1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế Giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của ASEAN

12 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 33,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(i) Hợp tác kinh tế thương mại toàn cầu mang lại rất nhiều mặt tiêu cực. Nhưng ẩn chứa trong đó là những tranh chấp, mâu thuẫn có thể phát sinh dưới nhiều hình thực và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Xuất phát từ thực tế đó, các tổ chức hợp tác khu vục và quốc tế về thương mại luôn có cơ chế giải quyết tranh chấp riêng của mình. Việt Nam và Indonesia đều là thành viên của ASEAN mà tại đây cũng có cơ chế giải quyết tranh chấp, nhưng Việt Nam lại chọn cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO trong vụ Indonesia đã áp dụng biện pháp tự vệ lên một số sản phẩm sắt thép (cụ thể là sản phẩm tôn lạnh), vì giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO có những ưu điểm vượt trội hơn.

Trang 1

(i) Hợp tác kinh tế - thương mại toàn cầu mang lại rất nhiều mặt tiêu cực Nhưng ẩn chứa trong đó là những tranh chấp, mâu thuẫn có thể phát sinh dưới nhiều hình thực và có thể xảy ra bất cứ lúc nào Xuất phát từ thực tế đó, các tổ chức hợp tác khu vục và quốc tế về thương mại luôn có cơ chế giải quyết tranh chấp riêng của mình Việt Nam và Indonesia đều là thành viên của ASEAN mà tại đây cũng có cơ chế giải quyết tranh chấp, nhưng Việt Nam lại chọn cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO trong vụ Indonesia đã áp dụng biện pháp tự vệ lên một số sản phẩm sắt thép (cụ thể là sản phẩm tôn lạnh), vì giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO có những ưu điểm vượt trội hơn

Theo như Nghị định thư 2004 về Cơ chế Giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN thì cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại theo cơ chế của ASEAN sẽ bao gồm Hội nghị quan chức cấp cao SEOM, Hội nghị bộ trưởng kinh

tế AEM, ban thư ký ASEAN với những quyền riêng biệt Cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định trong Nghị định thư 2004 bao gồm 4 giai đoạn đó là tham vấn, hội thẩm, phúc thẩm và thi hành phán quyết

Còn đối với cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của WTO thì thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO được thực hiện bởi các cơ quan khác nhau, mỗi

cơ quan có chức năng riêng biệt, tạo nên tính độc lập trong hoạt động điều tra và thông qua quyết định trong cơ chế này Bao gồm: Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB); Ban hội thẩm (Panel); Cơ quan Phúc thẩm (SAB) Trình tự, thủ tục của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và thi hành phán quyết bao gồm các giai đoạn: Tham vấn; Môi giới, trung gian, hòa giải; Thành lập Ban hội thẩm; Hoạt động của Ban hội thẩm; Thông qua Báo cáo của Ban hội thẩm; Trình tự Phúc thẩm; Khuyến nghị các giải pháp; Thi hành; Bồi thường và trả đũa

Ưu điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo ASEAN đó là ASEAN đã thành lập một hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp, mỗi cơ quan có chức năng riêng biệt, đảm nhiệm các giai đoạn khác nhau trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế -thương mại Điều này đã tạo nên tính độc lập trong hoạt động điều tra và đưa ra quyết định của các cơ quan Bên cạnh đó, cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế

Trang 2

-thương mại của ASEAN vừa mang tính hòa giải vừa mang tính tài phán Thủ tục được ghi nhận trong nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp có nhiều điểm giống với thủ tục tố tụng của cơ quan tài phán quốc tế, nhưng ASEAN luôn khuyến khích các bên liên quan tự dàn xếp thỏa thuận để có thể đi đến một giải pháp mà các bên đều chấp nhận được Vì vậy, giai đoạn đầu tiên của quy trình giải quyết tranh chấp là tham vấn và trong giai đoạn tiếp theo các bên vẫn có khả năng áp dụng các biện pháp trung gian, môi giới, hòa giải để giải quyết tranh chấp Điều này cho thấy sự linh hoạt trong cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, cho phép các quốc gia khác có thể lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp với yêu cầu của mình Trong trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp của ASEAN tại Ban hội thẩm hay Cơ quan phúc thẩm thì SEOM (Hội nghị quan chức cấp cao) sử dụng cơ chế đồng thuận phủ quyết, với cơ chế này thì báo cáo của cơ quan hội thẩm (trong trường hợp không có kháng cáo của một trong các bên tranh chấp) hoặc báo cáo của cơ quan phúc thẩm coi như đương nhiên được thông qua, đảm bảo cho kết luận và khuyến nghị giải quyết tranh chấp dễ dàng được thực hiện trên thực tế, vụ tranh chấp nhanh chóng được giải quyết và bảo đảm kịp thời cho bên có quyền và lợi ích bị xâm phạm

Bên cạnh đó, giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại theo cơ chế của ASEAN còn tồn tại khá nhiều nhược điểm ảnh hưởng đến việc giải quyết hiệu quả các vụ tranh chấp Phạm vi giải quyết tranh chấp của ASEAN được quy định tại nghị định thư 2004 là những tranh chấp kinh tế - thương mại giữa các quốc gia thành viên ASEAN, có nghĩa là chỉ giải quyết tranh chấp giữa các chính phủ, không áp dụng đối với các doanh nghiệp có tranh chấp với chính phủ Như vậy, nếu như các doanh nghiệp, dù có quyền và lợi ích trực tiếp bị xâm hại, không thể tự khởi động thủ tục giải quyết tranh chấp mà phải thông qua Chính phủ của mình, đây là một hạn chế, không tạo được sự thuận lợi để doanh nghiệp có thể trực tiếp, nhanh chóng bảo vệ quyền lợi của mình Tính linh hoạt trong việc cho phép các quốc gia thành viên có thể lựa chọn nhiều biện pháp để giải quyết tranh chấp chứ không bắt buộc thông

Trang 3

qua các cơ quan của ASEAN sẽ tạo điều kiện cho việc giải quyết nhanh chóng vấn

đề nhưng mặt khác tính linh hoạt đó đôi khi có thể làm suy yếu thẩm quyền của các

cơ quan giải quyết tranh chấp của ASEAN vì nó không phải là cơ chế độc quyền cho giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh tế - thương mại

Còn đối với WTO, cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO có tính chuyên nghiệp cao, được tổ chức quy củ và chặt chẽ Trình tự và thủ tục giải quyết tranh được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật – các hiệp định của các quốc gia thành viên Trong vụ kiện này, Việt Nam đã chọn giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO thay vì cơ chế ASEAN vì cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO vẫn hiệu quả và có nhiều ưu điểm hơn

Trước tiên, trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO thì DSB (Cơ quan giải quyết tranh chấp) là cơ quan có thẩm quyền, các ban hội thẩm sẽ được cơ quan này lập ra để đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện Trong khi đối với cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN thì có hai cơ quan cùng có thẩm quyền tham gia giải quyết đó là hội nghị bộ trưởng kinh tế AEM và hội nghị quan chức kinh tế SEOM Với đặc trưng trong cơ chế thì các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO là những cơ quan hoạt động chuyên trách, những cơ quan có sự độc lập riêng biệt khi giải quyết tranh chấp, tạo tính linh hoạt mềm dẻo khi giải quyết tranh chấp Dựa vào sự tổ chức cửa cơ quan chuyên trách cũng như kinh nghiệm giải quyết tranh chấp có thể thấy cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO có tính chuyên trách hơn, trình độ năng lực cao hơn

Thêm vào đó, trên thực tế, kể từ khi thành lập năm 1995, trải qua hơn 20 năm tồn tại và phát triển, WTO đã giải quyết trên 400 vụ tranh chấp thương mại1 Trong khi

đó, từ khi Nghị định thư 2004 ra đời đến nay, có rất ít quốc gia lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế của ASEAN

Có thể thấy, WTO đã có bề dày kinh nghiệm về việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ở đa ngành, đa lĩnh vực thông qua các phán quyết và các vụ việc mà tổ chức này đã giải quyết Còn đối với ASEAN, việc giải quyết tranh chấp cơ bản chỉ nằm trên lý thuyết, còn rất hiếm, có thể nói là gần như không có vụ việc thực tế nào

1 Thống kê các tranh chấp, trang web: trungtamwto.vn ( http://www.trungtamwto.vn/ )

Trang 4

được giải quyết bởi tổ chức này, do đó WTO được Việt Nam lựa chọn với độ tin cậy rất cao nhằm giải quyết thỏa đáng vụ tranh chấp này

Ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO còn được thể hiện thông qua DSU – Thỏa thuận ghi nhận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp Nhờ có DSU mà việc giải quyết những bất đồng giữa các thành viên diễn ra nhiều, nhanh chóng và hiệu quả hơn

Hơn nữa, WTO là một tổ chức hợp tác về kinh tế đơn thuần còn ASEAN là một tổ chức hợp tác toàn diện Do đó, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính chuyên môn hóa nhiều hơn, WTO có hệ thống các văn bản pháp lý điều chỉnh đa ngành về kinh tế, còn cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN bị chi phối bởi các yếu tố khác như chính trị, an ninh – quốc phòng, văn hóa, xã hội Vì vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính chuyên nghiệp và hiệu quả hơn

Với tất cả những lý do trên, ta có thể thấy Việt Nam lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO thay vì cơ chế tại ASEAN là hoàn toàn đúng đắn và hợp lý Quyết định ấy góp phần vào việc bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả và nhanh gọn nhất Sự lựa chọn đúng đắn này không những góp phần vào việc bảo vệ quyền lợi của thương mại nước nhà nói chung, mà còn trực tiếp bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp nước nhà nói riêng, là bước đệm cho các doanh nghiệp trong nước phát triển ngày một vững mạnh, tự tin vươn tầm quốc tế

(ii) Ngày 7/7/2014, Bộ Tài chính Indonesia ban hành Thông tư 137.1/PMK.011/2014, theo đó, quyết định áp thuế tự vệ thương mại trong 3 năm (2014 – 2016) đối với mặt hàng tôn lạnh nhập khẩu từ Việt Nam với mức thuế rất cao, khoảng gần bằng 50% xuất khẩu của sản phẩm này cho năm 2014, 46% cho năm 2015 và 41% cho năm 2016 mà không qua tham vấn của Chính phủ Việt Nam Việc làm này của Indonesia đã vi phạm những quy định của WTO Cụ thể:

Thứ nhất, Ủy ban Tự vệ thương mai Indonesia (KPPI) đã vi phạm một số điểm về

quy trình thủ tục liên quan đến quyền được thông tin và tham vấn của nguyên đơn trong quá trình điều tra, vi phạm khoản 3 Điều 12 “Hiệp định về các biện pháp tự vệ”, khoản 2 Điều XIX của GATT 1994

Trang 5

Khoản 3 Điều 12 “Hiệp định về các biện pháp tự vệ” quy định: “Một Thành

viên dự định áp dụng hoặc mở rộng một biện pháp tự vệ phải dành những cơ hội thích hợp để tham vấn trước với các Thành viên có quyền lợi cung cấp chủ yếu như nhà xuất khẩu sản phẩm có liên quan, nhằm rà soát thông tin được cung cấp tại khoản 2, trao đổi các quan điểm về biện pháp áp dụng và đạt được một sự hiểu biết

về những phương thức nhằm đạt được mục tiêu đề ra tại khoản 1 Điều 8”.

Khoản 2 Điều XIX GATT 1994 quy định: “Trước khi một bên ký kết áp dụng

những biện pháp phù hợp với các quy định của khoản đầu điều khoản này, bên đó

sẽ thông báo trước bằng văn bản sớm nhất có thể cho Các Bên Ký Kết biết.Bên ký kết đó sẽ dành cho Các Bên Ký Kết cũng như các bên ký kết khác với tư cách là nước xuất khẩu các sản phẩm nói trên cơ hội cùng xem xét các biện pháp được dự kiến áp dụng Nếu thông báo về một nhân nhượng liên quan tới một ưu đãi, trong thông báo sẽ nêu rõ tên bên ký kết đã đề nghị áp dụng biện pháp đó Trong các hoàn cảnh khó khăn mà mọi sự chậm trễ sẽ dẫn đến những hậu quả khó có thể khắc phục được, các biện pháp đã dự kiến tại khoản đầu tiên của điều khoản này

có thể được tạm thời áp dụng mà không cần tham vấn trước, với điều kiện là tham vấn được tiến hành ngay sau khi các biện pháp được áp dụng”.

Theo các quy định trên thì trước khi áp dụng một biện pháp tự vệ thì sẽ phải tham vấn và thông báo cho các thành viện khác có quyền và lợi ích liên quan Tuy nhiên, trong vụ việc trên, ngày 07/07/2014, Bộ Tài chính Indonesia ban hành Thông tư 137.1/PMK.011/2014, theo đó, quyết định áp thuế tự vệ thương mại trong

3 năm (2014-2016) đối với mặt hàng tôn lạnh nhập khẩu từ Việt Nam với mức thuế rất cao, khoảng gần bằng 50% xuất khẩu của sản phẩm này cho năm 2014, 46% cho năm 2015 và 41% năm 2016 mà không qua tham vấn với Chính phủ Việt Nam

Thứ hai, Indonesia đã vi phạm trong việc không chứng minh được đe dọa gây

ra thiệt hại nghiêm trọng, không có sự phân tích đầy đủ về những diễn biến không lường trước được, mối đe dọa nhân quả giữa việc nhập khẩu sản phẩm tôn lạnh và thiệt hại của ngành công nghiệp nội địa, không có sự phân tích đầy đủ về tác động

Trang 6

của các yếu tố khác gây thiệt hại ngoài sự gia tăng nhập khẩu Cụ thể là vi phạm điểm a khoản 1 Điều XIX GATT, khoản 1 Điều 2, và Điều 4 “Hiệp định về các biện pháp tự vệ”

Theo đó, điểm a khoản 1 Điều XIX GATT quy định: “Nếu do hậu quả của những

diễn tiến không lường trước được và do kết quả của những nghĩa vụ, trong đó có những nhân nhượng thuế quan của một bên ký kết theo Hiệp định này, một sản phẩm được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết đó với số lượng gia tăng và với các điều kiện đến mức gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay sản phẩm cạnh tranh trực tiếp trong nước, bên ký kết đó có quyền ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan, đối với sản phẩm đó và trong thời gian cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục tổn hại đó”.

Khoản 1 Điều 2 “Hiệp định về các biện pháp tự vệ” quy định về điều kiện áp

dụng các biện pháp tự vệ, theo đó: “Một Thành viên có thể áp dụng một biện pháp

tự vệ cho một sản phẩm chỉ khi Thành viên đó đã xác định được, phù hợp với những quy định dưới đây, là sản phẩm đó được nhập vào lãnh thổ của mình khi có

sự gia tăng nhập khẩu, tương đối hay tuyệt đối so với sản xuất nội địa, và theo đó

có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp”.

Điều 4 “Hiệp định về các biện pháp tự vệ” quy định:

1 (a)tổn hại nghiêm trọng" được hiểu là sự suy giảm toàn diện đáng kể tới vị trí của ngành công nghiệp nội địa (b)đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng" được hiểu là tổn hại nghiêm trọng rõ ràng sẽ xảy ra, phù hợp với các quy định tại khoản 2 Việc xác định nguy cơ tổn hại nghiêm trọng phải dựa trên cơ sở thực tế chứ không phải

là phỏng đoán, viện dẫn hoặc khả năng xa; và (c)trong khi xác định thiệt hại hay đe dọa gây thiệt hại, một "ngành sản xuất nội địa" được hiểu là toàn bộ các nhà sản xuất sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm trực tiếp cạnh tranh trong phạm vi lãnh

Trang 7

thổ một Thành viên, hoặc tập hợp các nhà sản xuất mà đầu ra của sản phẩm tương

tự hoặc trực tiếp cạnh tranh của họ chiếm phần lớn trong tổng số sản xuất nội địa của loại sản phẩm này

2 (a) Trong khi điều tra để xác định xem hàng nhập khẩu gia tăng có gây ra hoặc

đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng đối với sản xuất trong nước theo các quy định của Hiệp định này không, cơ quan chức năng sẽ đánh giá tất cả các yếu tố liên quan tới đối tượng và có thể định lượng dựa trên tình hình sản xuất của ngành này, đặc biệt là tốc độ và số lượng gia tăng nhập khẩu của sản phẩm có liên quan một cách tương đối hay tuyệt đối, thị phần trong nước của phần gia tăng nhập khẩu này, sự thay đổi mức bán hàng, sản xuất, năng suất, công suất sử dụng, lợi nhuận, lỗ và việc làm (b) Việc xác định được đề cập tại điểm (a) sẽ không được thực hiện, trừ khi việc điều tra này, trên cơ sở những chứng cứ khách quan, cho thấy có mối liên

hệ nhân quả giữa việc gia tăng nhập khẩu một loại hàng hóa có liên quan và tổn hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng Khi có các yếu tố khác không phải là sự gia tăng nhập khẩu, xuất hiện cùng một thời gian, gây ra tổn hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng đối với ngành công nghiệp trong nước thì những tổn hại này sẽ không được coi là do sự gia tăng nhập khẩu (c) Phù hợp với quy định tại Điều 3, các cơ quan có thẩm quyền sẽ công bố ngay lập tức một bản đánh giá chi tiết về vụ việc được điều tra cũng như trình bày các nhân

tố liên quan được xem xét.”

Như vậy, Indonesia đã vi phạm những quy định của WTO về việc chứng minh được

đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng, không có sự phân tích đầy đủ về những diễn biến không lường trước được, mối đe dọa nhân quả giữa việc nhập khẩu sản phẩm tôn lạnh và thiệt hại của ngành công nghiệp nội địa, không có sự phân tích đầy đủ

về tác động của các yếu tố khác gây thiệt hại ngoài sự gia tăng nhập khẩu

Thứ ba, quyết định của Indonesia đã vi phạm khoản 1 Điều I của GATT Đây

là sự vi phạm đến nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) Khoản 1 Điều 1 của

Trang 8

GATT quy định: “Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất cứ loại nào

nhằm vào hay có liên hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc áp dụng phụ thu nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III, mọi lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kỳ bên ký kết nào dành cho bất cứ một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước nào khác sẽ được áp dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên ký kết khác ngay lập tức và một cách không điều kiện”.

Có thể hiểu là nếu một nước dành sự đối xử thuận lợi cho bất kỳ một nước nào thì đối với các thành viên khác của WTO cũng sẽ được đối xử thuận lợi như vậy

Có thể thấy rằng việc Indonesia tiến hành việc áp thuế tự vệ với mặt hàng tôn lạnh nhập khẩu từ Việt Nam một cách không có căn cứ và sai quy định của WTO như đã phân tích ở trên đã tạo ra một sự phân biệt đối xử, tạo ra sự bất lợi đối với mặt hàng tôn lạnh của Việt Nam nhập khẩu vào Indonesia, trong khi các quốc gia khác thì không bị đánh thuế Từ đó dẫn đến những hậu quả bất lợi cho thương mại Việt Nam nói chung và cụ thể là làm cho Tập đoàn Tôn Hoa Sen và các doanh nghiệp xuất khẩu tôn lạnh khác của Việt Nam đã chịu thiệt hại nặng nề từ quyết định này của Indonesia do không thể tiếp tục xuất khẩu được mặt hàng này

(iii) Với tư cách là thành viên của WTO, các quốc gia thành viên có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo WTO Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là một trong những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ các lợi ích thương mại của các nước thành viên trong quan hệ thương mại quốc tế Việc xem xét cơ chế giải quyết tranh chấp này cùng với hệ thống án lệ đồ sộ của nó có ý nghĩa thực tiễn to lớn không chỉ trong việc hiểu chính xác các quy định của các Hiệp định trong WTO

mà còn góp phần bảo vệ các lợi ích chính đáng của các nước thành viên trong quá trình thực thi các Hiệp định này Tuy nhiên, việc sử dụng cơ chế này với tư cách là nguyên đơn hay bị đơn thường đòi hỏi rất cao về nhân lực, kinh nghiệm và kĩ năng

Trang 9

cũng như nguồn tài chính mà không phải quốc gia thành viên nào cũng đáp ứng hết được Khi đó, việc tham gia với tư cách bên thứ ba là lựa chọn rất đáng được chú ý tới, bởi đó sẽ là cơ hội để học hỏi, tích lũy kinh nghiệm khi mà quá trình giải quyết tranh chấp WTO đang ngày càng trở nên kĩ thuật hơn và các vụ việc ngày càng phức tạp hơn

Vụ kiện giữa Việt Nam và Indonesia trong vụ án nêu ở trên nhận được rất nhiều sự quan tâm của các quốc gia khác, bao gồm Mỹ, Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên bang Nga, Chi Lê và Úc Các thành viên của WTO quan tâm đến

vụ tranh chấp này muốn tham gia vào vụ kiện thì sẽ phải tiến hành theo những thủ tục mà DSU quy định tại Điều 10, dành cho các bên thứ ba

Theo đó, Điều 10 của DSU quy định:

“1.Quyền lợi của các bên tranh chấp và của các Thành viên khác theo một hiệp định có liên quan về nội dung tranh chấp phải được cân nhắc đầy đủ trong quá trình

tố tụng tại ban hội thẩm

2 Bất cứ Thành viên nào có quyền lợi đáng kể đối với một vấn đề được ban hội thẩm xem xét và đã thông báo quyền lợi của mình cho DSB (trong Thỏa thuận này gọi là “bên thứ ba”) đều phải có cơ hội được trình bày vấn đề cho ban hội thẩm và được trình văn bản cho ban hội thẩm Những văn bản đệ trình này cũng phải được gửi cho các bên tranh chấp và phải được phản ánh trong bản báo cáo của ban hội thẩm

3 Các bên thứ ba phải được nhận văn bản đệ trình của các bên tranh chấp cho phiên họp đầu tiên của ban hội thẩm

4 Nếu một bên thứ ba cho rằng một biện pháp là đối tượng của việc giải quyết tại ban hội thẩm đã triệt tiêu hoặc làm phương hại đến quyền lợi của bên đó theo bất

cứ hiệp định có liên quan nào, thì Thành viên đó có thể sử dụng thủ tục giải quyết

Trang 10

tranh chấp thông thường theo bản Thỏa thuận này Tranh chấp như vậy phải được chuyển cho ban hội thẩm ban đầu mỗi khi có thể”

Như vậy, nếu các nước quan tâm đến vụ tranh chấp muốn tham gia với tư cách là bên thứ ba thì trước tiên họ phải đảm bảo điều kiện là thành viên của WTO Các thành viên này có thể yêu cầu tham gia các phiên tham vấn nếu họ có một “lợi ích thương mại đáng kể” (substantial trade interest) đối với vấn đề đang được thảo luận, và bên bị khiếu kiện cũng phải đồng ý rằng các khiếu nại về lợi ích thương mại đáng kể của các thành viên quan tâm là có cơ sở Nếu bên bị khiếu kiện không đồng ý, các thành viên quan tâm sẽ không được tham gia phiên tham vấn, tuy nhiên, họ có thể yêu cầu tham vấn trực tiếp với bên bị khiếu kiện theo một vụ việc tranh chấp mới độc lập

Việc tham gia của các bên thứ ba đối với vụ việc đơn giản hơn so với các bên nguyên đơn và bị đơn Họ thường chỉ nhận được tài liệu đệ trình của các bên tranh chấp gửi cho Ban hội thẩm và trình bày miệng quan điểm của họ tại cuộc họp đầu tiên Sau đó, họ sẽ phải cung cấp cho ban hội thẩm bản viết của những tuyên bố miệng của mình2 Những văn bản đệ trình này phải được gửi cho các bên tranh chấp và phải được phản ánh trong bản báo cáo của ban hội thẩm Ngược với tài liệu

đệ trình của các bên, tài liệu của bên thứ ba cũng thường ngắn và đưa ra nhận xét

về những lập luận pháp lý và tình tiết thực tế của các bên

Nếu trong trường hợp mà hai bên Việt Nam và Indonesia vẫn ở trong giai đoạn tham vấn, chưa thành lập ban hội thẩm, thì các nước quan tâm có thể tham gia vào

vụ kiện này theo quy định tại khoản 11 Điều 4 DSU Theo đó: “Khi một Thành viên ngoài các Thành viên tham vấn cho rằng họ có lợi ích thương mại đáng kể trong quá trình tham vấn đang được tiến hành phù hợp với khoản 1 Điều XXII của GATT

1994, khoản 1 Điều XXII của GATS, hoặc các điều khoản tương ứng trong các hiệp định có liên quan khác thì Thành viên này có thể thông báo cho các Thành viên

2 Khoản 9, Phụ lục 3: Thủ tục làm việc, DSU.

Ngày đăng: 11/10/2021, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w