NGUYỄN TẤN TÀI THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÕNG NGỪA VÀ XỬ TRÍ CHẤN THƯƠNG DO VẬT SẮC NHỌN TRONG THỰC TẬP LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ TIỀN GIANG NĂM 201
Trang 1NGUYỄN TẤN TÀI
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÕNG NGỪA
VÀ XỬ TRÍ CHẤN THƯƠNG DO VẬT SẮC NHỌN TRONG THỰC TẬP LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ TIỀN GIANG NĂM 2018
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
Trang 2NGUYỄN TẤN TÀI
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÕNG NGỪA
VÀ XỬ TRÍ CHẤN THƯƠNG DO VẬT SẮC NHỌN TRONG THỰC TẬP LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ TIỀN GIANG NĂM 2018
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian làm việc tích cực và nghiên cứu, luận văn “Thực trạng kiến thức, thái độ về phòng ngừa và xử trí chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018
và một số yếu tố liên quan”
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, quý thầy cô Trường Đại học Y tế công cộng đã có nhiều công sức đào tạo, hướng dẫn trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu
Sau cùng xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị trong thời gian học tập và khảo sát đề tài Các đồng nghiệp cùng các cộng tác viên tham gia trong nghiên cứu
đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CDC Centers for Disease Control and Prevention (Trung tâm Kiểm
soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ) CSYT Cơ sở y tế
HBV Hepatitis B vius (Vi rút viêm gan B)
HCV Hepatitis C vius (Vi rút viêm gan C)
HIV Human immunodeficiency virus (Vi rút gây suy giảm miễn dịch) KTC Khoảng tin cậy
NVYT Nhân viên y tế
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii
TÓM TẮT LUẬN VĂN x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Định nghĩa 4
1.1.2 Nguy cơ từ tổn thương do dụng cụ y tế sắc nhọn 4
1.1.3 Xử trí khi bị vết thương do dụng cụ y tế sắc nhọn 5
1.2 Tình hình chấn thương do vật sắc nhọn của nhân viên y tế ở các cơ sở y tế 6
1.2.1 Trên thế giới 6
1.2.2 Tại Việt Nam 8
1.3 Tình hình mắc chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng 9
1.4 Một số yếu tố liên quan đến chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng 11
1.5 Nghiên cứu về chấn thương do vật sắc nhọn ở sinh viên điều dưỡng 13
1.5.1 Trên thế giới 13
Trang 61.5.2 Tại Việt Nam 14
1.6 Kiến thức, thái độ, thực hành về xử trí chấn thương 15
1.7 Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang: Chương trình khung đào tạo, chương trình thực tập lâm sàng cho sinh viên cao đẳng điều dưỡng 16
KHUNG LÝ THUYẾT 18
Chương 2 19
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 19
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.6 Biến số nghiên cứu 21
2.7 Khái niệm và tiêu chí đánh giá trong nghiên cứu 21
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 23
2.9 Đạo đức nghiên cứu 24
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 24
Chương 3 25
KẾT QUẢ 25
3.1 Thông tin chung về sinh viên tham gia nghiên cứu 25
3.2 Kiến thức phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng 26
3.2.1 Thực trạng kiến thức phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng 26
3.2.2 Kiến thức về thao tác với vật sắc nhọn 29
Trang 73.2.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn 31
3.3 Thái độ về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn khi thực tập lâm sàng 34 3.3.1 Thực trạng về thái độ 34
3.3.2 Các yếu tố liên quan đến thái độ phòng ngừa chấn thương 35
3.4 Kiến thức về xử trí khi bị chấn thương 38
3.4.1 Thực trạng về kiến thức xử trí khi bị chấn thương 38
3.4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức xử trí khi bị chấn thương của sinh viên 40
3.5 Thái độ của sinh viên về xử trí chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng 42
3.5.1 Mô tả thực trạng về thái độ của sinh viên về chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng 42
3.5.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ về xử trí chấn thương 43
3.6 Thực trạng chấn thương: hoàn cảnh, kiến thức xử lý vết thương 46
3.6.1 Mô tả thực trạng chấn thương khi đi thực tập lâm sàng 46
3.6.2 Thực trạng xử lý vết thương 51
3.6.3 Các yếu tố liên quan đến thực hành xử trí đúng 54
Chương 4 56
BÀN LUẬN 56
4.1 Mẫu nghiên cứu 56
4.2 Kiến thức phòng ngừa chấn thương 56
4.3 Thái độ về phòng ngừa chấn thương khi thực tập lâm sàng 62
4.4 Kiến thức và thái độ xử trí chấn thương khi thực tập lâm sàng 63
4.5 Thực hành xử trí chấn thương 65
Chương 5 69
KẾT LUẬN 69
Trang 85.1 Kiến thức và thái độ về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn của sinh
viên cao đẳng điều dưỡng Trường cao đẳng Y tế Tiền Giang 69
5.2 Kiến thức, thái độ và thực hành xử trí chấn thương do vật sắc nhọn 69
KHUYẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Phụ lục 1 57
Phụ lục 2 76
Phụ lục 3 84
Trang 9Biểu đồ 3.3 Thái độ của sinh viên về xử trí chấn thương do vật sắc nhọn ··· 43
Biểu đồ 3.4 Thực trạng của sinh viên điều dưỡng chấn thương do vật sắc nhọn trong
thực tập lâm sàng ··· 46
Biểu đồ 3.5 Thực trạng của sinh viên điều dưỡng chấn thương do vật sắc nhọn ··· 57
Biểu đồ 3.6 Thực hành xử lý chấn thương ··· 53
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Mô tả đặc điểm chung của sinh viên 25Bảng 3.2 Tỷ lệ sinh viên được biết về vấn đề chấn thương do vật sắc nhọn 26Bảng 3.3 Tỷ lệ sinh viên sinh viên biết về những bệnh lây truyền qua đường máu 26Bảng 3.4 Tỷ lệ sinh viên hiểu và biết về những loại virút và bệnh có thể lây qua đường máu 27Bảng 3.5 Tỷ lệ sinh viên hiểu và biết về những biện pháp phòng ngừa chấn thương 28Bảng 3.6 Kiến thức của sinh viên về các thao tác với vật sắc nhọn khi thực tập lâm sàng 29Bảng 3.7 Kiến thức về sử dụng hộp y tế đựng vật sắc nhọn (hộp an toàn) 30Bảng 3.8 Mối liên quan giữa đặc điểm sinh viên và kiến thức về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn 31Bảng 3.9 Kết quả mô hình hồi quy logistic về các mối liên quan giữa các yếu tố các nhân tới kiến thức đúng về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn của sinh viên 32Bảng 3.10 Thái độ của sinh viên về chấn thương do vật sắc nhọn 34Bảng 3.11 Mối liên quan giữa thái độ phòng ngừa chấn thương với đặc điểm sinh viên 35Bảng 3.12 Kết quả mô hình hồi quy logistic về các mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân tới thái độ tốt về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn của sinh viên 36Bảng 3.13 Kiến thức về xử trí khi bị chấn thương do vật sắc nhọn 38Bảng 3.14 Mối liên quan giữa đặc điểm sinh viên và có kiến thức đúng về xử trí chấn thương do vật sắc nhọn 40Bảng 3.15 Kết quả phân tích hồi quy logistic mối liên quan giữa đặc điểm sinh viên
và có kiến thức về xử trí chấn thương do vật sắc nhọn 41Bảng 3.16 Thái độ của sinh viên về xử trí chấn thương do vật sắc nhọn 42Bảng 3.17 Mối liên quan đến thái độ của sinh viên về xử trí chấn thương do vật sắc nhọn 43Bảng 3.18 Kết quả phân tích hồi quy logistic mối liên quan giữa đặc điểm sinh viên với thái độ của sinh viên về xử trí chấn thương do vật sắc nhọn 45
Trang 11Bảng 3.19 Thời gian sinh viên bị chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm
sàng 47
Bảng 3.20 Địa điểm sinh viên bị chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng 48
Bảng 3.21 Thao tác sinh viên bị chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng 48
Bảng 3.22 Thao tác thực hiện ở những lần bị chấn thương do tháo nắp kim 48
Bảng 3.23 Thao tác thực hiện ở những lần bị chấn thương do mảnh thủy tinh 49
Bảng 3.24 Thao tác thực hiện ở những lần bị chấn thương do đậy nắp kim 49
Bảng 3.25 Vị trí vết thương ở lần bị chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng 49
Bảng 3.26 Tỷ lệ vật sắc nhọn gây chấn thương gây cho sinh viên 50
Bảng 3.27 Nguồn gốc vật sắc nhọn gây chấn thương cho sinh viên 50
Bảng 3.28 Tỷ lệ sinh viên đeo găng tay và người giám sát khi bị tai nạn 51
Bảng 3.29 Biện pháp xử lý vết thương ngay lập tức 51
Bảng 3.30 Tỷ lệ sinh viên báo cáo khi bị chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng 52
Bảng 3.31 Tỷ lệ sinh viên được chỉ định điều trị khi bị chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng 53
Bảng 3.32 Mối liên quan đến thực hành xử trí chấn thương đúng của sinh viên chấn thương do vật sắc nhọn 54
Bảng 3.33 Mối liên quan đến thực hành xử trí chấn thương đúng và thái độ, kiến thức về xử lý chấn thương do vật sắc nhọn 55
Trang 12TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong quá trình thực tập lâm sàng, sinh viên điều dưỡng có thể bị chấn thương do các vật sắc nhọn, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường máu như viêm gan B và HIV Những yếu tố có thể ảnh hưởng đến vấn đề chấn thương do vật sắc nhọn là kiến thức, thái độ phòng ngừa chấn thương của sinh viên
Để nắm bắt rõ thực trạng vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng kiến thức, thái độ, về phòng ngừa và xử trí chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm
2018 và một số yếu tố liên quan” Mục tiêu của nghiên cứu này gồm: 1) Mô tả kiến thức và thái độ phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn và một số yếu tố liên quan kiến thức đúng về phòng ngừa chấn thương; 2) Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành xử trí chấn thương do vật sắc nhọn khi thực tập lâm sàng và một số yếu tố liên quan của sinh viên điều dưỡng của Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn khi thực tập lâm sàng 33,1%, tỷ lệ sinh viên có thái độ tốt về phòng chấn thương chiếm 54,9%; yếu tố liên quan đến kiến thức đúng
về phòng ngừa chấn thương của sinh viên là thời gian thực hành lâm sàng và được học môn khống chế nhiễm khuẩn với p=<0,05 Trong khi đó yếu tố liên quan đến thái độ tốt của sinh viên về phòng ngừa chấn thương là hệ đào tạo và xếp loại học lực với p=<0,05
Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về xử trí khi bị chấn thương là 35,6%, các yếu tố liên quan đến tỷ lệ sinh viên có kiến thức xử trí chấn thương đúng là tuổi với p=<0,05 Có 45,5% sinh viên có thái độ tốt về kiến thức xử trí đúng khi bị chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng Yếu tố liên quan đến thái độ tốt về kiến thức xử trí đúng là giới tính, hệ đào tạo và thời gian thực hành lâm sàng với p=<0,05
Có 8% (vào khoảng 35 sinh viên) bị chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng trong học kỳ 1 năm học 2017 – 2018
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương do vật sắc nhọn trong nhân viên y tế đang là một vấn đề y tế quan trọng Theo Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization - WHO), trung bình số lần chấn thương do vật sắc nhọn trung bình ở nhân viên y tế chung là 0,2 - 4,7 lần/năm [55] Con số này ở Mỹ 384.000 ca/năm, ở Anh 100.000 ca/năm, Đức 700.000 ca/năm, Pháp 29.719 ca/năm, Italia 28.200 ca/năm và Tây Ban Nha 21.815 ca/năm [57]
Nguy cơ mắc chấn thương ở các nhóm đối tượng là khác nhau, tùy thuộc vào chức danh, nhiệm vụ, vị trí làm việc trong các cơ sở y tế (CSYT) Đối tượng chính
bị phơi nhiễm gồm: Điều dưỡng 42%, bác sĩ 30%, kỹ thuật viên 15% và sinh viên 4% Vật sắc nhọn gây chấn thương phổ biến là: Kim rỗng nòng (kim tiêm, lấy máu, truyền tĩnh mạch…) 55%, kim khâu phẫu thuật 21%, dao mổ 8%, mảnh thủy tinh 1% Hầu hết các chấn thương xảy ra trong quá trình sử dụng các dụng cụ y khoa 70%, 15% sau khi sử dụng nhưng trước khi xử lý…[32] Địa điểm xảy ra chấn thương chủ yếu là ở các buồng bệnh 36%, phòng mổ 29%, phòng thủ thuật 9%, khoa cấp cứu 8%
Tương tự như các điều dưỡng đã hành nghề, sinh viên điều dưỡng cũng có nguy cơ mắc chấn thương do vật sắc nhọn trong quá trình thực tập lâm sàng [60] Theo thống kê của Bộ Y tế (2002) ở 45 tỉnh, thành phố trong cả nước có 343 trường hợp nhân viên y tế bị tổn thương nghề nghiệp có nguy cơ phơi nhiễm với HIV, trong đó sinh viên y khoa chiếm 4,1% [5] Đối với các đối tượng sinh viên đi thực tập, nhân viên y tế mới ra trường thì do thiếu kinh nghiệm và chưa đủ kiến thức cũng có thể là nguy cơ Một nghiên cứu khác nhằm xác định tỷ lệ có vết thương do kim đâm và vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng và nữ hộ sinh tại Iran năm 2015 [65] cho thấy có 30,1% sinh viên đã từng trải qua những vết thương, trong đó vết thương do kim tiêm là phổ biến nhất chiếm 71,6%
Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang là trường đào tạo cán bộ y tế cho các cơ
sở y tế không chỉ riêng cho tỉnh Tiền Giang mà còn cho các tỉnh lân cận Hàng năm trường tuyển sinh từ 1200 – 1300 sinh viên Tỷ lệ sinh viên điều dưỡng chiếm 16,91% học viên/sinh viên của trường Để xây dựng chương trình tập huấn và đào
Trang 14tạo sinh viên để hạn chế vấn đề chấn thương do vật sắc nhọn xảy ra khi đi thực tập Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá “Thực trạng kiến thức, thái độ về phòng ngừa và xử trí chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018 và một số yếu tố liên quan”
Những kết quả này giúp cho trường xây dựng kế hoạch học tập và bổ sung chương trình nhằm giúp sinh viên phòng ngừa tai nạn và đảm bảo cho sinh viên trong thực tập lâm sàng an toàn
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức và thái độ phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn và một số yếu tố liên quan kiến thức đúng về phòng ngừa chấn thương của sinh viên điều dưỡng của Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018
2 Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành xử trí chấn thương do vật sắc nhọn khi thực tập lâm sàng và một số yếu tố liên quan của sinh viên điều dưỡng của Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang năm 2018
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Định nghĩa
Dụng cụ y tế sắc nhọn: Bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da
hoặc qua da, vật sắc nhọn bao gồm kim tiêm, đầu kim truyền dịch, dao mổ, thủy tinh vỡ, ống mao dẫn bị vỡ, …[68]
Vết thương do vật sắc nhọn: Một phơi nhiễm xảy ra khi tiếp xúc với bất cứ
vật nhọn xuyên vào da, còn được gọi là các tai nạn, rủi ro do vật sắc nhọn Đó là các vết thương gây ra do các vật sắc nhọn không chủ ý đâm hay cắt vào da, do đó còn gọi là tổn thương qua da [33]
Chấn thương: Là bất cứ tổn thương có chủ định hay không có chủ định cho
cơ thể người được gây nên bởi sự phơi nhiễm cấp tính đối với năng lượng nhiệt, cơ học, điện hay năng lượng hoá học, hay bởi sự thiếu vắng của các yếu tố thiết yếu như sức nóng hay ôxy [21]
Vật sắc nhọn: Bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da hoặc qua da;
vật sắc nhọn bao gồm kim tiêm, đầu kim truyền dịch, dao mổ, thủy tinh vỡ, ống mao dẫn bị vỡ và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm [1], [49]
Chấn thương do vật sắc nhọn: Chấn thương do vật sắc nhọn là tình trạng da bị
xâm nhập bởi các vật sắc nhọn và địa điểm xảy ra ở trong một cơ sở y tế Các vật sắc nhọn có thể gồm: kim, lưỡi chích, dao mổ và mảnh thủy tinh vỡ [31], [49], [55]
1.1.2 Nguy cơ từ tổn thương do dụng cụ y tế sắc nhọn
Nhân viên y tế (NVYT) ngày càng phải đối mặt với nguy cơ về lây nhiễm với máu và các dịch trong cơ thể trong đó hầu hết các trường hợp phơi nhiễm ở nhân viên y tế là tổn thương dưới da do vật sắc nhọn nhiễm máu hoặc dịch cơ thể Những vật sắc nhọn có thể bao gồm kim tiêm, dao
mổ hoặc các mảnh thủy tinh vỡ [66]
Một vết thương do vật sắc nhọn có thể dẫn đến việc truyền các mầm bệnh khác nhau Ít nhất 20 tác nhân gây bệnh khác nhau liên quan đến virút, vi khuẩn và nấm lây truyền qua vết thương do vật sắc nhọn [67]:
Trang 17- Sơ cứu ngay sau phơi nhiễm:
+ Rửa ngay vùng da bị tổn thương bằng xà phòng và nước dưới vòi nước chảy
+ Để máu ở vết thương tự chảy, không nặn bóp vết thương
+ Băng vết thương lại
- Báo cáo người phụ trách và làm biên bản: Ghi lại đầy đủ các thông tin như: Ngày, giờ, hoàn cảnh xảy ra tai nạn rủi ro, đánh giá vết thương, mức độ nguy cơ của phơi nhiễm Lấy chữ ký của những người chứng kiến và chữ ký của người phụ trách
Trang 18- Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm:
Tổn thương do kim dính máu đâm xuyên qua da gây chảy máu: Kim nòng rộng cỡ to, chứa nhiều máu, đâm sâu thì nguy cơ cao hơn kim nòng nhỏ, chứa ít máu và đâm xuyên nông
Tổn thương da sâu do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chất dịch
cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải
Máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da, niêm mạc bị tổn thương viêm loét hoặc xây sát từ trước (thậm chí ngay cả khi không biết có bị viêm loét hay không) nếu viêm loét hoặc xây sát rộng thì nguy cơ cao hơn
1.2 Tình hình chấn thương do vật sắc nhọn của nhân viên y tế ở các cơ sở y tế 1.2.1 Trên thế giới
Tại các CSYT trong quá trình làm việc có những người phải tiếp xúc nghề nghiệp với máu và các dịch cơ thể của bệnh nhân, đã có nhiều người bị mắc các bệnh lây nhiễm đường máu qua các vết thương gây nên bởi các VSN [31], [55] Các tác nhân gây bệnh lây truyền qua máu phổ biến là HBV, HCV và HIV Vật sắc nhọn gây chấn thương phổ biến gồm: kim tiêm, dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ [32]
Theo WHO, số lần chấn thương do VSN trung bình ở nhân viên y tế (tính bao gồm cả những cán bộ y tế đã hành nghề và sinh viên y khoa thực tập) là 0,2 - 4,7 lần/năm [55], tỷ lệ mới mắc chấn thương do kim tiêm đâm là 1,4-9,5/100 người/năm, trung bình 3,7/100 người/năm; tính theo giường bệnh 6,3/100 giường bệnh/năm [36]
Uớc tính số mới mắc chấn thương do VSN hàng năm ở các CSYT một số nước như sau: Mỹ 384.000, Anh 100.000, Đức 700.000, Pháp 29.719, Italia 28.200
và Tây Ban Nha 21.815 [57] Mặc dù số mắc chấn thương rất lớn nhưng số báo cáo
về chấn thương cho người, đơn vị quản lý lại rất thấp Ước tính tại Mỹ có 43% CBYT và 45-65% sinh viên thực tập có báo cáo sự việc bị chấn thương; tại Italia là
40 - 65%; Tây Ban Nha 40-60%; tỷ lệ báo cáo thấp nhất là ở Đức 6,3-14,7% Lý do chính mà người bị chấn thương không báo cáo là do vết thương gây ra rất nhỏ 38%,
Trang 19và họ tin rằng có đủ bảo hộ cần thiết để không bị phơi nhiễm với HBV 19%, không
có thời gian báo cáo 12%, và lý do không biết có hệ thống ghi nhận 10%
Tại khu vực Châu Á, tỷ lệ mắc và tần suất mắc trung bình khác nhau giữa các nước, các vùng Bệnh viện dân sự Karachi, Pakistan (2012) có 77% NVYT bị chấn thương do vật sắc nhọn [53] Bệnh viện ở Delhi, Ấn Độ (2008) có 256 người làm việc tại đây bị kim tiêm đâm chiếm 79,5%, trung bình số lần bị chấn thương do kim tiêm là 3,85 lần/1 NVYT mắc Trong vòng 1 năm làm việc, trung bình một nhân viên y tế bị chấn thương do kim đâm là 4,5 lần 94,2% sinh viên điều dưỡng thực tập tại bệnh viện bị chấn thương do kim tiêm là nhóm có tỷ lệ mắc cao nhất tại bệnh viện [57] Mông Cổ (2011), NVYT tại 2 bệnh viện công lập ở thủ đô Ulanbatar bị chấn thương do VSN trong 3 tháng là 38,4% [42] Trong năm 2009 tại bệnh viện đa khoa ở Bắc Kinh có 1.201 NVYT thì ghi nhận được 4.320 lượt chấn thương do VSN, trung bình số lần mắc của NVYT tại đây trong 1 năm là 3,58 lần/người/năm,
tỷ lệ mắc của NVYT là 78,58% [34] Tại Malaysia, khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Đa khoa Malaka (2014) có 20,9% NVYT mắc; trong đó 70,8% là do bản thân tự gây nên chấn thương [25] Tỷ lệ mắc tại bệnh viện Serdang, Malaysia năm
2010 là 23,5%, có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ chấn thương giữa nhóm điều dưỡng bệnh viện với điều dưỡng cộng đồng [52] Tại Thái Lan có 55% điều dưỡng bị chấn thương do VSN trong vòng 1 năm, và 91,1% số chấn thương bị phơi nhiễm với máu của bệnh nhân [47] Địa điểm nơi xảy ra chấn thương phổ biến
là khoa sản phụ; phẫu thuật; hồi sức tích cực; và cấp cứu với tỷ lệ mắc và số lần mắc trung bình người/năm tương ứng là 94,67% và 4,51; 93,09% và 4,46; 85,44%
và 3,08; 76,62 % và 4,55 Dụng cụ gây chấn thương gồm: lọ thuốc thủy tinh, kim bướm, kim tiêm, kim khâu và dao phẫu thuật [31], 52,8% chấn thương do VSN ở điều dưỡng gây nên bởi kim tiêm [47] Vị trí bị chấn thương phổ biến là ngón tay 47%, bàn tay 53% [28]
Abozead và cộng sự (2015) [56] tiến hành nghiên cứu trên NVYT tại Jordan
về kiến thức và thực hành của điều dưỡng về vết thương kim đâm kết quả cho thấy 75,5% NVYT trả lời đã từng có vết thương do vật sắc nhọn nhưng trong số đó có tới 47% vết thương xảy ra đã không được báo cáo
Trang 20Chấn thương do VSN là vấn đề phổ biến, đáng báo động ở các CSYT trên toàn thế giới, có những ảnh hưởng to lớn đến sức khỏe của những người mắc phải Một trong những đối tượng mắc chấn thương do VSN là sinh viên điều dưỡng thực tập tại các CSYT Tỷ lệ hiện mắc, mới mắc, số lượt mắc trung bình khác nhau giữa các nước và các vùng trên thế giới Ngay từ lúc mới tiếp xúc nghề nghiệp sinh viên điều dưỡng cần được trang bị kiến thức, kỹ năng để chủ động phòng ngừa, giảm thiểu tác hại do vấn đề này gây nên
1.2.2 Tại Việt Nam
Cũng như các cơ sở y tế trên thế giới, tại các cơ sở y tế ở Việt Nam chấn thương do VSN trong quá trình làm việc cũng rất phổ biến [22], [62] Vấn đề này đã được ghi nhận, báo cáo theo thống kê của các đơn vị, các nghiên cứu độc lập và thường được đề cập đến ở các góc độ chống nhiễm khuẩn, vệ sinh bệnh viện, các bệnh lây qua đường máu, thực hành tiêm an toàn…
Tỷ lệ mắc chấn thương do VSN có sự khác nhau giữa các CSYT, giữa các khoa trong cùng một CSYT, tùy thuộc vào tính chất chuyên môn, số lượng bệnh nhân của mỗi cơ sở Năm 2008, tại một số bệnh viện tại Hà Nội và Nam Định tỷ lệ NVYT đã từng bị chấn thương do vật sắc nhọn trong quá trình làm việc chiếm tỷ lệ cao 96,8% và 88,2% [15] Tỷ lệ mắc chấn thương do VSN ở các CSYT trong cả nước năm 2010 là 48%, trung bình số lần mắc là 3,2 ± 4,7 lần/NVYT/năm [16] Năm 2012, tỷ lệ này tại bệnh viện Việt Đức 77%, bệnh viện Bạch Mai 68%, trung tâm Y tế Đông Anh 74,6% [22] Tại các bệnh viện ở Hà Nội, khoa xảy ra nhiều nhất
là cấp cứu, gây mê hồi sức 71%, ngoại 66% [22] Bệnh viện Chợ Rẫy, khoa ngoại là nơi xảy ra phơi nhiễm nghề nghiệp nhiều nhất chiếm 37,9% [19]
Chấn thương do VSN gặp ở nhiều khâu trong quá trình làm việc từ chuẩn bị,
sử dụng và thu gom xử lý dụng cụ, tỷ lệ mắc khi tiêm 46%, rửa dụng cụ 14,9% và làm các thủ thuật 14%, phẫu thuật 13,5%, vứt bỏ và thu gom rác thải 8,8% [16] Thao tác thường dẫn đến chấn thương: Tiêm truyền 19,9%, lấy máu 8,3%, đậy nắp kim 11,9% [19] Có nhiều loại vật sắc nhọn gây chấn thương cho như các loại kim: tiêm dưới da, lấy máu tĩnh mạch, khâu phẫu thuật, lưỡi chích, dao mổ, mảnh thủy tinh, trong đó dụng cụ gây chấn thương nhiều nhất là kim hoặc dao 74,8% [19]
Trang 21Theo nghiên cứu của Trương Thị Ngọc Lan (2011) [11] thực hiện trên 502 NVYT về “Tìm hiểu mức độ, nguyên nhân và cách xử trí tai nạn nghề nghiệp của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam từ 2006- 2011”, kết quả cho thấy tỷ lệ NVYT bị phơi nhiễm nghề nghiệp do kim đâm và thể tích máu bắn là 60%, trong đó có tới 80% NVYT bị tai nạn nghề nghiệp mà không báo cáo Đồng thời tỷ lệ NVYT tiêm ngừa viêm gan B trước khi bị phơi nhiễm nghề nghiệp chỉ chiếm 5%
1.3 Tình hình mắc chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng
Quá trình thực tập lâm sàng tại các CSYT sinh viên điều dưỡng thực hiện các
kỹ thuật chăm sóc bệnh nhân đã học, rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp của điều dưỡng tương lai Do vậy, cũng giống như các NVYT đã hành nghề sinh viên điều dưỡng cũng có nguy cơ mắc các chấn thương trong quá trình thực tập lâm sàng
Đến nay, đã có nhiều báo cáo tổng kết của các CSYT, hệ thống giám sát, nghiên cứu về vấn đề này ở nhiều nước, nhiều trường đại học trên thế giới Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc chấn thương do VSN trong thực tập lâm sàng ở sinh viên điều dưỡng khác nhau giữa các nước, các trường, tỷ lệ mắc cao nhất được ghi nhận tại Trung Quốc là 100%, với trung bình số lần mắc là 4,6 lần/sinh viên [69]; tỷ lệ mắc của sinh viên điều dưỡng Đại học Mahatma Gandhi, Ấn Độ trong 12 tháng đi thực tập là 76,4% [38]; Đại học Milan 25,2% [26]; Đại học Namibia là 17% [58]; tỷ lệ mắc thấp nhất ghi nhận được tại Đại học Lander 9,4% [29] Tại Italia, sinh viên năm thứ nhất có nguy cơ chấn thương với cao hơn so với sinh viên khác {OR = 1,46 với
CI (1,1 – 1,9)} [30]; Đại học Selçuk, Thổ Nhĩ Kỳ tỷ lệ mắc theo năm học từ thứ nhất, hai, ba, tư là 68,5%, 91%, 87,3%, 88,6%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê [43]
Khi tham gia thực tập tại các cơ sở y tế, sinh viên thực hiện các qui trình điều dưỡng đã được học, với nhiều thao tác khác nhau Các thao tác thường gây chấn thương cho sinh viên gồm: Tháo kim, đậy nắp kim, bẻ ống thuốc, lấy máu tĩnh mạch… Tại Đại học Bari, Italia tháo kim ra khỏi bơm kim tiêm là thao tác gây chấn thương phổ biến nhất [61]; trong khi đó tại Đại học Selçuk là thao tác bẻ ống thuốc
Trang 2291% [43] Tại Koirala, Nepal là lấy máu tĩnh mạch 331,1% [28] Để thực hiện các thao tác điều dưỡng sinh viên cần sử dụng các các loại y cụ, trong số các y cụ đó có nhiều loại là vật sắc nhọn có thể là gây chấn thương cho người sử dụng nó Tác nhân vật sắc nhọn gây chấn thương cho sinh viên đa dạng, tuy nhiên phổ biến nhất
là kim tiêm, ngoài ra còn có kim khâu, mảnh thủy tinh, lưỡi chích, dao… Tại Đại học Mahatma Gandhi vật sắc nhọn gây chấn thương cho nhóm sinh viên điều dưỡng gồm kim tiêm dưới da 80,8%, kim lấy máu tĩnh mạch 16,1%, kim khâu vết thương vết thương 7,3% [38] Koirala, Nepal tác nhân gây chấn thương nhiều nhất là kim tiêm 57,8%, kim khâu phẫu thuật 27,8% [28] Ngoài ra sinh viên có thể bị chấn thương khi sử dụng máy đo đường huyết, di chuyển mẫu máu xét nghiệm
Tại Trường Đại học Y khoa Vinh năm 2012, tỷ lệ HSSV trung cấp, cao đẳng điều dưỡng bị chấn thương do VSN trong quá trình TTLS là 45% [17]; Cao đẳng Y
tế Kiên Giang năm 2014 là 53,9% [13] Chương trình học của sinh viên đại học điều dưỡng phổ biến là 4 năm, có trường bố trí sinh viên đi thực tập từ năm thứ nhất, có trường bắt đầu từ năm thứ hai hoặc ba Trong cả quá trình học đại học ở mỗi năm học thì tình trạng sinh viên bị chấn thương cũng khác nhau Tỷ lệ mới mắc chấn thương do VSN trong TTLS ở Hồng Kông là 1ca/100 sinh viên/1năm học; tỷ lệ mới mắc tích lũy sinh viên tăng lên theo năm học, năm thứ nhất, năm hai và năm ba tương ứng là 0; 0,03 và 0,04 [41]
Tại mỗi khoa, phòng trong các CSYT nơi sinh viên thực tập đều có thế xảy
ra chấn thương, tuy nhiên với tỷ lệ khác nhau Các khoa, phòng có bệnh nhân nặng, thực hiện nhiều kỹ thuật chuyên môn thì xác suất xảy ra chấn thương cao hơn như khoa ngoại, khoa hồi sức, phòng mổ… Sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
bị chấn thương nhiều nhất khi thực tập tại khoa ngoại 54,8% và khoa sản 74,8% [10]; 33% chấn thương ở sinh viên Đại học Lander xảy ra tại phòng mổ [29]; tại Koirala 41,1% chấn thương xảy ra ở khoa sản phụ, khoa xét nghiệm 23,3% [28] Ngoài thời gian thực tập vào buổi ngày sinh viên điều dưỡng vẫn phải tham gia trực tối ở các cơ sở y tế Có một số nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên bị chấn thương vào thời điểm buổi tối nhiều hơn buổi ngày, Binita Kumari cho thấy mật độ mới mắc chấn thương ở sinh viên điều dưỡng Kathmadu vào buổi tối là 6,86 người/1000
Trang 23ngày tiếp xúc cao hơn so với buổi ngày 5,41 người/1000 ngày tiếp xúc [52]; theo Nguyễn Đỗ Nguyên tại Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh thời gian xảy ra phần lớn lúc trực đêm 55,8% [14]
1.4 Một số yếu tố liên quan đến chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng
Kiến thức, thái độ, thực hành của sinh viên khi thao tác với vật sắc nhọn
Người thực hiện các thao tác, kỹ thuật thăm khám, phát hiện, chăm sóc bệnh nhân tại các CSYT có nguy cơ bị phơi nhiễm với các VSN trong quá trình làm việc Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức, thái độ, thực hành của người thực hiện có mối liên quan đến bị chấn thương do VSN
Kiến thức của người thực hiện về: Tác nhân lây bệnh qua đường máu, thao tác với VSN, xử lý vết thương, báo cáo sau chấn thương là các yếu tố trên có liên quan đến tỷ lệ mắc chấn thương do VSN trong TTLS Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất có ảnh hưởng ở điều dưỡng Uganda là chưa được đào tạo về phòng ngừa chấn thương do VSN, nhóm chưa đào tạo có nguy cơ mắc cao gấp 5,72 lần so với nhóm được đào tạo [37] Tại Trung Quốc, có tỷ lệ sinh viên điều dưỡng bị chấn thương cao nhất 100%, chỉ ra rằng yếu tố thiếu kiến thức về an toàn nghề nghiệp và thiếu kinh nghiệm TTLS góp phần đáng kể gây nên chấn thương [69] Nghiên cứu ở sinh viên đại học điều dưỡng Bari, Italia cũng cho thấy thiếu kiến thức, kỹ năng thực hành cũng như không lường được rủi ro có thể xảy ra là yếu tố quan trọng dẫn đến
bị chấn thương khi TTLS [61]
Một số thao tác với VSN mà có nguy cơ cao dẫn đến bị chấn thương đã được chỉ ra bao gồm: Đóng nắp kim tiêm bằng 2 tay; bẻ ống thủy tinh; dọn dẹp, chùi rửa dụng cụ, giường bệnh, buồng bệnh, … Theo CDC, tại Mỹ từ năm 1995-2007 cho thấy các thao tác khi xảy chấn thương do VSN gồm: Đậy nắp kim 36%; quá trình cầm, trao, lấy dụng cụ 14%; sau khi sử dụng nhưng trước khi xử lý 10%… [32] Tại trường Đại học Điều dưỡng Bari, Italia phần lớn sinh viên điều dưỡng bị chấn thương do VSN trong khâu xử lý kim [61] Sinh viên đã có kinh nghiệm TTLS sẽ vững tâm hơn khi thực hiện các thao tác, sinh viên thiếu kinh nghiệm TTLS và lo lắng cho lần đầu tiên thực hiện thủ thuật có thể dẫn đến bị chấn thương [26]
Trang 24Đặc tính cá nhân sinh viên
Năm học của sinh viên là một yếu tố được nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan đến tình trạng bị chấn thương Tại Trường Đại học Điều dưỡng ở Australia, sinh viên năm thứ 3 bị chấn thương cao gấp 14,8 lần so với các khóa khác
p < 0,01 CI 95% (5,2 – 50,3) [35] Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ mắc chấn thương sinh viên điều dưỡng đại học Selçuk theo năm học từ thứ nhất, hai, ba,
tư của sinh viên tương ứng là 68,5%, 91%, 87,3%, 88,6% [43] Tuổi đời và tuổi nghề của người điều dưỡng có liên quan đến tỷ lệ chấn thương, điều dưỡng trên 40 tuổi mà có trên 5 năm kinh nghiệm thì nguy cơ bị mắc chấn thương do VSN thấp hơn 3,1 lần so với người khác [37] [48]
Môi trường thực tập ở cơ sở y tế
Có rất nhiều y cụ sử dụng tại các CSYT là các VSN có thể gây chấn thương cho người sử dụng gồm: Dao mổ, kim tiêm, kéo Một số vật sắc nhọn thường gây chấn thương cho sinh viên gồm: Kim tiêm, mảnh thủy tinh, lưỡi chích của máy đo đường huyết [28] [41] [43] Tại Mỹ, VSN gây chấn thương cho NVYT và sinh viên gồm: kim tiêm 30%, kim khâu 21%, kim sinh thiết 8%, thủy tinh 1% [32]
Quản lý chất thải y tế, trong đó có chất thải sắc nhọn không đúng qui định làm tăng nguy cơ người tiếp xúc bị chấn thương do VSN Nhiều sinh viên thực tập
bị chấn thương do VSN khi thu gom chất thải, xử lý rác y tế [32] [55]
Mục đích thực tập lâm sàng để sinh viên rèn luyện kỹ năng chuyên môn đã học, học hỏi kinh nghiệm của điều dưỡng đã hành nghề Tại các cơ sở y tế thực tập điều dưỡng đóng vai trò là người làm mẫu, người hướng dẫn cho sinh viên Theo đánh giá của Hội Điều dưỡng Việt Nam, cho thấy phần lớn điều dưỡng chưa tuân thủ qui trình kỹ thuật, chưa báo cáo chấn thương do VSN 87,7% [6] Tại các CSYT nơi sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh TTLS có 57% điều dưỡng viên dùng tay đậy nắp kim, 47% cô lập kim tiêm không đúng, và
có nhiều hành vi có nguy cơ cao dẫn tới bị chấn thương dẫn do VSN [9] Trên 30% điều dưỡng và nữ hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Tiền Giang xử lý ban đầu chưa đúng khi bị chấn thương do vật sắc nhọn [12]
Trang 251.5 Nghiên cứu về chấn thương do vật sắc nhọn ở sinh viên điều dưỡng
1.5.1 Trên thế giới
Các nghiên cứu đã triển khai từ châu Mỹ, châu Phi, châu Âu, châu Á, đến châu Úc chỉ ra rằng chấn thương do VSN trong TTLS là vấn đề phổ biến ở sinh viên điều dưỡng
Trường Đại học Lander Mỹ (2007), nghiên cứu ở 96 sinh viên điều dưỡng cho thấy có 9 sinh viên bị chấn thương do VSN, tỷ lệ 9,4%; địa điểm xảy ra nhiều nhất là phòng phẫu thuật 33% 2/9 sinh viên được ngủ từ 3-5 tiếng, 3/9 sinh viên ngủ đủ từ 6-8 tiếng trong đêm trước ngày bị chấn thương Đánh giá kiến thức về báo cáo chấn thương do VSN có 10,4% không biết phải báo cáo, 44,8% biết một số yêu cầu, 27,1% biết tốt, 17,7% biết rất tốt về thủ tục báo cáo sau chấn thương [29]
Năm 2009, Baghcheghi và cộng sự [51] tiến hành nghiên cứu về tỷ lệ vết thương do kim/vật sắc nhọn và các yếu tố liên quan ở SV điều dưỡng tại trường Đại học Y khoa Arak ở Iran Kết quả cho thấy có 43% SV đã từng trải qua ít nhất một vết thương do vật sắc nhọn trong 12 tháng qua, khoảng 40% vết thương đã không được báo cáo Sau vết thương, 64,22% đối tượng tiến hành kiểm tra và theo dõi, trong đó có 10% các đối tượng đã không thực hiện bất kỳ xử lý nào
Một nghiên cứu của Kulkarni và cộng sự tại Ấn Độ năm 2013 [70] thực hiện trên 268 SV y khoa ghi nhận kiến thức của SV về phòng ngừa chấn thương do kim
và VSN khi tham gia thực hành lâm sàng còn thấp (56%)
Nghiên cứu của Vesile Unver ở 218 sinh viên Trường Điều dưỡng Quân Y Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy có 2 nguyên nhân chính gây chấn thương do VSN là kim tiêm đâm 47,3% và mảnh vỡ của ống thuốc 37,8% Số mắc, mới mắc chấn thương tăng lên theo năm học của sinh viên [63] Tại trường Y, thuộc Đại học Selçuk (2014), tỷ
lệ mắc của sinh viên điều dưỡng là 84%; theo năm học thứ nhất, hai, ba, tư tương ứng là 68,5%, 91%, 87,3%, 88,6%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Thao tác gây chấn thương phổ biến nhất cho sinh viên là bẻ ống thuốc 91% [43]
Trên cỡ mẫu gồm 246 sinh viên điều dưỡng của đang thực tập tại 7 bệnh viện
ở Trung Quốc, các bệnh viện này được chọn ngẫu nhiên từ các bệnh viện sinh viên đang thực hành lâm sàng Tổng cộng có 1.144 lượt chấn thương do bị kim đâm ở
Trang 26246 sinh viên, tỷ lệ mắc là 100%, số lần trung bình là 4,6 lần/sinh viên Yếu tố thiếu kiến thức về an toàn nghề nghiệp và thiếu kinh nghiệm thực tập lâm sàng góp phần đáng kể gây nên chấn thương cho sinh viên điều dưỡng [69]
1.5.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, hiện nay có rải rác một số nghiên cứu về vấn đề chấn thương do VSN trong TTLS ở đối tượng sinh viên y khoa nói chung và sinh viên điều dưỡng nói riêng Có một số nghiên cứu về kiến thức thực hành phòng viêm gan B, HIV ở sinh viên điều dưỡng có đề cập đến bị chấn thương do VSN trong TTLS
Tại Trường Đại học Y khoa Vinh (2012) đã thực hiện nghiên cứu kiến thức thực hành phòng ngừa viêm gan B ở 357 HSSV gồm: 134 học sinh trung cấp điều dưỡng, 143 sinh viên cao đẳng điều dưỡng, 78 sinh viên Y1 Có 125 HSSV bị từng
bị chấn thương do VSN trong TTLS Tuy nhiên, sinh viên Y1 đang học các môn khoa học cơ bản, chưa đi TTLS nên không bị mắc chấn thương này Do vậy, tỷ lệ mắc chấn thương do VSN trong TTLS của HSSV điều dưỡng là 45% [17]
Có 804 sinh viên từ năm thứ nhất, hai, ba của Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai được khảo sát trong nghiên cứu “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng lây nhiễm virus viêm gan B và một số yếu tố liên quan của học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai năm 2013” Trong số các HSSV đã đi thực tập lâm sàng có 25,2% HSSV bị phơi nhiễm với HBV thông qua chấn thương do vật sắc nhọn và văng/bắn máu/dịch cơ thể của bệnh nhân Tuy nhiên chỉ có 8,3% số sinh viên bị phơi nhiễm thực hiện điều trị PEP [10]
Nghiên cứu mới đây vào tháng 10/2014 của Hồ Văn Luyến tại Trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang, trên 393 sinh viên của 4 chuyên ngành cao đẳng: Điều dưỡng, hộ sinh, nha khoa, y học dự phòng Có 53,9% SV đã bị chấn thương do vật sắc nhọn, trong đó 29,8% bị 1 lần, 15% bị 2 lần, 7,1% bị 3 lần và từ 4 lần là 2% Nhóm sinh viên điều dưỡng bị chấn thương là 54,3% thấp hơn so với hộ sinh 77,6%
và nha khoa 68% 57,8% sinh viên có kiến thức đúng về phòng ngừa và xử lý chấn thương do vật sắc nhọn 36,8% thực hành đúng về phòng ngừa và xử lý [13]
Trang 27Chấn thương do VSN trong TTLS là vấn đề thường gặp ở sinh viên y khoa nói chung và sinh viên điều dưỡng nói riêng Tại các nước trên thế giới tỷ lệ mắc chấn thương này ở sinh viên điều dưỡng từ 9,4% - 100%
1.6 Kiến thức, thái độ, thực hành về xử trí chấn thương
Xử lý đúng vết thương và báo cáo sự việc bị chấn thương đến người có trách nhiệm là hành động sinh viên cần thực hiện nghiêm túc để bảo vệ chính bản thân, đồng thời cung cấp số liệu cho hệ thống giám sát tai nạn nghề nghiệp Kiến thức về
xử lý vết thương sau chấn thương của sinh viên chưa cao: 85,9% sinh viên không biết hoặc chỉ biết một phần trong các bước xử trí sau phơi nhiễm [59] Tại Đại học Melaka Manipal, Malaysia có 49,2% sinh viên không thực hiện bất kỳ hành động nào để xử lý vết thương, với nguyên nhân cho rằng đó là việc không cần thiết [60] Cũng tương tự như vậy, kiến thức và thực hành báo cáo sau chấn thương của sinh viên cũng còn rất hạn chế Tại Đại học Lander, Mỹ đánh giá kiến thức về báo cáo chấn thương do VSN có 10,4% không biết phải báo cáo, 44,8% biết một số yêu cầu trong báo cáo [29] Khi đã bị chấn thương tỷ lệ sinh viên có báo cáo chưa cao: 40% sinh viên bị chấn thương ở đại học Arak, Iran không báo cáo; thậm chí 51,6% sinh viên trường Shiraz còn thực hiện nặn máu từ vết thương, hành động xử lý vết thương sai trầm trọng [50]; tại Shiraz, Iran có 75% sinh viên không báo cáo bởi vì
đa số sinh viên không biết báo cáo vấn đề này cho ai [27] Tỷ lệ sinh viên bị chấn thương xử lý vết thương đúng còn thấp, chỉ có 36,8% sinh viên Trường Cao đẳng Y
tế Kiên Giang xử lý đúng [13]
Chấn thương do VSN trong TTLS là vấn đề sức khỏe thường gặp ở sinh viên điều dưỡng, tỷ lệ mắc dao động rất lớn từ 9,4% đến 100% Các VSN gây chấn thương phổ biến là: Kim tiêm, lưỡi sắc nhọn, mảnh thủy tinh Chấn thương có thể
để lại hậu quả nghiêm trọng làm lây nhiễm các tác nhân nguy hiểm như: HIV, HBV, HCV Kiến thức thực hành về xử trí, phòng ngừa chấn thương do VSN trong TTLS của sinh viên chưa cao
Trang 281.7 Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang: Chương trình khung đào tạo, chương trình thực tập lâm sàng cho sinh viên cao đẳng điều dưỡng
Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang là trường đào tạo cán bộ y tế cho các cơ
sở y tế không chỉ riêng cho tỉnh Tiền Giang mà còn cho các tỉnh lân cận Trường được thành lập vào năm 2007 trên cơ sở nâng cấp từ trường Trung cấp Y tế Tiền Giang (1978) Hiện trường đào tạo 2 bậc học Trung cấp và Cao đẳng với 7 mã ngành (3 mã ngành cao đẳng và 4 mã ngành trung cấp) Từ năm 2008 trường bắt đầu tuyển sinh sinh viên hệ cao đẳng khóa 1 trong đó có ngành Điều dưỡng, Hộ sinh
và Dược Đến nay trường đã tuyển sinh được 10 khóa cao đẳng Điều dưỡng, 4 khóa cao đẳng Dược và 5 khóa cao đẳng Hộ sinh Tổng số sinh viên toàn trường là khoảng 2900 học sinh, sinh viên trong đó chủ yếu là nữ, nam chiếm 30% Hàng năm trường tuyển sinh từ 1200 – 1300 chỉ tiêu sinh viên hệ cao đẳng trong đó sinh viên
hệ cao đẳng chính quy chiếm hơn 50% Tỷ lệ sinh viên điều dưỡng chiếm 16,93% Gồm hệ chính quy và hệ liên thông Trường hiện có 28 lớp cao đẳng chính quy, 26 lớp cao đẳng liên thông, 11 lớp trung cấp, 2 lớp trung cấp định hướng y học cổ truyền và định hướng răng hàm mặt
Chương trình đào tạo thông qua thực tập lâm sàng
Mục đích thực tập lâm sàng: Sinh viên thực hành kỹ năng chuyên môn đã học, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp, ứng xử với bệnh nhân, người nhà và với CBYT Tham gia thực tập lâm sàng là tại các cơ sở y tế là hoạt động bắt buộc của sinh viên cao đẳng điều dưỡng theo Chương trình khung đào tạo đã qui định
Điều kiện tiên quyết sinh viên đi thực tập lâm sàng là đã hoàn thành học phần lý thuyết và thực hành trên mô hình tương ứng với học phần thực tập lâm sàng Bố trí thực tập lâm sàng Phòng Đào tạo - Nghiên cứu khoa học xây dựng kế hoạch thực tập, giảng viên lâm sàng và sinh viên thực hiện theo đúng tiến độ Bắt đầu năm thứ 2 thì được đi thực tập lâm sàng cho sinh viên điều dưỡng chính qui và học kỳ 2 năm 1 cho sinh viên điều dưỡng liên thông
Trong quá trình thực tập lâm sàng, sinh viên được chia thành các tổ Mỗi tổ
có 10-15 sinh viên, có 01 tổ trưởng để đốc thúc, hỗ trợ giảng viên quản lý
Trang 29Giảng viên hướng dẫn lâm sàng gồm: Giảng viên cơ hữu của nhà trường và giảng viên thỉnh giảng là cán bộ của CSYT thực tập Hoạt động hướng dẫn thực tập lâm sàng gồm: giao ban và đọc bệnh án đi buồng và giảng đầu giường, giảng dạy lý thuyết, thực hành, chấm thi hết vòng lâm sàng và hết môn
Quy trình thực tập lâm sàng Đầu mỗi buổi học, tổ trưởng điểm danh, báo cáo giảng viên lâm sàng/điều dưỡng trưởng khoa và giao ban sinh viên tại phòng học của khoa Sinh viên thực hiện chăm sóc người bệnh, thực hiện quy trình kỹ thuật tại vị trí được phân công Giảng viên hướng dẫn thực tập lâm sàng tại buồng bệnh hoặc khi thực hiện kỹ thuật, giao nhiệm vụ học tập cho sinh viên
Thi kết thúc học phần lâm sàng: Căn cứ vào kết quả, thái độ học tập của sinh viên trong quá trình thực tập, trực, thực hiện chỉ tiêu lâm sàng, thực hiện đầy đủ các bài tập được giao, giảng viên lâm sàng lập danh sách sinh viên được thi Sinh viên bốc thăm ngẫu nhiên bệnh nhân và thực hiện 01 kỹ thuật, lập và thực hiện kế hoạch chăm sóc người bệnh và trả lời 03 câu hỏi của giảng viên liên quan đến người bệnh
Trang 30KHUNG LÝ THUYẾT
Khung lý thuyết trong nghiên cứu này có tham khảo khung lý thuyết của tác giả Dương Khánh Vân [22] và Wafula Kennedy Simiyu về chấn thương do vật sắc nhọn trong các cơ sở y tế [64]
Các yếu tố cơ sở thực tập
- Giám sát của bệnh viên
- Công việc giao cho sinh viên
và xử lý chấn thương
Thái độ phòng ngừa
và xử lý chấn thương
Thực hành xử
lý chấn thương
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên ngành điều dưỡng (gồm cao đẳng chính quy và liên thông) đang học tại Trường Cao Đẳng Y tế Tiền Giang năm học 2017 – 2018
Đối với phần kiến thức và thái độ về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn khi thực hành lâm sàng, kiến thức xử trí vết thương được thu thập trên toàn bộ đối tương nghiên cứu
Đối với phần thực hành xử trí khi mắc chấn thương trong thực hành lâm sàng chỉ thu thập số liệu trên sinh viên đã đi thực tập lâm sàng ở cơ sở y tế trong thời gian từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018 và bị chấn thương để hạn chế sai
số nhớ lại
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: tháng 3/2018 - tháng 7/2018
Địa điểm: Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang, tỉnh Tiền Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
Tiêu chuẩn chọn mẫu:
Sinh viên đang học ngành điều dưỡng bậc cao đẳng tại Trường Cao đẳng Y
tế Tiền Giang năm 2018
Tiêu chí loại trừ:
- Sinh viên từ chối tham gia nghiên cứu
- Sinh viên nghỉ học trong tuần tiến hành thu thập số liệu
- Sinh viên đang học ngành điều dưỡng của Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang tại tỉnh Bến Tre
Cỡ mẫu:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu chọn đối tượng nghiên cứu như sau:
Trang 32P: Tỷ lệ sinh viên điều dưỡng có kiến thức đúng về phòng ngừa và xử trí chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng là 57,8% (Theo tỷ lệ của sinh viên Khoa Y tại Trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang năm 2014) [13]
Z: Tương đương với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96
α: Là mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 5%
d: sai số cho phép 0,08
Thay vào công thức ta tính được n = 401
Hiện nay, toàn bộ sinh viên ngành điều dưỡng tại Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang là 435 do vậy nghiên cứu chọn toàn bộ mẫu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu bằng phát vấn (bộ câu hỏi
tự điền)
Nhân lực cho việc tiến hành điều tra:
- Giám sát viên: Nguyễn Tấn Tài
- Điều tra viên: Gồm 5 sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang Năm sinh viên này là ban cán sự lớp nhưng không phải là sinh viên ngành điều dưỡng;
và nghiên cứu viên chính (Nguyễn Tấn Tài)
Phương pháp tổ chức thu thập số liệu:
Nghiên cứu viên chính sẽ tiến hành tập huấn cho điều tra viên (5 sinh viên) Trong buổi tập huấn, nghiên cứu viên đã phổ biến mục tiêu nghiên cứu, hướng dẫn phương pháp thu thập số liệu Sau đó năm điều tra viên này thực hành điền phiếu Điều tra viên cũng được hướng dẫn cách điền phiếu đầy đủ thông tin và chính xác
Nghiên cứu viên đã thông báo việc thu thập thông tin cho nghiên cứu cho toàn bộ sinh viên của trường thông qua bản tin sinh viên vào 2 tuần trước khi tiến hành thu thập số liệu Thời gian tập huấn là trước khi thu thập số liệu 1 tuần Căn cứ vào lịch học tại trường của sinh viên, nghiên cứu viên chính và các điều tra viên sẽ tiến hành phát phiếu phỏng vấn hồi cứu vào buổi học đầu tiên trong tuần Việc phát câu hỏi nghiên cứu được thực hiện vào cuối buổi học lý thuyết tại Trường Cao đẳng
Y tế Tiền Giang Mỗi điều tra viên thực hiện thu thập thông tin ở một lớp Nếu buổi
Trang 33đó có quá 6 lớp thì nghiên cứu sẽ tiến hành thu thập số liệu các lớp còn lại vào buổi học tiếp theo tại trường
Trước ngày thu thập số liệu, điều tra viên lập danh sách sinh viên mỗi lớp Tại buổi thu thập số liệu, đầu tiên điều tra viên phổ biến và giải thích mục tiêu nghiên cứu, mục đích nghiên cứu và thời gian điền phiếu để sinh viên nắm bắt được biết ý nghĩa nghiên cứu, tầm quan trọng của việc trả lời chính xác bộ công cụ thu thập số liệu Điều tra viên cũng nhấn mạnh và giải thích rõ với sinh viên là kết quả trả lời không ghi tên, không dùng để đánh giá kiến thức của sinh viên Trước khi phát vấn nghiên cứu viên đã hướng dẫn sinh viên trả lời các câu hỏi phát vấn: Cách điền phiếu hỏi, giải thích các câu hỏi một lựa chọn, câu hỏi nhiều lựa chọn, các bước chuyển cho câu hỏi Điều tra viên giải thích thêm các câu hỏi nếu sinh viên thắc mắc nhưng không được đưa ra gợi ý trả lời
Khi sinh viên nộp bộ phiếu điều tra, điều tra viên kiểm tra thông tin trong mỗi phiếu để xem các câu hỏi đã được trả lời đầy đủ và chính xác Những trường hợp còn thiếu hay nghi ngờ về thông tin cung cấp, nghiên cứu viên yêu cầu người tham gia bổ sung hay điều chỉnh ngay trước khi nộp cho nghiên cứu viên chính Giám sát viên kiểm tra phiếu hỏi trong ngày Đối với các phiếu hỏi có câu trả lời không đồng nhất, điều tra viên cần xác minh và chỉnh sửa tại nơi thu thập số liệu cùng với người trả lời
2.6 Biến số nghiên cứu
Nhóm biến thông tin chung của sinh viên
Nhóm biến kiến thức phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn khi thực tập lâm sàng
Nhóm biến thái độ với xử lý khi bị tai nạn do vật sắc nhọn khi thực tập lâm sàng
Nhóm biến thực hành xử lý đối với vết thương do vật sắc nhọn khi thực tập lâm sàng
2.7 Khái niệm và tiêu chí đánh giá trong nghiên cứu
Sinh viên được xác định là bị chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng khi các vật sắc nhọn như: Kim, lưỡi chích, dao mổ và mảnh thủy tinh vỡ xâm nhập trong thời gian đi thực tập lâm sàng tại CSYT nơi mà sinh viên đang thực tập
Trang 34lâm sàng theo kế hoạch học tập của nhà trường Thời điểm trong vòng sáu tháng trước cuộc điều tra: từ 9/2017 đến 3/2018
Đánh giá kiến thức về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn
Kiến thức về phòng ngừa chấn thương trong nghiên cứu này gồm câu hỏi từ câu hỏi B6 đến câu hỏi B24 như: Khả năng phòng ngừa; tác nhân lây bệnh đường máu; thao tác với vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng (phụ lục 1)
Dựa vào phần trả lời của các câu hỏi của đối tượng nghiên cứu trong phiếu điều tra đã phát vấn, mỗi đáp án đúng được tính 1 điểm, đáp án sai tính 0 điểm (phụ lục 2)
Tổng điểm tối đa cho mỗi sinh viên đạt được là 32 điểm Sinh viên đạt trên¾ tổng điểm tối đa tương đương là 24 điểm được đánh giá là có kiến thức đúng về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn Sinh viên đạt dưới 24 điểm được đánh giá
có kiến thức chưa đúng về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn
Đánh giá thái độ về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn
Các câu hỏi thái độ D1, D3, D4, D5 gồm các mức đánh giá sự quan tâm từ không quan tâm đến rất quan tâm (5 mức đánh giá) Thái độ quan tâm tốt đến phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn được đánh giá bằng mức độ quan tâm của sinh viên chọn từ mức 3 trở lên của từng câu
Đánh giá kiến thức xử trí chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng
Kiến thức về xử trí chấn thương trong nghiên cứu này gồm câu hỏi từ câu hỏi C1 đến câu hỏi C6: khả năng xử trí chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng như cách xử trí, báo cáo (phụ lục 1)
Dựa vào phần trả lời của các câu hỏi của đối tượng nghiên cứu trong phiếu điều tra đã phát vấn, mỗi đáp án đúng được tính 1 điểm, đáp án sai tính 0 điểm (phụ lục 2)
Tổng điểm tối đa cho mỗi sinh viên đạt được là 7 điểm Sinh viên đạt trên ¾ tổng điểm tối đa tương đương là 5 điểm được đánh giá là có kiến thức đúng về xử lý chấn thương do vật sắc nhọn Sinh viên đạt dưới 5 điểm được đánh giá có kiến thức chưa đúng về xử trí chấn thương do vật sắc nhọn
Trang 35Đánh giá thái độ quan tâm đến kiến thức xử trí khi bị chấn thương
Các câu hỏi thái độ D2, D6, D7 gồm các mức đánh giá sự quan tâm từ không quan tâm đến rất quan tâm (5 mức đánh giá) Thái độ quan tâm tốt đến xử lý chấn thương do vật sắc nhọn được đánh giá bằng mức độ quan tâm của sinh viên chọn từ mức 3 trở lên của từng câu
Đánh giá thực hành xử trí khi bị chấn thương do vật sắc nhọn
Nghiên cứu sử dụng câu hỏi về thực hành xử trí tai nạn do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng (từ câu hỏi E24 đến câu hỏi E32) để đánh giá thực trạng thực hành xử trí chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng
Tổng điểm tối đa cho mỗi sinh viên đạt được là 10 điểm Sinh viên đạt trên ¾ tổng điểm tối đa tương đương là 7 điểm được đánh giá là xử trí đúng khi bị tai nạn
do vật sắc nhọn Sinh viên đạt dưới 7 điểm được đánh giá xử trí chưa đúng khi tai nạn do vật sắc nhọn
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
Làm sạch số liệu
Tất cả phiếu phát vấn được nghiên cứu viên chính thu và kiểm tra tính hợp lý của câu hỏi bị thiếu trước khi nhập Toàn bộ thông tin trong phiếu phát vấn được mã hóa, nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1 và truy xuất ra số liệu để phân tích trên phần mềm SPSS 18
Phân tích số liệu
Số liệu được xử lý, phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0 Giá trị trung bình,
độ lệch chuẩn để mô tả biến liên tục Tỷ lệ % và biểu đồ cột dùng để mô tả cho biến phân loại
Để đánh giá mối liên quan giữa các yếu tố và kiến thức đúng, thái độ đúng kiểm định khi bình phương được dùng Trong các trường hợp kiểm định khi bình phương không thỏa mãn giả định (có quá 25% số ô có giá trị ước tính nhỏ hơn 5) kiểm định tính chính xác Fisher được dùng Ngoài ra, mô hình hồi quy logistic được dùng để đánh giá mối liên quan đến các biến đầu ra gồm kiến thức đúng, thái độ đúng và thực hành xử lý đúng có hiệu chỉnh với các yếu tố nhiễu Các phân tích số liệu được thực hiện trên phần mềm SPSS 18.0
Trang 362.9 Đạo đức nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua trước khi triển khai nghiên cứu (quyết định số 145/2018/YTCC/HD3, ngày 16 tháng năm 2018)
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục
Sai số bao gồm: Sai số do thu thập thông tin: Sai số này do quy trình xóa tên sinh viên nghỉ luôn của phòng Công tác học sinh – sinh viên Sinh viên thiếu hợp tác trong quá trình trả lời phát vấn, trả lời một cách qua loa cho xong chuyện, nên các thông tin thu được chưa thật sự chính xác
Cách khắc phục:
- Bộ phiếu được thiết kế dễ hiểu, rõ ràng, phù hợp để đạt tối đa thông tin chung nhất Bộ câu hỏi sẽ phát thử cho 5 điều tra viên và 5 sinh viên điền thử trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức
- Quá trình điều tra được tiến hành cẩn thận và tỉ mỉ Việc tập huấn và giám sát việc thực hiện nghiên cứu được thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ
- Nghiên cứu này được triển khai với nguồn lực và thời gian có hạn nên chỉ mới thực hiện được ở việc đánh giá kiến thức phòng ngừa, xử lý và một số yếu tố liên quan đến kiến thức đúng về chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang Một hạn chế nữa của nghiên cứu là không quan sát được hoạt động thực hành của sinh viên tại các cơ
sở y tế Nghiên cứu chỉ thu thập thông tin về chấn thương đã xảy ra trước cuộc điều tra thông quan phiếu phát vấn tự điền (tự khai báo) do vậy có thể sinh viên nhớ chưa thật chính xác về sự kiện xảy ra Các nghiên cứu trên thế giới đa số tác giả chọn khoảng thời gian đánh giá bị mắc chấn thương trong vòng từ 6 - 12 tháng Do vậy,
để hạn chế sai số nhớ lại và tăng tính trung thực của thông tin thu thập, học viên quyết định chọn thời gian tính sinh viên bị chấn thương là 6 tháng trước cuộc điều tra Điều này lại gây ra hạn chế là cỡ mẫu sẽ nhỏ hơn và lực kiểm định yếu hơn Đó
là lý do chúng tôi chưa đánh giá được các mối liên quan đến xử lý đúng khi bị chấn thương
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ
Tất cả có 435 sinh viên (gồm cả hệ chính quy và liên thông) của Trường Cao đẳng Y Tế Tiền Giang tham gia nghiên cứu
3.1 Thông tin chung về sinh viên tham gia nghiên cứu
Bảng 3.1 Mô tả đặc điểm chung của sinh viên
Đặc điểm của sinh viên Số sinh viên Tỷ lệ (%)
Đa số các sinh viên cho biết chưa được học môn kiểm soát nhiễm khuẩn, 59,5% và có 34,3% sinh viên đã công tác trong ngành y
Trang 383.2 Kiến thức phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng
3.2.1 Thực trạng kiến thức phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng
Bảng 3.2 Tỷ lệ sinh viên được biết về vấn đề chấn thương do vật sắc nhọn
Bảng 3.3 Tỷ lệ sinh viên sinh viên biết về những bệnh lây truyền qua đường máu
Có 82,5% sinh viên nhận định tai nạn do vật sắc nhọn trong thực tập lâm sàng có thể phòng ngừa được Sinh viên đã được hướng dẫn công tác phòng bệnh lây truyền qua đường máu chiếm 84,6% và được hướng dẫn chủ yếu trong chương trình đào tạo chiếm 49,4%, kế đến là trong khi thực tập lâm sàng chiếm 29,5%
Trang 39Bảng 3.4 Tỷ lệ sinh viên hiểu và biết về những loại virút và bệnh có thể lây qua đường máu
nhọn hay xảy ra trong
môi trường sức khỏe
Có 75,4% sinh viên cho biết chấn thương do vật sắc nhọn hay xảy ra trong môi trường sức khỏe và đường tiếp xúc dẫn đến lây nhiễm HIV là xâm nhập qua da chiếm 93,6%
Trang 40Bảng 3.5 Tỷ lệ sinh viên hiểu và biết về những biện pháp phòng ngừa chấn thương
thực hiện để giảm nguy
cơ mắc bệnh lây truyền
Nhận định tiền sử bệnh của bệnh nhân 219 20,2
Sử dụng kim có đặc điểm an toàn 170 13,6
Thông báo cho bệnh nhân
trước khi làm thủ thuật