viên về các yếu tố nguy cơ té ngã đạt 44,5% đúng

Trang 23

Theo tác giả một chương trình đào tạo về an toàn người bệnh cần được thực hiện ngay để cải thiện kiến thức cho sinh viên [26]

Theo nghiên cứu của Kim Myoung Hee (2015) về kiến thức, thái độ

và các yếu tố liên quan đến nguy cơ té ngã của 404 sinh viên điều dưỡng cho thấy kiến thức của sinh viên điều dưỡng đạt 12,86 điểm trên tổng số 15 điểm.Thông qua nghiên cứu này, tác giả mong muốn tăng sự chú ý của sinh viên điều dưỡng về té ngã và các chương trình giáo dục phòng ngừa té ngã nên được phát triển và cung cấp cho sinh viên điều dưỡng để đảm bảo kiến thức chính xác và thái độ tích cực về té ngã [29]

Nghiên cứu của Pascoe và cộng sự trên 65 sinh viên từ một trường đại học của Australia Các sinh viên này đã tham gia vào việc cung cấp và đánh giá chương trình phòng ngừa té ngã và chấn thương Kiến thức của sinh viên

về phòng ngừa té ngã được đánh giá chính thức bằng bảng câu hỏi kiến thức trước, ngay sau và sau 13 tuần giảng dạy Kết quả; Mức độ kiến thức tổng thể trước can thiệp giáo dục của sinh viên đạt 46% đúng Nghiên cứu chỉ ra rằng thực trạng kiến thức của sinh viên về té ngã còn rất nhiều hạn chế [36]

Theo nghiên cứu của Daina L thực hiện trên 566 sinh viên thuộc bảy trường đại học của Australia, kiến thức của sinh viên về phòng té ngã được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm trả lời đúng các câu hỏi Kết quả cho thấy kiến thức trung bình trong nghiên cứu này đạt 60,1% đúng Tác giả cho rằng kiến thức của sinh viên về phòng té ngã không đáp ứng được mức năng lực mong muốn (>70%), do đó cho thấy nhu cầu cần phát triển chương trình giảng dạy trong tất cả các năm đại học cho sinh viên để cải thiện nền tảng kiến thức liên quan đến té ngã ở người lớn tuổi, để sau khi tốt nghiệp, sinh viên có thể áp dụng các kiến thức vào phòng ngừa té ngã ở người lớn tuổi [17]

Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy kiến thức về nguy cơ té ngã cũng như các biện pháp dự phòng cho người bệnh của sinh viên còn rất hạn chế Vì

Trang 24

vậy việc trang bị, củng cố kiến thức cho sinh viên về té ngã là điều hết sức cần thiết và cấp bách, là nền tảng cho sinh viên sau khi ra trường có thể áp dụng vào thực tế để thay đổi thực trạng té ngã hiện nay từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng như giảm gánh nặng chi phí điều trị cho gia đình và xã hội

1.2.3 Các biện pháp đánh giá kiến thức về phòng té ngã

Có rất nhiều thang đo đánh giá nguy cơ té ngã của người bệnh trong bệnh viện được tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ) đưa

ra như: Easley B gồm 4 nội dung, đánh giá nguy cơ té ngã của người bệnh liên quan đến thuốc khi nhập viện Morse JM bao gồm gồm 6 nội dung đánh giá, thang đo STRATIFY gồm 5 nội dung đánh giá Hai bộ công cụ này được

sử dụng để xác định các yếu tố nguy cơ té ngã ở người bệnh nhập viện Tổng

số điểm có thể được sử dụng để dự đoán té ngã trong tương lai, nhưng điều quan trọng hơn là xác định các yếu tố rủi ro bằng cách sử dụng thang đo và sau đó lên kế hoạch chăm sóc để giải quyết các yếu tố rủi ro đó [6]

Bộ công cụ đánh giá kiến thức về té ngã của của nhân viên y tế được tổ chức nghiên cứu y tế và chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ) phát triển năm 2013 Bộ công được ARHQ chuyển thể từ “Hướng dẫn thực hành lâm sàng” của Bộ y

tế Singapore về phòng chống té ngã tại các bệnh viện và các cơ sở chăm sóc dài hạn và phiên bản tiếp theo của Tiến sĩ Serena Koh (2009) Bộ công cụ này theo ARHQ bao gồm 13 nội dung đánh giá Bộ công cụ được Sử dụng để phát hiện những giá lỗ hổng kiến thức của nhân viên y tế tại các cơ sở y tế Từ đó điều chỉnh các chương trình giáo dục cụ thể theo nhu cầu của từng cơ sở [6]

Công cụ đánh giá kiến thức về té ngã của sinh viên trên thực tế hiện nay còn rất hạn chế Bộ công cụ đo lường về kiến thức về té ngã được tìm thấy do Kim Myoung Hee xây dựng được các nhà nghiên cứu sửa đổi trên đánh giá tài liệu và được đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ Ấn Độ

Trang 25

năm 2015 Bộ câu hỏi nghiên cứu bao gồm tổng cộng 71 mục, bao gồm 13 mục có đặc điểm chung, 30 mục nhận thức về các yếu tố nguy cơ khi té ngã,

13 mục về thái độ khi té ngã và 15 mục kiến thức về té ngã Điểm số mà sinh viên đạt được càng cao, kiến thức về ngã của họ càng lớn Bộ công cụ này được tác giả Kim sử dụng để đánh giá kiến thức của sinh viên điều dưỡng tại

4 trường đại học Hàn Quốc, nghiên cứu đã chỉ ra những lỗ hổng về kiến thức của sinh viên từ đó có những chương trình giáo dục phù hợp để nâng cao kiến thức về phòng tránh té ngã cho sinh viên điều dưỡng, độ tin cậy của bộ công

cụ này với Cronbach alpha là 0,75 [29]

Để đánh giá kiến thức của sinh viên điều dưỡng về té ngã chúng tôi sử dụng bảng câu hỏi tiêu chuẩn được phát triển bởi Kim và cộng sự có cấu trúc nhằm khám phá kiến thức của sinh viên điều dưỡng về té ngã [29] Bộ công

các yếu tố nguy cơ, 18 câu hỏi kiến thức về các biện pháp phòng té ngã cho người bệnh

1.3 Biện pháp thay đổi kiến thức về té ngã cho sinh viên điều dưỡng

Việc phát triển giáo dục dự phòng té ngã cho sinh viên điều dưỡng sẽ dẫn đến việc nhận thức về nhu cầu dự phòng té ngã cho người bệnh Các nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức và năng lực của sinh viên điều dưỡng về phòng ngừa rủi ro té ngã tăng lên sau khi tiếp xúc với các chương trình giáo dục về dự phòng té ngã Hiện có rất ít các chiến lược giảng dạy để tăng cường kiến thức và ứng dụng dự phòng té ngã ở sinh viên điều dưỡng [36], việc tích hợp kiến thức dự phòng té ngã vào thực tiễn và cá nhân hóa chúng cho từng người bệnh vẫn là một thách thức [37] Vì vậy cần phải mở rộng chiến lược dạy và học cho sinh viên điều dưỡng về dự phòng té ngã [45]

Ngã là tai nạn dự phòng được Với vai trò là điều dưỡng trong tương lai người đóng vai trò giúp chăm sóc sức khỏe trong xã hội, xây dựng chương

Trang 26

trình dự phòng rủi ro té ngã cho sinh viên điều dưỡng sẽ giúp tránh được nhiều trường hợp té ngã, từ đó tiết kiệm được tiền bạc và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh

Nghiên cứu của Pascoe và cộng sự trên 65 sinh viên từ một trường đại học của Australia Các sinh viên này đã tham gia vào việc cung cấp và đánh giá một chương trình phòng ngừa té ngã và chấn thương Kết quả: Mức độ kiến thức tổng thể tăng đáng kể từ 46% đúng (trước) lên đúng 74% (p <0,001) ngay sau can thiệp và đúng 78% (p <0,001) sau can thiệp 13 tuần Tác giả cho rằng một chương trình giảng dạy phòng ngừa té ngã có mục tiêu cung cấp những cải tiến đáng kể về kiến thức cho sinh viên [36]

Theo nghiên cứu của Debra K và cộng sự trên 178 sinh viên y khoa đại học Monash, Melbourne,Victoria, Australia Cho thấy kiến thức của sinh viên

về các biện pháp dự phòng té ngã cho người bệnh chỉ đạt 29,7% trước can thiệp giáo dục và sau can thiệp tăng lên 65,7% đúng Theo tác giả kết quả của nghiên cứu này chứng minh rằng một phương thức giảng dạy sử dụng học tập kinh nghiệm với việc áp dụng lý thuyết có chủ ý vào thực tiễn dường như được đánh giá cao bởi các sinh viên [18]

Theo nghiên cứu của tác giả Lang VJ và cộng sự trên 101 sinh viên y khoa năm thứ 3 tại trường đại học Rochester - Hoa Kỳ Kết quả cho thấy kiến thức của sinh viên về té ngã sau can thiệp tăng trung bình 0,84 điểm trên 9 điểm (tăng 9,3%) so với trước can thiệp Tác giả cho rằng các bệnh viện và các bác sĩ có thể hợp tác hiệu quả để tăng cường kiến thức cho sinh viên về té ngã khi nhập viện cho bệnh nhân lão khoa [30]

Nghiên cứu của Yu M và cộng sự trên 30 sinh viên điều dưỡng năm thứ 4 tại một trường cao đẳng điều dưỡng Hàn Quốc cho thấy kiến thức của sinh viên về té ngã tăng lên sau một chương trình can thiệp giáo dục từ 24.60±5.04 điểm trước can thiệp lên 29.50±5.33 điểm (trên tổng 31 điểm) sau

Trang 27

can thiệp Tác giả cho rằng rằng kết quả thực hành mô phỏng quản lý té ngã

có thể đóng góp cho kiến thức về té ngã của sinh viên điều dưỡng, cũng như can thiệp điều dưỡng khi điều trị người bệnh [52]

Một số nghiên cứu trên đối tượng là điều dưỡng cũng cho kết quả tương tự về sự thay đổi tích cực về kiến thức khi họ được tham gia vào một chương trình học tập về té ngã

Theo nghiên cứu của Samar Faltas và Marzouk Faltas kiến thức phòng

té ngã của của điều dưỡng tăng từ mức đạt 21% trước can thiệp lên 90,8% đạt

cứu của Christine Toye trước can thiệp kiến thức của điều dưỡng về dự phòng

té ngã là 11 điểm và tăng lên 13 điểm trên tổng số 14 điểm tại thời điểm sau can thiệp [12] Nghiên cứu của Nagwa Younes Abou El Enein: Trước can thiệp có 54.2% điều dưỡng trả lời đúng về nhận biết yếu tố nguy cơ gây ngã

trước can thiệp điều dưỡng trả lời đúng 47% số câu hỏi, sau can thiệp lần 1 là 62%, lần 3 số câu trả lời đúng là 45% về các biện pháp phòng té ngã [24].Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh trên 538 học sinh tiểu học của Thành phố Đà Nẵng về phòng chống tai nạn thương tích cho thấy có sự thay đổi kiến thức của học sinh về phòng té ngã trước và sau can thiệp giáo dục Trước can thiệp tỷ lệ trả lời đúng về các biện pháp phòng té ngã là 52,4% tăng lên 60,3% sau can thiệp Kết quả này cũng cho thấy học sinh tiểu học còn rất thiếu kiến thức trong việc bảo vệ, phòng ngừa trước hậu quả của té ngã có thể xảy ra cho bản thân [4]

Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy đào tạo nâng cao kiến thức về té ngã cho sinh viên, điều dưỡng, người bệnh để giảm tỷ lệ té ngã là vấn đề quan trọng cần phải được triển khai ngay lập tức nhằm giải quyết các khía cạnh chức năng, thể chất và tâm lý cho mỗi người bệnh

Trang 28

1.4 Học thuyết nghiên cứu: Học thuyết học tập xã hội của Albert Bandura [8]

1.4.1 Tiểu sử tác giả

Albert Bandura sinh ngày 4 tháng 12 năm 1925 tại thành phố Nundare phía bắc Alberta, nước Canada Ông được giáo dục trong một trường tập trung dạy gộp từ bậc tiểu học đến hết cấp trung học Ông tốt nghiệp cử nhân tâm lý ở Trường đại học British Columbia năm 1949 Ông tiếp tục học ở trường đại học Iowa và nhận được bằng tiến sĩ vào năm 1952 Tại đây ông đã ảnh hưởng rất lớn của những học thuyết hành vi truyền thống và học thuyết học tập Sau khi tốt nghiệp, ông được nhận vào học ở bậc hậu tiến sĩ tại Trung tâm hướng dẫn thành phố Wichita, tiểu bang Kansas

Năm 1953, ông bắt đầu dạy tại trường Đại học Standford Ở đó, ông cộng tác với người học trò bậc sau đại học đầu tiên của mình là Richard Walters, kết quả là họ đã hoàn thành cuốn sách đầu tiên: Nổi Loạn Nơi Tuổi Dậy Thì (Adolescent Agression) vào năm 1959 Bandura đã từng giữ chức chủ tịch Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ APA vào năm 1973, và đã nhận được bằng khen của Hiệp hội này vì đã có những đóng góp cống hiến khoa học xuất sắc

1.4.2 Nội dung cơ bản của Học tập xã hội của Albert Bandura

Bandura xây dựng học thuyết của mình về hai điểm mà nhiều người cho rằng đấy là hai điểm nổi cộm đối với con người: Học bằng cách (a) quan sát hay còn gọi là rập khuôn và (b) khả năng tự kiểm soát

1.4.2.1 Học từ quan sát ( rập khuôn)

Bandura thiết lập một hệ thống thao tác thực nghiệm bao gồm các bước cho toàn bộ quá trình rập khuôn như sau:

- Chú ý: Nếu chúng ta muốn học một điều gì đó, chúng ta sẽ tập trung

tư tưởng Tương tự, tất cả những cản trở trong quá trình tập trung sẽ làm giảm

Trang 29

khả năng học tập qua cách quan sát

- Giữ lại: Là khả năng lưu giữ trí nhớ về những gì chúng ta đã tập

trung chú ý vào Đây là giai đoạn những chuỗi hình ảnh hay ngôn ngữ có những đóng góp vào quá trình lưu trữ

- Lặp lại: Cá nhân sẽ chuyển tải những hình ảnh trong hệ tâm thức hay

những mô tả ngôn ngữ trở thành hành vi thật sự

- Động cơ: Là một bộ phận quan trọng trong quá trình học tập một thao

tác mới Chúng ta có mô hình mẫu hấp dẫn, có trí nhớ, và khả năng bắt chước, nhưng nếu không có động cơ bắt chước, ít nhất là một lý do tại sao ta phải bắt chước hành vi này, ta sẽ không thể học tập hiệu quả được

1.4.2.2 Tự kiểm soát

Tự kiểm soát là quá trình kiểm soát hành vi của chính chúng ta, đây chính là bộ máy vận hành tạo ra nhân cách của mỗi chúng ta Ông đề nghị có

3 bước sau:

- Tự quan sát mình: Khi chúng ta nhìn vào bản thân mình và những

hành vi của chúng ta, chúng ta thường kiểm soát những hành vi này trong một chừng mực nhất định

- Đánh giá cân nhắc: Chúng ta so sánh những gì chúng ta nhìn thấy

với một hệ tiêu chuẩn nào đó

- Cơ năng tự phản hồi: Nếu ta bằng lòng với việc so sánh với tiêu

chuẩn của mình, ta sẽ tự thưởng mình qua cơ năng tự phản hồi Nếu ta không thỏa mãn với kết quả so sánh này, chúng ta cũng có thói quen tự phạt mình qua cơ năng tự phản hồi Những cơ năng tự phản hồi này thể hiện qua nhiều mức độ khác nhau từ việc thưởng cho mình một bát phở, đi xem một bộ phim hay, tự hào về bản thân Hoặc ta sẽ có những dằn vặt, tự đày đọa mình trong hằn học, bất mãn

Trang 30

1.4.3 Áp dụng các liệu pháp của học thuyết

1.4.3.1 Liệu pháp tự kiểm soát

Đây là ý tưởng đứng sau khái niệm tự phản hồi được ứng dụng vào kỹ năng liệu pháp gọi là tự kiểm soát Đây là lối trị liệu tương đối có hiệu quả với những vấn đề đơn giản về thói quen như muốn bỏ thuốc lá, thói ăn vặt, hay thói quen chểnh mảng và lười biếng Dưới đây là từng bước áp dụng:

 Biểu đồ hành vi: Đây là quá trình tự quan sát, yêu cầu một cá nhân phải

để mắt thật kỹ đến hành vi của mình, trước và sau khi áp dụng liệu pháp Chẳng hạn đơn giản như việc bạn đếm xem mình đã đi bộ bao nhiêu thời gian trong một ngày Sau đó bạn sẽ viết nhật ký ghi lại ví dụ như đi bộ những lúc nào, nơi nào, và với ai Điều này sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện về những mảng liên quan, từ đó các vấn đề sẽ được xử lý tận gốc

 Kế hoạch cải tạo môi trường sinh hoạt: Lập một kế hoạch cụ thể chẳng hạn thu dọn những đồ đạc hoặc những vật dụng không cần thiết trên sàn nhà

để tránh vấp ngã ngay khi nhìn thấy hoặc thu dọn định kỳ hàng ngày…

tự thưởng nếu như bạn gắn bó với kế hoạch mình đã đề ra và tìm cách kỷ luật bản thân nhưng tránh đừng tự trừng phạt mình Bạn có thể viết xuống bản hợp đồng cá nhân với chính mình, ghi xuống cụ thể những điều cần làm và cần tránh:

có thể học tập và vận dụng kiến thức về dự phòng té ngã cho mình

Trang 31

1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu:

Trường Cao đẳng Y tế Hà Nam thành lập ngày 31/10/2007 theo Quyết định số 6875/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Y tế Hà Nam thành lập ngày 26/8/1999 theo Quyết định 770/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Nam

Hiện nay, trường có 957 sinh viên đang theo học với các chuyên ngành: Cao đẳng điều dưỡng, cao đẳng dược, đại học điều dưỡng hình thức liên thông

Trường có nhiệm vụ: Tổ chức đào đạo cán bộ y tế có trình độ Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp; bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ cán bộ y

tế của tỉnh nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ của tỉnh và của ngành; tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ về giáo dục và y tế trong hoạt động giảng dạy của nhà trường và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tỉnh, tăng cường liên kết và hợp tác đào tạo đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực y tế tỉnh Hà Nam và xã hội nhằm phục vụ chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nội dung té ngã và dự phòng té ngã cho người bệnh nằm trong Bài An

chỉ Học phần gồm 2 phần: 02 tín chỉ lý thuyết và 01 tín chỉ thực hành Các tín chỉ lý thuyết sinh viên học tại các giảng đường, tín chí thực hành học tại phòng thực hành tiền lâm sàng của nhà trường Bài giảng này là bài giảng lý thuyết với thời lượng 4 tiết (200 phút)

Trang 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả sinh viên điều dưỡng chính quy đang theo học tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam năm 2019

* Tiêu chuẩn lựa chọn

- Sinh viên điều dưỡng chính quy năm thứ 3 (khóa 9) đang học tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam

- Có mặt tại thời điểm điều tra và can thiệp của nghiên cứu

- Chưa được học hoặc tham gia các khóa đào tạo về phòng té ngã ở người bệnh

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Sinh viên điều dưỡng hệ vừa học vừa làm

- Sinh viên không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 9 năm 2019

- Địa điểm nghiên cứu tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam

2.3 Thiết kế nghiên cứu :

Nghiên cứu can thiệp trên một nhóm có đánh giá trước sau

Trang 33

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Hiện tại, tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam hiện có 70 sinh viên điều dưỡng chính quy đang theo học năm thứ 3 và đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu như trên

Chọn mẫu thuận tiện, tất cả sinh viên điều dưỡng chính quy năm thứ 3

tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam tham gia vào nghiên cứu Danh sách đối

Đánh giá ngay sau can thiệp (Kiến thức về phòng té ngã cho người bệnh)

về phòng té ngã cho người bệnh)

T3

Trang 34

tượng nghiên cứu được lập dựa trên danh sách của Phòng Đào tạo trường Cao đẳng Y tế Hà Nam đã được Ban giám hiệu thông qua

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi khảo sát kiến thức của sinh viên được xây dựng dựa trên

bộ câu hỏi của tác giả Kim Myoung Hee [29] Bộ câu hỏi tự điền bao gồm 35 câu hỏi với 3 phần nội dung:

+ Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu gồm 7 câu hỏi

+ Kiến thức về các yếu tố nguy cơ té ngã gồm 10 câu hỏi

+ Kiến thức về các biện pháp phòng té ngã gồm 18 câu hỏi

- Quy trình xây dựng bộ câu hỏi như sau:

+ Bộ câu hỏi được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt bởi 1 giảng viên tiếng Anh của Bộ môn ngoại ngữ trường Cao đẳng Y tế hà Nam Bản dịch tiếng Việt được lấy ý kiến của 3 người (1 giảng viên giảng dạy nội dung về

an toàn cho người bệnh trường Cao đẳng Y tế Hà Nam, một điều dưỡng thực

01 sinh viên điều dưỡng năm cuối của trường Cao đẳng Y tế Hà Nam) về sự

dễ hiểu và rõ nghĩa của bộ câu hỏi Chuyên gia góp ý về việc điều chỉnh một

số câu từ cho phù hợp với văn hóa của Việt Nam Bộ công cụ sau dịch sang Tiếng Việt lại được dịch ngược lại sang tiếng Anh bởi 1 giảng viên tiếng Anh ở Bộ môn Ngoại ngữ của trường Cao đẳng Y tế Hà Nam (khác người dịch đầu) Bản tiếng Anh dịch ngược và bản gốc được so sánh và kiểm tra không có sự khác biệt

+ Bộ công cụ tiếng Việt được gửi đến 3 người (01 một điều dưỡng đang công tác tại khoa Cấp cứu bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam, 01 giảng viên giảng dạy tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam, 01 sinh viên điều dưỡng trường Cao Đẳng Y tế hà Nam) để lấy ý kiến về sự phù hợp và đáp ứng được

Trang 35

yêu cầu sử dụng trong nghiên cứu Các chuyên gia đã thống nhất bộ công cụ

có thể điều tra trên đối tượng sinh viên điều dưỡng

+ Bộ công cụ được điều tra thử trên 30 đối tương sinh viên cao đẳng điều dưỡng (hệ vừa học vừa làm) có tiêu chuẩn tương tự như tiêu chuẩn chọn mẫu của nghiên cứu Độ tin cậy của bộ công cụ đáp ứng yêu cầu để sử dụng trong nghiên cứu với chỉ số Cronbach alpha là 0,81

2.5.2 Quy trình thu thập số liệu

- Bước 1: Lấy danh sách sinh viên điều dưỡng theo số liệu của phòng

Đào tạo của nhà trường Lựa chọn những sinh viên điều dưỡng đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu

- Bước 2: Những đối tượng đủ tiêu chuẩn được giới thiệu mục đích, nội

dung, phương pháp và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu Đối tượng đồng ý, đối tượng tham gia sẽ kí tên vào bản đồng thuận

- Bước 3: Trước buổi học đầu tiên của môn Kiểm soát nhiễm khuẩn,

sinh viên cứu được phát câu hỏi tự điền để đánh giá kiến thức

- Bước 4: Sinh viên tham gia học môn Kiểm soát nhiễm khuẩn với số

hành Các tín chỉ lý thuyết sinh viên học tại các giảng đường, tín chí thực hành học tại phòng thực hành tiền lâm sàng của nhà trường Nội dung té ngã

và dự phòng té ngã cho người bệnh nằm trong Bài An toàn người bệnh Bài giảng này là bài giảng lý thuyết với thời lượng 4 tiết (200 phút) được đảm nhận bởi 2 giảng viên của nhà trường Trước khi thực hiện môn Kiểm soát nhiễm khuẩn, các giảng viên dạy trong học phần này đã họp và thống nhất sử dụng các tài liệu: (1) Tài liệu đào tạo an toàn người bệnh Bộ Y tế Việt Nam (2014) [2], (2) Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện Việt Nam (2016) [1]

và (3) Tài liệu về phòng té ngã của Tổ chức Y tế Thế giới (2007) [51] để soạn nội dung giảng dạy về té ngã và phòng ngừa té ngã cho người bệnh Sau khi

Trang 36

soạn xong bài giảng, các giảng viên cùng nhau thống nhất về phương pháp giảng và thời lượng giảng dạy cho phần này là giảng dạy theo phương pháp thuyết trình cùng với giải quyết tình huống trong thời gian 45 phút

- Bước 5: Ngay sau buổi học cuối cùng của học phần, sinh viên được

yêu cầu trả lời bộ công cụ tự điền với nội dung giống như đánh giá trước

- Bước 6: Đánh giá kiến thức của đối tượng sau can thiệp vào thời

điểm sau 1 tháng với bộ công cụ giống như đánh giá trước

- Bước 7: Sau khi có toàn bộ thông tin, nghiên cứu viên sẽ kiểm tra

toàn bộ bảng câu hỏi Các số liệu được mã hóa, nhập vào máy tính để

phân tích

2.6 Các biến số nghiên cứu

Nội dung đào tạo “Té ngã và phòng té ngã cho người bệnh” được xây dựng theo tài liệu đào tạo an toàn người bệnh Bộ Y tế Việt Nam (2014) [2],

bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện Việt Nam (2016) [1], Tài liệu về phòng té ngã của Tổ chức Y tế Thế giới (2007) [51] Nội dung giảng dạy được xây dựng dưới 2 dạng:

- Dạng trình chiếu về các nội dung nguyên nhân, yếu tố nguy cơ, hậu quả, biện pháp dự phòng té ngã đã thực hiện và các giải pháp đưa ra để làm giảm tình trạng té ngã ở người bệnh Thời gian thuyết trình là 15 phút

- Sinh viên chia nhóm để thảo luận và giải quyết một tình huống về té ngã và phòng té ngã cho người bệnh Sau thảo luận 10 phút các nhóm trình

gian 10 phút Giảng viên tổng hợp lại phần trình bày của các nhóm và tổng hợp lại các ý chính giúp đối tượng hiểu biết thêm về kiến thức trong thời gian

10 phút

Trang 37

Kiến thức về phòng té ngã của sinh viên điều dưỡng là sự hiểu biết hoặc thông tin có được về phòng té ngã cho người bệnh học được bằng đào tạo, nghiên cứu hoặc kinh nghiệm Kiến thức được đánh giá bằng bộ câu hỏi

tự điền với các nội dung sau:

- Thông tin chung về đối tượng: tuổi, giới tính, dân tộc, địa chỉ, đã đi lâm sàng bệnh viện chưa, thời gian đi lâm sàng bệnh viện, đã chứng kiến người bệnh ngã chưa, có mong muốn được tham gia đào tạo về dự phòng té ngã cho người bệnh không

- Đánh giá kiến thức của đối tượng về phòng té ngã cho người bệnh gồm 2 phần:

+ Kiến thức nhận biết yếu tố nguy cơ gồm 10 câu: Giới, trơn trượt, tuổi,

tê bì chân tay, đi tiểu nhiều, uống rượu, ánh sáng, sử dụng thuốc, mắc bệnh, lãng xương

+ Kiến thức các biện pháp phòng té ngã gồm 18 câu: Hỏi ý kiến bác sĩ

về dùng thuốc, đi dày dép vừa vặn, mang theo máy trợ thính, hoạt động thể chất, thiết kế bệnh viện, sắp xếp đồ đạc trong phòng, có chuông gọi nhân viên bệnh viện …

- Điểm kiến thức của đối tượng trong nghiên cứu sẽ được đánh giá như sau:

Mỗi lựa chọn đúng = 1 điểm, trả lời sai = 0 điểm, kiến thức về các yếu

tố nguy cơ té ngã tối đa = 10 điểm, kiến thức về các biện pháp dự phòng té ngã tối đa = 18 điểm, tổng cộng kiến thức chung tối đa là 28 điểm, tối thiểu là

0 điểm

Trang 38

- Mức độ kiến thức được đánh giá như sau:

đúng

Điểm Yếu tố

nguy cơ té ngã

Các biện pháp dự phòng

Kiến thức chung về té

ngã

số câu hỏi trở lên

7,5 – 10,0 điểm

13,5 – 18,0 điểm

21,0 – 28,0 điểm Trung

bình

Trả lời đúng từ 50%

đến 74% số câu hỏi

5,0 - < 7,5 điểm

9,0 - < 13,5 điểm

14,0 - < 21,0 điểm

2.7 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu sau khi được thu thập sẽ được phân tích dựa trên phần mềm SPSS 16.0 Các biến trong nghiên cứu được phân tích bởi các phân tích thống

kê mô tả và Paired - Samples T Test để so sánh 2 giá trị trước thời điểm can thiệp, ngay sau can thiệp và sau can thiệp 1 tháng

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu

- Luận văn được thông qua bởi Hội đồng thông qua đề cương và Hội đồng đạo đức trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định

- Được được sự chấp thuận và cho phép của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Y tế Hà Nam về việc triển khai và thu thập số liệu

- Sinh viên sau khi đồng ý tham gia nghiên cứu đã được giải thích về mục đích, phương pháp, nội dung nghiên cứu, quyền lợi cũng như nghĩa vụ khi tham gia nghiên cứu Sinh viên ký bản đồng thuận tham gia sau khi đồng

ý tham gia nghiên cứu

Trang 39

- Sinh viên đã được giải thích mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu chỉ nhằm mục đích nghiên cứu chứ không nhằm mục đích nào khác Có quyền từ chối nếu không đồng ý và được quyền bỏ cuộc ở bất cứ giai đoạn nào của nghiên cứu mà không bị ảnh hưởng đến việc học tập của học phần và quá trình học tập tại trường

2.9 Sai số và biện pháp khắc phục

Nghiên cứu được thực hiện với nhiều thông tin và được thu thập tại 2 thời điểm khác nhau vì vậy nhà nghiên cứu đã thiết kế bộ câu hỏi với ngôn ngữ dễ hiểu, dễ trả lời, giải thích rõ ý nghĩa, mục đích của nghiên cứu để đối tượng nghiên cứu hợp tác

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3.1 Phân bố theo địa bàn sinh sống của đối tượng nghiên cứu

(27%), huyện Lý Nhân (17%), Kim Bảng (16%), Thanh Liêm (15%)

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w