1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Phân tích sự tham gia của Kiểm sát viên trong các phiên tòa, phiên họp của Viện kiểm sát trong giải quyết vụ việc dân sự theo các trình tự: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm?”,

16 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 29,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Một trong những nội dung kiểm sát hoạt động tư pháp đó chính là kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự, nội dung này được ghi nhận rõ ràng thông qua quy định của pháp luật tố tụng về sự tham gia của Kiểm sát viên trong các phiên tòa, phiên họp. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) không tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp giải quyết tranh chấp dân sự mà chỉ tham gia trong những trường hợp do pháp luật quy định. Chính vì vậy, ngay sau khi nghiên cứu thông báo về việc thụ lý vụ án dân sự, kiểm sát viên được phân công phụ trách vụ án phải xác định xem vụ án đó có thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia hay không. Để làm rõ vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Phân tích sự tham gia của Kiểm sát viên trong các phiên tòa, phiên họp của Viện kiểm sát trong giải quyết vụ việc dân sự theo các trình tự: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm?”

Trang 1

A Mở đầu

Theo quy định của Hiến pháp 2013: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Một trong những nội dung kiểm sát

hoạt động tư pháp đó chính là kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự, nội dung này được ghi nhận rõ ràng thông qua quy định của pháp luật tố tụng về sự tham gia của Kiểm sát viên trong các phiên tòa, phiên họp Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) không tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp giải quyết tranh chấp dân sự mà chỉ tham gia trong những trường hợp do pháp luật quy định Chính vì vậy, ngay sau khi nghiên cứu thông báo về việc thụ lý vụ án dân sự, kiểm sát viên được phân công phụ trách vụ án phải xác định xem vụ án đó có thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia hay không Để làm rõ vấn đề này,

em xin chọn đề tài: “Phân tích sự tham gia của Kiểm sát viên trong các phiên tòa, phiên họp của Viện kiểm sát trong giải quyết vụ việc dân sự theo các trình tự: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm?”, cùng với đó là giải quyết

tình huống đề bài đưa ra làm bài tiểu luận của mình

Trong quá trình làm bài, do hiểu biết còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những sai sót, em kính mong sự giúp đỡ, chỉ bảo của thầy cô

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

B Nội dung

I Lý luận chung

1 Quy định chung của pháp luật về sự tham gia của Kiểm sát viên tại các phiên họp, phiên tòa.

Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sự tham gia của Viện kiểm sát trong phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự kế thừa những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cũ nhưng cũng có những sự thay đổi, bổ sung cần thiết Thứ nhất, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật Cùng với đó, theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Viện kiểm sát tham gia phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự trong các trường hợp sau:

 Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự

 Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ Trong trường hợp này, bất cứ vụ án dân sự nào mà Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thì Viện kiểm sát có trách nhiệm phải tham gia phiên tòa Quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án thường sử dụng rất nhiều biện pháp và việc thu thập thường rất phức tạp, dễ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều người khác nhau Vì vậy, Viện kiểm sát cần thiết phải kiểm sát chặt chẽ việc Tòa án sử dụng các biện pháp luật định để việc thu thập chứng cứ bảo đảm quy định pháp luật nên rất cần sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa

 Vụ án có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Những người nêu trên là những người do có những điều kiện nhất định dẫn đến chưa đủ, bị thiếu hoặc bị mất một phần hoặc toàn bộ năng lực hành vi dân sự Vì vậy, khi tham gia tố tụng rất dễ bị cơ quan, người tiến hành tố tụng hoặc các chủ thể tố tụng khác lợi dụng, áp đặt hoặc lấn lướt mà bản thân họ khó có thể kiểm soát các hành vi của các chủ thể còn lại dẫn đến quyền, lợi ích

Trang 3

hợp pháp của họ bị thiệt hại hoặc có thể không được xem xét hoặc bị lợi dụng,

áp đặt Chính vì vậy, bằng chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho họ và bảo đảm cho các hoạt động tố tụng diễn ra đúng quy định pháp luật và công bằng

 Vụ án chưa có điều luật để áp dụng Đây là những vụ án mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những tranh chấp đó chưa có điều luật điều chỉnh

 Vụ án mà đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền

sử dụng đất, nhà ở

- Đối tượng tranh chấp là tài sản công: tài sản công là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước tại các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn

vị sự nghiện công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,… được hình thành từ nguồn do ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước

- Đối tượng tranh chấp là lợi ích công cộng: lợi ích công cộng là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần liên quan đến xã hội hoặc cộng đồng dân cư

- Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất (ai là người có quyền)

- Đối tượng tranh chấp là nhà ở (ai có quyền sở hữu căn nhà)

- Tranh chấp về hợp đồng có đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở (Kiểm sát viên khi tiến hành công tác kiểm sát cần lưu ý đối với những tranh chấp về hợp đồng có liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc nhà ở, nhưng quyền sử dụng đất hoặc nhà ở đó không phải là đối tượng của hợp đồng thì không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm)

- Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất hoặc thừa kế nhà ở

- Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất hoặc đòi lại nhà ở đang cho mượn, cho sử dụng nhờ

- Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở trong thời kỳ hôn nhân

- Tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở khi ly hôn, sau khi ly hôn

Trang 4

- Tranh chấp trong các giao dịch dân sự khác có đối tượng giao dịch là quyền sử dụng đất, nhà ở

 Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

 Tham gia phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao

Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, kể từ khi thụ lý, đến khi xét xử sơ thẩm, nếu phát hiện vụ án dân sự thuộc một trong các trường hợp pháp luật quy định phải có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát biết để Viện kiểm sát tiến hành nghiên cứu

hồ sơ và tham gia phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự

2 Sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự.

2.1 Sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên hợp giải quyết việc dân sự

Theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 thì: “Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham dự phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp” Còn theo quy định tại Điều 367 Bộ luật

Tố tụng dân sự 2015 thì: “Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp” Như vậy, có thể thấy rằng đã có sự thay đổi về sự có mặt của Kiểm sát

viên tại phiên họp giải quyết việc dân sự Sở dĩ có sự thay đổi như vậy là vì theo như quy định trước đây, mỗi khi Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, điều này dẫn tới việc có thể chỉ giải quyết những việc đơn giản, không quá phức tạp nhưng vì vắng mặt kiểm sát viên nên phiên họp không thể tiến hành được dẫn tới việc ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các đương sự đồng thời kéo dài thời gian giải quyết Để khắc phục vấn đề này, xét thấy việc vắng mặt kiểm sát viên không ảnh hưởng tới việc giải quyết việc dân sự nên Bộ luật Tố tụng dân sự

2015 đã sửa đổi theo hướng trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp nhằm khắc phục điểm chưa hợp lí trên

2.2 Sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Trang 5

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Viện kiểm sát tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự thông qua chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Cùng với đó, tại Điều 232 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định về sự

có mặt của kiểm sát viên như sau: “1 Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa.

2 Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại phiên tòa hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa xét xử, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết thì người này được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu”.

Như vậy, việc quy định rằng nếu kiểm sát viên vắng mặt thì phiên tòa vẫn tiếp tục đã đề ra tinh thần trách nhiệm của kiểm sát viên trong việc tham gia phiên tòa sơ thẩm, hạn chế hoãn phiên tòa, giảm chi phí liên quan và tiết kiệm thời gian

2.3 Sự tham gia của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm

Sự tham gia của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm được quy định tại

Điều 294 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, theo đó: “Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên tòa phúc thẩm” Cùng với đó, theo quy định tại Điều

296 thì: “Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa phúc thẩm vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm” Như vây, ở phiên tòa phúc thẩm, nếu

kiểm sát viên vắng mặt thì việc xét xử vẫn được tiếp tục nhằm đảm bảo quyền

và lợi ích của các đương sự, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm thì phải hoãn phiên tòa để trình bày kháng nghị, các lập luận để bảo vệ kháng nghị, thực hiện các quyền được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng dân sự như: thay đổi kháng nghị phúc thẩm, trình bày của kiểm sát viên, phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa,…

2.4 Sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm Theo quy định tại Điều 338 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì: “Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp” Cùng với đó,

theo quy định tại Điều 357 thì quy định về sự có mặt của kiểm sát viên tại phiên

Trang 6

tòa tái thẩm được thực hiện như các quy định của thủ tục giám đốc thẩm Việc quy định kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm nhằm đảm bảo sự tuân theo pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và những người có liên quan vì tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mang tính phức tạp trong quá trình giải quyết, được thực hiện trên cơ

sở quyền kháng nghị của Tòa án và Viện kiểm sát

II Giải quyết yêu cầu về tình huống

1 Đề bài

Tình huống: Căn nhà cấp 4 diện tích đất 250 m2 tại xã Vĩnh Tuy – Thanh

Trì – Hà Nội là của ông A và bà B Ông bà có 5 người con là M, N, P, Q và H

M, N ở chung cùng bố mẹ và có hộ khẩu tại Vĩnh Tuy, Thanh Trì Ông A chết năm 2009, bà B chết năm 2011 Ngày 13/5/2013 M, N viết giấy bán nhà đất cho anh K với giá 420 triệu đồng Sau khi mua nhà đất, do chưa có nhu cầu sử dụng ngay nên anh K đã cho M, N tạm thời quản lý sử dụng Tháng 6 năm 2014

M, N tuyên bố không bán nhà đất nữa và trả tiền cho K vì P, Q và H không đồng

ý bán nhà đất Sau khi nhiều lần gặp gỡ để đàm phán không có kết quả, anh K đã khởi kiện ra Tòa án huyện Thanh Trì yêu cầu M, N phải thực hiện hợp đồng như thỏa thuận ngày 13/5/2013 Ngày 1/7/2016, Tòa án huyện Thanh Trì đã thụ lý vụ

án và mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vào ngày 20/10//2016 Tòa án đã nhận định giao dịch mua bán nhà đất giữa M, N với K là giao dịch bị vô hiệu và tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K Bản án đã được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp

Yêu cầu: là kiểm sát viên được Viện trưởng phân công tiến hành công tác kiểm sát giải quyết vụ án từ khi Tòa án thông báo thụ lý vụ án cho đến khi Viện kiểm sát nhận được bản án sơ thẩm của Tòa án Anh chị tiến hành kiểm sát những vấn đề gì? Nội dung các vấn đề mà anh chị tiến hành kiểm sát

2 Các vấn đề cần tiến hành kiểm sát

2.1.Kiểm sát thụ lý vụ án

Trang 7

 Vào sổ thụ lý: Việc vào sổ thụ lý đối với thông báo thụ lý vụ án phải được kiểm sát viên tiến hành ngay sau khi nhân được văn bản thông báo thụ lý vụ án của Tòa án gửi đến Khi vào sổ thụ lý, kiểm sát viên phải điền những thông tin liên quan đến vụ án và các thông tin liên quan đến thông báo về việc thụ lý vụ án:

- Số và ký hiệu của vụ án dân sự được thụ lý, số văn bản thông báo về việc thụ lý vụ án

- Ngày, tháng, năm thụ lý vụ án; ngày, tháng, năm của văn bản thông báo thụ lý vụ Ở đây, theo tình huống đề bài ra thì ngày thụ lý vụ án là ngày 1/7/2016

- Quan hệ tranh chấp; đồng thời nêu cụ thể nội dung tranh chấp Theo tình huống đề bài đưa ra, tranh chấp ở đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự mà cụ thể là hợp đồng mua bán nhà đất giữa anh K với M, N

- Các thông tin của đương sự như họ tên, tuổi hoặc năm sinh, chỗ ở hiện nay,… Trong tình huống này, nguyên đơn là anh K, bị đơn là M, N Chỗ ở hiện này được xác định là Vĩnh Tuy – Thanh Trì – Hà Nội…

 Kiểm sát thông báo thụ lý vụ án

 Kiểm sát hình thức văn bản thông báo thụ lý vụ án dân sự

 Kiểm sát thời hạn gửi thông báo thụ lý vụ án

 Kiểm sát nội dung văn bản thông báo thụ lý vụ án dân sự

 Thẩm quyền giải quyết vụ án: Những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Theo như đề bài đưa ra, tranh chấp giữa anh K và M, N là tranh chấp về hợp đồng dân sự có đối tượng là của hợp đồng là quyền sử dụng đất và nhà ở Do vậy, theo quy định tại Điều 26 thì tranh chấp trên hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Tòa án

 Thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện là loại thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện

Cùng với đó, theo quy định tại Điều 154 Bộ luật dân sự 2015 thì: “Thời hiệu

Trang 8

khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật

có quy định khác” Do vậy, theo như đề bài đưa ra thì tháng 6 năm 2014 M, N

quyết định không bán nhà đất nữa và trả lại tiền cho anh K Vì vậy, ngày bắt đầu thời hạn khởi kiện sẽ được tính từ khoảng thời gian này vì đề bài không đưa ra

rõ ngày bao nhiêu của tháng 6 năm 2014

 Điều kiện khởi kiện: Theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự

2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án

có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Như

vậy, có thể thấy rằng khi cảm thấy quyền và lợi ích của mình không được đảm bảo thì anh K hoàn toàn có thế tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của mình để khởi kiện tại Tòa án Ngoài ra, anh K không thuộc bất cứ trường hợp bị mất, hạn chế hoặc dưới 18 tuổi như theo quy định tại Điều 69 về năng lực pháp luật tố tụng dân sự hoặc năng lực hành vi tố tụng dân sự nên trong tình huống đề bài đưa ra, anh K hoàn toàn có đủ điều kiện để khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của mình

 Lập phiếu kiểm sát thông báo thụ lý vụ án: việc lập phiếu kiểm sát thông báo thụ lý vụ án dân sự là hoạt động bắt buộc khi tiến hành kiểm sát thông báo thụ lý vụ án, qua đó theo dõi các vi phạm sau:

- Vi phạm về thời hạn gửi thông báo thụ lý vụ án (được quy định tại Điều

196 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)

- Vi phạm về hình thức thông báo (quy định tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng

dân sự 2015 và Mẫu số 30-DS ban hành theo quyết định số 01/2017/NQ-HĐTP)

- Vi phạm về nội dung thông báo thụ lý vụ án

 Báo cáo lãnh đạo đề xuất hướng giải quyết

 Kiến nghị khắc phục vi phạm

2.2.Kiểm sát việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trang 9

2.2.1 Kiểm sát các quyết định của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ

thẩm

Sau khi thụ lý vụ án dân sự, Tòa án sẽ tiến hành các hoạt động chuẩn bị xét

xử, có quyền ra các quyết định nhằm giải quyết vụ án dân sự và các quyết định

tố tụng có giá trị bảo đảm cho công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm Khi ban hành các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án phải gửi cho Viện kiểm sát để kiểm sát tính có căn cứ và đúng pháp luật Theo như tình huống đưa ra, khi tiến hành kiểm sát trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, cần làm các công việc sau:

 Xác định và phân loại các quyết định của Tòa án Trong tình huống đề bài đưa ra không đề cập đến các quyết định của Tòa án nên không tiến hành xác đinh và phân loại được

 Vào sổ thụ lý kiểm sát các quyết định tố tụng của Tòa án

 Kiểm sát việc ban hành các quyết định của Tòa án

- Kiểm sát thời hạn gửi quyết định

- Kiểm sát hình thức các quyết định (Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP)

- Kiểm sát thẩm quyền ban hành các quyết định

- Kiểm sát nội dung các quyết định

 Xác định và tập hợp các vi phạm

 Lập phiếu kiểm sát: Theo Điều 17 và Điều 18 Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 364/QĐ-VKSTC, phải lập phiếu kiểm sát đối với hai quyết định: quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án và quyết định đình chỉ giải quyết vụ án

 Báo cáo đề xuất kiến nghị hoặc kháng nghị

2.2.2 Kiểm sát việc tiếp nhận, thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án

 Kiểm sát việc Tòa án tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ do các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tự giao nộp

 Kiểm sát việc thu thập tài liệu, chứng cứ do Tòa án tự tiến hành hoặc do yêu cầu của Viện kiểm sát hoặc do yêu cầu của các đương sự, cơ quan, tổ chức,

cá nhân có liên quan

2.2.3 Kiểm sát thủ tục hòa giải vụ án dân sự

Trang 10

Khi nhận được quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thành phần tham gia hòa giải, nội dung và kết quả hòa giải thành theo quy định tại các điều 205, 206, 207, 208, 209, 210, 211 và 212 của BLTTDS. Khi phát hiện vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện quyền kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm

Trường hợp có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì báo cáo bằng văn bản với lãnh đạo Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

2.2.4 Kiểm sát thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng

Khi tiến hành kiểm sát, kiểm sát viên cần xác định các văng bản tố tụng có liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự đã được cấp, tống đạt, thông báo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hay chưa? Có đảm bảo về thời hạn không? Hình thức ra sao? Có lập biên bản cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp hay không?

Nếu phát hiện vi phạm pháp luật về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản

tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, làm ảnh hưởng tới tiến trình giải quyết vụ án thì kiểm sát viên

có thể đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát ra văn bản kiến nghị ngay hoặc kiến nghị tại phiên tòa

2.3.Kiểm sát xét xử sơ thẩm

2.3.1 Trước khi mở phiên tòa

 Nghiên cứu hồ sơ vụ án (tối đa 15 ngày): việc nghiên cứu hồ sơ vụ án nhằm giúp kiểm sát viên xác định được các yêu cầu của đương sự, thành phần

và địa vị tố tụng của các đương sự, đồng thời thông qua việc nghiên cứu hồ sơ

vụ án giúp cho kiểm sát viên nắm vững được hệ thống chứng cứ, các tình tiết vụ

án, làm cơ sở cho việc bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham

Ngày đăng: 11/10/2021, 11:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w