Thẩm quyền xét xử sở thẩm của Toà án nhân dân là một trong những chế định quan trọng góp phần xác định Toà án nào có quyền thụ lí và giải quyết các vụ việc dân sự. Trong đó, việc xem xét xem Toà án nào được quyền thụ lí và giải quyết vụ án dân sự được thực hiện theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS). Hiện nay, theo quy định của pháp luật thì có bốn cách phân định về thẩm quyền, đó là: Thẩm quyền của Toà án theo loại việc, thẩm quyền của Toà án theo cấp, thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ và thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu. Chính vì tầm quan trọng của việc xác định thẩm quyền xét xử của Toà án trong BLTTDS đối với giải quyết vụ án dân sự nên em xin chọn đề tài: “Một số vấn đề về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015”
Trang 1MỤC LỤC
A Mở đầu 1
B Nội dung 2
I Khái quát chung 2
1 Khái niệm vụ án, thẩm quyền dân sự và ý nghĩa việc xác định thẩm quyền dân sự của Toà án 2
1.1 Khái niệm vụ án và thẩm quyền dân sự của Toà án 2
1.2 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền dân sự của toà án 3
II Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án 3
1 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự theo các loại tranh chấp 3
1.1 Các tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền của toà án 3
1.2 Những tranh chấp hôn nhân, gia đình thuộc thẩm quyền của toà án 7
1.3 Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Toà án 9
1.4 Những tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền của toà án 10
2 Thẩm quyền giải quyết vụ án của Toà án nhân dân theo cấp 11
3 Thẩm quyền giải quyết vụ án của toà án theo lãnh thổ 11
4 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự theo sự lựa chọn của nguyên đơn .12
III Một số bất cập và giải pháp kiến nghị 13
1 Một số bất cập 13
2 Một số kiến nghị 14
C Kết luận 14
Danh mục tài liệu tham khảo 15
Trang 2A Mở đầu
Thẩm quyền xét xử sở thẩm của Toà án nhân dân là một trong những chế định quan trọng góp phần xác định Toà án nào có quyền thụ lí và giải quyết các vụ việc dân sự Trong đó, việc xem xét xem Toà án nào được quyền thụ lí và giải quyết vụ
án dân sự được thực hiện theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) Hiện nay, theo quy định của pháp luật thì có bốn cách phân định về thẩm quyền, đó là: Thẩm quyền của Toà án theo loại việc, thẩm quyền của Toà án theo cấp, thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ và thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
Chính vì tầm quan trọng của việc xác định thẩm quyền xét xử của Toà án trong
BLTTDS đối với giải quyết vụ án dân sự nên em xin chọn đề tài: “Một số vấn đề
về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015” làm bài tiểu luận của mình Trong quá trình làm bài
do kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong sự giúp đỡ, chỉ bảo của thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3B Nội dung
I Khái quát chung
1 Khái niệm vụ án, thẩm quyền dân sự và ý nghĩa việc xác định thẩm quyền dân sự của Toà án
1.1 Khái niệm vụ án và thẩm quyền dân sự của Toà án
- Vụ án dân sự là vụ việc dân sự mà trong đó tòa án thụ lí và giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh – thương mại, lạo động.
Trong tiếng Việt, thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định Ở một số nước trên thế giới, thuật ngữ này được sử dụng với nghĩa tương tự, điểm chung về thẩm quyền ở các toà án đều được các nước thừa nhận là quyền xem xét giải quyết các vụ việc trong phạm
vi pháp luật cho phép và quyền hạn trong việc ra quyết định khi giải quyết các vụ việc đó Quyền xem xét giải quyết vụ việc và quyền ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó là hai nội dung quan trọng có mối quan hệ mật thiết nhau tạo thành thẩm quyền của toà án
Trên thế giới, về cơ bản các nhà lý thuyết về tố tụng của các nước theo hệ thống châu Âu lục địa và các nước theo hệ thống Anh – Mỹ đều đề cập vấn đề thẩm quyền của toà án trong tố tụng dân sự dưới hai góc độ là thẩm quyền theo loại việc
và thẩm quyền theo phạm vi lãnh thổ Theo cách tiếp cận này, thẩm quyền của toà
án được hiểu là khả năng của toà án trong việc xem xét giải quyết một vụ kiện căn
cứ vào bản chất của vụ việc (thẩm quyền theo loại việc) cũng như căn cứ vào phạm
vi lãnh thổ (thẩm quyền theo lãnh thổ)
Ở Việt Nam, xuất phát từ những đặc thù về tổ chức hệ thống toà án cho nên quan niệm về thẩm quyền của toà án trong tố tụng dân sự cũng có những điểm khác biệt Khái niệm về thẩm quyền của toà án được tiếp cận dưới ba góc độ là thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền của toà án các cấp và thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ Trên cơ sở đó, thẩm quyền dân sự của toà án được định nghĩa như sau:
- Thẩm quyền dân sự của toà án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự của toà án.
Khác với thẩm quyền xét xử hành chính và thẩm quyền xét xử hình sự của toà
án, thẩm quyền dân sự của toà án có những đặc trưng sau:
Toà án nhân danh quyền lực nhà nước, độc lập trong việc xem xét giải quyết và
ra các phán quyết đối với các vụ việc phát sinh từ các quan hệ mang tính tài sản,
Trang 4nhân thân được hình thành trên cơ sở binh đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận giữa các chủ thể với nhau;
Thẩm quyền dân sự của toà án được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự Do vậy, ngoài việc tuân thủ các quy tắc chung về tố tụng như toà án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, đảm bảo sự vô tư, khách quan v.v thì toà án khi xem xét giải quyết các vụ việc dân sự phải tôn trọng và đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên đương
sự Phạm vi xem xét giải quyết và quyền quyết định của toà án được gới hạn bởi những yêu cầu mà đương sự đưa ra cũng như trên cơ sở sự thoả thuận của học về những vấn đề có tranh chấp
1.2 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền dân sự của toà án
Việc xác định thẩm quyền giữa các toà án một cách hợp lý, khoa học tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ giữa các toà án với các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan toà án với nhau, góp phần tạo điều kiện cần thiết cho toà án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ việc dân sự, nâng cao được hiệu quả của việc giải quyết các vụ việc dân sự Bên cạnh đó, việc xác định thẩm quyền giữa các toà án một cách hợp lý, khoa học còn tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước toà án, giảm bớt những phiền phức cho đương sự
Ngoài ra, việc xác định thẩm quyền của các toà án một cách hợp lý, khoa học còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ cán bộ ở mỗi toà án và các điều kiện khác, trên cơ
sở đó có kế hoạch đáp ứng bảo đảm cho toà án thực hiện được chức năng nhiệm vụ
II Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án
1 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự theo các loại tranh chấp
Theo pháp luật hiện hành thì có bốn loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy định tại các Điều 26, Điều 28, Điều 30 và Điều 32 đó là: tranh chấp về dân sự, tranh chấp về hôn nhân gia đình, tranh chấp về kinh doanh – thương mại và tranh chấp về lao động
1.1 Các tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền của toà án
Các tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam
Đây là loại tranh chấp có tính chất đặc thù của một loại quan hệ về nhân thân
Đó là sự tranh chấp giữa hai bên về việc xác định quốc tịch của một chủ thể, thông thường là sự tranh chấp giữa cha và mẹ về quốc tịch của người con vị thành niên Trên cơ sở yêu cầu của các bên đương sự, toà án căn cứ vào các quy định của Luật quốc tịch để xác định quốc tịch cho đối tượng đang có tranh chấp, có yêu cầu về
Trang 5xác định quốc tịch Quy định này nhằm xác định quốc tịch Việt Nam cho cá nhân, đồng thời để chủ thể có thể hưởng các quyền khác liên quan đến quốc tịch
Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và các quyền khác đối với tài sản
Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản thuộc thẩm quyền của tòa án bao gồm các tranh chấp về quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản Trong trường hợp đối tượng của việc tranh chấp là các vật khác nhau của thế giới vật chất nhưng không phải là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự thì tòa án không có thẩm quyền thụ lý giải quyết
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ
Khác với tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản là động sản và bất động sản, các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền dân sự của tòa án bao gồm các tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Ngoài ra, các tranh chấp về hợp đồng chuyển giao công nghệ cũng thuộc thẩm quyền của tòa án Đối với các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ mà cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận thì được coi là tranh chấp về kinh doanh, thương mại
Khi giải quyết tranh chấp này tòa án có thẩm quyền buộc bên vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thực hiện các cam kết trong hợp đồng hoặc buộc bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra
Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự
Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết đối với các tranh chấp về giao dịch dân
sự và về hợp đồng dân sự phát sinh từ việc giao kết, thực hiện, sửa đổi và chấm dứt hợp đồng Ngoài ra, tòa án cũng có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh
từ các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như cầm cố, thế chấp, đặt cọc,
ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, phạt vi phạm
Hiện nay, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại, hợp đồng lao động đều thuộc thẩm quyền của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt giữa tranh chấp hợp đồng dân sự với hợp đồng thương mại, hợp đồng lao động Việc phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định luật nội dung được áp dụng để giải quyết tranh chấp, thời hiệu khởi kiện cũng như án phí mà các bên phải chịu
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Đây là tranh chấp về thiệt hại xảy ra mà trước đó, người bị thiệt hại và người gây thiệt hại không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan tới hợp đồng giữa các bên Ví dụ: Yêu cầu bồi thường thiệt
Trang 6hại do nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng gây
ra v.v
Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp về thừa kế như yêu cầu tòa án buộc người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản hoặc yêu cầu chia di sản thừa kế (theo pháp luật hoặc theo di chúc), xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác
Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật
Các tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí bao gồm nhiều loại Tuy vậy, chỉ những tranh chấp liên quan đến hoạt động báo chí mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của tòa án như tranh chấp về việc không đăng bài cải chính những tin tức xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của công dân, tranh chấp về bồi thường thiệt hại do báo chí đăng tin không đúng gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức v.v thì tòa án mới được thụ lý giải quyết
Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng
Quyền sử dụng đấy là loại tài sản đặc biệt, do vậy, các tranh chấp về quyền sử dụng đất thực chất cũng là một dạng tranh chấp về tài sản Quyền sử dụng đất được coi là tài sản và được pháp luật bảo hộ nếu như người sử dụng đất có đủ giấy tờ cần thiết chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của mình Theo quy định của luật đất đai 2013, toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai 1993, Luật đất đai 2003 hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất Tranh chấp đất đai bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất (có hoặc không gắn với tài sản trên đất) và tranh chấp về tài sản (có thể gắn liền hoặc không gắn liền với đất), việc sửa đổi này là cần thiết đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử
Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với rừng được giao, được thuê” Đồng thời pháp luật cũng xác định rõ: “Khi có các tranh chấp về quyền sử dụng rừng đối với các loại rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng do TAND giải quyết; các tranh chấp về quyền sử dụng đất có rừng, đất trồng rừng được áp dụng quy định của pháp luật đất đai” Căn cứ vào các quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
Trang 7năm 2004, BLTTDS 2015 đã bổ sung và ghi nhận chính thức thẩm quyền của Toà
án trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo
vệ và phát triển rừng
Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Văn bản công chứng bao gồm: hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được công chứng Trong trường hợp giữa người yêu cầu công chứng và công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng có tranh chấp liên quan đến hoạt động hành nghề công chứng thì các bên có quyền khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp đó Các tranh chấp giữa các bên liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu có bản chất là tranh chấp dân sự sẽ thuộc thẩm quyền dân sự của toà án
Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Thực chất đây là trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản bị cưỡng chế để thi hành án Tranh chấp này có thể nảy sinh giữa người phải thi hành với các đồng sở hữu chủ khác hoặc người thứ ba liên quan đến tài sản bị cưỡng chế kê biên Theo quy định của pháp luật, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhân được thông báo của chấp hành viên về việc cưỡng chế kê biên thì chủ sở hữu chung hoặc người thứ ba có tranh chấp về tài sản kê biên có quyền khởi kiện yêu cầu toà án xác định quyền sở hữu, sử dụng của họ Hết thời hạn trên mà các chủ thể
có tranh chấp không khởi kiện thì tài sản đã kê biên được xử lí theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự
Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Việc bán tài sản kê biên để thi hành án dân sự tuỳ từng trường hợp sẽ được bán thông qua hình thức bán đấu giá hoặc bán không qua thủ tục bán đấu giá Trong trường hợp tổ chức bán đấu giá hoặc chấp hành viên bán đấu giá tài sản để thi hành
án thì tranh chấp về kết quả bán đấu giá, về thanh toán chi phí đăng ký mua tài sản đấu giá sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án theo thủ tục tố tụng dân sự
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trng vụ án hành chính
BLTTDS 2015 quy định tranh chấp này thuộc thẩm quyền của toà án, nhằm phù hợp với Luật Cạnh tranh năm 2004 và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Theo quy định tại Điều 119 Luật Xử lí vi phạm hành chính năm 2012, biện pháp ngăn chặn hành chính có thể là: “tạm giữ người, tạm giữ tang vật,
Trang 8phương tiện vi phạm hành chính, giấy pháp chứng chỉ hành nghề,…” Khi các chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính nêu trên không đúng, gây thiệt hai cho bên bị điều tra thì bên khiếu nại hoặc cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh phải có trách nhiệm bồi thường tuỳ vào từng trường hợp Mức bồi thường do bên bị điều tra và bên khiếu nại hoặc cơ quan quản lí cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh tự thoả thuận Nếu không tự thoả thuận được thì bên bị điều tra có quyền khởi kiện tại toà án để yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự
Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước
Việc quy định tranh chấp về môi trường nói chung và tranh chấp về khai thác,
sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về bào vệ tài nguyên nước thực sự là một bước tiến mới trong BLTTDS 2015 Nếu như trong BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm
2011 các tranh chấp về môi trường chưa được đề cập tới một cách rõ ràng, cụ thể
mà mới chỉ được quy định trong các luật chuyên ngành Luật bảo vệ môi trường năm 2005 trước đây và Luật bảo vệ môi trường năm 2014 hiện nay quy định, việc giải quyết các tranh chấp môi trường sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Do đó, việc chính thức quy định cách thức giải quyết trên trong BLTTDS năm 2015 chính là một sự công nhận đối với cách giải quyết các tranh chấp môi trường, tạo hành lang pháp lý thống nhất trong hệ thống pháp luật
Ngoài những tranh chấp nói trên, Toà án cũng có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan
tổ chức khác theo quy định của pháp luật
1.2 Những tranh chấp hôn nhân, gia đình thuộc thẩm quyền của toà án
Tranh chấp về hôn nhân gia đình là một trong bốn lĩnh vực trong quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng, được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 Do đó, BLTTDS năm 2015 đã quy định về các tranh chấp về hôn nhân thuộc thẩm quyền của toà án tại Điều 28 của BLTTDS năm 2015 gồm:
Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, chia tài sản sau khi ly hôn
Theo Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, toà án giải quyết cho ly hôn khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại toà án không thành và nếu có căn
cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được
Trang 9Khi giải quyết ly hôn toà án áp dụng nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn quy định tại Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để phân chia tài sản sau ly hôn phù hợp và đúng pháp luật Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con
Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Vợ chồng đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt Nhưng thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ chồng muốn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bởi vợ chồng mâu thuẫn trong quản lý, sử dụng tài sản chung hoặc bởi vợ chồng mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn độc lập về tài sản… Từ thực tế đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Trong trườn hợp có tranh chấp thì vợ hoặc chồng có quyền đề nghị toà án giải quyết tranh chấp theo thủ tục quy định tại BLTTDS năm 2015
Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, theo đó, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con say khi ly hôn được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con: không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và hải tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ bảy tuổi trở lên Vì vậy, trong trường hợp xảy ra tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì theo yêu cầu của cha, mẹ toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là phù hợp và đảm bảo quyền, lợi ích của con sau khi cha mẹ ly hôn
Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ Hiện
nay, toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ
Tranh chấp về cấp dưỡng
Toà án có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha, mẹ và con; giữa anh chị với nhau; giữa ông bà nội, ngoại và cháu, giữa vợ
và chồng khi ly hôn mà các bên không thoả thuận được
Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Trang 10Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam ghi nhân quyền được sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Để phù hợp với luật nội dung thì luật hình thức mà ở đây là BLTTDS 2015 đã quy định Toà án có quyền thụ lý, giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự vẫn chưa mang tính chất triệt để khi quy định chỉ có tranh chấp phát sinh từ việc mang thai vì mục đích nhân đạo mới thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án, vậy trong trường hợp tranh chấp phát sinh
từ việc mang thai hộ vì mục đích thương mại sẽ thuộc về cơ quan, tổ chức nào Phải chăng việc quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015 “Toà án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì chưa có điều luật để áp dụng” là nhằm tránh việc phải quy định cụ thể rằng toà án cũng chính là cơ quan có thẩm quyền giải quyết vấn đề này
Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi huỷ kết hôn trái pháp luật
Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
1.3 Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Toà án Các vụ việc phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại rất đa dạng và phức tạp, các bên có thể lựa chọn phương thức giải quyết bằng con đường trọng tài hoặc khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết Đối với trường hợp các bên có thoả thuận trọng tài thì các vụ việc này sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại Toà án có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự nếu các bên không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài bị vô hiệu Theo đó, toà án
có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự các tranh chấp về kinh doanh, thương mại sau:
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
Cùng với ba loại việc nói trên, toà án còn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau