1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO - Kinh nghiệm cho Lào

87 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 756,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, dù quan hệ tranh chấp loại này có đặc thù gì đi nữa, thì việc giải quyết tranh chấp vẫn phải bằng các biện pháp truyền thống của công pháp quốc tế, và trong mọi trường hợp đều

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

DOUNGKEO BUONMADYLA

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO –

KINH NGHIỆM CHO LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60.38.01.08

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Tâm

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Sau đại học và Khoa Luật quốc tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương trình sau đại học tại Trường.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tâm - người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015

HỌC VIÊN

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học Luật Hà Nội Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Trường Đại học Luật Hà Nội xem xét

để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO 4

1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 4

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 8

1.3 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO 13

1.4 Mục tiêu của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 14

1.5 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 20

1.6 Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO 22

1.7 Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA CÁC THÀNH VIÊN ĐANG PHÁT TRIỂN THEO CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO 38

2.1 Vị trí, vai trò của các thành viên đang phát triển trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 38

2.2 Những quy định của Hiệp định về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO (DSU- Dispute Settlement Understanding) có liên quan đến các thành viên đang phát triển 41

2.3 Tình hình giải quyết tranh chấp của WTO dưới góc nhìn của các thành viên đang phát triển 45

2.4 Đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO từ góc độ của các thành viên đang phát triển 49

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

CHƯƠNG 3 : CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI LÀO KHI THAM GIA VÀO CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO 61

3.1 Cơ hội và thách thức của CHDCND Lào khi tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 61

Trang 5

quyết tranh chấp của WTO 67

KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 6

ACWL : Trung tấm tư vấn Luật WTO

DSB : Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO

DSU : Dispute Settlement Understanding (Hiệp định về các quy tắc

và thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO)EC

EC

: European Commumnities (Các Cộng đồng châu Âu): European Commission (Ủy ban châu Âu)

GATS : Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO

GATT : Hiệp định chung về thuế quan và thương mại của WTO

GSP : Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập

INCOTERMS : Các điều kiện cơ sở giao hàng trong mua bán hàng hoá quốc tế NGOs : Các tổ chức phi chính phủ

UNCITRAL : Uỷ ban của Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vòng Đàm phán đa phương Uruguay (1986-1994) được đánh giá là thành công nhất trong các vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT về nhiều phương diện như phạm vi điều chỉnh, số lượng các nước thành viên tham gia, thành lập được thiết chế quản lý các vấn đề thương mại quốc tế - đó chính là Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đặc biệt, kết quả của Vòng Uruguay về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là một sự tiến bộ có ý nghĩa đặc biệt, mang tính cách mạng, là công cụ đảm bảo sự tin cậy về mặt pháp lý đối với các cam kết của các Chính phủ

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO kế thừa các giá trị của GATT, nhưng mạnh hơn nhiều so với các cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT trước đó Với bộ máy cưỡng chế thi hành các quy tắc thương mại quốc tế giống như cơ quan tư pháp, WTO đã chứng minh được tính hiệu quả của mình trong giải quyết tranh chấp so với trước, khi mà các tranh chấp này thường gây ra các cuộc trả đũa thương mại đầy nguy hại Từ đó phạm vi điều chỉnh của WTO đã được mở rộng gồm hàng loạt các lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế rà soát chính sách thương mại, giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.Khi đã là thành viên của WTO, bất kể nước nào cũng có quyền đưa các tranh chấp thương mại của mình ra WTO để giải quyết, nhưng trên thực tế cơ chế này chủ yếu có lợi cho các nước phát triển Biện pháp trả đũa được WTO cho phép là cơ hội để các cường quốc thương mại thể hiện sức mạnh của mình Trong khi đó, các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ như Lào, ít có khả năng áp dụng biện pháp này

Lào là một nước chậm phát triển (LDCs), sau hơn 10 năm đàm phán và qua nhiều thủ tục phức tạp, ngày 02/02/2013 Lào chính thức trở thành thành viên thứ 158 của WTO Với việc trở thành thành viên của WTO, Lào đương nhiên chấp thuận và tuân thủ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Ít nhất trong 12 năm sau khi gia nhập WTO, Lào bị coi là nền kinh tế phi thị trường (NME), và điều đó dễ bị các đối tác tận dụng để áp đặt thuế chống bán phá giá và các biện pháp tự vệ đặc biệt khác Tranh chấp thương mại quốc tế khi tham gia vào sân chơi chung này là không thể tránh khỏi

Vì vậy, việc tìm hiểu cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế đối với các nước đang phát triển và tìm ra bài học kinh nghiệm cho Lào trong quá trình hội nhập kinh tế

quốc tế là một nội dung rất đáng quan tâm Chính vì thế, đề tài “Cơ chế giải quyết

Trang 8

tranh chấp của WTO - Kinh nghiệm cho Lào” là một đề tài mang tính cấp thiết.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là một vấn đề có tính thời sự và được nghiên cứu phổ biến hiện nay Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về vấn

đề này như: - “Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO từ góc độ các quốc gia đang phát triển” (Khoá luận tốt nghiệp / Phạm Thị Thuý Nga (2010), Trường Đại học Luật

Hà Nội), “Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nhìn từ góc độ các nước đang phát triển” (Khoá luận tốt nghiệp / Phạm Thị Hậu (2011), Trường Đại học Luật Hà Nội) Ngoài ra còn một số bài tạp chí như: “Doanh nghiệp Việt Nam và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO” (Bùi Anh Thuỷ, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật., Số 2/2007),

“Các nước đang phát triển trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO: vị trí, cơ hội

và thách thức” (Lý Vân Anh / Nhà nước và Pháp luật Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 4/2011), “Chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO” (Lê Thị Ngọc Hà / Khoa học pháp lý -

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Số 1/2012) Các công trình này đã phần nào chỉ rõ những ưu việt của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO so với GATT, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại WTO cũng đánh giá hiệu quả việc áp dụng cơ chế này đối với các nước đang phát triển và những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả khi tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Là một nước đang phát triển, mới gia nhập WTO năm 2013, cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp này khá mới, mà tại Lào hiện nay mới có một số bài báo, tạp chí đánh giá hiệu quả áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, chứ chưa có một công trình nào chỉ ra một cách tổng thể về quá trình hình thành và phát triển, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp tại WTO, sự tham gia của các nước đang phát triển vào

cơ chế này cũng như những kinh nghiệm đối với Lào khi tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Do đó, có thể nói nội dung của luận văn này là hoàn toàn mới và không trùng lặp với bất kì đề tài nào

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu đề tài

Mục đích của luận văn là tìm hiểu quá trình hình thành - phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, việc áp dụng cơ chế này đối với các nước đang phát

Trang 9

triển - từ đó đánh giá, nhận xét trên cơ sở góc nhìn của các nước đang phát triển, rút ra bài học kinh nghiệm quý báu cho Lào trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, tác giả phân tích và đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại với các nước đang phát triển, chỉ giới hạn trong những vụ giải quyết điển hình có liên quan đến các nước đang phát triển Từ đó nêu những kinh nghiệm, bài học cho Lào khi đã trở thành thành viên chính thức của WTO

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Tác giả đã nghiên cứu giải quyết đề tài Luận văn dựa trên phương pháp luận Mác_Lênin, quan điểm của Đảng nhân dân cách mạng Lào về phát triển nền kinh tế hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: phương pháp lịch

sử, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, … Thông qua đó, những vấn

đề có liên quan tới cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xem xét, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, bảo đảm tính đầy đủ, toàn diện, có hệ thống và xác thực theo những nội dung cụ thể trong luận văn này

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã đặt ra những vấn đề về lý luận và thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ các khía cạnh về cơ chế giải quyết tranh chấp WTO từ góc độ các nước đang phát triển Luận văn đưa ra một số kiến nghị để Lào chủ động hơn trong tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp, chủ động hội nhập Từ đó có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp khi Lào đã chính thức trở thành thành viên WTO

6 Cơ cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn chia thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp của các thành viên đang phát triển theo

cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Chương 3: Cơ hội, thách thức và những kinh nghiệm đối với Lào khi tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO 1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

1.1.1 Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế

Theo Từ điển Tiếng Việt, tranh chấp là sự giành giật, giằng co cái không rõ thuộc

về bên nào [20; tr 989] Từ điển Luật học Black Law Dictionary định nghĩa “Tranh chấp là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng về các yêu cầu hay quyền lợi, sự đòi hỏi về các yêu cầu hay quyền lợi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược từ bên kia” Từ đó có thể hiểu rằng: tranh chấp là sự bất đồng về quyền lợi, lợi

ích, quan điểm mà trong đó yêu cầu hay đòi hỏi của một bên bị bên kia từ chối hay khiếu nại lại

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thương mại Trước đây, khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa khá hẹp, chỉ bao gồm các hành vi: mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý mua bán hàng hóa, gia công trong thương mại, đấu giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ giao nhận hàng hóa, dịch vụ giám định hàng hóa, khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội chợ, triển lãm thương mại Hiện nay, khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa rộng Theo Luật mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế của Liên hợp quốc, thương mại bao gồm toàn bộ các giao dịch mang bản chất thương mại nhưng không hạn chế ở các giao dịch sau: mọi giao dịch nhằm cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa, dịch vụ; hợp đồng phân phối; đại diện thương mại; sản xuất; cho thuê; xây dựng; tư vấn; dịch vụ lắp đặt máy móc; cấp phép; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; hợp đồng khai thác hoặc nhượng bộ; liên doanh và các hình thức khác của hoạt động sản xuất kinh doanh; vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, đường biển hoặc đường bộ

Tranh chấp thương mại quốc tế là sự mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi, lợi ích hay quan điểm phát sinh trong quan hệ thương mại quốc tế Tranh chấp thương mại

quốc tế, một mặt, được hiểu là tranh chấp giữa các quốc gia, các chủ thể của pháp luật

quốc tế về các vấn đề thương mại, kinh tế quốc tế Mặt khác, “tranh chấp thương mại quốc tế” còn được hiểu theo nghĩa là “trang chấp thương mại có yếu tố nước ngoài”

Trang 11

Theo Luật trọng tài thương mại Việt Nam, tranh chấp thương mại có yếu tố nước

ngoài là “tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại mà một bên hoặc các bên

là nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia, hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ có tranh chấp phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nước ngoài” [8].

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một tổ chức quốc tế mà thành viên của nó

là các quốc gia (đại diện là các Chính phủ), các lãnh thổ độc lập về mặt hải quan Tranh chấp thương mại quốc tế trong khuôn khổ WTO được hiểu là bất đồng giữa các thành viên WTO liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các hiệp định của WTO và bất đồng này được thông báo chính thức cho Ban thư ký WTO

1.1.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế

Cơ chế là cách thức sắp xếp, tổ chức để làm định hướng, cơ sở để thực hiện [20;

tr 368] Nói đến cơ chế là nói đến một hệ thống các yếu tố có mối quan hệ hữu cơ với nhau, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, tồn tại và phát triển của sự vật, hiện

tượng Trên cơ sở khái niệm cơ chế nói chung, ta có thể hiểu khái niệm “cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế” là tổng hợp các yếu tố làm cơ sở, đường hướng

cho việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế

Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế luôn là vấn đề phức tạp, bởi vì: Thứ

nhất, tham gia vào các quan hệ này có nhiều loại chủ thể với địa vị pháp lý không

giống nhau, trong đó có nhiều chủ thể có địa vị pháp lý rất đặc biệt như các quốc gia,

các tổ chức liên chính phủ Thứ hai, luật pháp áp dụng bao gồm nhiều ngành, thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, pha trộn luật quốc gia và luật quốc tế Thứ ba, đối

tượng điều chỉnh bao gồm các quan hệ pháp lý rất đa dạng thuộc mọi lĩnh vực kinh tế Đặc biệt trong tiến trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới với nhiều tập đoàn tư bản, sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia, sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông tin đã nhân lên gấp bội tính phức tạp trong các vụ việc tranh chấp thương mại quốc tế Cùng với việc mở rộng của các tranh chấp thương mại quốc tế, thì các định chế về giải quyết tranh chấp cũng ngày cành phát triển mạnh mẽ về cả lý luận lẫn thực tiễn Ứng với mỗi loại tranh chấp đều có cơ chế giải quyết phù hợp Cụ thể:

* Đối với tranh chấp thuộc quan hệ quốc tế giữa các quốc gia có chủ quyền,

do đây là tranh chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế và có nhiều yếu tố đặc thù, nên xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng, chủ quyền của quốc gia thì việc giải quyết tranh

Trang 12

chấp sẽ theo các biện pháp quy định tại Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc gồm có đàm phán trực tiếp (thông qua con đường ngoại giao), hòa giải (thông qua trung gian hoặc nhiều biện pháp khác nhau), và giải quyết bằng trọng tài quốc tế, tòa án quốc tế hoặc các tổ chức quốc tế Tuy nhiên, dù quan hệ tranh chấp loại này có đặc thù gì đi nữa, thì việc giải quyết tranh chấp vẫn phải bằng các biện pháp truyền thống của công pháp quốc tế, và trong mọi trường hợp đều có sự thỏa thuận ý chí của các quốc gia.

* Đối với tranh chấp thuộc quan hệ pháp lý dân sự giữa một bên là chủ thể

của luật quốc tế (quốc gia độc lập có chủ quyền) và một bên là chủ thể của luật quốc

gia (pháp nhân, cá nhân), thì cũng xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và phải tôn trọng quyền miễn trừ tài phán quốc gia và tài sản quốc gia Việc khiếu nại của các pháp nhân, cá nhân chỉ có thể thực hiện qua con đường ngoại giao và chỉ

có thể kiện tại tòa án, trọng tài là nơi quốc gia của bị đơn, đồng thời phương thức này chỉ khả thi khi quốc gia liên quan chấp nhận từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp của mình

* Đối với tranh chấp giữa các pháp nhân và cá nhân ở các nước khác nhau

với nhau, tranh chấp loại này tồn tại phổ biến và chiếm đa số trong các tranh chấp

thương mại quốc tế và được lĩnh vực tư pháp quốc tế và luật quốc gia điều chỉnh Việc giải quyết tranh chấp có thể được tiến hành tại tòa án trong nước hoặc nước ngoài, trọng tài trong nước hoặc quốc tế Do tính chất rộng khắp, phổ biến của các tranh chấp thuộc loại này mà các chế định pháp lý để giải quyết các tranh chấp loại này được coi

là hoàn chỉnh và đầy đủ nhất

Thông lệ chung nhất để giải quyết các tranh chấp quốc tế là thông qua hình thức trọng tài Đây là hình thức được chấp nhận và sử dụng phổ biến khi mà mọi biện pháp đàm phán, hòa giải giữa các bên tranh chấp không đạt được kết quả Lý do để hình thức này được chấp nhận rộng rãi là do nó có nhiều ưu điểm hơn việc xét xử tại các tòa

án như chi phí thấp hơn, thủ tục đơn giản hơn, linh hoạt hơn, thời gian giải quyết nhanh hơn, đảm bảo bí mật, v.v và phù hợp với hoạt động kinh doanh Sự phát triển và tính ưu việt của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã khiến phương thức này được áp dụng rộng rãi sang cả các lĩnh vực khác ngoài kinh tế như lĩnh vực chính trị, xã hội

Tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của WTO có nhiều điểm tương đồng với loại tranh chấp thứ nhất - tranh chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế Tuy nhiên, về chủ thể mà nội dung tranh chấp và cách thức giải quyết tranh chấp có nhiều điểm khác

Trang 13

biệt như: chủ thể còn lại là các quốc gia chứ không bao gồm các tổ chức quốc tế liên chính phủ; tranh chấp sẽ được giải quyết trong khuôn khổ tổ chức WTO và đôi khi cũng không cần đến sự thỏa thuận ý chí của quốc gia trong quan hệ tranh chấp Việc giải quyết tranh chấp được đảm bảo thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế, trả đũa, trừng phạt (yếu tố không có trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thông thường) Chính vì thế đối với tranh chấp thuộc loại này, cần có cơ chế giải quyết đặc thù của GATT/WTO (trình bày cụ thể trong phần sau) Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT/WTO cũng kế thừa và phát triển nhiều nội dung cơ bản của chế định trọng tài, tạo thành cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất, được thừa nhận rộng rãi.

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là cách thức, phương pháp hoặc các hoạt động của WTO để điều chỉnh các bất đồng, các xung đột giữa các thành viên WTO liên quan đến việc thực hiện, các quyền và nghĩa vụ theo các Hiệp định của WTO, nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên [6; tr.5].

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO hiện nay được xem như là một trong các

cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất trong hệ thống luật pháp quốc tế Cơ chế này không chỉ đóng vai trò như một cơ quan tư pháp, mà còn như là một cơ chế phòng ngừa tranh chấp, giúp làm cân bằng giữa các quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO Nó thực hiện ba chức năng chính: đảm bảo hệ thống thương mại đa phương hoạt động một cách an toàn và dễ dự đoán bằng cách củng cố và tăng cường tính bắt buộc phải thi hành các quy định của pháp luật (rule of law) [24; tr 2]; đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO (Điều 3.2 DSU); và làm rõ quyền và nghĩa

vụ này thông qua việc giải thích Hiệp định WTO phù hợp với các qui tắc có tính tập quán về giải thích công pháp quốc tế (Điều 3.2 DSU) Với các chức năng này, các bên tranh chấp bắt buộc phải tuân thủ các cam kết của họ theo các hiệp định liên quan Các khuyến nghị và phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) mang tính bắt buộc thực thi đối với các bên trong vụ tranh chấp

Mục tiêu của WTO trong việc thiết lập cơ chế này là "để đạt được một giải pháp tích cực cho các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên" (Điều 3.7 DSU) Thông qua

cơ chế này, các thành viên WTO có thể đảm bảo rằng các quyền của họ theo các Hiệp định WTO được thực thi Điều này tạo thuận lợi cho mỗi thành viên có thể khởi kiện chống lại bất kỳ thành viên nào khác vi phạm các chính sách thương mại, nhằm bắt

Trang 14

buộc các thành viên đó phải tuân thủ những nghĩa vụ của mình theo các cam kết gia nhập WTO Theo cơ chế này, các thủ tục giải quyết tranh chấp sẽ bắt đầu bằng một cuộc tham vấn song phương và nếu tham vấn không thành công, các thành viên khiếu nại có thể yêu cầu DSB thành lập Ban Hội thẩm Nếu các thành viên WTO có quan tâm đến tranh chấp, họ có thể tham gia như các bên thứ ba Tính đến tháng 6 năm

2015, đã có tổng cộng 494 tranh chấp được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp DSU của WTO, trong đó có 236 vụ tranh chấp liên quan đến chống bán phá giá, chống trợ cấp và thuế đối kháng, và các biện pháp tự vệ

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Mục tiêu của hệ thống giải quyết tranh chấp GATT/WTO là nhằm giải quyết hai loại tranh chấp có thể phát sinh trong quan hệ giữa các thành viên của GATT/WTO, đó là:

- Những khiếu nại của một quốc gia cho rằng quốc gia khác vi phạm các quy định của GATT và sau này là vi phạm các hiệp định của WTO;

- Khiếu nại về việc các quốc gia khác làm tổn hại đến lợi ích trực tiếp của quốc gia khiếu nại mặc dù biện pháp thương mại bị khiếu nại không vi phạm các quy định của GATT cũng như các hiệp định của WTO sau này

WTO được thành lập ngày 01/01/1995 theo Hiệp định Marrakesh về thành lập Tổ chức thương mại thế giới, là kết quả của Vòng đàm phán Uruguay với tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1947 (gọi tắt là GATT 1947)

Trước khi WTO ra đời, các tranh chấp của các nước thành viên của GATT được giải quyết thông qua một cơ chế tham vấn và điều tra được quy định chủ yếu tại các điều XXII và XXIII của GATT

Trong gần 50 năm tồn tại, chế định giải quyết tranh chấp của GATT 1947 đã góp phần xử lý tranh chấp thương mại quốc tế Tuy nhiên, chính nguyên tắc đồng thuận tuyệt đối đã làm cho GATT 1947 có nhiều hạn chế Bên bị khiếu nại có thể cản trở việc thành lập Ban Hội thẩm, xác định những điều kiện tham chiếu, chỉ định thành viên Ban Hội thẩm, thông qua phán quyết và cho quyền trả đũa Đây là nguyên nhân gây chậm chễ hoặc bế tắc trong việc thông qua Báo cáo của Ban Hội thẩm, bởi bất kỳ một bên ký kết nào, kể cả bên tranh chấp cũng có quyền trì hoãn những việc làm này

Vì vậy, trên thực tế đã có nhiều tranh chấp không được đưa ra trước GATT vì bên khiếu kiện nghi ngờ rằng bên bị khiếu kiện sẽ thực hiện quyền phủ quyết Do đó, rủi ro

Trang 15

trong việc thực hiện quyền phủ quyết đã làm suy yếu hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT 1947.

Vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994 Trong đó, năm

1989 các thành viên WTO đã thỏa thuận được một số quy định về việc cải thiện chế định giải quyết tranh chấp thương mại theo hướng:

- Thừa nhận quyền của Panel trong tố tụng;

- Thông qua gần như là tự động (the quasi-automatic adoption) các vấn đề như yêu cầu thành lập Panel, Báo cáo giải quyết tranh chấp và các yêu cầu cho phép dừng thực thi nhượng bộ thương mại;

- Quy định khung thời gian chặt chẽ về các giai đoạn, các bước khác nhau của quy trình giải quyết tranh chấp;

- Có khả năng xử phúc thẩm đối với Báo cáo của Panel

Hiệp định về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU), được thông qua

tại Vòng đàm phán Uruguay đã cho ra đời một cơ chế giải quyết tranh chấp có hiệu quả, hiệu lực và nhanh chóng Đây là thành công lớn của các thành viên trong việc

thiết lập nên “xương sống” cho một hệ thống giải quyết các tranh chấp dựa trên các

quy tắc được xác định rõ ràng, kèm theo một lịch trình cụ thể để xem xét một vụ kiện.WTO ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển các nền tảng kinh nghiệm của GATT

1947 Một trong những nội dung quan trọng được kế thừa - đó chính là việc hoàn thiện

cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT trước kia Đây cũng là vấn đề được nhiều nước thành viên quan tâm - đàm phán trong Vòng đàm phán Uruguay 1994, bởi lẽ việc củng cố cơ chế giải quyết tranh chấp cũ GATT 1947 sẽ giúp các thành viên WTO an tâm rằng họ có các phương tiện đảm bảo rằng các quốc gia khác thi hành đầy đủ các nghĩa vụ của họ Vòng đàm phán Uruguay kết thúc với việc thành lập WTO và một bộ phận chức năng quan trọng của WTO là Cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body- DSB) cùng với một Hiệp định về giải quyết tranh chấp của WTO (viết tắt là DSU) Có thể hiểu DSB là Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, còn DSU là nền tảng, hành lang pháp lý để DSB thực hiện các chức năng mà WTO giao phó Tổng hợp DSB, DSU và các quy định chuyên sâu về giải quyết tranh chấp nêu trong các hiệp định, thỏa thuận của WTO tạo thành cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (WTO Settlement Mechanism)

Trang 16

Mục tiêu của các nước khi thông qua DSU là đưa ra một thủ tục, trình tự chung

để giải quyết tranh chấp Trình tự chung được áp dụng để giải quyết mọi tranh chấp phát sinh trong khuôn khổ WTO Tuy nhiên, do hoạt động của WTO sẽ bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại dịch vụ, thuế quan, đầu tư, sở hữu trí tuệ, nên tranh chấp trong lĩnh vực hàng hóa sẽ có một số đặc thù khác với tranh chấp trong lĩnh vực dịch vụ, ví dụ: vụ tranh chấp liên quan đến hàng hóa dễ hỏng thì cần giải quyết với thủ tục nhanh hơn Tương tự, chấp trong lĩnh vực đầu tư cũng khác cũng khác so với tranh chấp trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Do vậy, trong mỗi hiệp định của WTO đều quy định viện dẫn áp dụng DSU trong giải quyết tranh chấp, bên cạnh đó cũng quy định thêm một số quy định được áp dụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định đó Để tránh xung đột, Điều 1 DSU quy định nguyên

tắc chọn luật phải được áp dụng như sau: “Các quy tắc và thủ tục của DSU sẽ được áp dụng cho những quy tắc và thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh chấp được ghi trong các hiệp định thuộc diện điều chỉnh được nêu rõ trong Phụ lục 2 của Hiệp định này Trong những trường hợp có sự khác biệt giữa những quy tắc và thủ tục của Hiệp định này và những quy tắc thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung trong Phụ lục 2, thì những quy tắc và thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung trong Phụ lục 2 sẽ được ưu tiên

áp dụng Đối với những tranh chấp liên quan đến những quy tắc thủ tục không chỉ nằm trong một hiệp định thuộc diện điều chỉnh, nếu có mâu thuẫn giữa những nguyên tắc, thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung trong những hiệp định thuộc diện điều chỉnh như vậy đang được xem xét, và khi các bên tranh chấp không thể thỏa thuận với nhau các quy tắc và thủ tục trong vòng 20 ngày kể từ khi thành lập Ban hội thẩm thì Chủ tịch của Cơ quan giải quyết tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 2 (trong Hiệp định này được gọi là “DSB”), sau khi tham vấn với các bên tranh chấp sẽ quyết định những quy tắc và thủ tục nào phải tuân thủ trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của một trong hai bên Chủ tịch sẽ hướng dẫn, về mặt nguyên tắc, những quy tắc hoặc thủ tục chuyên biệt bổ sung nào sẽ được sử dụng khi có thể, và những quy tắc và thủ tục nào được nêu trong Hiệp định này sẽ được sử dụng tới mức cần thiết để tránh xung đột”.

Với mục tiêu nhằm bảo vệ tất cả các thành viên WTO được tôn trọng đầy đủ các quyền, các cơ hội về cạnh tranh và thương mại, cả trong lĩnh vực nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa với dịch vụ cùng với các quyền về sở hữu trí tuệ, đầu tư nước ngoài

Trang 17

Tuy nhiên, việc hình thành được cơ chế giải quyết tranh chấp phải mất hai năm đàm phán căng thẳng giữa các nước thành viên Mục tiêu đàm phán là kế thừa tính tiến bộ của cơ chế giải quyết tranh chấp GATT 1947 và hoàn thiện, loại bỏ các thiếu sót mà GATT có Như phần trên đã phân tích, nguyên nhân yếu kém của cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT 1947 là thiếu một quy định pháp lý chung cụ thể, thống nhất

và rõ ràng về toàn bộ tiến trình giải quyết tranh chấp, điều mà các Điều XXII, XXIII GATT 1947 chưa đưa ra được Khởi xướng cho việc đàm phán DSU xuất phát từ đề xuất của phía Hoa Kỳ Ngày 18/11/1994, Hoa Kỳ đã nêu ra đề nghị cần phải có một khung pháp lý rõ ràng hơn mạnh mẽ hơn GATT 1947 để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế trong đó bao hàm một cơ chế giải quyết tranh chấp đáng tin cậy Để có được cơ chế này điều quan trọng là phải đảm bảo được tính thống nhất, liên tục, tính công bằng, khách quan trong thủ tục giải quyết tranh chấp cũng như các biện pháp để đảm bảo thi hành các khuyến nghị của cơ quan giải quyết tranh chấp Đề xuất của Hoa

Kỳ được nhiều nước ủng hộ Tuy nhiên, ngay cả khi WTO đã đi vào hoạt động (ngày 01/01/1995), thì DSU vẫn chưa được đàm phán xong Đến tháng 12/1995, dự thảo lần đầu mới được đệ trình lên Đại hội đồng WTO và một năm sau đó, tháng 12/1996, DSU được thông qua và có hiệu lực thi hành DSU được coi là yếu tố mang lại sức mạnh cho hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO DSU đã cơ bản khắc phục được các nhược điểm của GATT 1947, và phát triển lên một bước mới đáp ứng đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới

Nếu so sánh với cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947, thì cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO vượt trội về nhiều mặt, như: thủ tục đơn giản hơn, thời gian của toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp được rút ngắn lại và quy định cụ thể rõ ràng; các bước thủ tục pháp lý được hình thành tự động (automaticaly); các khuyến nghị của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm (Appelate Body) bây giờ đã ràng buộc trách nhiệm thi hành của các bên Thêm vào đó, nếu bên thắng kiện (winning party) không thỏa mãn với những thay đổi mang tính pháp lý hay sự bồi thường của bên thua kiện (losing party), thì nước đó có quyền trả đũa, chống lại việc xuất khẩu từ nước vi phạm, không chỉ với loại hàng trong tranh chấp mà có thể toàn bộ các sản phẩm hàng hóa theo quy định của WTO Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO sẽ khắc phục tương đối triệt để các khiếm khuyết của hệ thống giải quyết tranh chấp tồn tại trong GATT 1947, đó là:

Trang 18

Thứ nhất, với việc ban hành DSU, WTO đã đưa ra một trình tự pháp lý chung

cho toàn bộ tiến trình giải quyết tranh chấp, qua đó đảm bảo các thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO thống nhất, gắn kết với nhau, được diễn ra tuần tự một cách tự động đem lại sự dễ dàng trong vận dụng vào tính khả thi cao

Thứ hai, nguyên tắc đồng thuận được hiểu theo nghĩa của GATT 1947 đã được

thay thế bằng nguyên tắc “đồng thuận nghịch” của WTO Việc sửa đổi nguyên tắc đồng thuận được coi là một trong những tiến bộ lớn nhất của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO Với nguyên tắc này, toàn bộ quá trình thông qua quyết định của WTO nói chung, của DSB nói riêng được diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, do đó đảm bảo được về mặt thời gian cho tiến trình giải quyết tranh chấp

Thứ ba, liên quan đến tính chất vô tư, công bằng và trình độ của các thành viên

Ban hội thẩm, DSU đã quy định một loạt các tiêu chuẩn cho thành viên Ban hội thẩm, quy định các trường hợp không được làm hội thẩm Hơn thế nữa, DSU còn quy định trách nhiệm của hội thẩm phải thông báo toàn bộ các lợi ích, các mối quan hệ của mình có thể liên quan đến vụ tranh chấp, cũng như thông báo các vấn đề có thể tạo ra

sự nghi ngờ về tính vô tư của mình Với quy định trên WTO đã khắc phục được nhược điểm này tồn tại trong GATT

Thứ tư, các khuyến nghị, báo cáo kết luận của Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm

sau khi giải quyết vụ việc đều được DSB thông qua Sau khi được thông qua, chúng sẽ trở thành các quy định chung của DSB/WTO ràng buộc trách nhiệm thi hành của tất cả các bên có liên quan Để đảm bảo giám sát việc thi hành, DSU quy định DSB sẽ trực tiếp thực hiện trách nhiệm này Như vậy, với quy định trên, DSU vừa là cơ quan thông qua quyết định, vừa là cơ quan giám sát thi hành quyết định, nên các quyết định đưa ra khi giải quyết tranh chấp đều mang tính khả thi cao

Thứ năm, vấn đề trả đũa được sử dụng hiệu quả trong hệ thống giải quyết tranh

chấp của WTO, với việc quy định rằng: nếu trong thời hạn nhất định, bên thua kiện không thực hiện các khuyến nghị của DSB, thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép mình tiến hành các biện pháp trả đũa Ngay khi nhận được yêu cầu trả đũa DSB sẽ thông qua quyết định cho phép bên thắng kiện được tiến hành các biện pháp trả đũa Quy định trên làm cho việc trả đũa được tiến hành ngay lập tức, nếu bên thua kiện không thực thi phán quyết của DSB Thực tế cho thấy việc trả đũa được tiến hành khá hiệu quả trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO

Trang 19

Tóm lại, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là tổng hợp các quy định pháp lý

của WTO về cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB); các quy định về thủ tục, trình tự giải quyết tranh chấp (DSU), và các quy định chuyên biệt khác liên quan đến việc giải quyết tranh chấp trong từng lĩnh vực điều chỉnh cụ thể của từng hiệp định của WTO

Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO đã cơ bản khắc phục các khiếm khuyết tồn tại trong hệ thống giải quyết tranh chấp trong GATT 1947

1.3 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là một bộ phận trong tổ chức và hoạt động của WTO, bởi vậy cơ chế giải quyết tranh chấp cuả WTO phải tuân theo những nguyên tắc chung Đó là các nguyên tắc: nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc công khai và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, nguyên tắc bảo hộ thông qua thuế quan, nguyên tắc tiếp cận thị trường, nguyên tắc bảo hộ phòng ngừa bất trắc [22].Ngoài các nguyên tắc chung, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO còn bao gồm các nguyên tắc sau:

1.3.1 Nguyên tắc bình đẳng giữa các thành viên tranh chấp

Theo nguyên tắc này, các thành viên tranh chấp dù là nước lớn hay nhỏ, phát triển hay chậm phát triển, đều bình đẳng với nhau trong giải quyết tranh chấp phát sinh Nguyên tắc này chi phối toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp: bình đẳng khi tham vấn, bình đẳng khi đưa ra tranh chấp Ban hội thẩm, trong quá trình kháng cáo, khi thi hành khuyến nghị, phán quyết của DSB, đều tuân thủ nguyên tắc bình đẳng.Nguyên tắc bình đẳng cũng chi phối hoạt động của các thành viên Ban hội thẩm

và Cơ quan phúc thẩm Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các thành viên hoàn toàn bình đẳng trong việc đưa ra ý kiến, quan điểm về các vấn đề được giải quyết

1.3.2 Nguyên tắc bí mật

Các cuộc họp của Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm là các cuộc họp kín, không công khai, các bên tranh chấp chỉ được mời tham dự khi cần thiết Như vậy, nội dung cuộc họp của Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm là bí mật đối với các thành viên là bên thứ ba Nguyên tắc bí mật phần nào cũng được thể hiện trong giai đoạn tham vấn, theo

đó nội dung tham vấn giữa nước thành viên tranh chấp không được thông báo cho các thành viên WTO biết

Trang 20

1.3.3 Nguyên tắc “đồng thuận phủ quyết” (hay “đồng thuận nghịch”)

Theo Điều 2.4, Điều 6.1, Điều 16.4 và Điều 17.14 DSU, việc ra quyết định thành lập Ban hội thẩm, thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đều dựa trên nguyên tắc đồng thuận phủ quyết (hay đồng thuận nghịch), nghĩa là trong mọi trường hợp, Ban hội thẩm sẽ được thành lập để giải quyết tranh chấp và các báo cáo của Ban hội thẩm, của Cơ quan phúc thẩm sẽ được thông qua, trừ khi DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thành lập Ban hội thẩm hay không thông qua các báo cáo này Điều này dẫn tới việc hầu như Ban hội thẩm được thành lập một cách thụ động khi có yêu cầu bằng văn bản của nguyên đơn, và các báo cáo cũng được thông qua một cách tự động

Đây là một điểm độc đáo và tiến bộ trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

so với GATT 1947 trước đây Trong cơ chế của GATT 1947, nguyên tắc đồng thuận được hiểu rằng Ban hội thẩm chỉ được thành lập và một báo cáo chỉ được thông qua khi có sự nhất trí của tất cả các thành viên trong Hội đồng GATT Vì vậy, khi một bên tranh chấp không có thiện chí, thì bên đó có thể gây ra tình trạng trì trệ trong việc thành lập Ban hội thẩm Nhiều báo cáo của Ban hội thẩm đã không được thông qua hoặc chậm trễ thông qua do một hay một số bên không chấp nhận những đề xuất trong báo cáo

1.3.4 Nguyên tắc đối xử ưu đãi với các thành viên đang phát triển và chậm phát triển

Việc đưa ra ưu đãi với các thành viên đang phát triển chỉ thể hiện ở chỗ Ban thư

ký WTO dành hỗ trợ về mặt pháp lý cho các thành viên này, có thể kéo dài một số thời hạn trong quá trình giải quyết tranh chấp, và tình hình kinh tế của thành viên này được chú ý tới trong các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp

1.4 Mục tiêu của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

1.4.1 Bảo đảm sự an toàn và tính dự báo cho hệ thống thương mại đa phương

Mục tiêu trọng tâm của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là bảo đảm sự an toàn và tính dự báo của hệ thống thương mại đa phương Mặc dù thương mại quốc tế được hiểu trong WTO như là dòng hàng hóa và dịch vụ lưu chuyển giữa các thành viên, nhưng nói chung, các Chính phủ không trực tiếp tiến hành các hoạt động thương mại này mà do các đối tác kinh tế tư nhân tiến hành Các đối tác tham gia thị trường này cần sự ổn định và tính dự báo trong các luật lệ, quy định, nguyên tắc điều chỉnh

Trang 21

hoạt động thương mại của họ, đặc biệt là khi họ thực hiện thương mại trên cơ sở các giao dịch dài hạn

Do đó, mục tiêu của DSU là bảo đảm có một hệ thống hoạt động trên cơ sở quy định pháp luật, tin cậy, hiệu quả và nhanh chóng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các điều khoản của các hiệp định WTO Thông qua việc tăng cường nguyên tắc pháp quyền, cơ chế giải quyết tranh chấp làm cho hệ thống thương mại trở nên an toàn hơn và có khả năng dự đoán Khi một thành viên bị cho là không tuân thủ các hiệp định WTO, thì cơ chế giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra cách giải quyết tương đối nhanh chóng đối với vấn đề đó bằng một quyết định độc lập buộc phải thi hành ngay, và nếu thành viên thua kiện không chịu thi hành thì có thể sẽ bị trừng phạt thương mại

1.4.2 Bảo toàn các quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO

Một tranh chấp phát sinh khi một thành viên WTO thông qua một biện pháp chính sách thương mại mà một hay nhiều thành viên khác coi là không phù hợp với nghĩa vụ theo Hiệp định WTO Trong trường hợp đó, bất kỳ thành viên nào cho rằng mình bị thiệt hại, thì đều được phép viện dẫn đến các điều khoản và thủ tục của hệ thống giải quyết tranh chấp để chính thức phản đối lại biện pháp đó

Nếu các bên tranh chấp không thể hoà giải được, thì bên khiếu kiện được bảo đảm giải quyết tranh chấp bằng một quy trình dựa trên nguyên tắc mà theo đó tính đúng đắn của đơn kiện sẽ được xem xét bởi một cơ quan độc lập (Ban hội thẩm hoặc

Cơ quan phúc thẩm) Nếu bên khiếu kiện thắng kiện thì kết quả mong muốn là việc bên bị kiện rút bỏ biện pháp bị coi là không phù hợp với Hiệp định WTO Bồi thường

và các biện pháp trả đũa chỉ là các biện pháp thứ yếu và có tính tạm thời đối với sự vi phạm Hiệp định WTO

Như vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO cho phép các thành viên có thể bảo đảm rằng các quyền của họ theo các hiệp định WTO được thực hiện Cơ chế này cũng quan trọng đối với cả bên bị khiếu kiện để họ tự bảo vệ mình nếu họ không đồng

ý với lời cáo buộc của bên khiếu kiện Trong trường hợp này, cơ chế giải quyết tranh chấp đóng vai trò bảo vệ quyền và nghĩa vụ của thành viên theo các hiệp định WTO Các quyết định của các cơ quan liên quan nhằm mục tiêu phản ánh và thực thi một cách đúng đắn các quyền và nghĩa vụ như được quy định tại các hiệp định WTO

Trang 22

1.4.3 Làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ thông qua giải thích các hiệp định WTO

Phạm vi chính xác của quyền và nghĩa vụ được nêu trong Hiệp định WTO không hoàn toàn được rõ ràng ngay, nếu chỉ đọc văn bản Hiệp định Các điều khoản pháp lý thường được viết ra theo ngôn ngữ chung để có thể áp dụng chung và bao trùm một số lượng lớn các trường hợp, tình huống cụ thể Do đó, việc một số tình tiết nào đó có gây ra vi phạm quy định pháp luật được hàm chứa trong một điều khoản cụ thể nào đó hay không, là một câu hỏi mà không dễ trả lời Trong phần lớn các trường hợp, câu trả lời chỉ có thể được tìm thấy sau khi giải thích được các nội dung của quy định liên quan Thêm vào đó, các quy định pháp lý trong các điều ước quốc tế thường thiếu sự

rõ ràng, bởi câu chữ của chúng là kết quả của sự thỏa hiệp sau các vòng đàm phán đa phương Những thành viên khác nhau tham gia vào quá trình đàm phán thường phải dung hòa các quan điểm khác nhau, thông qua việc thống nhất nội dung của văn kiện sao cho có thể hiểu theo nhiều cách để vẫn thỏa mãn được yêu cầu của các nhóm có quyền lợi kinh tế khác nhau Các nhà đàm phán cũng có thể nhờ đó mà hiểu những quy định cụ thể theo các cách trái ngược và khác nhau Tuy nhiên, DSU chỉ ra một cách rõ ràng rằng hệ thống giải quyết tranh chấp có mục tiêu làm rõ các quy định của

Hiệp định WTO “phù hợp với những quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế”.

Như vậy, DSU đã công nhận sự cần thiết phải làm rõ các quy định của WTO và yêu cầu bắt buộc rằng việc làm rõ này phải theo đúng quy tắc có tính tập quán về giải thích điều ước quốc tế Thêm vào đó, Điều 17.6 DSU đã ngầm công nhận rằng các Ban hội thẩm được phép phát triển các giải thích pháp lý Do đó, “thẩm quyền duy nhất” theo Điều IX:2 của Hiệp định WTO phải được hiểu là khả năng thông qua những

giải thích “chính thức”, có hiệu lực chung đối với tất cả các thành viên WTO Điều này khác với các giải thích của các Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm là chỉ áp dụng cho các bên tranh chấp và cho một tranh chấp cụ thể.

Về phương pháp giải thích, DSU dẫn chiếu đến các “quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế (Điều 3.2 DSU) Tuy nhiên, các quy tắc của pháp luật tập quán quốc tế thường không được viết thành văn bản, nhưng đã có một số điều ước quốc tế pháp điển hóa một số quy tắc của pháp luật tập quán về giải thích điều ước quốc tế Đáng chú ý là các Điều 31 (Quy định chung về giải thích); Điều 32 (Phương tiện bổ trợ để giải thích) và Điều 33 (Giải thích điều ước được chứng thực bằng hai

Trang 23

hay nhiều ngôn ngữ) của Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước hàm chứa nhiều quy tắc có tính tập quán về giải thích công pháp quốc tế.

Do vậy, việc giải thích các hiệp định WTO cần được giải thích phù hợp với nghĩa thông thường của từ ngữ trong quy định liên quan, được cân nhắc trong “bối cảnh” của chúng và theo mục đích và đối tượng của hiệp định Những định nghĩa của thuật ngữ

này trong từ điển có thể sử dụng để trợ giúp cho mục tiêu đó “Bối cảnh” nghĩa là nói

đến các kết luận có thể được đưa ra trên các cơ sở, chẳng hạn như cấu trúc, nội dung hoặc thuật ngữ ở các điều khoản khác cùng trong hiệp định, đặc biệt là những điều

khoản có trước và sau quy định cần giải thích “Đối tượng và mục đích” là nói đến

mục đích rõ ràng hay ngụ ý của quy định liên quan hay cả hiệp định nói chung

Trên thực tế, Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm dường như dựa nhiều vào nghĩa thông thường và bối cảnh hơn là vào đối tượng và mục đích của các điều khoản cần giải thích Lịch sử đàm phán hiệp định chỉ là một công cụ thứ cấp bổ trợ cho việc giải thích, công cụ này chỉ được sử dụng để khẳng định sự giải thích theo nghĩa thông thường, bối cảnh, đối tượng và mục đích hoặc nếu như kết quả giải thích có thể hiểu theo nhiều cách, mơ hồ, rõ ràng là vô lý hoặc không hợp lý Một trong những hệ luận của các nguyên tắc giải thích điều ước quốc tế là ý nghĩa và hiệu lực phải được đưa ra đối với tất cả các thuật ngữ của một hiệp định thay vì làm cho toàn bộ các phần của một hiệp định trở nên thừa và vô dụng

1.4.4 Giải pháp ưu tiên là “thỏa thuận”

Mặc dù cơ chế giải quyết tranh chấp được sử dụng để bảo toàn các quyền của các thành viên bị xâm phạm và để làm rõ phạm vi các quyền và nghĩa vụ mà những quyền

và nghĩa vụ này đã dần đạt được ở mức cao hơn về tính an toàn và dự báo, nhưng mục tiêu hàng đầu của cơ chế này không phải là để đưa ra các phán quyết hay để phát triển

án lệ Giống như các hệ thống pháp luật khác, nó ưu tiên giải quyết tranh chấp với mong muốn thông qua giải pháp được các bên tự dàn xếp, thỏa thuận và phù hợp với các hiệp định WTO Việc xét xử chỉ được sử dụng khi các bên không thể đưa ra được giải pháp này Với tư cách là giai đoạn đầu tiên của mỗi tranh chấp, DSU yêu cầu các bên tham vấn chính thức đưa ra một khuôn khổ mà theo đó các bên tranh chấp phải ít nhất là cố gắng đàm phán để đạt được hòa giải Ngay cả khi vụ kiện đến giai đoạn xét

xử, các bên vẫn có thể tự dàn xếp với nhau và luôn được khuyến khích nỗ lực theo hướng này

Trang 24

1.4.5 Giải quyết tranh chấp nhanh chóng

DSU nhấn mạnh rằng giải quyết tranh chấp nhanh chóng là rất quan trọng nếu WTO muốn hoạt động hiệu quả và sự cân bằng các quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên được duy trì DSU đưa ra các thủ tục tương đối cụ thể và thời gian tương ứng phải tuân thủ trong giải quyết tranh chấp Thủ tục cụ thể được đưa ra nhằm mục tiêu đạt hiệu quả, bao gồm cả quyền của bên khiếu kiện được đi tiếp theo các bước tố tụng với đơn khiếu kiện ngay cả khi không có sự đồng ý của bên bị khiếu kiện Nếu vụ kiện được xét xử thì nó có thể cần không quá 12 tháng để Ban hội thẩm đưa ra phán quyết

và không quá 15 tháng trong trường hợp vụ kiện được phúc thẩm

Tuy nhiên, các cuộc tranh chấp trong WTO thường rất phức tạp cả về tình tiết và pháp luật Các bên thường đưa ra một số lượng đáng kể các số liệu và tài liệu liên quan đến biện pháp đang tranh chấp và họ cũng đưa ra những lập luận pháp lý rất cụ thể Các bên cần thời gian để chuẩn bị những lập luận về tình tiết và pháp luật để trả lời cho những lập luận mà bên kia đưa ra Ban hội thẩm và/hoặc Cơ quan phúc thẩm được

bổ nhiệm để giải quyết vấn đề sẽ cần phải xem xét tất cả các bằng chứng và lập luận,

có thể phải nghe ý kiến tư vấn của chuyên gia và đưa ra lập luận chi tiết, từ đó đưa ra kết luận Nếu tính đến tất cả các khía cạnh này, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động tương đối nhanh và trong mọi trường hợp, nhanh hơn nhiều so với các

hệ thống tòa án của thành viên hoặc hệ thống tài phán quốc tế khác

1.4.6 Cấm quyết định đơn phương

Các thành viên WTO đã đồng ý sử dụng hệ thống đa phương để giải quyết các tranh chấp thương mại trong WTO của họ thay vì sử dụng đến hành động đơn phương Nếu một thành viên khiếu kiện thành viên khác là đã vi phạm các quy tắc WTO và hành động một cách đơn phương áp dụng biện pháp đối kháng, thì có nghĩa thành viên

đó cũng vi phạm nghĩa vụ Thành viên đó có thể lập luận rằng mình đã hành động đúng luật vì sự vi phạm của họ được lý giải với tư cách là biện pháp đối kháng với sự

vi phạm trước đó của thành viên khác Tuy nhiên, nếu thành viên bị khiếu kiện không đồng ý rằng biện pháp của họ là vi phạm nghĩa vụ của WTO, thì họ cũng sẽ không chấp nhận lập luận về biện pháp đối kháng mà thành viên khiếu kiện đưa ra Do vậy, thành viên bị khiếu kiện có thể cho rằng biện pháp đối kháng đó là bất hợp pháp và họ

có lý do chính đáng để áp dụng một biện pháp đối kháng để chống lại Bên khiếu kiện ban đầu dựa trên quan điểm pháp lý của mình có thể sẽ lại không đồng ý và tiếp tục

Trang 25

đưa ra một biện pháp đối kháng khác Sự việc có thể gia tăng căng thẳng ngoài tầm kiểm soát và nếu như không có một bên rút lui thì nguy cơ hạn chế thương mại giữa

các bên sẽ ngày càng leo thang và điều này có thể dẫn đến “chiến tranh thương mại”.

Để ngăn chặn mâu thuẫn gia tăng như vậy, DSU yêu cầu bắt buộc sử dụng hệ thống đa phương để giải quyết tranh chấp mà các thành viên WTO phải sử dụng khi họ muốn một thành viên khác sửa sai trong khuôn khổ Hiệp định WTO Điều này áp dụng đối với trường hợp một thành viên tin tưởng rằng thành viên khác đã vi phạm Hiệp định WTO, hoặc làm triệt tiêu, hoặc suy giảm các lợi ích theo các hiệp định WTO, hoặc làm cản trở việc đạt mục tiêu của một trong số các hiệp định

Trong các trường hợp như vậy, một thành viên không thể hành động dựa trên các quyết định đơn phương khi xảy ra một trong các tình huống trên mà chỉ có thể hành động sau khi đã sử dụng việc giải quyết tranh chấp theo các thủ tục và quy tắc của DSU Nếu thành viên khiếu nại được hành động gì thì họ đều chỉ có thể dựa trên các kết luận của Ban hội thẩm được thông qua hoặc báo cáo của Cơ quan phúc thẩm hoặc phán quyết của trọng tài đã được thông qua Thành viên liên quan cũng phải tuân thủ các thủ tục được đề ra trong DSU đối với việc xác định về thời gian thực hiện và áp dụng các biện pháp trả đũa chỉ trên cơ sở được phép của DSB

1.4.7 Tính chất bắt buộc

Cơ chế giải quyết tranh chấp có tính bắt buộc Tất cả các thành viên WTO đều phải tuân thủ nó bởi họ đã ký và phê chuẩn các hiệp định WTO như là “cả gói” cam kết chung mà DSU là một phần trong đó

DSU buộc tất cả các thành viên WTO phải tuân thủ cơ chế giải quyết tranh chấp đối với tất cả các tranh chấp phát sinh trong khuôn khổ các hiệp định WTO Do đó, không giống các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế khác, các bên tranh chấp không cần thiết phải có một tuyên bố riêng hay thỏa thuận riêng về việc chấp nhận quyền tài phán của DSB Việc chấp thuận quyền tài phán đã được hàm chứa trong việc thành viên gia nhập WTO Kết quả là từng thành viên WTO được bảo đảm quyền tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp và không thành viên bị kiện nào có thể trốn tránh được quyền tài phán này

Trang 26

1.5 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

1.5.1 Phạm vi điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO áp dụng đối với tất cả các tranh chấp được đưa ra trong khuôn khổ các hiệp định của WTO được liệt kê trong Phụ lục I của

DSU Trong DSU, những hiệp định này được nhắc tới như là “các hiệp định điều chỉnh”, bản thân DSU và Hiệp định thành lập WTO (liên quan đến các Điều I - XVI)

cũng nằm trong số các hiệp định điều chỉnh Trong nhiều vụ kiện được đưa ra hệ thống giải quyết tranh chấp, bên khiếu kiện viện dẫn các điều khoản thuộc nhiều hiệp định điều chỉnh khác nhau

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO quy định ba loại khiếu kiện hay đơn kiện:

“khiếu kiện vi phạm”, “khiếu kiện không vi phạm” và “khiếu kiện tình huống”.

* Khiếu kiện vi phạm (Điều XXIII: 1.a GATT 1994)

Đây là dạng khiếu kiện đầu tiên và cũng là loại khiếu kiện phổ biến nhất Loại khiếu kiện này yêu cầu phải có sự triệt tiêu hoặc làm suy giảm lợi ích (do một thành viên khác không thực hiện nghĩa vụ của mình) theo GATT 1994 tức là pháp luật trong nước quy định không phù hợp với quy định của WTO Trong trường hợp này, bên nguyên đơn phải chứng minh bị đơn không thực hiện quy định của GATT 1994 Hậu quả của việc không thực hiện là dẫn đến (trực tiếp hoặc gián tiếp) triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích của nguyên đơn Nếu chứng minh được thì thắng kiện, trong đó chứng

minh “vi phạm” là quan trọng nhất; còn “triệt tiêu/suy giảm lợi ích” quan trọng thứ

hai (Điều 3.8 DSU) Trên thực tế có nhiều vụ kiện loại này mà chủ yếu là kiện về việc pháp luật trong nước vi phạm quy định WTO

* Khiếu kiện không vi phạm (Điều XXIII: 1 b)

Khiếu kiện không vi phạm có thể được sử dụng để phản đối bất kỳ biện pháp nào

mà một thành viên WTO áp dụng ngay cả khi nó không mâu thuẫn với GATT 1994 miễn là nó dẫn tới triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích của nguyên đơn

Có những tranh chấp loại này là do các Hiệp định của WTO rất phức tạp, cách hiểu từ ngữ khác nhau Do đó, thành viên WTO có thể áp dụng các biện pháp phù hợp

về mặt chữ nghĩa của Hiệp định, nhưng lại ngăn cản một trong những mục tiêu của nó hoặc làm ảnh hưởng tới cam kết thương mại quy định trong Hiệp định dẫn tới triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích của nguyên đơn

Trang 27

Điều 26.1 DSU đề cập cụ thể những khiếu kiện không vi phạm và yêu cầu bên

khiếu kiện phải đưa ra “bản giải trình chi tiết lý lẽ biện hộ cho bất kỳ khiếu kiện nào liên quan tới một biện pháp mà biện pháp này không mâu thuẫn với hiệp định thích hợp có liên quan”; không được áp dụng giả định suy đoán về sự triệt tiêu hay suy

giảm lợi ích trong các trường hợp không vi phạm

* Khiếu kiện tình huống (Điều XXIII: 1 c)

Kiện bất cứ tình huống nào miễn là tình huống đó làm triệt tiêu, suy giảm lợi ích (Điều 3.8 DSU) Tuy một số khiếu kiện tình huống đã đưa ra trong GATT 1947 trước đây nhưng chưa có khiếu kiện nào dẫn tới báo cáo của Ban hội thẩm Trong WTO, Điều XXIII: 1c của GATT 1994 vẫn chưa được bên khiếu kiện nào viện dẫn tới

Như vậy, tranh chấp trong khuôn khổ WTO không nhất thiết phát sinh từ một hành vi vi phạm các quy định tại các Hiệp định của tổ chức này bởi một hoặc nhiều

thành viên Tranh chấp có thể phát sinh từ một “tình huống” khác hoặc khi một biện

pháp thương mại do một thành viên ban hành tuy không vi phạm quy định của WTO nhưng gây thiệt hại cho một hoặc nhiều thành viên khác Tuy nhiên, dù là loại khiếu kiện nào cũng phải chứng minh được có sự triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích của một hay nhiều thành viên do những nguyên nhân trên gây ra

Những hiệp định được điều chỉnh cũng bao gồm các hiệp định được gọi là các hiệp định thương mại nhiều bên (Plurilateral Agreements), nằm trong Phụ lục 4 của

Hiệp định WTO (Phụ lục I của DSU) Các hiệp định này được gọi là “nhiều bên” (plurilateral) để phân biệt với “đa phương” (multilateral) bởi không phải tất cả các

thành viên WTO đều ký kết chúng

1.5.2 Đối tượng tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

1.5.2.1 Các bên tranh chấp và bên thứ ba

Việc tiếp cận với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO chỉ giới hạn đối với các thành viên WTO Nó không cho phép các cá nhân hoặc các tổ chức quốc tế (liên chính phủ hoặc phi chính phủ) tham gia Chỉ có các thành viên WTO mới có thể trở thành một bên trong vụ tranh chấp, hoặc bên thông báo cho DSB là họ có lợi ích liên quan đến vụ tranh chấp đó - bên thứ ba Chỉ có thành viên WTO có quyền pháp lý làm Tờ trình cho Panel Ban Thư ký WTO, các quan sát viên của WTO, các tổ chức quốc tế khác và các chính quyền địa phương và khu vực không được phép khởi kiện theo thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO

Trang 28

1.5.2.2 Các đối tượng phi Chính phủ

Chỉ các Chính phủ thành viên WTO mới có quyền tham gia tranh chấp nên các

cá nhân hoặc công ty không trực tiếp tiếp cận với hệ thống giải quyết tranh chấp, ngay

cả khi họ chính là những người bị tác động tiêu cực trực tiếp (với tư cách là nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu) bởi các biện pháp bị cho là đã vi phạm Hiệp định WTO Điều này cũng áp dụng cho các tổ chức phi chính phủ khác có sự quan tâm chung tới vấn đề được xử lý trong hệ thống giải quyết tranh chấp, và họ cũng không thể khởi kiện theo các thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO

Các tổ chức phi Chính phủ (NGOs) có thể đệ trình ý kiến ngắn của mình cho Ban

hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm theo hình thức Amicus Curiae (tiếng Latinh là “bạn của Tòa án”) Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm có quyền nhận hoặc không nhận ý

kiến ngắn này là ý kiến không phải của các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba, nhưng không có trách nhiệm phải xem xét

Tuy nhiên, các tổ chức này có thể gây ảnh hưởng hoặc thậm chí gây áp lực lên Chính phủ của một thành viên WTO liên quan đến việc đưa ra tranh chấp

1.6 Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO

1.6.1 Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB)

Điều IV.3 Hiệp định thành lập WTO quy định “Khi cần thiết, Đại hội đồng sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của Cơ quan giải quyết tranh chấp được quy định trong Hiệp định về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp” WTO không thành lập một cơ quan giải quyết tranh chấp độc lập Đại

hội đồng WTO vừa là cơ quan thường trực của WTO, vừa là cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO Thành viên của Đại hội đồng đồng thời là thành viên của DSB

DSB có thẩm quyền thành lập Ban hội thẩm để giải quyết từng tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu, thành lập và giám sát hoạt động của Cơ quan phúc thẩm thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm; Giám sát và bảo đảm thực thi các phán quyết và kiến nghị của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm bằng cách cho phép

áp dụng các biện pháp trả đũa, đình chỉ thi hành những nhượng bộ và các nghĩa vụ khác theo các hiệp định có liên quan; thông báo với các hội đồng và Ủy ban có liên quan của WTO về những diễn biến của tranh chấp có liên quan đến các hiệp định thuộc dạng điều chỉnh của WTO (Điều 2.1 DSU)

Trang 29

DSB là cơ quan giải quyết tranh chấp nhưng không trực tiếp tham gia vào quá trình tố tụng DSB chỉ tham gia giai đoạn đầu là thành lập Ban hội thẩm và giai đoạn cuối là thông qua các báo cáo, kết luận về giải quyết vụ việc Quyết định được DSB thông qua sẽ có hiệu lực thi hành và được đảm bảo thực hiện.

DSB có một Chủ tịch, giữ cương vị điều hành các hoạt động của DSB Hoạt động của DSB còn có sự hỗ trợ của Tổng giám đốc và Ban thư ký của WTO

Tổng giám đốc WTO, trong phạm vi khả năng của mình, đưa ra sáng kiến về việc

sẽ làm người môi giới, người hòa giải hoặc trung gian nhằm giúp các thành viên giải quyết tranh chấp

Ban thư ký của WTO có trách nhiệm giúp Ban hội thẩm, đặc biệt về các khía cạnh pháp lý, lịch sử và thủ tục của các vấn đề đang được xử lý, và hỗ trợ kỹ thuật cũng như công việc thư ký Ngoài ra Ban thư ký còn có trách nhiệm giúp đỡ các bên tranh chấp về mặt pháp lý, đặc biệt là các nước đang phát triển

Thẩm quyền của DSB [19; tr 178]

- Thành lập Ban hội thẩm để giải quyết từng tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu của nguyên đơn, thành lập và giám sát hoạt động của Cơ quan phúc thẩm;

- Thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm;

- Đảm bảo, giám sát thực hiện các phán quyết và khuyến nghị của cơ quan nói trên bằng cách cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa hay đình chỉ thi hành những nhượng bộ và các nghĩa vụ khác theo hiệp định có liên quan (Khoản 1 Điều 2 DSU)

Chức năng của DSB

- Giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các thành viên theo nguyên tắc, trình

tự và thủ tục quy định trong DSU, đưa ra quyết định cuối cùng về việc tranh chấp

- Đảm bảo thực hiện và giám sát thi hành Thỏa thuận DSU nhằm tạo dựng và duy trì một cơ chế giải quyết tranh chấp công khai thống nhất, khách quan, hiệu quả

- Xây dựng, ban hành các quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp đảm bảo các nghĩa vụ thực hiện DSU

DSB là cơ quan giải quyết tranh chấp nhưng không trực tiếp tham gia vào quá trình tố tụng để giải quyết vụ việc mà chỉ tham gia giai đoạn đầu tiên là việc thành lập Ban hội thẩm và giai đoạn cuối cùng là thông qua báo cáo, kết luận về giải quyết vụ việc DSU quy định một hệ thống xét xử hai cấp: Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm Mọi tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết theo trình tự hai cấp này DSB có trách

Trang 30

nhiệm thành lập ra Ban hội thẩm để giải quyết từng vụ việc cụ thể, đồng thời DSB sẽ giám sát các hoạt động và thông qua báo cáo cuối cùng về giải quyết vụ việc của Ban hội thẩm Nếu có kháng cáo thì vụ việc sẽ được chuyển lên cho Cơ quan phúc thẩm Lúc này, nhiệm vụ của DSB là thông qua báo cáo về giải quyết vụ việc của Cơ quan phúc thẩm Khi báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm được thông qua nó

sẽ có giá trị pháp lý ràng buộc các bên có liên quan thực thi Để đảm bảo tính khả thi của các quyết định của mình, DSB có quyền quyết định áp đặt các biện pháp trả đũa nếu như một bên không chịu thi hành các quyết định của DSB

Các cơ quan trực thuộc của DSB

Hệ thống các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO được tổ chức theo hai cấp, cấp Ban hội thẩm (Panel) và cấp cao hơn là Cơ quan phúc thẩm (Appelate Body) Hai

cơ quan này đều do DSB thành lập nên cũng như chịu sự giám sát của DSB có nhiệm

vụ giúp DSB thực thi các chức năng của mình trong quá trình giải quyết tranh chấp

1.6.2 Ban hội thẩm (Panel)

Ban hội thẩm do DSB thành lập theo thủ tục quy định tại Điều 6 và Điều 9.1 DSU Thành phần Ban hội thẩm được quy định tại Điều 8.5 DSU Ban hội thẩm sẽ gồm ba hội thẩm viên, trừ khi các bên tranh chấp đồng ý một ban hội thẩm gồm năm hội thẩm viên Các hội thẩm viên sẽ được chọn lựa nhằm đảm bảo sự độc lập của Ban hội thẩm, có kiến thức, phạm vi kinh nghiệm rộng

Chức năng Ban hội thẩm là hỗ trợ DSB trong việc giải quyết tranh chấp, theo đó Ban hội thẩm sẽ đánh giá một cách khách quan về các vấn đề tranh chấp, tiến hành điều tra, tham vấn đối với các bên tranh chấp Kết quả làm việc của Ban hội thẩm là một báo cáo trình lên DSB Báo cáo này khi được DSB thông qua thì được coi là phán quyết có hiệu lực pháp lý ràng buộc các bên tranh chấp Do vậy, có thể coi hoạt động của Ban hội thẩm như là cấp xét xử thứ nhất trong hệ thống hai cấp xét xử

Về thành phần Ban hội thẩm:

Theo Điều 8 DSU, Ban hội thẩm gồm ba hội thẩm viên Các bên tranh chấp cũng

có thể thỏa thuận một Ban hội thẩm gồm 5 hội thẩm viên Các hội thẩm viên được DSU lựa chọn trên cơ sở danh sách các chuyên gia do Ban thư ký giới thiệu và được thông báo cho các thành viên của WTO

Để bảo vệ quyền lợi cho các thành viên đang phát triển, DSU quy định trong vụ tranh chấp xảy ra giữa một thành viên phát triển và một thành viên đang phát triển, thì

Trang 31

Ban hội thẩm phải có ít nhất một hội thẩm viên là công dân nước đang phát triển (Khoản 10, Điều 8).

Trong quá trình tố tụng, các hội thẩm viên phải tuân thủ các nguyên tắc làm việc độc lập, công bằng, vô tư, đồng thời phải tuân thủ đúng các quy định trong các hiệp định của WTO

Chức năng của Ban hội thẩm

Điều 11 DSU quy định chức năng của Ban hội thẩm là hỗ trợ DSB làm tròn trách nhiệm theo DSU và các hiệp định có liên quan Cụ thể là, Ban hội thẩm sẽ phải đánh giá một cách khách quan về các vấn đề tranh chấp, gồm cả việc đánh giá tình tiết vụ việc, khả năng áp dụng, sự phù hợp của các hiệp định có liên quan và tiến hành các điều tra khác để có thể giúp DSB trong việc đưa ra các khuyến nghị hoặc phán quyết được quy định trong các hiệp định có liên quan Trong quá trình tố tụng, Ban hội thẩm

sẽ đều đặn tham vấn với các bên tranh chấp tạo cho họ những cơ hội như nhau để đưa

ra một giải pháp thỏa đáng đối với cả hai bên

Như vậy, có thể thấy Ban hội thẩm không phải là một cơ quan xét xử như trọng tài hay tòa án Nhiệm vụ của Ban hội thẩm chỉ dừng lại ở việc điều tra các tình tiết, chỉ

ra các cơ sở pháp lý có liên quan để giải quyết vụ việc và kiến nghị các biện pháp giải quyết khi cần thiết Kết quả làm việc của Ban hội thẩm là một báo cáo trình lên DSU Báo cáo này khi được DSB thông qua thì được coi như phán quyết của DSB và có giá trị pháp lý ràng buộc các bên tranh chấp, buộc các bên phải thi hành

Nguyên tắc làm việc của Ban hội thẩm

Ban hội thẩm làm việc theo các nguyên tắc, quy định trong Phụ lục 3 của DSU:

- Ban hội thẩm sẽ họp kín Các bên tranh chấp và bên thứ ba có quyền lợi liên quan sẽ có mặt tại các buổi họp chỉ khi được Ban hội thẩm gọi trình diện

- Giữ bí mật việc nghị án của Ban hội thẩm và những tài liệu được đệ trình

- Tạo quyền bình đẳng ngang nhau cho bên trong tranh chấp, và tạo cơ hội cho bên thứ ba có quan tâm đến sự tranh chấp trình bày quan điểm của mình

1.6.3 Cơ quan phúc thẩm

Cơ quan phúc thẩm là cơ quan thường trực của DSB Cơ quan này gồm bảy thành viên, mỗi vụ việc sẽ do ba thành viên đảm nhiệm DSB sẽ chỉ định người làm việc trong cơ quan phúc thẩm với nhiệm kỳ 4 năm, mỗi người có thể được tái bổ nhiệm một lần Thành viên Cơ quan phúc thẩm bao gồm những người có uy tín, kinh

Trang 32

nghiệm chuyên môn về pháp luật thương mại quốc tế và những nội dung của hiệp định

có liên quan Họ không được phép liên kết với bất cứ Chính phủ nào

Theo quy định của DSU, các bên tranh chấp có quyền đề nghị Cơ quan phúc thẩm xem xét lại Báo cáo của Ban hội thẩm Khi giải quyết kháng cáo, Cơ quan phúc thẩm chỉ xem xét lại các khía cạnh pháp lý và giải thích pháp luật trong Báo cáo của Ban hội thẩm, chứ không điều tra lại các tình tiết của tranh chấp Kết quả làm việc của

Cơ quan phúc thẩm là một báo cáo, trong đó cơ quan này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc đảo ngược lại kết luận trong báo cáo của Ban hội thẩm Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được thông qua tại DSB và không hề bị phản đối hay khiếu nại tiếp Như vậy, hoạt động của Cơ quan phúc thẩm có thể coi như là cấp xét xử thứ hai trong hệ thống tố tụng hai cấp xét xử

Thành viên của Cơ quan phúc thẩm [19; tr.183]

Cũng như các hội thẩm viên, thành viên của Cơ quan phúc thẩm phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn khắt khe do DSU quy định Khoản 3 Điều 17 DSU yêu cầu:

- Thành viên Cơ quan phúc thẩm phải có uy tín, có kinh nghiệm chuyên môn về pháp luật, thương mại quốc tế và những lĩnh vực thuộc diện điều chỉnh của WTO

- Họ không được liên kết với bất kì một Chính phủ nào Với tư cách thành viên

Cơ quan phúc thẩm, họ sẽ đại diện rộng rãi cho tất cả các thành viên WTO

- Sẵn sàng tham gia làm việc bất cứ lúc nào Trong quá trình làm việc, mọi thành viên đều bình đẳng như nhau

Không giống như Ban hội thẩm là thành viên không được là công dân của các nước đang có tranh chấp hay có quyền lợi liên quan đến tranh chấp, việc lựa chọn ba thành viên để thành lập Ban phúc thẩm tuân theo nguyên tắc lựa chọn ngẫu nhiên, tạo

cơ hội cho tất cả các thành viên trong Cơ quan phúc thẩm được tham gia, bất họ kể quốc tịch nào (Quy tắc 6 - Thủ tục phúc thẩm do Cơ quan phúc thẩm soạn thảo) Tuy nhiên, đối với các vụ tranh chấp có thể tạo ra xung đột quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp với một thành viên trong Cơ quan phúc thẩm, thì thành viên này không được tham gia xem xét vụ việc đó

1.7 Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO

Tranh chấp trong WTO thường là về vi phạm cam kết WTO Các thành viên WTO nhất trí nếu họ tin rằng các thành viên đối tác vi phạm nguyên tắc thương mại,

họ sẽ sử dụng hệ thống đa phương giải quyết tranh chấp thay vì thực hiện các hành vi

Trang 33

đơn phương Một tranh chấp nảy sinh khi một thành viên lựa chọn chính sách thương mại hoặc thực hiện những hành vi mà một hoặc nhiều nước thành viên WTO khác xem

là vi phạm hoặc không thực hiện các nghĩa vụ đối với các Hiệp định của WTO

Thủ tục giải quyết tranh chấp đã được quy định theo GATT 1947, nhưng không đưa ra thời gian biểu cụ thể, vì vậy các nguyên tắc dễ dàng bị ngăn cản và rất nhiều trường hợp bị kéo dài mà không có kết quả Vòng đàm phán Uruguay đã đưa ra một hệ thống hợp lý hơn với những thủ tục giải quyết rõ ràng Đồng thời đưa ra nguyên tắc hợp lý hơn về khoảng thời gian giải quyết tranh chấp với các thời hạn linh hoạt trong các bước khác nhau của quy trình Hiệp định nhấn mạnh rằng tăng cường giải quyết tranh chấp là cần thiết nếu, WTO thực hiện vai trò của mình một cách hiệu quả Thoả thuận đã quy định chi tiết quy trình và thời gian để giải quyết tranh chấp Về nguyên tắc, nếu một tranh chấp được giải quyết theo đúng thời gian biểu quy định thì thời gian không mất nhiều hơn 12 hoặc 15 tháng, khi cần phúc thẩm Thời gian để đạt được sự đồng thuận có thể linh hoạt và nếu trường hợp được xem là khẩn cấp, vụ việc sẽ được giải quyết nhanh hơn Vòng đàm phán Uruguay cũng cho phép các nước bị thua kiện không thông qua quyết định Theo GATT trước đây, các quyết định chỉ được thông qua dựa trên sự đồng thuận, điều này có nghĩa là vì một mục đích cá nhân của một nước, thì nó cũng có thể ngăn cản việc đưa ra quyết định Hiện nay, theo DSU, các quyết định được tự động thông qua trừ phi các thành viên DSB nhất trí phản đối Điều

đó có nghĩa là bất kỳ thành viên nào, nếu không muốn thực hiện quyết định, thì phải thuyết phục các thành viên khác của WTO chia sẻ quan điểm với mình

Mặc dù quy trình giải quyết giống với thủ tục toà án, nhưng giải pháp thích hợp hơn vẫn là tạo điều kiện cho các thành viên có liên quan thảo luận về vấn đề của họ và

tự hòa giải tranh chấp của mình Vì vậy, bước đầu tiên là tham vấn giữa các thành viên liên quan, và thậm chí khi tranh chấp đi vào các bước tiếp sau với chiều hướng tích cực, việc tư vấn và hoà giải vẫn là những phương thức ưu tiên Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO chủ yếu được quy định trong DSU (Phụ lục 2 của Hiệp định thành lập WTO) Thủ tục giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO thường trải qua bốn giai đoạn: Tham vấn; Giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm; Giải quyết tranh chấp tại Cơ quan phúc thẩm; Thi hành phán quyết; và một thủ tục đặc biệt: Thủ tục trọng tài

Trang 34

1.7.1 Giai đoạn tham vấn và hòa giải

Tham vấn là các bên tranh chấp tiến hành đàm phán với nhau để đưa ra thỏa thuận thống nhất về việc giải quyết tranh chấp Đây là thủ tục bắt buộc đối với các bên tranh chấp trước khi thành lập Ban hội thẩm

Bước đầu tiên trong giai đoạn tham vấn là khi một thành viên của WTO gọi là bên khiếu nại, thấy một thành viên khác gọi là bên bị khiếu nại, tiến hành một hay một

số hành vi thương mại trái với quy định của một hiệp định của WTO, gây thiệt hại cho mình, thì bên khiếu nại yêu cầu bên bị khiếu nại tiến hành tham vấn với mình Việc yêu cầu tham vấn phải được bên khiếu nại yêu cầu bằng văn bản cho DSB và các ủy ban có liên quan của WTO Trong yêu cầu tham vấn phải thể hiện rõ biện pháp để tiến hành tham vấn cơ sở pháp lý, để bên khiếu nại có quyền yêu cầu tham vấn Nếu không đáp ứng yêu cầu này, thành viên yêu cầu tham vấn sẽ mất quyền được yêu cầu thành lập Ban hội thẩm để giải quyết tranh chấp, sau khi tham vấn không thành công) Nội

dung này đã được quy định trong Điều 4.4 của DSU: “Bất cứ yêu cầu tham vấn nào cũng sẽ phải đệ trình lên bằng văn bản và đưa ra lý do yêu cầu, kể cả việc xác định mức độ của vấn đề và chỉ ra cơ sở pháp lý cho việc khiếu kiện”.

Việc khiếu nại được tiến hành không công khai và không gây thiệt hại cho các quyền tiếp theo của các bên Bên được tham vấn phải trả lời trong vòng 10 ngày và phải tiến hành tham vấn trong vòng 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Trong trường hợp khẩn cấp, ví dụ: hàng hóa liên quan có nguy cơ hư hỏng, các thời hạn này

lần lượt là 10 ngày và 20 ngày Bên được tham vấn có nghĩa vụ “đảm bảo việc xem xét một cách cảm thông và tạo cơ hội thỏa đáng” cho bên yêu cầu tham vấn Các thành

viên khác có thể xin tham gia vào việc tham vấn này nếu bên bị tham vấn thừa nhận

rằng các thành viên này có “quyền lợi thương mại quan trọng” trong việc tham vấn

này Trong trường hợp khẩn cấp, cũng như trong trường hợp có liên quan đến hàng dễ

hư hỏng, các thành viên phải tiến hành tham vấn trong khoảng thời gian không quá 10 ngày, kể từ khi nhận được yêu cầu tham vấn Nếu việc tham vấn không giải quyết được tranh chấp trong thời hạn 20 ngày sau ngày nhận được yêu cầu, bên khiếu nại có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm

Thủ tục tham vấn là thủ tục được tiến hành giữa các bên với nhau DSB được thông báo về thủ tục này và có trách nhiệm thông báo cho các thành viên về yêu cầu tham vấn nhưng cơ quan này không trực tiếp tham giam vào quá trình tham vấn

Trang 35

Thông thường các thành viên đều cố gắng giải quyết bất đồng ở giai đoạn tham vấn - nhằm hạn chế tối đa mức độ thiệt hại về lợi ích cho tất cả các bên, đồng thời đảm bảo tính bí mật của các thông tin liên quan đến tranh chấp Trong trường hợp tranh chấp không được giải quyết trong quá trình tham vấn, bên nguyên đơn có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm.

Ngoài ra, để khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả, theo quy định của DSU, các bên tranh chấp có thể sử dụng biện pháp môi giới, hòa giải hoặc trung gian Việc sử dụng các biện pháp này là do các bên hoàn toàn tự nguyện Bất cứ tranh chấp nào cũng có thể yêu cầu môi giới, hòa giải hoặc trung gian Những thủ tục này được bắt đầu và chấm dứt vào bất cứ lúc nào Một khi những thủ tục này chấm dứt, bên nguyên đơn có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm

Nếu trong giai đoạn tham vấn, các nước tranh chấp thống nhất được giải pháp cho vụ tranh chấp, thì tranh chấp đã được giải quyết Nếu không, thì việc giải quyết tranh chấp sẽ được tiến hành ở bước tiếp theo tại Ban hội thẩm

1.7.2 Giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm

Thủ tục tố tụng tại Ban hội thẩm là giai đoạn thứ hai của tiến trình giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO Khi có yêu cầu thành lập Ban hội thẩm của bên khiếu nại, DSB sẽ nhóm họp để xem xét yêu cầu này Ban hội thẩm sẽ được thành lập vào phiên họp tiếp theo của DSB, trừ khi DSB quyết định nhất trí không thành lập Ban hội thẩm

Nhiệm vụ của Ban hội thẩm là đánh giá khách quan vấn đề tranh chấp, bao gồm

cả tình tiết thực tế vụ kiện, khả năng áp dụng các hiệp định có liên quan của WTO để

hỗ trợ DSB đưa ra các khuyến nghị hoặc phán quyết [19; tr 189]

Yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải được lập thành văn bản sau khi bên được tham vấn từ chối tham vấn hoặc tham vấn không đạt kết quả trong vòng 60 ngày, kể từ khi có yêu cầu tham vấn (Điều 6 DSU) Tuy nhiên, yêu cầu thành lập Ban hội thẩm có thể đưa ra trước thời hạn này, nếu các bên tranh chấp đều thống nhất rằng các thủ tục tham vấn, hòa giải không dẫn đến kết quả Văn bản yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải nêu rõ quá trình tham vấn, xác định chính xác biện pháp thương mại bị khiếu kiện

và tóm tắt các căn cứ pháp lý cho việc khiếu kiện Yêu cầu này được gửi tới DSB để

cơ quan này ra quyết định thành lập Ban hội thẩm Nhờ có nguyên tắc đồng thuận phủ

Trang 36

quyết, nên hầu như quyền được giải quyết tranh chấp bằng hoạt động của Ban hội thẩm của nguyên đơn được đảm bảo.

Việc lựa chọn thành viên Ban hội thẩm, Ban thư ký WTO sẽ đề nghị tên của ba người tham gia Ban hội thẩm của các bên tranh chấp lựa chọn, kèm theo danh sách các ứng cử viên có trình độ Nếu không được các bên thống nhất chỉ định trong vòng 20 ngày kể từ khi có quyết định thành lập, hội thẩm viên sẽ do Tổng giám đốc WTO chỉ định trong số các quan chức Chính phủ hoặc các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực luật, chính sách thương mại quốc tế

Trong trường hợp có nhiều thành viên cùng yêu cầu thành lập Ban hội thẩm để xem xét cùng một vấn đề (ví dụ: một biện pháp thương mại của một thành viên bị nhiều thành viên khác phản đối), thì DSB có thể xem xét thành lập Ban hội thẩm duy nhất Nếu vẫn phải thành lập các Ban hội thẩm riêng trong trường hợp này, thì các Ban hội thẩm này có thể có chung các thành viên và thời gian biểu sẽ được xác định một cách hài hòa, để các thành viên này hoạt động một cách hiệu quả nhất

Bất kỳ thành viên nào có quyền lợi quan trọng trong vấn đề tranh chấp đều có thể thông báo cho DSB về ý định tham gia vụ việc với tư cách là bên thứ ba Các bên thứ

ba này được tạo điều kiện để trình bày ý kiến bằng văn bản trước Ban hội thẩm

Thủ tục hoạt động của Ban hội thẩm được quy định tại Điều 12 DSU Ban hội

thẩm, sau khi xem xét ý kiến của các Bên liên quan sẽ ấn định một thời gian biểu cụ thể cho phiên xét xử đầu tiên chậm nhất 1 tuần sau khi được thành lập (các bên sẽ trình bày các văn bản giải trình tình tiết vụ việc và các lập luận liên quan); phiên xét xử thứ hai (đại diện và luật sư của các bên lần lượt trình bày ý kiến và trả lời các câu hỏi của Ban hội thẩm) Sau phiên xét xử thứ hai, Ban hội thẩm soạn thảo và chuyển đến các

bên phần Tóm tắt nội dung tranh chấp của báo cáo để họ cho ý kiến trong một thời hạn nhất định Trên cơ sở các ý kiến này, Ban hội thẩm đưa ra Báo cáo tạm thời (mô tả vụ

việc, các lập luận, kết luận của Ban hội thẩm) Các Bên cho ý kiến về Báo cáo này, nếu có yêu cầu, Ban hội thẩm có thể tổ chức thêm một phiên họp bổ sung để xem xét

lại tổng thể các vấn đề liên quan Sau đó Ban hội thẩm soạn thảo Báo cáo chính thức

để gửi đến tất cả các thành viên WTO và chuyển cho DSB thông qua Báo cáo chính thức phải được hoàn thành chậm nhất là 6 tháng kể từ khi thành lập Ban hội thẩm (nếu

là trường hợp hàng hóa liên quan dễ bị hư hỏng thì thời hạn này là 3 tháng) Thời hạn này cũng có thể được DSB kéo dài trên cơ sở yêu cầu của Ban hội thẩm với lý do giải

Trang 37

thích rõ ràng, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được gia hạn quá 3 tháng.

Trong quá trình xem xét vụ việc, Ban hội thẩm có thể tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau hoặc thành lập nhóm chuyên gia để tư vấn cho Ban về các vấn đề kỹ thuật hoặc môi trường

Các phiên họp thảo luận và tài liệu lưu hành trong quá trình hoạt động của Ban hội thẩm phải được giữ bí mật và nhằm đảm bảo tính khách quan, độc lập của Ban Tuy nhiên, một bên tranh chấp có quyền công khai các tài liệu mà mình đã cung cấp cho Ban hội thẩm

Báo cáo của Ban hội thẩm được chuyển cho tất cả các thành viên của WTO và được DSB thông qua trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Báo cáo được chuyển đến các thành viên, trừ khi một Bên tranh chấp quyết định kháng cáo hoặc DSB đồng thuận phủ quyết Báo cáo Các bên tranh chấp và các thành viên WTO khác có quyền đưa ra

ý kiến phản đối có kèm theo lý do bằng văn bản đối với Báo cáo của Ban hội thẩm chậm nhất là 10 ngày trước khi DSB họp để thông qua Báo cáo

Các bên tranh chấp có quyền tham gia đầy đủ vào việc DSB xem xét báo cáo của Ban hội thẩm, các quan điểm và lý lẽ của họ được ghi lại đầy đủ Trong vòng 60 ngày sau khi chuyển báo cáo cho các thành viên, báo cáo này sẽ tự động được thông qua tại phiên họp của DSB, trừ khi xảy ra một trong hai khả năng sau [19; tr.194]:

- Khi một bên tranh chấp chính thức thông báo cho DSB về quyết định kháng cáo của mình;

- DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thông qua báo cáo này

Báo cáo của Ban hội thẩm phải được DSB thông qua thì mới có giá trị pháp lý Khi đã được DSB thông qua thì báo cáo của Ban hội thẩm có giá trị ràng buộc các bên tranh chấp và các bên phải thi hành Báo cáo đã được thông qua này được coi là phán quyết của DSB

1.7.3 Giai đoạn phúc thẩm

Chỉ có các bên tranh chấp mới có quyền kháng cáo báo cáo của Ban hội thẩm Tuy nhiên, bên thứ ba đã được tham gia vào giai đoạn xét xử tại Ban hội thẩm cũng có thể đệ trình văn bản đến Cơ quan phúc thẩm và sẽ được tạo cơ hội để trình bày các vấn

đề có liên quan đến lợi ích của mình gắn với tranh chấp Các bên tranh chấp có thể kháng cáo các vấn đề pháp lý trong Báo cáo của Ban hội thẩm trên cơ sở yêu cầu

Trang 38

chính thức bằng văn bản (yêu cầu phúc thẩm) Khi có yêu cầu này thủ tục phúc thẩm

Phạm vi xem xét kháng cáo của Cơ quan phúc thẩm sẽ được giới hạn ở những vấn đề pháp luật được đề cập tới trong báo cáo của Ban hội thẩm và việc giải thích pháp luật của Ban hội thẩm chứ không mở rộng phạm vi vụ tranh chấp Cơ quan phúc thẩm sẽ đề cập đến từng vấn đề được nêu ra trong suốt quá trình tố tụng phúc thẩm

Cơ quan phúc thẩm ra Báo cáo trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kháng cáo Trường hợp có yêu cầu gia hạn thì có thể kéo dài thêm 30 ngày nữa, nhưng phải thông báo lý do cho DSB biết Báo cáo này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc loại bỏ các vấn

đề và kết luận pháp lý của Ban hội thẩm Các bên không có quyền phản đối Báo cáo này DSB thông qua Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được chuyển đến tất cả các thành viên trừ khi DSB đồng thuận phủ quyết

Khi xem xét kháng cáo, Cơ quan phúc thẩm có thể tán thành, sửa đổi hoặc hủy

bỏ các kết luận pháp lý và phán quyết của Ban hội thẩm Kết quả xem xét kháng cáo được thể hiện bằng một báo cáo của Cơ quan phúc thẩm Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm sẽ được DSB thông qua và được các bên tranh chấp chấp nhận vô điều kiện, trừ khi DSB quyết định nhất trí không thông qua báo cáo của Cơ quan phúc thẩm trong vòng 30 ngày sau khi báo cáo đó được chuyển tới các thành viên Thủ tục thông qua không làm phương hại đến quyền của các thành viên thể hiện quan điểm của mình trong báo cáo của Cơ quan phúc thẩm

Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm đã được DSB thông qua sẽ trở thành phán quyết của DSB và các bên tranh chấp phải thi hành Không có bên nào có quyền kháng cáo báo cáo của Cơ quan phúc thẩm và phán quyết của DSB

Trang 39

1.7.4 Giai đoạn thi hành phán quyết và khuyến nghị

Khi Báo cáo được thông qua xác định một biện pháp của một bên là vi phạm quy định của WTO, cơ quan ra Báo cáo phải đưa ra khuyến nghị nhằm buộc bên có biện pháp vi phạm phải tuân thủ quy định của WTO (yêu cầu bị đơn rút lại hoặc sửa đổi biện pháp liên quan), và có thể đưa ra các gợi ý (không bắt buộc) về cách thức thực hiện khuyến nghị đó

Trường hợp khiếu kiện không vi phạm, bên thua kiện không phải rút lại biện pháp liên quan (vì không có vi phạm) nhưng Báo cáo có thể khuyến nghị bên thua thực hiện các dàn xếp nhất định để thỏa mãn các bên liên quan (Báo cáo có thể đưa ra những gợi ý về biện pháp dàn xếp thỏa đáng, ví dụ: bồi thường)

Theo quy định của DSU, việc thi hành khuyến nghị và phán quyết của DSB là bắt buộc để đảm bảo giải quyết tranh chấp hữu hiệu Điều này được thể hiện trong

Tuyên bố của WTO: “Việc tuân thủ các phán quyết hay quy tắc của DSB là điều cơ bản để đảm bảo tính hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp, nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các thành viên”.

Trong vòng 30 ngày kể từ ngày thông qua Báo cáo, bên thua kiện phải thông báo

ý định về việc thi hành khuyến nghị tại buổi họp của DSB triệu tập Nếu không thực hiện được ngay, bên đó có thể được gia hạn thực hiện trong một khoảng thời gian hợp

lý Thời hạn do DSB quyết định trên cơ sở đề nghị của các bên; hoặc do các bên tranh chấp thỏa thuận trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày thông qua khuyến nghị; hoặc theo phán quyết trọng tài tiến hành trong vòng 90 ngày từ ngày thông qua khuyến nghị.Trường hợp một thành viên đang phát triển khởi xướng vụ kiện, thì trong quá trình giám sát thi hành phán quyết, DSB có những biện pháp thích hợp để thực hiện chế độ ưu đãi đối với các thành viên đang phát triển Liên quan đến vấn đề này, DSB không chỉ chú ý đến phạm vi thương mại của biện pháp bị khiếu nại, mà còn tính đến ảnh hưởng của biện pháp đó đối với nền kinh tế của thành viên đang phát triển này.Nếu bên thua kiện tạm thời không thể thực hiện được khuyến nghị của DSB, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận về khoản bồi thường Việc bồi thường phải được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện và phù hợp với hiệp định có liên quan Nếu các bên không đạt được thỏa thuận về việc bồi thường trong vòng 20 ngày kể từ khi hết hạn thực hiện khuyến nghị, bên thắng kiện có thể yêu cầu DSB cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa song hành hoặc trả đũa chéo

Trang 40

Khoản 3 - Điều 22 của DSU quy định chi tiết các nguyên tắc và thủ tục của việc tạm hoãn thi hành các nhượng bộ hoặc các nghĩa vụ khác (việc áp dụng biện pháp trả đũa) Theo đó, thành viên thắng kiện có quyền áp dụng biện pháp trả đũa song hành hoặc biện pháp trả đũa chéo.

- Biện pháp trả đũa song hành được hiểu là việc bên thắng kiện tạm hoãn thi hành những nhượng bộ hoặc những nghĩa vụ khác trong cùng một lĩnh vực mà quyền lợi của bên này bị thiệt hại

- Biện pháp trả đũa chéo có hai loại: chéo lĩnh vực và chéo hiệp định

+ Trả đũa chéo lĩnh vực: là tạm hoãn thi hành các nhượng bộ hoặc các nghĩa vụ khác trong các lĩnh vực khác với lĩnh vực mà quyền lợi của bên này bị thiệt hại nhưng trong cùng một hiệp định

+ Trả đũa chéo hiệp định là tạm hoãn thi hành các nhượng bộ hoặc các nghĩa vụ trong một lĩnh vực ở các hiệp định khác có liên quan

Trước hết, thành viên thắng kiện áp dụng biện pháp trã đũa song hành Nếu thấy không thể thực hiện được biện pháp trả đũa song hành hoặc không hiệu quả thì áp dụng biện pháp trả đũa chéo lĩnh vực Sau cùng, nếu không thực hiện được biện pháp trả đũa chéo lĩnh vực và thấy tình hình đủ nghiêm trọng thì áp dụng biện pháp trả đũa chéo hiệp định Nếu thành viên thắng kiện quyết định yêu cầu cho phép thực hiện trả đũa chéo lĩnh vực, hoặc trả đũa chéo hiệp định, thì thành viên này tuyên bố lý do cho yêu cầu của mình Yêu cầu này được chuyển đến cho DSB, đồng thời yêu cầu này cũng có thể được chuyển tới các hội đồng có liên quan của WTO

Theo Điều 22.4 DSU, mức độ trả đũa phải tương xứng với mức độ thiệt hại mà bên vi phạm phải gắng chịu Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi hết thời hạn thi hành phán quyết của DSB, thành viên bị vi phạm sẽ được phép tiến hành trả đũa, trừ khi DSB quyết định đồng thuận bác bỏ yêu cầu trả đũa DSB không cho phép tiến hành trả đũa, nếu hiệp định có liên quan của WTO cấm việc trả đũa đó (Điều 22.5) Các hiệp định cấm trả đũa (cấm tạm hoãn các nhượng bộ) là Hiệp định về nông nghiệp và Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại

Cần lưu ý là DSU nghiêm cấm sự trả đũa đơn phương mà không có sự chấp thuận của cơ quan này Quy định này thực chất nhằm chấm dứt hiện tượng trả đũa đơn phương khá phổ biến trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của GATT 1947 Mức độ

và thời hạn trả đũa do DSB quyết định căn cứ theo thủ tục quy định về vấn đề này

Ngày đăng: 25/03/2018, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w