Ngày 07072014, Bộ Tài chính Indonesia ban hành Thông tư 137.1PMK.0112014, theo đó, quyết định áp thuế tự vệ thương mại trong 3 năm (20142016) đối với mặt hàng tôn lạnh nhập khẩu từ Việt Nam với mức thuế rất cao, khoảng gần bằng 50% xuất khẩu của sản phẩm này cho năm 2014, 46% cho năm 2015 và 41% năm 2016, mà không qua tham vấn của Chính phủ Việt Nam. Tập đoàn Tôn Hoa Sen và các doanh nghiệp xuất khẩu tôn lạnh khác đã chịu thiệt hại nặng nề từ quyết định này của Indonesia do không thể tiếp tục xuất khẩu được mặt hàng này.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Tình huống 1
II Giải quyết tình huống 2
1 Nguyên nhân của việc lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO thay vì cơ chế tại ASEAN của Việt Nam Ý nghĩa của điều này? 2
2 Indonesia có thể đã vi phạm những quy định nào của WTO? .5
3 Vụ kiện giữa Việt Nam và Indonesia nhận được rất nhiều sự quan tâm của các quốc gia khác, bao gồm Mỹ, Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên bang Nga, Chi lê, và Úc Để có thể tham gia vào vụ kiện giữa Việt Nam và Indonesia, các quốc gia đó phải tiến hành thủ tục nào? 8
4 Đài Loan có thể tham gia vào vụ kiện giữa Việt Nam và Indonesia với tư cách là bên thứ ba nữa không? 10
5 Việt Nam và Đài Loan có thể đưa ra quyết định đưa hai vụ kiện riêng biệt trên trở thành 1 vụ kiện với hai nguyên đơn không? Nếu không, Việt Nam và Đài Loan có thể có cùng một Ban hội thẩm không? 10
C KẾT LUẬN 12
Danh mục tài liệu tham khảo: 13
1
Trang 2A MỞ ĐẦU
Trong xu hướng hội nhập hiện nay, việc tranh chấp thương mại xảy ra giữa các quốc gia là điều khó có thể tránh khỏi Trong quá trình hợp tác cùng nhau phát triển, các thành viên của WTO và ASEAN khó có thể tránh khỏi những tranh chấp Để đảm bảo quyền lợi cho các bên khi xảy ra tranh chấp, cũng như trước sự phát triển nhanh chóng của hoạt động hợp tác kinh tế trong khuôn khổ của mình, WTO và ASEAN đã xây dựng riêng cho mình một cơ chế giải quyết tranh chấp Với mỗi tổ chức, cơ chế giải quyết tranh chấp đều có ưu và ược điểm khác nhau Vậy trong trường hợp tranh chấp xảy ra giữa các bên vừa là thành viên của WTO cũng vừa là thành viên của ASEAN thì các bên thường sẽ lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp nào? Thủ tục giải quyết tranh chấp đó như thế nào? Để làm rõ vấn đề trên
em xin chọn tình huống số 5 làm đề tài cho tài tiểu luận của mình Thông qua việc phân tích và giải quyết tình huống sẽ ghóp phần làm rõ phần nào những vấn đề trên
B NỘI DUNG
I Tình huống
Tình huống số 5
Ngày 07/07/2014, Bộ Tài chính Indonesia ban hành Thông tư 137.1/PMK.011/2014, theo đó, quyết định áp thuế tự vệ thương mại trong 3 năm (2014-2016) đối với mặt hàng tôn lạnh nhập khẩu từ Việt Nam với mức thuế rất cao, khoảng gần bằng 50% xuất khẩu của sản phẩm này cho năm 2014, 46% cho năm
2015 và 41% năm 2016, mà không qua tham vấn của Chính phủ Việt Nam Tập đoàn Tôn Hoa Sen và các doanh nghiệp xuất khẩu tôn lạnh khác đã chịu thiệt hại nặng nề từ quyết định này
Trang 3của Indonesia do không thể tiếp tục xuất khẩu được mặt hàng này Việt Nam cho rằng Indonesia có một số dấu hiệu vi phạm các điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ thương mại như: không chứng minh được đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng, không có sự phân tích đầy đủ về những diễn tiến không lường trước được, mối đe dọa nhân quả giữa việc nhập khẩu sản phẩm tôn lạnh và thiệt hại của ngành công nghiệp nội địa, không có sự phân tích đầy đủ về tác động của các yếu tố khác gây thiệt hại ngoài sự gia tăng nhập khẩu
Ngày 01/06/2015, Việt Nam yêu cầu tham vấn với Indonesia tại WTO nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn và tiếp tục yêu cầu Tổng giám đốc WTO thành lập ban hội thẩm
(i) Việt Nam và Indonesia đều là thành viên của ASEAN mà tại đó cũng có cơ chế giải quyết tranh chấp Hãy nêu nguyên nhân của việc lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO thay vì cơ chế tại ASEAN của Việt Nam Ý nghĩa của điều này? (ii) Indonesia có thể đã vi phạm những quy định nào của WTO?
(iii) Vụ kiện giữa Việt Nam và Indonesia nhận được rất nhiều sự quan tâm của các quốc gia khác, bao gồm Mỹ, Trung Quốc,
EU, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên bang Nga, Chi lê, và Úc Để có thể tham gia vào vụ kiện giữa Việt Nam và Indonesia, các quốc gia đó phải tiến hành thủ tục nào?
Ngày 12/02/2015, Đài Loan đã yêu cầu tham vấn Indonesia tại WTO với cùng vấn đề như Việt Nam nhưng không đạt được kết quả như ý Tổng giám đốc đã quyết định thành lập Ban Hội thẩm vào ngày 09/12/2015, cùng ngày với Việt Nam
(iv) Đài Loan có thể tham gia vào vụ kiện giữa Việt Nam và Indonesia với tư cách là bên thứ ba nữa không?
3
Trang 4(v) Việt Nam và Đài Loan có thể đưa ra quyết định đưa hai vụ kiện riêng biệt trên trở thành 1 vụ kiện với hai nguyên đơn không? Nếu không, Việt Nam và Đài Loan có thể có cùng một Ban hội thẩm không?
II Giải quyết tình huống
1 Nguyên nhân của việc lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO thay vì cơ chế tại ASEAN của Việt Nam Ý nghĩa của điều này?
Việt Nam và Indonesia đều là thành viên của ASEAN mà tại đó cũng có cơ chế giải quyết tranh chấp Tuy nhiên trong vụ việc này Việt Nam lại chọn cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO bởi một số lý do như sau:
Thứ nhất, về cơ quan giải quyết tranh chấp Trong cơ chế
giải quyết tranh chấp của WTO thì DSB là cơ quan có thẩm quyền, các ban hội thẩm sẽ được cơ quan này lập ra để đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện Trong khi đối với cơ chế giải quyết tranh chấp củaASEAN thì có hai cơ quan cùng tham gia là hội nghị bộ trưởng kinh tế AEM và hội nghị quan chức kinh tế SEOM giải quyết tranh chấp
Nếu như các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO là những cơ quan hoạt động chuyên trách, những cơ quan có sự độc lập riêng biệt khi giải quyết tranh chấp, tạo tính linh hoạt mềm dẻo khi giải quyết tranh chấp Thì khi giải quyết tranh chấp tại ASEAN, những cơ quan giải quyết này đều hoạt động kiêm nhiệm và khi thấy cần thiết thì thành lập một cơ quan giúp việc là ban hội thẩm Panel Điều này dẫn đến rất nhiều hạn chế cho cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN như tính không linh hoạt và mềm dẻo Dựa vào sự tổ chức của cơ quan chuyên trách cũng như kinh nghiệm giải quyết tranh chấp có thể thấy
Trang 5cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO có tính chuyên trách hơn, trình độ năng lực cao hơn
Thứ hai, kể từ khi thành lập, trải qua hơn 20 năm, WTO đã
giải quyết trên 500 vụ tranh chấp thương mại Trong khi đó, Từ khi Nghị định thư 2004 ra đời đến nay, chưa có quốc gia nào lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế của ASEAN1 Có thể thấy, WTO đã có bề dày kinh nghiệm giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ở đa ngành đa lĩnh vực thông qua các phán quyết và các vụ việc mà tổ chức này đã giải quyết Còn đối với ASEAN, việc giải quyết tranh chấp cơ bản chỉ còn nằm trên lý thuyết, chưa có vụ việc thực tế nào được giải quyết bởi tổ chức này, do đó WTO sẽ có nhiều lợi thế và sự tin cậy hơn
Thứ ba, thủ tục giải quyết tranh chấp theo DSU tại WTO
có hàng loạt các quy định cụ thể trong việc giải quyết các vụ việc có liên quan đến các nước đang phát triển Ở đây cần phải hiểu rằng việc giải quyết những tranh chấp này không phải là tuân theo một thủ tục riêng biệt, mà phải theo thủ tục chung của DSU và trong từng giai đoạn có tính đến các lợi ích của các nước đang phát triển theo quy định của các điều khoản có liên quan DSU cũng như các quy định về giải quyết tranh chấp trong các hiệp định riêng lẻ dành một số ưu tiên về thủ tục dành cho các quốc gia đang phát triển Việc ưu tiên này được thể hiện ở chỗ Ban thư ký dành hỗ trợ về mặt pháp lý cho các nước này, có thể kéo dài một số thời hạn trong quá trình giải quyết tranh chấp, quyền lợi và tình hình kinh tế của các nước này sẽ được chú ý tới trong giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp
1 Nguyễn Toàn Thắng, “Cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiến chương của
ASEAN”, Tạp chí Luật học, số 9/2008, Tr 77
5
Trang 6Thứ tư, WTO là một tổ chức hợp tác về kinh tế đơn thuần
còn ASEAN là một tổ chức hợp tác toàn diện Do đó, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính chuyên môn hóa nhiều hơn, WTO có hệ thống các văn bản pháp lý điều chỉnh đa ngành về kinh tế Còn cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN bị chi phối bởi các yếu tố như chính trị, an ninh – quốc phòng, văn hóa, xã hội Vì vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính chuyên nghiệp và hiệu quả hơn
Việc lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO có một số ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, việc khởi kiện ra WTO như một thông điệp cảnh
báo của Chính phủ Việt Nam sẵn sàng ủng hộ tích cực quyền lợi của các nhà xuất khẩu của Việt Nam trước các vi phạm trong hoạt động tự vệ thương mại của các nước nhập khẩu Việt nam
sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong nước
Thứ hai, việc này thể hiện sự quan tâm của Chính phủ
Việt Nam đối với các doanh nghiệp trong nước trong việc bảo vệ các doanh nghiệp khỏi những sự bất lợi khi tham gia vào thị trường thương mại quốc tế Từ đó tạo sự yên tâm cho các doanh nghiệp trong nước sản xuất và xuất khẩu, từ đó ghóp phần khẳng định vị trí của Việt Nam trên thị trường quốc tế
Thứ ba, việc khởi kiện ra WTO thể hiện được tầm nhìn và
sự sáng suốt của Chính phủ Việt Nam WTO là một tổ chức quốc tế mang tính toàn cầu, cho nên khi khởi kện ra đây thì sẽ được nhiều quốc gia biết đến hơn so với khi kiện ra ASEAN một tổ chức mang tính khu vực Từ đó sẽ nhận được nhiều sự ủng hộ của các quốc gia trên thế gới ngoài ra, khi vụ kiện giành thắng lợi thì đó cũng là lời khẳng định với các thành viên khác của
Trang 7WTO coi đó làm bài học để tránh mắc phải sai lầm, từ đó khi muốn áp dụng một biện pháp tự vệ nào thì các thành viên phải nghiên cứu thật kĩ, điều này giúp chúng ta tránh được những vụ việc tương tự xảy ra
2 Indonesia có thể đã vi phạm những quy định nào của WTO?
Ngày 07/07/2014, Bộ Tài chính Indonesia ban hành Thông tư 137.1/PMK.011/2014, theo đó, quyết định áp thuế tự vệ thương mại trong 3 năm (2014-2016) đối với mặt hàng tôn lạnh nhập khẩu từ Việt Nam với mức thuế rất cao, khoảng gần bằng 50% xuất khẩu của sản phẩm này cho năm 2014, 46% cho năm
2015 và 41% năm 2016, mà không qua tham vấn của Chính phủ Việt Nam Trong vụ việc trên, Indonesia có thể đã vi phạm các quy định của “Hiệp định về các biện pháp tự vệ”, “Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT-1994” Cụ thể đó là:
Thứ nhất, vi phạm khoản 3 Điều 12 “hiệp định vế các
biện pháp tự vệ”, khoản 2 Điều XIX của GATT 1994
Khoản 3 Điều 12 “Hiệp định vế các biện pháp tự vệ”, quy
định: “Một Thành viên dự định áp dụng hoặc mở rộng một biện
pháp tự vệ phải dành những cơ hội thích hợp để tham vấn trước với các Thành viên có quyền lợi cung cấp chủ yếu như nhà xuất khẩu sản phẩm có liên quan, nhằm rà soát thông tin được cung cấp tại khoản 2, trao đổi các quan điểm về biện pháp áp dụng
và đạt được một sự hiểu biết về những phương thức nhằm đạt được mục tiêu đề ra tại khoản 1 Điều 8”.
Khoản 2 Điều XIX GATT quy định: “ Trước khi một bên ký
kết áp dụng những biện pháp phù hợp với các quy định của khoản đầu điều khoản này, bên đó sẽ thông báo trước bằng văn
7
Trang 8bản sớm nhất có thể cho Các Bên Ký Kết biết Bên ký kết đó sẽ dành cho Các Bên Ký Kết cũng như các bên ký kết khác với tư cách là nước xuất khẩu các sản phẩm nói trên cơ hội cùng xem xét các biện pháp được dự kiến áp dụng Nếu thông báo về một nhân nhượng liên quan tới một ưu đãi, trong thông báo sẽ nêu
rõ tên bên ký kết đã đề nghị áp dụng biện pháp đó Trong các hoàn cảnh khó khăn mà mọi sự chậm trễ sẽ dẫn đến những hậu quả khó có thể khắc phục được, các biện pháp đã dự kiến tại khoản đầu tiên của điều khoản này có thể được tạm thời áp dụng mà không cần tham vấn trước, với điều kiện là tham vấn được tiến hành ngay sau khi các biện pháp được áp dụng”.
Theo các quy định trên thì trước khi áp dụng một biện pháp tự vệ thì sẽ phải tham vấn và thông báo cho cá thành viên khác có quyền lợi liên quan Tuy nhiên, trong vụ việc trên, ngày 07/07/2014, Bộ Tài chính Indonesia ban hành Thông tư 137.1/PMK.011/2014, theo đó, quyết định áp thuế tự vệ thương mại trong 3 năm (2014-2016) đối với mặt hàng tôn lạnh nhập khẩu từ Việt Nam với mức thuế rất cao, khoảng gần bằng 50% xuất khẩu của sản phẩm này cho năm 2014, 46% cho năm
2015 và 41% năm 2016, mà không qua tham vấn của Chính phủ Việt Nam
Thứ hai, vi phạm điểm a khoản 1 Điều XIX GATT, khoản 1
Điều 2, khoản 1 Điều 3 và Điều 4 “Hiệp định về các biện pháp tự vệ”
Theo đó, a khoản 1 Điều XIX GATT quy định: “Nếu do hậu
quả của những diễn tiến không lường trước được và do kết quả của những nghĩa vụ, trong đó có những nhân nhượng thuế quan của một bên ký kết theo Hiệp định này, một sản phẩm được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết đó với số lượng gia tăng
Trang 9và với các điều kiện đến mức gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay sản phẩm cạnh tranh trực tiếp trong nước, bên ký kết đó có quyền ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan, đối với sản phẩm đó và trong thời gian cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục tổn hại đó”.
Khoản 1 Điều 2 “Hiệp định về các biện pháp tự vệ” quy
định về điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ, theo đó: “Một
Thành viên có thể áp dụng một biện pháp tự vệ cho một sản phẩm chỉ khi Thành viên đó đã xác định được, phù hợp với những quy định dưới đây, là sản phẩm đó được nhập vào lãnh thổ của mình khi có sự gia tăng nhập khẩu, tương đối hay tuyệt đối so với sản xuất nội địa, và theo đó có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp”.
Khoản 1 Điều 3 “Hiệp định về các biện pháp tự vệ” quy
định: “Một Thành viên có thể áp dụng biện pháp tự vệ chỉ sau
khi cơ quan có thẩm quyền của Thành viên đó tiến hành điều tra theo thủ tục được xây dựng và công bố phù hợp với Điều 10 của Hiệp định GATT 1994 Việc điều tra sẽ bao gồm việc thông báo công khai cho tất cả các bên liên quan, thẩm vấn công khai hoặc các biện pháp thích hợp khác để nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, và các bên có liên quan có thể đưa chứng cứ, quan điểm của họ, bao gồm cả cơ hội được phản biện lý lẽ của bên kia và đưa ra quan điểm của mình nhằm xem xét việc áp dụng biện pháp này có phù hợp với lợi ích chung không Cơ quan có thẩm
9
Trang 10quyền sẽ công bố báo cáo kết quả điều tra của mình và các kết luận thỏa đáng trên cơ sở các vấn đề thực tế và pháp lý”.
Theo các quy định trên, thì trước một thành viên muốn áp dụng biện pháp tự vệ thì quốc gia đó phải đưa ra các căn cứ để áp dụng các biện pháp tự vệ các căn cứ đó phải phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 2 “Hiệp định về các biện pháp tự vệ” Để đưa ra được các bằng chứng và căn cứ để áp dụng biện pháp tự vệ thì phải tiến hành cá hoạt động điều tra nhằm chứng minh được đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng Để phân tích đầy đủ về những diễn tiến không lường trước được, mối đe dọa nhân quả giữa việc nhập khẩu và thiệt hại của ngành công nghiệp nội địa, để có được sự phân tích đầy đủ về tác động của các yếu tố khác gây thiệt hại ngoài sự gia tăng nhập khẩu
Tuy nhiên, trong vụ việc trên, Indonesia đã không có cá hoạt động điều tra cụ thể theo như các quy định của pháp luật Đã không chứng minh được đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng, không có sự phân tích đầy đủ về những diễn tiến không lường trước được, mối đe dọa nhân quả giữa việc nhập khẩu sản phẩm tôn lạnh từ Việt Nam và thiệt hại của ngành công nghiệp nội địa của Indonesia, không có sự phân tích đầy đủ về tác động của các yếu tố khác gây thiệt hại cho ngành công nghiệp sản xuất tôn của Indonesia ngoài sự gia tăng nhập khẩu tôn lạnh từ Việt Nam Và đã không xác định tổn hại nghiêm trọng và đe dọa gây
ra tổn hại nghiêm trọng từ việc nhập khẩu tôn lạnh từ Việt Nam
theo quy định của Điều 4 “Hiệp định về các biện pháp tự vệ” Từ
đó có thể thấy rằng Việc Indonesia áp thuế với tôn lạnh nhập từ Việt Nam không đáp ứng được các điều kiện để áp dụng biện pháp tự vệ