1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của doanh nghiệp việt nam trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

127 469 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là cách thức, phương pháp hoặc các hoạt động của WTO để điều chỉnh các bất đồng, các xung đột giữa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THÙY TRANG

VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

CỦA WTO

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THÙY TRANG

VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

CỦA WTO

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN BÍNH

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thùy Trang

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO 11

1.1 Giới thiệu về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO[12,13,17] 12

1.1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 14

1.1.2 Mục tiêu của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 15

1.1.3 Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 21

1.1.4 Tầm quan trọng của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 22

1.2 Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO 23

1.3 Quy trình giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 26

1.3.1 Các loại khiếu kiện 26

1.3.2 Trình tự giải quyết tranh chấp 27

1.3.3 Thủ tục Trọng tài [10] 32

1.4 Các qui định đặc biệt về thủ tục giải quyết các tranh chấp áp dụng cho các nước đang phát triển 33

1.5 Đánh giá chung về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 35

1.6 Địa vị của doanh nghiệp trong giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO 39

Chương 2: VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRÊN THẾ GIỚI THEO CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO 41

2.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO đối với một số quốc gia 41

2.1.1 Các nước đang phát triển trong hệ thống giải quyết tranh chấp – Lý thuyết và thực tiễn [23] 41

2.1.2 Vấn đề đối xử đặc biệt và khác biệt 43

Trang 5

2.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO dưới góc độ đánh giá của các nước đang phát triển [16] 48 2.3 Một số vụ tranh chấp được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 56 2.3.1 Vụ kiện của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ về chống trợ cấp và biện pháp chống bán phá giá liên quan đến một số sản phẩm từ Trung Quốc: 56 2.3.2 Vụ kiện của Thái Lan đối với Hoa Kỳ về các biện pháp liên quan đến tôm từ Thái Lan: 63 2.3.3 Vụ kiện của Ấn Độ đối với Hoa Kỳ liên quan đến nguyên tắc xuất xứ đối với hàng dệt may: 66 2.4 Thực tế tham gia của các doanh nghiệp trong cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO 69 Chương 3: SỰ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VẤN

ĐỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 74 3.1 Việt Nam với các tranh chấp trong thương mại quốc tế trước và sau khi gia nhập WTO 74 3.1.1 Cơ hội của Việt Nam khi tham gia vào WTO và sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO 76 3.1.2 Thách thức của Việt Nam khi tham gia vào WTO và sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO 78 3.2 Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh đối với các doanh nghiệp Việt Nam theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 80 3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng từ vụ kiện vừa qua 93 3.4 Mối quan hệ Nhà nước – Doanh nghiệp: Hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO 100

Trang 6

3.5 Những kiến nghị giải pháp cho Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng khi tham gia trong quá trình giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO[8] 102 3.5.1 Giải pháp hoàn thiện hệ thống các qui định pháp luật Việt Nam tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia tích cực trong các quan hệ quốc tế 103 3.5.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách của Nhà nước 105 3.5.3 Giải pháp đối với doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia giải quyết các tranh chấp theo cơ chế của WTO 108 KẾT LUẬN 114 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA Khu vực mậu dịch tự do của ASEAN

CBPG Hiệp định chống bán phá giá

DSB Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO

DSU Thỏa thuận ghi nhận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc

giải quyết tranh chấp

DOC

GATT 1947

Bộ Thương mại Hoa Kỳ

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

HĐ Marrakesh Hiệp định về thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới

HĐ SCM Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Tòa án Công lý Quốc tế

Tòa án Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ

Nền kinh tế phi thị trường

VASEP Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam

VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tranh chấp thương mại quốc tế là một hiện tượng song hành với sự gia tăng các luồng giao thương trên phạm vi toàn cầu Tranh chấp diễn ra khi một nước cho rằng một nước khác vi phạm thỏa thuận đã cam kết

Trong kinh doanh, tranh chấp tồn tại như một điều tất yếu: có thể ở dạng tranh chấp hiện tại, cần phải giải quyết hoặc tranh chấp xảy ra trong tương lai Các mối quan hệ càng nhiều, càng phức tạp thì khả năng xảy ra tranh chấp càng lớn, bất chấp một khung pháp lý có hoàn chỉnh đến đâu, bởi không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh Đặc biệt trong thương mại Quốc tế, lĩnh vực mà các bên tham gia có những đặc điểm về tập quán kinh doanh, ngôn ngữ

và cả các đặc điểm văn hoá rất khác nhau, thì tranh chấp lại càng lớn, cả về mặt quy

mô và khả năng xảy ra tranh chấp Chỉ cần một sự sai lệnh nhỏ trong cách hiểu, xuất phát từ bất đồng ngôn ngữ là đã có thể dẫn đến tranh chấp Đây là chưa nói đến vấn đề phức tạm hơn là văn hoá và tập quán kinh doanh

Trong thời đại ngày nay, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một tất yếu khách quan, là xu thế của thời đại và có tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới Các quốc gia với các quan hệ quốc tế ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp, khó tránh khỏi những tranh chấp xảy ra, thực tiễn đòi hỏi phải có một cơ chế giải quyết các tranh chấp một cách thỏa đáng giữa các quốc gia trong hệ thống các vấn đề đa phương hiện nay Đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều các tổ chức liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội – thương mại v.v Tuy nhiên, đỉnh cao của sự hội nhập trong lĩnh vực kinh tế - thương mại thế giới, chính là sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

WTO quan niệm tranh chấp thương mại là tranh chấp ở phạm vi quốc tế,

được dùng để chỉ các bất đồng giữa các nước thành viên WTO khi một nước cho rằng quyền lợi của mình theo một hiệp định nào đó của WTO bị triệt tiêu đi hay bị

Trang 9

xâm hại do việc một nước thành viên khác áp dụng một biện pháp thương mại hoặc không thực hiện một nghĩa vụ hoặc khi việc đạt được mục tiêu của hiệp định bị cản trở, triệt tiêu hoặc suy giảm quyền lợi thương mại do biện pháp thương mại của một thành viên bất kể là biện pháp này có trái với nghĩa vụ thành viên hay không hoặc khi có bất kỳ tình tiết nào đem lại thiệt hại về quyền lợi hay cản trở đạt mục tiêu hiệp định

Tranh chấp thương mại là một trong những hệ quả của hoạt động thương mại, đặc biệt là trong thương mại quốc tế (do xung đột pháp luật, bất đồng ngôn ngữ ) Vì vậy, giải quyết tranh chấp phát sinh là một nhu cầu tất yếu khách quan Giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là cách thức, phương pháp hoặc các hoạt động của WTO để điều chỉnh các bất đồng, các xung đột giữa các thành viên WTO liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo các hiệp định và thỏa thuận của WTO nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp

đã phát sinh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên

Từ khi thành lập đến nay, đã có rất nhiều vụ tranh chấp được khởi kiện ra WTO và các tranh chấp này chủ yếu đề cập đến lĩnh vực kinh tế, thương mại Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO được coi là trụ cột của cơ chế thương mại đa phương ngày nay Hệ thống này do các Chính phủ thành viên lập ra tại Vòng đàm phán Urugoay (1986 - 1995) với niềm tin chắc chắn rằng việc thành lập một hệ thống có hiệu lực ràng buộc hơn và mạnh hơn để có thể giải quyết các tranh chấp,

sẽ giúp đảm bảo cho các nguyên tắc thương mại đã được đàm phán một cách kỹ lưỡng trong WTO được tôn trọng và có hiệu lực Cơ chế này là sự hiện thực hóa xu thế pháp lý hóa quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này

Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO đôi khi được nhắc tới như là sự đóng góp đặc biệt của WTO cho sự ổn định của kinh tế toàn cầu, được xây dựng dựa trên sự đổi mới và kế thừa các quy định giải quyết tranh chấp trước kia của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT 1947, cùng với những sự

Trang 10

hoàn thiện đáng kể, một hệ thống đồ sộ các Hiệp định, Thỏa thuận, Danh mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thương mại của các quốc gia thành viên

Với các mục tiêu đầy tham vọng là thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại trên toàn cầu, góp phần nâng cao mức sống của người dân các nước thành viên và giải quyết các bất đồng về lợi ích giữa các quốc gia trong khuôn khổ hệ thống thương mại đa biên Sự vận hành của WTO nói chung và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nói riêng đã và sẽ có tác dụng to lớn đối với tương lai lâu dài của kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế riêng của từng quốc gia

Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, hoạt động kinh doanh, thương mại tăng trưởng một cách mạnh mẽ Nhưng bên cạnh đó, các vụ tranh chấp về kinh doanh, thương mại, đặc biệt là các hợp đồng có yếu tố nước ngoài cũng gia tăng Nội dung tranh chấp cũng đa dạng, phức tạp hơn Cụ thể như: các tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyên chở, hợp đồng đại lý, hợp đồng bảo hiểm…

Tranh chấp thương mại quốc tế là vấn đề khó tránh khỏi đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập So với nhiều nước, kể cả các nước trong khu vực thì Việt Nam tham gia vào thương mại toàn cầu khi các quy tắc và chuẩn mực thương mại quốc tế về cơ bản đã được hình thành và phát triển Vì vậy, đối với Việt Nam, một vấn đề rất quan trọng là ngay từ khi bắt đầu tham gia hội nhập kinh tế thế giới cần phải nghiên cứu, tìm hiểu những luật lệ thương mại quốc tế để tận dụng tốt cơ hội đồng thời tránh những rủi ro pháp lý không đáng có

Trong mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia trong khu vực cũng như trên phạm vi toàn thế giới ngày càng đa dạng và phức tạp Sau nhiều năm đàm phán, tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng WTO, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới sau những nỗ lực vượt bậc vào ngày 11/01/2007, chính thức bước vào một thời kỳ mới: Hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển Gia nhập WTO, một trong những thuận lợi đầu tiên được nhắc đến là việc Việt Nam sẽ được sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để

Trang 11

bảo vệ lợi ích cho quốc gia mình Đó là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hội nhập của đất nước với mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững, mang đến cho nước ta nhiều cơ hội mới, thúc đẩy công cuộc cải cách và phát triển đất nước

Tuy nhiên, quá trình này không phải chỉ đơn thuần tạo ra những cơ hội và lợi ích cho quốc gia mà bên cạnh đó chúng ta cũng đang và sẽ gặp không ít khó khăn thách thức khi gia nhập thị trường quốc tế Thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua cho thấy vấn đề chiếm lĩnh thị trường trở nên quyết liệt ngay tại thị trường nội địa cũng như thị trường nước ngoài Mặt khác, hiện tại cũng có nhiều quy định trong thương mại quốc tế đã gây ra những khó khăn, trở ngại, thiệt hại cho hoạt động xuất khẩu và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp, ngành hàng khi tham gia Như đã biết, các bên chính thức tham gia trong vụ kiện tại WTO phải là giữa các quốc gia của nó, tuy nhiên thường các đối tượng trực tiếp chịu tác động bởi nội dung của các vụ kiện lại chính là doanh nghiệp của các quốc gia thành viên Do đó, nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, một trong những chiến lược quan trọng để dẫn đến sự thành công khi vận dụng cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO chính là

sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và doanh nghiệp có liên quan, mà cầu nối giữa hai đối tượng này lại chính là các Hiệp hội doanh nghiệp Một thống kê thời gian qua cho thấy số vụ tranh chấp được đưa ra giải quyết tại WTO là không hề nhỏ Ví

dụ như tại các quốc gia như Brazil có 27 vụ, Argentina có 20 vụ, Mexico có 23 vụ hay Ấn Độ có 21 vụ Đối với Việt Nam, khi đã chính thức trở thành thành viên chính thức của WTO, có đầy đủ tư cách sử dụng công cụ giải quyết tranh chấp mà WTO quy định cho các thành viên thì số lượng các vụ tranh chấp được đưa ra giải quyết tại WTO chưa phải lớn Cụ thể Việt Nam có 1 vụ tranh chấp tham gia với tư cách nguyên đơn, một số vụ tham gia với tư cách bên thứ ba [36]

Xuất phát từ chính những nhu cầu giải quyết các tranh chấp phát sinh, đã có rất nhiều các văn bản được ban hành dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, sự chung tay góp sức của các Bộ, Ngành, Hiệp hội sau khi Việt Nam là thành viên của WTO để giảm thiểu các thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam, tận dụng mọi cơ hội vượt qua các rào cản thương mại trên thị trường kinh tế quốc tế trong vấn đề giải

Trang 12

quyết các tranh chấp trong quá trình tham gia hội nhập Chính vì những lý do trên,

học viên đã chọn nghiên cứu Đề tài: “Vai trò của doanh nghiệp Việt Nam trong

cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO” cho Luận văn Thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp WTO Có thể thấy rằng đây là nội dung có rất nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập đến, từ những năm mà Việt Nam chúng ta chưa là thành viên WTO, tuy nhiên trong các nghiên cứu chưa nêu rõ mối liên hệ sâu sắc giữa nội dung của lí luận và thực tế giải quyết tranh chấp tại các Vụ kiện trong WTO, vai trò của các doanh nghiệp Việt Nam và những thất bại của các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ kiện tương tự

Trên cơ sở tổng quan thiết chế giải quyết tranh chấp trong WTO và phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO của một

số nước, đặc biệt là chú trọng đến các nước đang phát triển, để tìm ra cho Việt Nam hướng giải quyết các tranh chấp thích hợp trong một số hoàn cảnh tương tự vào thời điểm hiện tại cũng như thời gian sắp tới, khi ngày càng đối mặt với nhiều vụ kiện thương mại Từ đó có khuyến nghị phương hướng hoàn thiện chính sách thương mại trong thời gian tới, chủ động giải quyết tranh chấp thương mại trong WTO

Luận văn nhằm cung cấp một bức tranh toàn cảnh về cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, cũng như các kinh nghiệm giải quyết của một số nước khi áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO thành công Bên cạnh đó, Luận văn cũng nghiên cứu và chỉ ra đối tượng chính trong các tranh chấp tại WTO, không ai khác đó chính là các doanh nghiệp của các quốc gia thành viên khi lợi ích kinh doanh bị xâm phạm

Một số công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến cơ chế giải quyết

tranh chấp WTO Ví dụ như: Lan Hương (2006), Tiếp cận hệ thống giải quyết tranh

chấp của WTO từ góc độ các nước đang phát triển, Tạp chí Công nghiệp, 7/2006;

Nguyễn Thị Mơ (2006), Nhận dạng các loại hình tranh chấp thương mại, Tạp chí

Kinh tế đối ngoại, tr.3; Bùi Anh Thủy (2010), Cơ chế giải quyết tranh chấp thương

Trang 13

mại quốc tế của WTO Luận án tiến sỹ cấp Nhà nước, chuyên ngành Luật Kinh tế;

Nguyễn Thị Thu Trang, (2008), Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, Luận văn

Thạc sỹ; Nguyễn Tấn Dũng, Đỗ Hoài Nam, Lê Thị Băng Tâm (2004), Việt Nam sẵn

sàng gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, Kỷ yếu diễn đàn ngày 3-4/6/2003 tại

Hà Nội, NXB Khoa học – xã hội, Hà Nội; Nguyễn Thủy Nguyên (chủ biên), WTO

thuận lợi và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam, NXB Lao Động Xã Hội,

Hà Nội, 2006; Nguyễn Văn Thanh dịch (2004), Báo cáo gia nhập WTO,

Website:www oxfaminternational.org.; Nguyễn Vĩnh Thanh, Lê Thị Hà (2006),

Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), NXB Lao động xã hội, Hà Nội; Ủy ban quốc gia về Hợp tác

kinh tế quốc tế (2006), Các văn kiện cơ bản của WTO; Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế (2011), Cam kết về dịch vụ khi gia nhập WTO: Bình luận của người

trong cuộc v.v

Học viên nhận thấy việc nghiên cứu Đề tài: “Vai trò của doanh nghiệp Việt

Nam trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO” là cần thiết trong bối cảnh Việt

Nam là thành viên chính thức của WTO và không trùng lặp với bất kì công trình

nghiên cứu nào Đề tài đáp ứng đủ các tiêu chí về nội dung của Luận văn Thạc sĩ

chuyên ngành Luật quốc tế

3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn

Trên cơ sở tổng quan thiết chế giải quyết tranh chấp trong WTO và phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO của một số nước, đặc biệt là chú trọng đến các nước đang phát triển, để tìm ra cho các doanh nghiệp Việt Nam hướng giải quyết các tranh chấp thích hợp trong một số hoàn cảnh tương tự vào thời điểm hiện tại cũng như thời gian sắp tới, khi các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng đối mặt với nhiều vụ kiện thương mại Từ đó có khuyến nghị phương hướng hoàn thiện chính sách thương mại trong thời gian tới, chủ động giải quyết tranh chấp thương mại trong WTO

Luận văn sẽ làm rõ ba mục đích

Trang 14

Thứ nhất, Luận văn trình bày một cách hệ thống cơ sở lí luận về cơ chế giải

quyết tranh chấp của WTO;

Thứ hai, Luận văn nêu lên thực tiễn các vụ tranh chấp điển hình đã được giải

quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO; và

Cuối cùng, Luận văn phân tích thực tiễn các vụ tranh chấp của Việt Nam,

nêu lên vai trò quan trọng của các doanh nghiệp Việt Nam khi giải quyết vụ tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Đối tượng nghiên cứu là Phụ lục II của Hiệp định thành lập tổ chức thương mại thế giới WTO (DSU) cũng như kinh nghiệm vận dụng các giải pháp của một số nước đã thành công thông qua một số vụ kiện giải quyết theo DSU mà các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều điểm tương đồng khi bị khởi kiện do vi phạm các quy định của WTO với các nước Xem đó là những kinh nghiệm quý báu để các doanh nghiệp Việt Nam học tập, vận dụng trong bối cảnh vừa mới gia nhập WTO Đề tài

sẽ tập trung nhiều vào các doanh nghiệp Việt Nam trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận văn đã sử dụng, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như hệ thống hóa các khái niệm để phân tích thực tiễn; đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Các phương pháp nghiên cứu được học viên sử dụng như: thu thập tài liệu, phân tích và tham khảo các nguồn thông tin; tổng hợp và kế thừa các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài nghiên cứu của học viên; sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, tham vấn v.v… để làm sang tỏ những vấn đề được đặt ra trong quá trình nghiên cứu; vận dụng các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới, mở cửa và hội nhập kinh tế thế giới

để phân tích thực hiện Luận văn; nghiên cứu trực tiếp trên các cụ tranh chấp điển hình thuộc vào những tranh chấp được đưa ra giải quyết tại các cơ quan giải quyết

Trang 15

tranh chấp của WTO có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam

Trên cơ sở những nhóm vấn đề nêu trên, thực tiễn và nội dung của các vụ tranh chấp của các nước, chính sách chung về việc giải quyết tranh chấp trong WTO, từ đó liên hệ thực tiễn với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc hợp tác và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc hợp tác đó trong thời gian qua Qua đó nhằm rút ra những vấn đề còn yếu kém, những lưu ý mang tính thực tiễn, đề xuất kiến nghị giải pháp và định hướng khắc phục trong thời gian tới

6 Những điểm mới của Luận văn

Các vấn đề liên quan đến hoạt động nói chung và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nói riêng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu và đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, trong những nghiên cứu khác nhau

Những nghiên cứu trên đây được thực hiện, phân tích ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, đứng trên góc độ nghiên cứu và theo hướng nghiên cứu của đề tài thì chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện và cụ thể ở Việt Nam

Việc nghiên cứu đề tài, sẽ cung cấp cụ thể những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, hệ thống lại cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, làm sáng tỏ thêm

về mặt lí luận khái niệm bản chất, nội dung và quá trình giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, từ đó phân tích để có cái nhìn tổng quát và cụ thể thấy được những điểm mạnh cũng như điểm còn hạn chế trong cơ chế giải quyết tranh chấp;

Thứ hai, cập nhật thông tin, kinh nghiệm để giải quyết tranh chấp trong

thương mại của các nước đã thành công khi áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO với tư cách là thành viên chính thức của WTO;

Thứ ba, góp phần làm luận cứ khoa học cho quá trình hoạch định và thực thi

chính sách thương mại, để chủ động giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp thương mại theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO;

Thứ tư, từ những quy định cụ thể của cơ chế giải quyết, đề tài sẽ đưa ra một

số điểm cần lưu ý, khuyến nghị phương hướng đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xảy ra tranh chấp; và

Trang 16

Thứ năm, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị hữu ích trong thời gian tới

thông qua những vấn đề pháp lí mà Việt Nam gặp phải trong các tranh chấp quốc tế, chỉ ra những điểm tồn tại và xu hướng bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam trong quan hệ thương mại quốc tế, để giảm thiểu các tranh chấp và thiệt hại cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào sân chơi chung của thế giới

Như vậy, việc đưa tranh chấp ra giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đang dần trở thành một xu thế chung hiện nay được các quốc gia thành viên của WTO trên thế giới lựa chọn và Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngoài ra còn là thành viên của WTO, nên càng không thể đứng ngoài xu hướng đó

7 Kết quả nghiên cứu của Luận văn

Nội dung nghiên cứu của đề tài là một bức tranh toàn diện và tổng thể giúp cho các nhà hoạch định, các nhà đàm phán, các nhà luật gia, cộng đồng các doanh nghiệp có thể tìm hiểu, tham khảo và vận dụng trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách Đặc biệt hơn nữa, nghiên cứu sẽ là cơ sở tham khảo cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc định hướng cũng như thực hiện việc hợp tác quốc tế với các quốc gia trên thị trường quốc tế

Những điểm mới, những bài học kinh nghiệm được đúc rút, những kết luận

và những định hướng chính sách được xây dựng trong đề tài liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp sẽ là cẩm nang hữu ích cho các doanh nghiệp, cũng như các nhà hoạch định chính sách trong giai đoạn sắp tới

Về mặt khoa học, nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hay tài liệu học tập hữu ích cho các nhà nghiên cứu hoặc các bạn sinh viên

Học viên hy vọng những nghiên cứu trong Luận văn của mình sẽ có thể giúp các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng có hiệu quả và tránh được những rủi ro đối với các vụ kiện tranh chấp cho Việt Nam

8 Kết cấu của Luận văn

Luận văn bao gồm các phần sau:

Trang 17

Ngoài Lời mở đầu, Danh mục các chữ viết tắt, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn được chia thành ba chương chính Cụ thể:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Chương 2: Vấn đề giải quyết tranh chấp đối với các nước đang phát triển trên

thế giới theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Chương 3: Sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong vấn đề giải quyết

tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và một số kiến nghị giải pháp khắc phục

Trang 18

Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh chóng các quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế, cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ WTO cũng đã được thiết lập với mục đích lớn nhất là đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong các Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của WTO Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nhằm mục đích giải quyết các tranh chấp thương mại, là yếu tố quan trọng cho việc thực thi các quy định Do đó, cơ chế đó đảm bảo rằng hoạt động thương mại được thông suốt

Một cuộc tranh cãi nảy sinh khi một chính phủ thành viên tin rằng một chính phủ thành viên khác đang vi phạm một thỏa thuận hoặc cam kết rằng nó đã được thực hiện trong WTO Các tác giả của những thỏa thuận này là các chính phủ thành viên, chính họ - những thỏa thuận là kết quả của các cuộc đàm phán giữa các thành viên Trách nhiệm cuối cùng đó là việc giải quyết tranh chấp với chính phủ các nước thành viên, thông qua Cơ quan và cơ chế giải quyết tranh chấp

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được hình thành trên nền tảng pháp

lý là thỏa thuận về quy tắc và thủ tục về điều chỉnh giải quyết tranh chấp, là sự kế thừa các quy định về giải quyết tranh chấp từng phát huy tác dụng tích cực gần 50 năm qua trong lịch sự GATT 1947 – được gọi là Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp, một trong những kết quả quan trọng nhất của Vòng đàm phán Urugoay

Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương thức giải quyết

Trang 19

tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này Học tập những quy định có tác dụng tích cực và rút kinh nghiệm từ những bất cập trong cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947, áp dụng một số cải tiến căn bản về thủ tục, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao tính chất xét xử của thủ tục của cơ chế mới cũng như tăng cường tính ràng buộc của các quyết định giải quyết tranh chấp, WTO

đã đưa ra một cơ chế hoàn thiện hơn, đáp ứng được những yêu cầu về giải quyết tranh chấp trong thực tiễn đời sống thương mại quốc tế của các chủ thể tham gia quan hệ thương mại quốc tế Mục tiêu căn bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là nhằm “đạt được một giải pháp tích cực cho tranh chấp”, và ưu tiên những “giải pháp được các bên tranh chấp cùng chấp thuận và phù hợp với các Hiệp định liên quan” Xét ở mức độ rộng hơn, cơ chế này nhằm cung cấp các thủ tục đa phương giải quyết tranh chấp thay thế cho các hành động đơn phương của các quốc gia thành viên vốn tồn tại nhiều nguy cơ bất công, gây trì trệ và xáo trộn sự vận hành chung của các qui tắc thương mại quốc tế

Việc giải quyết tranh chấp kịp thời và theo cách thức được xây dựng chặt chẽ

là rất quan trọng Nó sẽ giúp hạn chế các tác động bất lợi của các mâu thuẫn không được giải quyết trong thương mại quốc tế và làm dịu đi những bất bình đẳng giữa những người yếu và kẻ mạnh thông qua việc giải quyết những tranh chấp giữa họ trên cơ sở các quy định pháp luật thay vì cho phép bên có sức mạnh quyết định kết quả Sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực, hệ thống giải quyết tranh chấp này đã nhanh chóng chứng tỏ được tầm quan trọng trong thực tế, các thành viên của WTO

đã thường xuyên sử dụng hệ thống này Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO có khả năng là một hệ thống mạnh nhất trong các Hiệp định quốc tế

1.1 Giới thiệu về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO[12,13,17]

Hệ thống giải quyết tranh chấp đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ và thực thi các nghĩa vụ pháp lý được quy định trong Hiệp định WTO Hệ thống này đã có vai trò thực tế rất lớn với hàng trăm vụ tranh chấp phát sinh Giải quyết tranh chấp tất nhiên không phải là hoạt động duy nhất trong khuôn khổ của WTO, nhưng cơ chế này

đã trở thành phần quan trọng trong thực tế vận hành của tổ chức này Bên cạnh đó, hệ

Trang 20

thống giải quyết tranh chấp của WTO cũng đã trở thành công cụ quan trọng trong việc quản lý chung quan hệ kinh tế quốc tế của các thành viên WTO

Rút kinh nghiệm từ những bất cập trong cơ chế cũ, một số cải tiến căn bản về thủ tục đã được đưa vào cơ chế mới, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao tính chất xét xử của thủ tục này cũng như tăng cường tính ràng buộc của các quyết định giải quyết tranh chấp Trên cơ sở các qui định rời rạc về giải quyết tranh chấp trong GATT, WTO đã thành công trong việc thiết lập một cơ chế pháp lý đầy đủ, chi tiết trong một văn bản thống nhất để giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên WTO: Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh

chấp (DSU) - Phụ lục 2 Hiệp định Marrakesh thành lập WTO

Ngoài ra, cơ chế này còn được có một số qui định riêng biệt trong các văn bản khác (được DSU viện dẫn đến) như:

Thứ nhất, Điều XXII và XXIII GATT 1947 [Điều 3.1, DSU];

Thứ hai, các qui tắc và thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh

chấp tại các Hiệp định trong khuôn khổ WTO Ví dụ: Điều 11.2 Hiệp định về các Biện pháp Kiểm dịch Thực vật; Điều 17.4 đến 17.7 GATT 1994;

Thứ ba, quyết định về các Thủ tục giải quyết tranh chấp đặc biệt - GATT

1966: bao gồm các qui tắc áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp giữa một nước kém phát triển và một nước phát triển [Điều 3.12, DSU] và các thủ tục đặc biệt

áp dụng cho tranh chấp có một bên là nước kém phát triển nhất [Điều 2.4, DSU]

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là bắt buộc đối với tất cả các quốc

gia thành viên theo đó mỗi thành viên có khiếu nại, tranh chấp với thành viên khác buộc phải đưa tranh chấp ra giải quyết bằng cơ chế này Quốc gia thành viên bị khiếu nại không có cơ hội lựa chọn nào khác là chấp nhận tham gia giải quyết tranh chấp theo các thủ tục của cơ chế này Đây chính là điểm tạo nên sự khác biệt cũng như hiệu quả hoạt động của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO so với các cơ chế giải quyết các tranh chấp quốc tế đang tồn tại

Qua quá trình thực hiện, cơ chế giải quyết tranh chấp mới đã tỏ rõ ưu thế của mình trong việc giải quyết có hiệu quả các tranh chấp giữa các quốc gia trong

Trang 21

khuôn khổ WTO Hiệu quả này đạt được chủ yếu dựa trên các qui định hết sức chặt chẽ về thủ tục được nêu tại các văn bản khác nhau, cơ chế thông qua quyết định mới (cơ chế đồng thuận phủ quyết), các cơ quan chuyên môn độc lập với các thời hạn cụ thể Không phải ngẫu nhiên mà cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO được coi là một trong những thành công cơ bản của Vòng đàm phán Urugoay

1.1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Tranh chấp trong WTO thường là về vi phạm cam kết Các Thành viên WTO nhất trí nếu họ tin rằng các thành viên đối tác vi phạm nguyên tắc thương mại, họ sẽ

sử dụng hệ thống đa phương về giải quyết tranh chấp thay vì thực hiện các hành vi đơn phương Điều này có nghĩa là không thay đổi những quy trình đã cam kết và tôn trọng các phán quyết Một tranh chấp nảy sinh khi một nước lựa chọn chính sách thương mại hoặc thực hiện những hành vi mà một hoặc nhiều nước Thành viên WTO khác xem là vi phạm hoặc không thực hiện các nghĩa vụ đối với các Hiệp định của WTO

Hiệp định nhấn mạnh rằng tăng cường giải quyết tranh chấp là cần thiết nếu WTO thực hiện vai trò của mình một cách hiệu quả Thoả thuận đã quy định chi tiết quy trình và thời gian để giải quyết tranh chấp Về nguyên tắc, nếu một tranh chấp được giải quyết theo đúng thời gian biểu quy định thì thời gian không mất nhiều hơn 12 hoặc 15 tháng, khi cần phúc thẩm Thời gian để đạt được sự đồng thuận có thể linh hoạt và nếu trường hợp được xem là khẩn cấp, vụ việc sẽ được giải quyết nhanh hơn

Vòng đàm phán Urugoay cho phép các nước bị thua trong các tranh chấp không thông qua quyết định Theo GATT trước đây các quyết định chỉ được thông qua dựa trên sự đồng thuận, điều này có nghĩa là một mục đích cá nhân của một nước cũng có thể ngăn cản việc đưa ra quyết định Hiện nay các quyết định được tự động thông qua trừ phi có các bên cùng nhất trí phản đối Điều này có nghĩa là bất

kỳ nước nào không muốn thực hiện quyết định phải thuyết phục các thành viên khác của WTO chia sẻ quan điểm với mình Bình đẳng trong thương mại quốc tế là một trong những yếu tố đảm bảo cho nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế “Hoàn toàn tự

Trang 22

chủ trong việc điều hành các mối quan hệ ngoại thương và các vấn đề khác quy định trong hiệp định” (điều XII, Hiệp định Marrakesh thành lập tổ chức thương mại thế giới 1994) Bản thân các quốc gia khi muốn gia nhập vào hệ thống đều phải chấp nhận những ràng buộc nhất định đối với quyền tự chủ và độc lập về chính sách kinh tế của mình Khi có tranh chấp nảy sinh, quốc gia thành viên WTO một cách tự động, không được sử dụng tới các quyền miễn trừ của mình Trách nhiệm của nhà nước được đặt ra khi nhà nước, các chủ thể thương mại của nhà nước có hành vi vi phạm nghĩa vụ pháp luật quốc tế đối với một nước khác

Giải pháp thích hợp hơn vẫn là tạo điều kiện cho các nước có liên quan thảo luận về vấn đề của họ và tự hòa giải tranh chấp của mình Vì vậy, bước đầu tiên là

tư vấn giữa các nước liên quan, và thậm chí khi tranh chấp đi vào các bước tiếp sau với chiều hướng tích cực, việc tư vấn và hoà giải vẫn là những phương thức ưu tiên

1.1.2 Mục tiêu của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đảm bảo các mục tiêu sau đây:

Thứ nhất, bảo đảm sự an toàn và tính dự báo trước cho hệ thống thương mại

đa phương Mục tiêu trọng tâm của hệ thống giải quyết tranh chấp WTO là bảo đảm

sự an toàn và tính dự báo trước của hệ thống thương mại đa phương Mặc dù thương mại quốc tế được hiểu trong WTO như là dòng hàng hóa và dịch vụ lưu chuyển giữa các nước thành viên, nhưng nói chung, các chính phủ không trực tiếp tiến hành các hoạt động thương mại này mà do các đối tác kinh tế tư nhân tiến hành Các đối tác tham gia thị trường này cần sự ổn định và tính dự báo trước trong các luật lệ, quy định, nguyên tắc điều chỉnh hoạt động thương mại của họ, đặc biệt là

khi họ thực hiện thương mại trên cơ sở các giao dịch dài hạn

Do đó, mục tiêu của DSU là bảo đảm có một hệ thống hoạt động trên cơ sở quy định pháp luật, tin cậy, hiệu quả và nhanh chóng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các điều khoản của Hiệp định WTO Thông qua việc tăng cường nguyên tắc pháp quyền, hệ thống giải quyết tranh chấp làm cho hệ thống thương mại trở nên an toàn hơn và có khả năng dự đoán trước Khi một thành viên cho là có sự không tuân thủ Hiệp định WTO thì hệ thống giải quyết tranh chấp sẽ

Trang 23

đưa ra cách giải quyết tương đối nhanh chóng đối với vấn đề đó bằng một quyết định độc lập buộc phải thi hành ngay, và nếu thành viên thua kiện không chịu thi

hành thì có thể sẽ bị trừng phạt thương mại

Thứ hai, bảo toàn các quyền và nghĩa vụ của các Thành viên WTO Một tranh

chấp phát sinh khi một Thành viên WTO thông qua một biện pháp chính sách thương mại mà một hay nhiều thành viên khác coi là không phù hợp với nghĩa vụ theo Hiệp định WTO Trong trường hợp đó, bất kỳ thành viên nào cảm thấy bị thiệt hại thì đều được phép viện dẫn đến các điều khoản và thủ tục của hệ thống giải quyết tranh chấp

để chính thức phản đối lại biện pháp đó Nếu các bên tranh chấp không thể đạt được một hoà giải thì bên khiếu kiện được bảo đảm giải quyết bằng một quy trình dựa trên nguyên tắc mà theo đó tính đúng đắn của đơn kiện sẽ được xem xét bởi một cơ quan độc lập (Ban hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm) Nếu bên khiếu kiện thắng kiện thì kết quả mong muốn là có được việc bên bị kiện rút bỏ biện pháp bị coi là không phù hợp với Hiệp định WTO Bồi thường và các biện pháp trả đũa chỉ là các biện pháp thứ yếu

và có tính tạm thời đối với một sự vi phạm Hiệp định WTO

Như vậy, hệ thống giải quyết tranh chấp cho phép có một cơ chế giải quyết tranh chấp mà nhờ đó các thành viên WTO có thể bảo đảm rằng các quyền của họ theo Hiệp định WTO được thực hiện Hệ thống này cũng quan trọng đối với cả bên

bị khiếu kiện để họ tự bảo vệ mình nếu họ không đồng ý với lời cáo buộc của bên khiếu kiện Trong trường hợp này, hệ thống giải quyết tranh chấp đóng vai trò bảo

vệ quyền và nghĩa vụ của thành viên theo Hiệp định WTO Các quyết định của các

cơ quan liên quan nhằm mục tiêu phản ánh và thực thi một cách đúng đắn các

quyền và nghĩa vụ như được quy định tại Hiệp định WTO

Thứ ba, làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ thông qua giải thích Phạm vi chính

xác của quyền và nghĩa vụ được nêu trong Hiệp định WTO không hoàn toàn được

rõ ràng ngay nếu chỉ đọc văn bản Hiệp định Các điều khoản pháp lý thường được viết ra theo ngôn ngữ chung để có thể áp dụng chung và bao trùm một số lượng lớn các trường hợp, tình huống cụ thể Do đó, việc một số tình tiết nào đó có gây ra vi phạm quy định pháp luật được hàm chứa trong một điều khoản cụ thể nào đó hay

Trang 24

không là một câu hỏi mà không dễ gì có được câu trả lời Trong phần lớn các trường hợp, câu trả lời chỉ có thể được tìm thấy sau khi giải thích được các nội dung của quy định liên quan Thêm vào đó, các quy định pháp lý trong các hiệp định quốc tế thường thiếu sự rõ ràng bởi câu chữ của chúng là kết quả của sự thỏa hiệp sau các vòng đàm phán đa phương Những thành viên khác nhau tham gia vào quá trình đàm phán thường phải dung hòa các quan điểm khác nhau thông qua việc thống nhất nội dung của văn kiện sao cho có thể hiểu theo nhiều cách để vẫn thỏa mãn được yêu cầu của các nhóm có quyền lợi kinh tế khác nhau Các nhà đàm phán cũng có thể nhờ đó mà hiểu những quy định cụ thể theo các cách trái ngược và khác nhau Tuy nhiên, DSU chỉ ra một cách rõ ràng rằng hệ thống giải quyết tranh chấp

có mục tiêu làm rõ các quy định của Hiệp định WTO “phù hợp với những quy tắc

về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế”

Như vậy, DSU đã công nhận sự cần thiết phải làm rõ các quy định của WTO

và yêu cầu bắt buộc rằng việc làm rõ này phải theo đúng quy tắc có tính tập quán về giải thích Thêm vào đó, tại điều 17.6 của DSU đã ngầm công nhận rằng các Ban hội thẩm được phép phát triển các giải thích pháp lý Do đó, “thẩm quyền duy nhất” theo Điều IX:2 của Hiệp định WTO phải được hiểu là khả năng thông qua những

giải thích “chính thức”, có hiệu lực chung đối với tất cả các thành viên WTO Điều

này khác với các giải thích của các Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm là chỉ áp dụng cho các bên tranh chấp và cho một tranh chấp cụ thể

Về phương pháp giải thích, DSU dẫn chiếu đến các “quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế [Điều 3.2 của DSU] Tuy nhiên, các quy tắc của pháp luật tập quán quốc tế thường không được viết thành văn bản, nhưng đã có một

số công ước quốc tế pháp điển hóa một số quy tắc của pháp luật tập quán về giải thích điều ước quốc tế Do vậy, việc giải thích Hiệp định WTO cần được giải thích phù hợp với nghĩa thông thường của từ ngữ trong quy định liên quan, được cân nhắc trong bối cảnh của chúng và theo mục đích và đối tượng của hiệp định Nghĩa thông thường của một thuật ngữ trong một quy định cần được làm rõ trên cơ sở lời văn đơn thuần Những định nghĩa của thuật ngữ của này trong từ điển có thể sử

Trang 25

dụng để trợ giúp cho mục tiêu đó “Bối cảnh” là nói đến các kết luận có thể được đưa ra trên các cơ sở, chẳng hạn như cấu trúc, nội dung hoặc thuật ngữ ở các điều khoản khác cùng trong hiệp định, đặc biệt là những điều khoản có trước và sau quy định cần giải thích “Đối tượng và mục đích” là nói đến mục đích rõ ràng hay ngụ ý của quy định liên quan hay cả hiệp định nói chung

Trên thực tế, Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm dường như dựa nhiều vào nghĩa thông thường và bối cảnh hơn là vào đối tượng và mục đích của các điều khoản cần giải thích Một trong những hệ luận của các nguyên tắc giải thích là ý nghĩa và hiệu lực phải được đưa ra đối với tất cả các thuật ngữ của một hiệp định thay vì làm cho toàn bộ các phần của một hiệp định trở nên thừa và vô dụng

Thứ tư, giải pháp ưu tiên là “Thỏa thuận” Mặc dù hệ thống giải quyết tranh

chấp được sử dụng để bảo toàn các quyền của các thành viên bị xâm phạm và để làm rõ phạm vi các quyền và nghĩa vụ mà những quyền và nghĩa vụ này đã dần đạt được ở mức cao hơn về tính an toàn và dự báo trước, nhưng mục tiêu hàng đầu của

hệ thống này không phải là để đưa ra các phán quyết hay để phát triển án lệ Giống như các hệ thống pháp luật khác, nó ưu tiên giải quyết tranh chấp với mong muốn thông qua giải pháp được các bên tự dàn xếp, thỏa thuận và phù hợp với Hiệp định WTO Việc xét xử chỉ được sử dụng khi các bên không thể đưa ra được giải pháp này Với tư cách là giai đoạn đầu tiên của mỗi tranh chấp, DSU yêu cầu các bên tham vấn chính thức đưa ra một khuôn khổ mà theo đó các bên tranh chấp phải ít nhất là cố gắng đàm phán để đạt được hòa giải Ngay cả khi vụ kiện đến giai đoạn xét xử, các bên vẫn có thể tự dàn xếp với nhau và luôn được khuyến khích nỗ lực theo hướng này

Thứ năm, giải quyết tranh chấp nhanh chóng DSU nhấn mạnh rằng giải

quyết tranh chấp nhanh chóng là rất quan trọng nếu WTO muốn hoạt động hiệu quả

và sự cân bằng các quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên được duy trì DSU đưa ra các thủ tục tương đối cụ thể và thời gian tương ứng phải tuân thủ trong giải quyết tranh chấp Thủ tục cụ thể được đưa ra nhằm mục tiêu đạt hiệu quả, bao gồm cả quyền của bên khiếu kiện được đi tiếp theo các bước tố tụng với đơn khiếu kiện

Trang 26

ngay cả khi không có sự đồng ý của bên bị khiếu kiện Nếu vụ kiện được xét xử thì

nó có thể cần không quá 12 tháng để Ban hội thẩm đưa ra phán quyết và không quá

15 tháng trong trường hợp vụ kiện được phúc thẩm

Tuy nhiên, các cuộc tranh chấp trong WTO thường rất phức tạp cả về tình tiết và pháp lý Các bên thường đưa ra một số lượng đáng kể các số liệu và tài liệu liên quan đến biện pháp đang tranh chấp và họ cũng đưa ra những lý lẽ pháp lý rất

cụ thể Các bên cần thời gian để chuẩn bị những lý lẽ về thực tế và về pháp lý để trả lời cho những lập luận mà bên đối lập đưa ra Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm được bổ nhiệm để giải quyết vấn đề sẽ cần phải xem xét tất cả các bằng chứng và lý

lẽ, có thể phải nghe chuyên gia và đưa ra lập luận chi tiết để giúp đưa ra kết luận Nếu tính đến tất cả các khía cạnh này, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động tương đối nhanh và trong mọi trường hợp, nhanh hơn nhiều so với các hệ thống tòa án của nước thành viên hoặc hệ thống tài phán quốc tế khác

Thứ sáu, cấm quyết định đơn phương Các thành viên WTO đã đồng ý sử

dụng hệ thống đa phương để giải quyết các tranh chấp thương mại trong WTO của

họ thay vì sử dụng đến hành động đơn phương Điều này có nghĩa là tuân thủ các thủ tục đã được thống nhất và tôn trọng các phán quyết khi được đưa ra và không được đơn phương áp dụng pháp luật

Nếu một thành viên khiếu kiện thành viên khác là đã vi phạm các quy tắc WTO và hành động một cách đơn phương là áp dụng biện pháp đối kháng thì có nghĩa thành viên đó cũng vi phạm nghĩa vụ Thành viên đó có thể lập luận rằng mình đã hành động đúng luật vì sự vi phạm của họ được lý giải với tư cách là biện pháp đối kháng với sự vi phạm trước đó của thành viên khác Tuy nhiên, nếu thành viên bị khiếu kiện không đồng ý rằng biện pháp của họ là vi phạm nghĩa vụ của WTO thì họ cũng sẽ không chấp nhận lý lẽ về biện pháp đối kháng mà thành viên khiếu kiện đưa ra Do vậy, thành viên bị khiếu kiện có thể cho rằng biện pháp đối kháng đó là bất hợp pháp và họ có lý do chính đáng để áp dụng một biện pháp đối kháng để chống lại Bên khiếu kiện ban đầu dựa trên quan điểm pháp lý của mình

có thể sẽ lại không đồng ý và tiếp tục đưa ra một biện pháp đối kháng khác Sự việc

Trang 27

có thể gia tăng căng thẳng ngoài tầm kiểm soát và nếu như không có một bên rút lui thì nguy cơ hạn chế thương mại giữa các bên sẽ ngày càng leo thang và điều này có thể dẫn đến “chiến tranh thương mại”

Để ngăn chặn mâu thuẫn gia tăng như vậy, DSU yêu cầu bắt buộc sử dụng hệ thống đa phương để giải quyết tranh chấp mà các thành viên WTO phải sử dụng khi

họ muốn một thành viên khác sửa sai trong khuôn khổ Hiệp định WTO Điều này

áp dụng đối với trường hợp một thành viên tin tưởng rằng thành viên khác đã vi phạm Hiệp định WTO, hoặc làm triệt tiêu, hoặc suy giảm các lợi ích theo các hiệp định WTO, hoặc làm cản trở việc đạt mục tiêu của một trong số các hiệp định

Trong các trường hợp như vậy, một thành viên không thể hành động dựa trên các quyết định đơn phương khi xảy ra một trong các tình huống trên mà chỉ có thể hành động sau khi đã sử dụng việc giải quyết tranh chấp theo các thủ tục và quy tắc của DSU Nếu thành viên khiếu nại được hành động gì thì họ đều chỉ có thể dựa trên các kết luận của Ban hội thẩm được thông qua hoặc báo cáo của Cơ quan phúc thẩm hoặc phán quyết của trọng tài đã được thông qua Thành viên liên quan cũng phải tuân thủ các thủ tục được đề ra trong DSU đối với việc xác định về thời gian thực hiện và áp dụng các biện pháp trả đũa chỉ trên cơ sở được phép của DSB

Thứ bảy, tính chất bắt buộc Hệ thống giải quyết tranh chấp có tính bắt buộc

Tất cả các thành viên WTO đều phải tuân thủ các qui định bởi họ đã ký và phê chuẩn Hiệp định WTO như là cả gói cam kết chung mà DSU là một phần trong đó

DSU buộc tất cả các thành viên WTO phải tuân thủ hệ thống giải quyết tranh chấp đối với tất cả các tranh chấp phát sinh trong khuôn khổ Hiệp định WTO Do đó, không giống các hệ thống giải quyết tranh chấp quốc tế khác, các bên tranh chấp không cần thiết phải có một tuyên bố riêng hay thỏa thuận riêng về việc chấp nhận quyền tài phán của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO Việc chấp thuận quyền tài phán của hệ thống giải quyết tranh chấp đã được hàm chứa trong việc thành viên gia nhập vào WTO

Kết quả là từng thành viên WTO được bảo đảm quyền tiếp cận hệ thống giải quyết tranh chấp và không thành viên bị kiện nào có thể trốn tránh được quyền tài phán này

Trang 28

1.1.3 Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Về phạm vi điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Hệ thống

giải quyết tranh chấp của WTO áp dụng đối với tất cả các tranh chấp được đưa ra trong khuôn khổ các hiệp định của WTO được liệt kê trong Phụ lục I của DSU

Trong DSU, những hiệp định này được nhắc tới như là “các hiệp định điều chỉnh”, bản thân DSU và Hiệp định WTO (liên quan đến các Điều I - XVI) cũng nằm trong số các hiệp định điều chỉnh Trong nhiều vụ kiện được đưa ra hệ thống giải quyết tranh chấp, bên khiếu kiện viện dẫn các điều khoản thuộc nhiều hiệp định điều chỉnh khác nhau

Những hiệp định được điều chỉnh cũng bao gồm các hiệp định được gọi là các hiệp định thương mại nhiều bên, nằm trong Phụ lục 4 của Hiệp định WTO (Phụ lục I của DSU) Các hiệp định này được gọi là “nhiều bên” để phân biệt với “đa phương” bởi không phải tất cả các thành viên WTO đều ký kết chúng Tuy nhiên, việc áp dụng DSU đối với các hiệp định thương mại nhiều bên này phụ thuộc vào việc thông qua quyết định của các bên trong mỗi hiệp định về các điều kiện áp dụng DSU đối với từng hiệp định, bao gồm bất kỳ quy tắc hay thủ tục bổ sung đặc biệt nào

DSU cho phép có một hệ thống giải quyết tranh chấp thống nhất và chặt chẽ cho việc áp dụng chung đối với tất cả các hiệp định điều chỉnh Trừ một số trường hợp ngoại lệ, DSU được áp dụng thống nhất đối với các tranh chấp trong khuôn khổ tất cả các hiệp định của WTO

Về đối tượng tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Các bên

tranh chấp và bên thứ ba: Chỉ có các quốc gia thành viên WTO mới là các bên tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp và có thể tham gia hệ thống này với tư cách

là các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba Ban Thư ký WTO, các nước quan sát viên của WTO, các tổ chức quốc tế khác và các chính quyền địa phương và khu vực không được phép khởi kiện thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO

Ngoài ra còn có các đối tượng phi chính phủ WTO quy định, chỉ các Chính phủ của các nước thành viên WTO mới có thể đưa ra tranh chấp nên các cá nhân

Trang 29

hoặc công ty tư nhân không trực tiếp tiếp cận với hệ thống giải quyết tranh chấp, ngay cả khi họ chính là những người bị tác động tiêu cực trực tiếp (với tư cách là nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu) bởi các biện pháp bị cho là đã vi phạm Hiệp định WTO Điều này cũng áp dụng cho các tổ chức phi chính phủ khác có sự quan tâm chung tới vấn đề được xử lý trong hệ thống giải quyết tranh chấp và họ cũng không thể khởi kiện theo các thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO

Tuy nhiên, các tổ chức này có thể gây ảnh hưởng hoặc thâm chí gây áp lực lên chính phủ của một thành viên WTO liên quan đến việc đưa ra tranh chấp Trên thực tế, nhiều thành viên WTO đã chính thức thông qua luật pháp trong nước mà theo đó các bên tư nhân có thể đệ đơn lên chính phủ của họ đề nghị đưa tranh chấp

ra giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

1.1.4 Tầm quan trọng của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Việc các thành viên của WTO đã thành lập ra một hệ thống giải quyết tranh chấp trong vòng Urugoay đã nhấn mạnh tầm quan trọng rất lớn của việc tất cả các nước trong WTO tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo hiệp định WTO Một trong những kết quả của Vòng đàm phán Urugoay là việc DSU đã đem lại một hệ thống giải quyết tranh chấp được tăng cường đáng kể Những thủ tục chi tiết hơn đối với các giai đoạn khác nhau của tranh chấp, bao gồm cả thời hạn cụ thể, đã được qui định cụ thể trong DSU Hệ thống giải quyết tranh chấp mới cũng là một khuôn khổ thống nhất chung áp dụng cho tất cả các Hiệp định

Việc giải quyết các tranh chấp kịp thời và theo các cách thức được xây dựng chặt chẽ là rất quan trọng Nó sẽ giúp hạn chế được những tác động bất lợi của các mâu thuẫn không được giải quyết trong thương mại quốc tế và làm dịu đi những bất bình đẳng giữa những người yếu và kẻ mạnh thông qua việc giải quyết những tranh chấp giữa họ trên cơ sở các quy định pháp luật thay vì cho phép bên có sức mạnh quyết định kết quả Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO còn bao gồm quy định

về đối xử đặc biệt và đối xử khác biệt đối với các nước đang phát triển Sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực vào năm 1995, hệ thống giải quyết tranh chấp đã nhanh

Trang 30

chóng chứng tỏ được tầm quan trọng trong thực tế, bởi các thành viên thường xuyên

sử dụng hệ thống này

1.2 Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO

Một cơ quan giải quyết tranh chấp hiệu quả là yếu tố quyết định đối với hoạt động của một tổ chức được vận hành trên cơ sở các luật chơi được thoả thuận trước

Cơ sở pháp lý của Cơ quan giải quyết tranh chấp hiện nay của WTO là Thoả thuận

về giải quyết tranh chấp của WTO (DSU) và cơ chế này được xây dựng trên cơ sở

kế thừa và phát triển án lệ của GATT 1947 dựa trên

Điều XXII và XXIII của Hiệp định GATT 1947

Xét về chức năng thì Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO là một loại cơ quan tài phán quốc tế theo nghĩa là một cơ quan có thẩm quyền đưa ra những quyết định có tính chất ràng buộc về mặt pháp lý đối với các bên tranh chấp Khác với Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) nơi mà các quốc gia có toàn quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận thẩm quyền tài phán của ICJ, thì tại WTO tất cả các thành viên đều phải chấp nhận quyền tài phán của Cơ quan giải quyết tranh chấp

Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO được thực hiện bởi các cơ quan khác nhau, mỗi cơ quan có những chức năng riêng biệt, tạo nên tính độc lập trong hoạt động điều tra và thông qua các quyết định trong cơ chế này Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) của WTO có 2 cấp gồm Ban hội thẩm (Panel) và Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body) DSB không trực tiếp tham gia vào quá trình xét xử tranh chấp mà chỉ là nơi đưa ra quyết định chính trị trong giải quyết tranh chấp tại WTO Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm giữ vai trò là các thiết chế pháp lý để đánh giá các khía cạnh pháp lý của vụ tranh chấp

Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB)

DSB chính là Đại hội đồng của WTO, cơ quan có quyền quyết định cao nhất của Tổ chức này trong thời gian giữa các Hội nghị Bộ trưởng Tất cả các thành viên của WTO đương nhiên cũng là thành viên của DSB và có quyền tham dự vào tất cả các hoạt động của DSB Trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO thì những chức năng chính thức quan trọng nhất thuộc về DSB

Trang 31

DSB có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua báo cáo của Ban hội thẩm

và Cơ quan phúc thẩm, duy trì giám sát việc thực hiện các phán quyết và khuyến nghị, cho phép tạm hoãn những ưu đãi và các nghĩa vụ khác theo các hiệp định có liên quan, cho phép đình chỉ thực hiện các nghĩa vụ và nhượng bộ (trả đũa) Tuy nhiên, DSB chỉ là cơ quan thông qua quyết định chứ không trực tiếp thực hiện việc xem xét giải quyết tranh chấp

DSB có một Chủ tịch riêng và được hỗ trợ bởi Ban thư kí WTO trong quá trình giải quyết tranh chấp DSB sẽ nhóm họp khi cần thiết dể thực hiện các chức năng trên Thông thường, DSB sẽ họp mỗi tháng một lần, trừ trường hợp cần thiết phải tổ chức các cuộc họp đặc biệt

Mọi quyết định của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận (consensus) Tuy nhiên điểm đặc biệt của nguyên tắc đồng thuận của DSB là ở chỗ nguyên tắc này được thực hiện theo chiều ngược lại với nguyên tắc đồng thuận thông thường, cụ thể là quyết định sẽ được coi là thông qua trừ khi có một sự đồng thuận không thông qua quyết định này Điều này đồng nghĩa với việc các quyết định của DSB hầu như được thông qua tự động vì khó có thể có một quyết định có thể bị

bỏ phiếu chống bởi tất cả các thành viên DSB Nguyên tắc "reverse consensus" (tạm dịch là đồng thuận ngược chiều) này là một trong những điểm đặc biệt nhất giữa WTO và các tổ chức quốc tế khác Nguyên tắc này khắc phục được nhược điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT – 1947, nơi áp dụng nguyên tắc đồng thuận truyền thống - mọi quyết định chỉ được thông qua khi tất cả các thành viên bỏ phiếu thông qua (mỗi thành viên đều có quyền phủ quyết quyết định) – một rào cản trong việc thông qua các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp Nguyên tắc trên đã dẫn đến một hệ quả pháp lý cực kỳ quan trọng trong đó là mọi quyết định của WTO hầu như chắc chắn được thông qua một khi cơ quan có thẩm quyền khuyến nghị việc thông qua đệ trình dự thảo quyết định ra trước tất cả các thành viên Nói cách khác, việc DSB quyết định các vấn đề trên cơ sở đồng thuận ngược chiều làm ảnh hưởng của DSB đối với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO có phần hạn chế Tuy nhiên, sự tham gia của DSB trong từng giai đoạn của thủ tục giải quyết

Trang 32

tranh chấp tại WTO sẽ giúp các nước thành viên WTO nắm bắt thông tin về tình hình giải quyết tranh chấp, đồng thời tạo diễn đàn chính trị để các nước thành viên trao đổi khi nảy sinh vấn đề liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Ban hội thẩm (Panel)

Ban hội thẩm bao gồm từ ba đến năm thành viên, được DSB quyết đinh thành lập với từng nhiệm vụ tranh chấp cụ thể và chấm dứt tồn tại sau khi đã thực hiện xong nhiệm vụ Ban hội thẩm có nhiệm vụ xem xét một vấn đề cụ thể bị tranh chấp trên cơ sở các qui định WTO được quốc gia nguyên đơn viện dẫn

Kết quả công việc của Ban hội thẩm là một báo cáo trình DSB thông qua, giúp DSB đưa ra các khuyến nghị đối với các Bên tranh chấp Trên thực tế thì đây

là cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp mặc dù không nắm quyền quyết định (vì với nguyên tắc đồng thuận phủ quyết mọi vấn đề về giải quyết tranh chấp khi đã đưa ra trước DSB đều được “tự động” thông qua)

Các thành viên Ban hội thẩm được lựa chọn trong số các quan chức chính phủ hoặc các chuyên gia phi chính phủ không có quốc tịch của một Bên tranh chấp hoặc của một nước cùng là thành viên trong một Liên minh thuế quan hoặc Thị trường chung với một trong các nước tranh chấp Ban hội thẩm hoạt động độc lập, không chịu sự giám sát của bất kỳ quốc gia nào

Cơ quan phúc thẩm (SAB)

Cơ quan Phúc thẩm là một thiết chế mới trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, cho phép báo cáo của Ban hội thẩm được xem xét lại (khi có yêu cầu), đảm bảo tính đúng đắn của báo cáo giải quyết tranh chấp Sự ra đời của cơ quan này

cũng cho thấy rõ hơn tính chất xét xử của thủ tục giải quyết tranh chấp mới

SAB gồm bảy thành viên do DSB bổ nhiệm với nhiệm kỳ bốn năm (có thể được bầu lại một lần) Các thành viên SAB được lựa chọn trong số những nhân vật

có uy tín và có chuyên môn được công nhận trong lĩnh vực luật pháp, thương mại quốc tế và trong những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của các hiệp định liên quan Tuy nhiên, việc xét xử phúc thẩm trong từng vụ việc chỉ do ba thành viên SAB thực hiện một cách độc lập

Trang 33

Khi giải quyết vấn đề tranh chấp, SAB chỉ xem xét lại các khía cạnh pháp lý

và giải thích pháp luật trong Báo cáo của Ban hội thẩm chứ không điều tra lại các yếu tố thực tiễn của tranh chấp Kết quả làm việc của SAB là một báo cáo trong đó

Cơ quan này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc đảo ngược lại các kết luận trong báo cáo của Ban hội thẩm Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm được thông qua tại DSB và không thể bị phản đối hay khiếu nại tiếp

1.3 Quy trình giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

1.3.1 Các loại khiếu kiện

Các khiếu kiện có thể được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO được qui định tại Điều XXIII.1 GATT 1994 bao gồm:

Thứ nhất, khiếu kiện có vi phạm (violation complaint) Đó là khiếu kiện phát

sinh khi một quốc gia thành viên không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo qui định tại Hiệp định (trong trường hợp này thiệt hại được suy đoán là đương nhiên)

Thứ hai, khiếu kiện không vi phạm (non-violation complaint) Đó là loại

khiếu kiện phát sinh khi một quốc gia ban hành một biện pháp thương mại gây thiệt hại (làm mất hay phương hại đến) các lợi ích mà quốc gia khiếu kiện có được từ Hiệp định hoặc cản trở việc thực hiện một trong các mục tiêu của Hiệp định - không phụ thuộc vào việc biện pháp đó có vi phạm Hiệp định hay không

Thứ ba, khiếu kiện dựa trên “sự tồn tại một tình huống khác” (“situation” complaint) Trong trường hợp này, quốc gia khiếu kiện cũng phải chứng minh về

thiệt hại mà mình phải chịu hoặc trở ngại gây ra đối với việc đạt được một mục tiêu của Hiệp định

Như vậy, tranh chấp trong khuôn khổ WTO không nhất thiết phát sinh từ một hành vi vi phạm các qui định tại các Hiệp định của tổ chức này của một hoặc nhiều quốc gia thành viên (thông qua việc ban hành hoặc thực thi một biện pháp thương mại vi phạm nghĩa vụ của quốc gia đó theo WTO) Tranh chấp có thể phát

sinh từ một “tình huống” khác hoặc khi một biện pháp thương mại do một quốc gia

thành viên ban hành tuy không vi phạm qui định của WTO nhưng gây thiệt hại cho một hoặc nhiều quốc gia thành viên khác

Qui định này thực chất là sự kế thừa qui định trước đây của GATT - 1947 về phạm vi áp dụng của cơ chế giải quyết tranh chấp: một qui định phản ánh sự mềm

Trang 34

dẻo trong các qui định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO theo đó một bên có thể phải nhượng bộ trong một vấn đề cụ thể (mà mình có quyền hoặc chí ít là không bị cấm) để tránh gây thiệt hại cho một bên (các bên) khác hoặc nhằm đạt được một mục tiêu nhất định của Hiệp định liên quan

1.3.2 Trình tự giải quyết tranh chấp

Bao gồm các giai đoạn chính như Tham vấn; giải quyết tại Ban hội thẩm; giải quyết tại cơ quan Phúc thẩm; thực thi các khuyến nghị hoặc các quyết định của DSB Ngoài ra còn có các giai đoạn như Môi giới; Trung gian; Hòa giải Các giai đoạn này giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được chặt chẽ hơn, ưu tiên sự tự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, không phải bất kì một tranh chấp nào cũng phải trải qua tất cả các giai đoạn trên Tranh chấp có thể dừng lại ở bất kì giai đoạn nào trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện của các bên trong tranh chấp

Tham vấn (Consultation)

Tham vấn là thủ tục bắt buộc đầu tiên mà các thành viên WTO phải thực hiện khi quyết định giải quyết một tranh chấp phát sinh bằng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Bên có khiếu nại trước hết phải đưa ra yêu cầu tham vấn Bên kia [Điều 4 DSU] Việc tham vấn được tiến hành bí mật (không công khai) và không gây thiệt hại cho các quyền tiếp theo của các Bên Bên được tham vấn có nghĩa vụ "đảm bảo việc xem xét một cách cảm thông và tạo cơ hội thoả đáng" cho Bên yêu cầu tham vấn

Thủ tục tham vấn chỉ là thủ tục được tiến hành giữa các Bên với nhau DSB được thông báo về thủ tục này và có trách nhiệm thông báo cho các quốc gia thành viên về yêu cầu tham vấn nhưng cơ quan này không trực tiếp tham gia vào thủ tục tham vấn Các quốc gia khác có thể xin tham gia vào việc tham vấn này nếu Bên bị tham vấn thừa nhận rằng các quốc gia này có “quyền lợi thương mại thực chất” trong việc tham vấn này

Thông thường các quốc gia đều có gắng giải quyết các bất đồng ở giai đoạn tham vấn nhằm hạn chế đến mức tối đa các thiệt hại về lợi ích cho tất cả các bên đồng thời đảm bảo tính bí mật của các thông tin liên quan đến tranh chấp Tuy nhiên, các qui định về tham vấn trong WTO cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định

Trang 35

như: làm thế nào để định lượng hoặc kiểm nghiệm được việc thực hiện nghĩa vụ

“tham vấn một cách thông cảm” của Bên được yêu cầu tham vấn; trường hợp tham vấn đạt được một thoả thuận thì thông báo về kết quả tham vấn cần phải chi tiết đến mức nào để các Thành viên khác của WTO và cơ quan có thẩm quyền kiểm tra được tính hợp pháp của thoả thuận tham vấn (tránh hiện tượng thoả thuận đạt được đơn thuần chỉ là sự thoả hiệp về lợi ích giữa các bên mà không dựa trên các qui định của WTO và thực tế vi phạm vẫn tồn tại…)

Môi giới, Trung gian, Hòa giải (Good Office, Mediation, Consultation)

Bên cạnh thủ tục tham vấn, DSU còn qui định các hình thức giải quyết tranh chấp mang tính “chính trị” khác như môi giới, trung gian, hoà giải Các hình thức này được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, bí mật giữa các Bên tại bất kỳ thời điểm nào sau khi phát sinh tranh chấp (ngay cả khi Ban hội thẩm đã được thành lập và đã tiến hành hoạt động) Tương tự như vậy, các thủ tục này cũng có thể chấm dứt vào bất kỳ lúc nào DSU không xác định bên nào có quyền yêu cầu chấm dứt nên có thể hiểu là tất cả các bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu chấm dứt các thủ tục này

Chức năng môi giới, trung gian, hoà giải do Tổng Thư ký WTO đảm nhiệm [Điều 5 DSU] Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có qui định về việc liệu một cá nhân hoặc một

tổ chức có thể đứng ra đảm trách vai trò môi giới, trung gian, hoà giải này không

Với các ưu thế nhất định như tiết kiệm được về thời gian, tiền bạc, quan hệ hữu hảo giữa các bên tranh chấp… các phương thức chủ yếu dựa trên đàm phán ngoại giao này được DSU đặc biệt khuyến khích sử dụng [Điều 3.7 DSU], và việc tìm ra được một giải pháp hợp lý thoả mãn tất cả các bên tranh chấp có lẽ còn được coi trọng hơn cả việc đạt được một giải pháp phù hợp với các qui tắc thương mại trong Hiệp định

Giai đoạn giải quyết tại Ban hội thẩm

Thành lập Ban hội thẩm

Yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải được lập thành văn bản sau khi Bên được tham vấn từ chối tham vấn hoặc tham vấn không đạt kết quả kể từ khi có yêu cầu tham vấn [Điều 6, DSU] Tuy nhiên, như trên đã đề cập, yêu cầu thành lập Ban hội thẩm có thể đưa ra trước thời hạn này nếu các bên tranh chấp đều thống nhất

Trang 36

thành lập Ban hội thẩm phải nêu rõ quá trình tham vấn, xác định chính xác biện pháp thương mại bị khiếu kiện và tóm tắt các căn cứ pháp lý cho khiếu kiện Yêu cầu này được gửi tới DSB để cơ quan này ra quyết định thành lập Ban hội thẩm Nhờ có nguyên tắc đồng thuận phủ quyết nên hầu như quyền được giải quyết tranh chấp bằng hoạt động của Ban hội thẩm của nguyên đơn được đảm bảo

Thành viên Ban hội thẩm, nếu không được các bên thống nhất chỉ định sẽ do Tổng Giám đốc WTO chỉ định trong số các quan chức chính phủ hoặc các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực luật, chính sách thương mại quốc tế Trong trường hợp

có nhiều nước cùng yêu cầu thành lập Ban hội thẩm để xem xét cùng một vấn đề thì DSB có thể xem xét thành lập một Ban hội thẩm duy nhất Nếu vẫn phải thành lập các Ban hội thẩm riêng rẽ trong trường hợp này thì các Ban hội thẩm này có thể có chung các thành viên và thời gian biểu sẽ được xác định một cách hài hoà để các thành viên này hoạt động một cách hiệu quả nhất

Bất kỳ quốc gia thành viên nào có quyền lợi thực chất trong vấn đề tranh chấp đều có thể thông báo cho DSB về ý định tham gia vụ việc với tư cách là

Bên thứ ba Các Bên thứ ba này được tạo điều kiện để trình bày ý kiến bằng văn bản trước Ban hội thẩm

Hoạt động của Ban hội thẩm

Ban hội thẩm có chức năng xem xét vấn đề tranh chấp trên cơ sở các qui định trong các Hiệp định của WTO mà Bên nguyên đơn viện dẫn như là căn cứ cho đơn kiện của mình để giúp DSB đưa ra khuyến nghị hoặc quyết nghị thích hợp cho các bên tranh chấp

Thủ tục hoạt động của Ban hội thẩm được qui định tại Điều 12 DSU Ban hội thẩm, sau khi tham khảo ý kiến của các Bên liên quan sẽ ấn định một thời gian biểu cụ thể cho các phiên xét xử để các Bên trình bày văn bản giải trình tình tiết vụ việc và các lập luận liên quan; đại diện và luật sư của các Bên lần lượt trình bày ý kiến và trả lời các câu hỏi của Ban hội thẩm Sau các phiên xét xử và tập hợp đầy đủ ý kiến đóng hóp

của các Bên, trên cơ sở các ý kiến này, Ban hội thẩm soạn thảo Báo cáo chính thức để

gửi đến tất cả các thành viên WTO và chuyển cho DSB thông qua

Trang 37

Trong quá trình xem xét vụ việc, Ban hội thẩm có thể tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau hoặc thành lập nhóm chuyên gia để tư vấn cho Ban về các vấn đề kỹ thuật hoặc môi trường

Các phiên họp thảo luận và tài liệu lưu hành trong quá trình hoạt động của Ban hội thẩm phải được giữ bí mật nhằm đảm bảo tính khách quan, độc lập của Ban Tuy nhiên một Bên tranh chấp có quyền công khai các tài liệu mà mình đã cung cấp cho Ban hội thẩm

Khác với cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT, DSU có qui định hết sức chặt chẽ về các thời hạn cho hoạt động của Ban hội thẩm nhằm mục tiêu giải quyết nhanh chóng tranh chấp, tránh để quá lâu làm ảnh hưởng đến tính cạnh tranh

Thông qua báo cáo của Ban hội thẩm

Báo cáo của Ban hội thẩm được chuyển cho tất cả các thành viên WTO và được DSB thông qua trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Báo cáo được chuyển cho các thành viên trừ khi một Bên tranh chấp quyết định kháng cáo hoặc DSB đồng thuận phủ quyết Báo cáo

Báo cáo của Ban hội thẩm được lập thành văn bản trong đó phải có các nội dung sau: trình bày các tình tiết thực tế của vụ việc, tường trình về việc áp dụng các qui định của WTO trong các vấn đề liên quan, kết luận và các khuyến nghị cùng với các căn cứ dẫn tới kết luận, khuyến nghị đó

bí mật Việc xem xét và đưa ra Báo cáo phải được thực hiện với sự tham gia của các Bên tranh chấp

Cơ quan Phúc thẩm ra Báo cáo trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kháng cáo (trường hợp có yêu cầu gia hạn thì có thể kéo dài thêm 30 ngày nữa nhưng phải

Trang 38

thông báo lý do cho DSB biết) Báo cáo này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc loại bỏ các vấn đề và kết luận pháp lý của Ban hội thẩm Các Bên không có quyền phản đối Báo cáo này DSB thông qua Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ khi Báo cáo của SAB được chuyển đến tất cả các thành viên trừ khi DSB đồng thuận phủ quyết

ra những gợi ý về biện pháp dàn xếp thoả đáng, ví dụ: bồi thường)

Thi hành

Bên thua phải thông báo ý định về việc thi hành khuyến nghị tại buổi họp của DSB kể từ ngày thông qua Báo cáo Nếu không thực hiện được ngay, Bên đó có thể được gia hạn thực hiện trong một khoảng thời gian hợp lý (thời hạn này do DSB quyết định trên cơ sở đề nghị của các Bên; hoặc do các Bên tranh chấp thỏa thuận

kể từ ngày thông qua khuyến nghị; hoặc theo phán quyết trọng tài kể từ ngày thông qua khuyến nghị) DSB cũng là cơ quan giám sát việc thực thi khuyến nghị của các Bên liên quan Trong thời gian qui định cho việc thực hiện khuyến nghị, bất kỳ thành viên nào cũng có thể đưa vấn đề thực hiện khuyến nghị này vào chương trình nghị sự của DSB; mỗi khi có đề nghị như vậy thì Bên phải thực hiện khuyến nghị

có nghĩa vụ giải trình bằng văn bản về việc thực hiện khuyến nghị của mình gửi cho DSB trước khi tiến hành phiên họp của DSB

Bồi thường và Trả đũa

Bồi thường và trả đũa là các biện pháp giải quyết tạm thời được sử dụng nhằm đảm bảo lợi ích của Bên thắng trong thời gian Bên thua không thể thực hiện

Trang 39

được khuyến nghị của DSB Các biện pháp này không làm chấm dứt nghĩa vụ thực hiện khuyến nghị của Bên vi phạm

Cụ thể, nếu Bên thua tạm thời không thể thực hiện được khuyến nghị của DSB, các Bên tranh chấp có thể thỏa thuận về khoản bồi thường Việc bồi thường phải được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện và phù hợp với hiệp định có liên quan

Nếu các Bên không đạt được thỏa thuận về việc bồi thường kể từ khi hết hạn thực hiện khuyến nghị, Bên thắng kiện có thể yêu cầu DSB cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa song song (parralel retaliation) hoặc trả đũa chéo (cross-retaliation) Cần lưu ý là DSU nghiêm cấm việc trả đũa đơn phương mà không có

sự chấp thuận của cơ quan này (qui định này thực chất nhằm chấm dứt hiện tượng trả đũa đơn phương khá phổ biến trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của GATT 1947) Mức độ và thời hạn trả đũa do DSB quyết định theo đúng thủ tục qui định cho vấn đề này trong DSU

Trả đũa song song thực chất là việc Bên thắng không phải thực hiện các nhân nhượng thuế quan đối với hàng hoá của Bên thua trong cùng lĩnh vực mà Bên thắng

bị thiệt hại

Trả đũa chéo là hình thức trả đũa khác lĩnh vực bị thiệt hại trong trường hợp việc

trả đũa song song không thể thực hiện được (có thể trả đũa chéo lĩnh vực– khác lĩnh vực nhưng trong cùng phạm vi điều chỉnh của một hiệp định; hoặc trả đũa chéo hiệp định –

trả đũa trong một lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của một hiệp định khác nếu việc trả đũa song song và trả đũa chéo lĩnh vực đều không thể thực hiện được)

1.3.3 Thủ tục Trọng tài [10]

Ngoài các quy định về các giai đoạn giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp được WTO qui định, các nước thành viên của WTO còn có thể sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác Điều 25 Thỏa thuận DSU qui định các nước thành viên có thể giải quyết tranh chấp với nhau thông qua phương thức trọng tài đối với những tranh chấp nếu các nước này thỏa thuận nhất trí sử dụng cơ chế này và chấp nhận tuân thủ quyết định của trọng tài Do đó, thủ tục trọng tài có thể được các Bên tranh chấp thoả thuận sử dụng trong các trường hợp sau đây

Trang 40

Thứ nhất, trong khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp DSU: trọng tài có

thể được sử dụng trong các thủ tục sau: Xác định thời hạn thực hiện khuyến nghị trong trường hợp Bên thua không thể thực hiện ngay khuyến nghị; Xác định mức độ trả đũa trong trường hợp Bên thua có kiến nghị về vấn đề này Trong trường hợp này thủ tục trọng tài sẽ do các thành viên Ban hội thẩm ban đầu làm trọng tài viên Nếu các thành viên Ban hội thẩm không có điều kiện làm trọng tài viên thì trọng tài viên (là một cá nhân hoặc một tổ chức) sẽ do Tổng Thư ký WTO chỉ định

Trường hợp tranh cãi về mức độ trả đũa, trọng tài không đánh giá về bản chất biện pháp trả đũa mà chỉ xem xét xem mức độ Bên thắng kiện đình chỉ các nhân nhượng hoặc nghĩa vụ có tương đương với mức độ thiệt hại mà Bên thắng kiện đã phải chịu không

Thứ hai, ngoài khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp DSU: Các Bên tranh

chấp có thể thoả thuận lựa chọn cơ chế trọng tài độc lập để giải quyết tranh chấp của mình mà không cần sử dụng đến cơ chế của DSU (cơ chế sử dụng Ban hội thẩm, SAB…) DSU chỉ cho phép sử dụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp trong đó vấn đề tranh chấp đã được các bên xác định một cách rõ ràng và thống nhất Trong trường hợp này, quyết định lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài độc lập phải được các Bên tranh chấp thông báo đến tất cả các thành viên WTO trước khi thủ tục tố tụng được bắt đầu Các thành viên WTO chỉ có thể tham gia thủ tục tố tụng nếu được các Bên tranh chấp đồng ý

Quyết định giải quyết của trọng tài phải được các Bên tuân thủ nghiêm túc Các Bên có nghĩa vụ thông báo về quyết định này cho các thành viên WTO, cho Hội đồng hoặc cho Uỷ ban của Hiệp định có liên quan DSU qui định quyết định này của trọng tài phải phù hợp với các hiệp định có liên quan và không được gây thiệt hại cho bất kỳ thành viên nào khác của WTO Bất kỳ thành viên nào cũng có quyền đưa ra câu hỏi liên quan đến quyết định này

1.4 Các qui định đặc biệt về thủ tục giải quyết các tranh chấp áp dụng cho các nước đang phát triển

DSU cũng như các qui định về giải quyết tranh chấp trong các hiệp định riêng lẻ dành một số ưu tiên về thủ tục dành cho các quốc gia đang phát triển Đây

Ngày đăng: 04/03/2016, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w