Mặc dù cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT, chủ yếu là các quy định của hai Điều XXII và XXIII của GATT, có nhiều điểm bất cập, như việc vận hành theo nguyên tắc đồng thuận tức là phải
Trang 1VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Đề tài:
TÌM HIỂU CƠ BẢN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG WTO
Sinh viên thực hiện : LÝ CÔNG BÌNH
Năm sinh : 19/8/1958
Líp : LUẬT K3B
Cơ sở đào tạo : TTGDTX HÀ TÂY
Hà Tây - 2007
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam chóng ta đã tiến hành đổi mới kinh tế được hai mươi năm Trong khoảng thời gian đó, kinh tế nước ta đã gặt hái được nhiều thành công đáng khích lệ Chúng ta đã từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và từng bước phát triển Để có được những thành quả đó là do Đảng và Nhà
Trang 2nước đã có những chính sách đúng đắn trong phát triển kinh tế Một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta là: "Chúng ta hội nhập kinh tế quốc tế"
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới, chúng ta cũng đã có những bước chuẩn bị nhất định cho quá trình hội nhập này Chúng ta đã từng bước xây dựng hệ thống pháp luật cho phù hợp với pháp luật và thông lệ thế giới Và ngày 07/11/2006 vừa qua, Việt Nam đã được tổ chức thương mại thế giới, chúng ta có được nhiều cơ hội hơn để phát triển kinh tế nhưng chúng ta cũng phải đối mặt với rất nhiều thành thức Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đối với chúng ta là phải tìm hiểu những quy định của tổ chức này để chúng ta có thể tận dụng được tốt nhất những cơ hội mà tổ chức này mang lại để phát triển nền kinh tế
Trong phạm vi bài tiểu luận, tôi đã lùa chọn đề tài "Tìm hiểu cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO" làm đề tài tiểu luận cho mình Pháp luật quốc tế nói chung và những quy định của to về giải quyết tranh chấp nói chung và quy định của WTO về giải quyết tranh chấp nói riêng là những vấn đề khó Vì vậy, trong bài viết này tác giả bài viết khó có thể tránh khỏi những thiếu sót,
do đó, tôi rất mong nhận được sự thông cảm của các thầy cô giáo Tôi xin chân thàm cảm ơn!
Trang 3I Khái quát về giải quyết tranh chấp thương mại của WTO
Cơ chế của tổ chức thương mại thế giới (WTO) về giải quyết tranh chấp thương mại (sau đây gọi tắt là DSM) với tư cách là một thiết kế của WTO mới chỉ tồn tại hơn 10 năm kể từ ngày 1 tháng 1 băn 1995 tới nay
Tuy nhiên, cơ chế trước đó - cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã tồn tại từ năm 1948 tới năm
1994 Mặc dù cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT, chủ yếu là các quy định của hai Điều XXII và XXIII của GATT, có nhiều điểm bất cập, như việc vận hành theo nguyên tắc đồng thuận (tức là phải có ý kiến đồng ý của cả nước bị kiện) để ra các quyết định, chế tài đối với vi phạm yếu, kém minh bạch, cơ chế mang nặng tính ngoại giao… nhưng trong hơn 40 năm tồn tại thì GATT cũng đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, nhất là so với các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế khác
Vòng đàm phán đa phương Urugoay được đánh giá là thành công nhất trong các vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT về nhiều phương diện, như phạm vi điều chỉnh, số lượng mức tham gia, thành lập được thiết chế quản lý các vấn đề thương mại quốc tế - Tổ chức thương mại thế giới (WTO)… tuy nhiên kết quả của vòng đàm Urugoay về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là một sự tiến bộ có ý nghĩa đặc biệt, đem lại luồng không phí mới cho thể chế thương mại đa phương, nhất là niềm tin của các nước Thành viên vào việc các quy định trong WTO sẽ được thực hiện và bất kỳ vi phạm nào cũng sẽ được điều chỉnh lại thông qua việc áp dụng các quy định về giải quyết tranh chấp của tổ chức này Cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) mới trong WTO được xây dựng dùa trên các kinh nghiệm và quy định tồn tại trên
40 năm của GATT, nhưng với những sự cải thiện đáng kể về các quy định cụ thể, nhất là về trình tố tụng, khẳng định nguyên tắc quan trọng là WTO, việc các quốc gia thành viên dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển đều có nghĩa vụ bình đẳng trong việc bảo đảm thể chế pháp luật của
Trang 4mình thống nhất với WTO và phải tuân thủ theo cơ chế giải quyết các tranh chấp thương mại liên quan tới các hiệp định WTO
Một điều quan trọng nữa là cơ chế đã đem lại một sự rõ ràng và lường trước được kết quả giải quyết vụ kiện khi các phán quyết được cơ quan giải quyết tranh chấp WTO thông qua ngày càng có sự nhất quán, thống nhất cao, nhất là đối với các báo cáo của Cơ quan phóc thẩm Chính vì vậy mà tỷ lệ các
vụ kiện được hòa giải rất cao (hơn 50%) mà không cần đi hết tố tụng và có khoảng trên 60% các vụ kiện đã được kháng cáo sau khi được xem xét ở cấp Ban hội thẩm (panel) Điều đáng mừng nữa là hầu hết các phán quyết đã được các nước thua kiện tự nguyện thi hành và chỉ có khoảng dưới 10 vô trong 9 năm tồn tại WTO là cần đến các biện pháp trả đũa để gây sức Ðp cho nước thua kiện phải thi hành phán quyết
II Cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO là kết quả của hơn 40 năm kinh nghiệm và tiến triển của cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định chung về thương mại và Thuế quan 1947 (gọi tắt là GATT 1947)
GATT tránh đưa ra thuật ngữ "tranh chấp" Tuy nhiên các nhà soạn thảo GATT đã tiên lượng trước được các vấn đề có thể nảy sinh do việc kiện tụng hoặc không kiện tụng của các quốc gia thành viên đối với các vấn đề thuộc phạm vi mà GATT điều chỉnh Cơ chế mang tính nguyên tắc để giải quyết các vấn đề này là tham vấn ngoại giao Trong GATT 1947 có 19 điều khoản về tham vấn và một trong những điều khoản đó là điều XXII, mét quy định chung kêu gọi các bên "xem xét thông cảm" và "tham vấn" đối với các vấn đề gây ảnh hưởng đến Hiệp định
Điều XXIII của GATT đã tạo ra một cơ chế riêng nhằm hạn chế sự vô hiệu hóa hoặc suy yếu hiệu lực của GATT Sự vô hiệu hóa hay suy hếu hiệu lực có thể xảy ra vì bất cứ một trong ba lý do sau:
- Sù thất bại của một bên trong việc thực hiện nghĩa vụ theo GATT
Trang 5- Mét bên áp dụng một biện pháp nào đó mà không tính đến khả năng biện pháp đó có xung đột với các quy định của GATT
- Sù thồn tại của bất cứ một "tình huống" gây ra vấn đề
Do đó, việc giải quyết tranh chấp sẽ được quan tâm nhiều hơn so với việc xem xét vi phạm các quy định của GATT
Điều XXIII quy định một loạt các bước giải quyết sự vô hiệu hóa hoặc kém hiệu lực có thể xảy ra Các bước giải quyết được nâng dần lên nếu nh các
nỗ lực giải quyết vấn đề trước đó không hiệu quả:
- Các bên liên quan phải trình bày hoặc nêu ra các đề xuất với các bên ký kết Hiệp định khắc hoặc với các bên liên quan bằng văn bản trong đó phải đề
ra một sự "xem xét thông cảm" cho các đề xuất này
- Vấn đề có thể được chuyển tới các bên ký kết Hiệp định để các thành viên này nhanh chóng tiến hành điều tra và đưa ra các khuyến nghị phù hợp với bên liên quan Một phương án khác là hình thức quyết định dùa trên vấn
đề Trong quá trình điều tra, các bên ký kết Hiệp định có thể tham vấn lẫnh nhau, tham vấn với bất kỳ tổ chức liên chính phủ liên quan nào hoặc Hội đồng kinh tế xã hội của Liên Hợp Quốc
- Các bên ký kết Hiệp định có thể ủy quyền cho một bên hoặc các bên khác tạm thời đình chỉ việc áp dụng các nhượng bộ hoặc các nghĩa vụ theo GATT như là một biện pháp đối kháng nếu như "hoàn cảnh chấp nhận được" Thành viên phản đối hành động này có thể trực tiếp rút khỏi GATT sau khi thông báo trước 60 ngày
Điều XXIII và cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ GATT
1947 được xây dùng trên cơ sở thực tiễn của các quốc gia Đầu tiên, đàm phán ngoại giao là biện pháp duy nhất để giải quyết tranh chấp Sau đó, ban công tác sẽ được thiết lập để điều tra và đưa ra các khuyến nghị Ban công tác thông thường bao gồm đại diện của các quốc gia khác nhau chịu sự chỉ đạo của Chính phủ Năm 1955, các bên ký kết Hiệp định GATT bắt đầu đưa các
Trang 6tranh chấp ra "Ban hội thẩm" gồm nhóm các chuyên gia đặc biệt làm việc với
tư cách trung gian mà không phải là đại diện của các Chính phủ Các quyết định của Ban hội thẩm là không chính thức và không có hiệu lực ràng buộc nhưng sẽ được chuyển đến Hội đồng của GATT để đưa ra các khuyến nghị phù hợp Hội đồng của GATT được thành lập năm 1960 bao gồm đại diện của tất cả các bên ký kết Hiệp định GATT mong muốn gánh vác trách nhiệm thành viên, và tổ chức họp mỗi tháng một lần
Quy trình ra quyết định để giải quyết tranh chấp của Ban hội thẩm trong khuôn khổ GATT đã thành công Do quy trình này đã được áp dụng thường xuyên nên các thủ tục của Ban hội thẩm cũng cần được chính thức hóa Điều này đã dẫn đến một loạt các hiệp định và văn bản về giải quyết tranh chấp nhằm bổ sung cho Điều XXIII Cùng với thời gian, Các Ban hội thẩm bắt đầu
áp dụng biện pháp thiên về quy định pháp lý đối với việc giải quyết tranh chấp Các bên đã viện dẫn Điều XXIII để làm sáng tỏ các quyền pháp lý theo quy định của GATT Các khuyến nghị của Ban hội thẩm đã dùa trên cơ sở pháp lý hơn là ngoại giao thuần tuý Đến một mức độ nào đó, các quyết định
do Ban hội thẩm của GATT đưa ra đã được Hội đồng GATT vì sự đe dọa ngừng nhượng bộ mà chính là sự tuân thủ các nguyên tắc Bên thua kiện không thể không tuân thủ một quyết định dùa trên các nguyên tắc pháp lý Làm nh vậy có thể sẽ đe doạ toàn bộ trật tự pháp lý của hệ thống GATT và bên thua kiện có thể sẽ lại cần đến trật tự pháp lý này trong các vụ kiện khác (và có thể sẽ lại là bên thắng kiện)
Mặc dù quy trình giải quyết tranh chấp của Ban hội thẩm của GATT đem lại thành công nhưng một loạt các thiếu sót đã hạn chế tính hiệu quả của
nó Các thiếu sót đó bao gồm việc trì hoãn trong quá trình thành lập Ban hội thẩm, trì hoãn trong quá trình giải quyết của ban hội thẩm, việc cản trở thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm tại Hội đồng GATT và trì hoãn trong việc thực thi các khuyến nghị của hội đồng GATT
Trang 7III Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO
1 Các vấn đề xem xét chung
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên hệ thống
đã tồn tại trước đó của GATT Văn bản thiết lập hệ thống mới này là Bản ghi nhớ của vòng đàm phán Urugoay về các Quy tắc và Thủ tục về giải quyết tranh chấp (DSU) Điều 3.1 của DSU đã xác nhận việc áp dụng Điều XXII và XXIII của Hiệp định GATT 1947 Ngoài ra, Các hiệp định của WTO còng quy định rằng ngoại trừ các quy định khác theo Hiệp định này và các Hiệp định thương mại đa biên, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO sẽ được điều chỉnh bởi các quyết định, thủ tục và các thông lệ mà các bên ký kết hiệp định GATT 1947 cam kết tuân thủ…"
2 Cơ cấu thể chế
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO do ba cơ quan phụ trách Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB0 là cơ quan thành lập nên Ban hội thẩm và thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm cũng như của Cơ quan Phóc thẩm; giám sát việc thực thi các khuyến nghị và các quyết định đồng thời có quyền
áp đặt cấm vận nếu không tuân thủ các quyết định giải quyết tranh chấp nhưng DSB có chủ tịch và tuân theo các thủ tục riêng biệt so với Đại hội đồng của WTO
Cơ quan phóc thẩm được thành lập theo DSU để rà soát các quyết định của Ban hội thẩm Cơ quan phóc thẩm là một cơ quan thường trực bao gồm
07 thành viên do DSB bổ nhiệm thoe nhiệm kỳ 4 năm Các thành viên trong
Cơ quan phóc thẩm phải là các chuyên gia rất am hiểu về luật và thương mại quốc tế mà không là thành viên của đại diện rộng rãi trong WTO Các thành viên của Cơ quan phóc thẩm này nghe các vụ khiếu kiện theo nhóm 3 người, nhưng mỗi thành viên đều phải tham gia nh nhau trong các hoạt động giải quyết tranh chấp của WTO
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO là sự tiếp nối của hệ thống giải
Trang 8quyết tranh chấp của GATT 1947 Các Ban hội thẩm bao gồm 03 thành viên (trường hợp ngoại lệ có 05 thành viên) là các chuyên gia có trình độ sâu rộng thuộc các tổ chức Chính phủ hoặc phi chính phủ được lùa chọn theo sự phân công do các thành viên WTO đề xuất Các thành viên của Ban hội thẩm là việc với tư cách cá nhân và không là đại diện cho các thành viên của WTO
3 Phạm vi áp dụng
Thẩm quyền của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO được công nghiệp êu ra trong Điều 1 của DSU Bất cứ tranh chấp nào nảy sinh từ các Hiệp định đa phương của WTO sẽ được giải quyết htoe các quy định và thủ tục của DSU Các hiệp định này được đề cập chung là "các Hiệp định điều chỉnh" nh liệt kê trong Phụ lục I của DSU Một số các Hiệp định của WTO có
đề cập đến các quy định và thủ tục bổ sung đặc biệt và DSU còng bao gồm các quy định và thủ tục này Trong trường hợp xung đột, các quy định và thủ tục bổ sung đặc biệt này sẽ được áp dông
Trong việc diễn giải các "Hiệp định điều chỉnh", Ban hội thẩm và Cơ quan phóc thẩm sẽ căn cứ vào "các thông lệ diễn giải của Công pháp quốc tế" tham chiếu đến Công ước Vienne về luật các Điều ước quốc tế Tuy nhiên, việc diễn giải các Hiệp định của WTO của Ban hội thẩm và Cơ quan Phóc thẩm không phải là cuối cùng Chỉ có Hội nghị Bộ trưởng và Đại hội đồng có thẩm quyền thông qua những diễn giải cuối cùng
Để tránh một quyết định không triệt để mà không giải quyết được tranh chấp, người ta cho rằng các cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO phải có thẩm quyền xem xét tất cả các khía cạnh của một vụ tranh chấp, bao gồm cả các khía cạnh liên quan đến vấn đề pháp lý không hoàn toàn pháp sinh trong phạm vi của Hiệp định điều chỉnh
4 Hiệu lực pháp lý các báo cáo của cơ quan phóc thẩm và Ban hội thẩm
Các báo cáo của cơ quan phóc thẩm và của Ban hội thẩm của WTO là
Trang 9ràng buộc đối với các bên tranh chấp một khi cơ quan giải quyết tranh chấp đã thông qua Tuy nhiên, các báo cáo này không ràng buộc việc diễn giải các hiệp định của WTO và không có hiệu lực pháp lý đối với các thành viên khác của WTO Các báo cáo này cũng không phải là tiền lệ ràng buộc pháp lý đối với các vụ kiện sau Tuy nhiên, các báo cáo đó có chứa đựng những bằng chứng thực tiễn của hiệp định mà Ban hội thẩm còng nh Cơ quan phóc thẩm của các vụ kiện sau có thể trích dẫn và lấy đó làm cơ sở lý luận Trong chõng mực cơ sở lý luận đó là thuyết phục thì ngay cả các báo cáo chưa được thông qua cũng có thể được trích dẫn và làm cơ sở cho Ban hội thẩm và Ban hội thẩm phải kiểm tra rất chặt chẽ các tiền lệ khi giải quyết một tranh chấp và cố gắng không làm sai lệch cách diễn giải của những tiền lệ trước
5 Thủ tục giải quyết tranh chấp
5.1 Mục tiêu
Còng nh dưới thời gian GATT, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO dùa trên tư tưởng chính là nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của các thành viên đối với các hiệp định WTO Để bảo vệ các quyền và nghĩa vụ này, việc
xử lý nhanh chóng các "tình huống" khi một thành viên cho là quyền lợi của mình bị phương hại là rất "cần thiết để WTO hoạt động hiệu quả Do vậy, mục tiêu của giải quyết tranh chấp trong WTO là nhằm rút bỏ bất kỳ biện pháp nào không phù hợp với các hiệp định hoặc tìm giải pháp cùng chấp nhận được và phù hợp với các hiệp định WTO Mọi cách giải quyết và giải pháp đều phải phù hợp với các hiệp định được điều chỉnh
5.2 Khởi đầu: Yêu cầu tham vấn
DSU đòi hỏi các thành vên WTO phải cân nhác khi sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp Họ phải suy xét xem hành động này có "đem lại tác dụng"
và sẽ là "một cách xử lý tích cực đối với tranh chấp" Bước đầu tiên là yêu cầu tham vấn với một hoặc nhiều thành viên khác Chỉ sau giai đoạn tham vấn này, các bên mới có quyền đề nghị lập ban hội thẩm
Trang 10Khi có yêu cầu tham vấn, thành viên có liên quan phải trả lời trong vòng
10 ngày và phải bắt đầu tham vấn trong vòng 30 ngày sau khi nhận được yêu cầu
5.3 Quyền được khiếu nại.
Lời văn của Điều XXIII: của Hiệp định GATT 1994 và của Điều 3.7 của DSU cho thấy một thành viên hoàn toàn có thể tự quyết định hành động nào
là "hữu Ých" Cả điều 3.3 của DSU cũng như các điều khoản khác của DSU đều không yêu cầu một thành viên phải có quyền lợi hợp pháp mới được đề nghị lập ban hội thẩm Đây thực chất là sự công nhận một "hành động phổ biến" vì mọi thành viên WTO sẽ được coi là có quyền lợi mỗi khi có một hiệp định nào trong phạm vi điều chỉnh của DSU bị vi phạm Quan điểm rộng rãi này là khá mới và gây tranh cãi vừa chưa từng có những khiếu nại kiểu này dưới thời GATT
Ngoài ra, bất kỳ thành viên WTO nào không liên quan đến tranh chấp ban đầu cũng có thể tham gia bằng cách này hay cách khác Trước hết, thành viên đó "có quyền lợi cơ bản trong vụ việc đang được ban hội thẩm xem xét"
có cơ hội được trình bày bằng miệng và bằng văn bản Thứ hai, "bên thứ ba" đọc thể đưa ra một khiếu nại mới theo thủ tục giải quyết tranh cấp thông thường Mỗi khi "có thể", một ban hội thẩm sẽ xử lý cả hai (hoặc tất cả) các khiếu nại liên quan đến một vấn đền
5.4 Trung gian, hòa giải
DSU quy định các bên tranh chấp có thể tự nguyện sử dông trung gian, hòa giải như một phương cách giải quyết Việc này có thể bắt đầu hoặc chấm dứt bất kỳ lúc nào Tuy vậy, thỏa thuận sử dụng trung gian, hòa giải không ngăn cản việc thành lập ban hội thẩm giải quyết tranh chấp Bên khiếu nại phải dành thời gian 60 ngày sau khi yêu cầu tham vấn trước khi yêu cầu lập ban hội thẩm Nếu các bên nhất trí, thủ tục trung gian, hòa giải có thể tiến hành ngay cả sau khi đã lập ban hội thẩm