1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn thi hành án dân sự tại tỉnh sơn la

102 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 5,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác sự phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật và các ngành hữu quan chưa thống nhất, đồng bộ.Hệ thống văn bản pháp luật về thi hành án dân sự chưa đầy đủ, chậm được sửa đổi, bổ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM HỒNG QUYẾT

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TẠI TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 8380103

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH TRUNG TỤNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường đại học Luật Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Hồng Quyết

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CQTHADS Cơ quan Thi hành án dân sự

LTHADS năm 2014 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi,

bổ sung năm 2014 PLTHADS năm 1989 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989

PLTHADS năm 1993 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993

PLTHADS năm 2004 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004

TAND Tòa án nhân dân

THA Thi hành án

THADS Thi hành án dân sự

UBND Ủy ban nhân dân

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm củathi hành án và thi hành án dân sự 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thi hành án thi hành 7

1.1.2 Khái niệm, đặc điểmcủa thi hành án dân sự 10

1.2 Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về thi hành án dân sự 16

1.2.1 Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về việc ra quyết định thi hành án dân sự 16

1.2.1.1 Quyết định thi hành án dân sự chủ động 16

1.2.1.2 Quyết định thi hành án theo yêu cầu 17

1.2.1.3 Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định thi hành án 20

1.2.2 Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về ra các quyết định phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự 21

1.2.2.1 Quyết định chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự 21

1.2.2.2 Ủy thác thi hành án dân sự 23

1.2.2.3 Xác minh điều kiện thi hành án và xác định việc chưa có điều kiện thi hành án dân sự 24

1.2.2.4 Hoãn thi hành án dân sự 25

1.2.2.5 Tạm đình chỉ thi hành án dân sự 26

1.2.2.6 Đình chỉ thi hành án dân sự 27

1.2.3 Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án dân sự 28

1.2.3.1 Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự 28

1.2.3.2 Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 30

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH SƠN LA

VÀ KIẾN NGHỊ 38

2.1 Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La 38

2.1.1 Kết quả đạt được trong thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La 382.1.2 Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành án dân sự ở

tỉnh Sơn La 402.1.3 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi

dân sự 762.2.2.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tácthi hành án dân sự 77 2.2.2.5 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan Tòa án, Viện Kiểm sát,

Công an, các ngành hữu quan và cơ quan THADS 79KẾT LUẬN 82DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thi hành án là giai đoạn tiếp nối cuối cùng của quá trình tố tụng, nếu những phán quyết của Tòa án không được đưa ra thi hành thì các giai đoạn trước đó của quá trình tố tụng không có ý nghĩa trên thực tế, không bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Chính vì vậy, Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”1

Nhận thức tầm quan trọng của công tác thi hành án, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách về thi hành án dân sự như: Nghị quyết hội lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương đảng (khóa IX) ngày 3/2/2004 về tập trung thực hiện tốt công tác thi hành án, nhất là thi hành án dân sự, khắc phục

cơ bản án tồn đọng kéo dài; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/05/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020 Thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thi hành án dân

sự năm 1993, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và Quốc hội khóa XII

kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và có hiệu lực

từ ngày 1/7/2009, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân

sự năm 2014 ( viết tắt là LTHADS năm 2014) và có hiệu lực từ ngày 1/7/2015 Do vậy công tác thi hành án dân sự trong những năm qua đạt được một số kết quả đáng khích lệ, kết quả nổi bật nhất theo đánh giá của Chính

1

Điều 106 Hiến Pháp 2013

Trang 8

2

phủ là hệ thống cơ quan thi hành án dân sự được hình thành trong cả nước, công tác thi hành án dân sự đã được triển khai và hoạt động bước đầu có hiệu quả Tuy nhiên, công tác thi hành án dân sự vẫn đang đứng trước những khó khăn, tồn tại, bất cập đặt ra cần được giải quyết Hiệu quả công tác thi hành

án dân sự chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ

Đối với tỉnh Sơn La, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, cấp ủy và chính quyền các cấp, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của đội ngũ chấp hành viên, cán

bộ, công chức trong ngành, công tác thi hành án dân sự tỉnh Sơn La đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Kết quả thi hành án dân sự của tỉnh Sơn

La năm 2017 về việc tuy đạt cao hơn so với cùng kỳ nhưng số việc chuyển kỳ sau tăng Số tiền thu vượt so với cùng kỳ nhưng đạt tỷ lệ thấp so với chỉ tiêu được giao; số tiền chuyển kỳ sau lớn Đây là vấn đề bức xúc đặt ra trong công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La hiện nay Thực trạng này, một phần xuất phát từ nguyên nhân: ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận nhân dân nói chung và một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp còn yếu kém Mặt khác sự phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật và các ngành hữu quan chưa thống nhất, đồng bộ.Hệ thống văn bản pháp luật về thi hành án dân sự chưa đầy đủ, chậm được sửa đổi, bổ sung; chế tài đối với người chây ỳ không chấp hành án còn nhẹ; đội ngũ chấp hành viên ít về số lượng, trình độ không đồng đều, chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm còn hạn chế, chưa kiên quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế

Từ những lý do trên khẳng định cho việc lựa chọn đề tài " Thực tiễn thi hành án dân sự tại tỉnh Sơn La" cho luận văn thạc sĩ luật học của tác giả sẽ góp phần đánh giá được thực tiễn và những hạn chế, bất cập trong công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La để từ đó tìm ra nguyên nhân và những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc hiện nay

Trang 9

3

2 Tình hình nghiên cứu

Thi hành án dân sự là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thi hành án dân sự: Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Văn Quảng (1996): Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Công Long (2000): Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện; Luận văn thạc sĩ của Lê Xuân Hồng (2001): Xã hội hóa thi hành án dân sự; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Thủy (2001): Hoàn thiện pháp luật về thi hành

án dân sự Luận văn thạc sĩ : “Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Thái Bình” của tác giả Đỗ Thị Lý (2010); Luận án tiến sĩ: “Cưỡng chế thi hành án dân sự” của tác giả Lê Anh Tuấn (2017) Ngoài ra còn có nhiều công trình, nhiều bài báo đề cập đến các lĩnh vực của công tác thi hành án dân sự như: Thực tiễn thi hành án dân sự: vẫn nhiều án tồn đọng của tác giả Nhật Anh - Báo Người đại biểu nhân dân số ra ngày 16/01/2010; Mô hình tổ chức thi hành án một số nước trên thế giới- Thạc sĩ Nguyễn Văn Nghĩa - Tạp chí Nghề luật số

1 năm 2007; Để nâng cao chất lượng công tác thi hành án của tác giả Việt Anh - Tạp chí Cộng sản số 10 (154) năm 2008; Luật thi hành án dân sự và những điều bất cập - Báo Bình Thuận số ra ngày 05/4/2010 Đây là những công trình nghiên cứu công phu, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng

và hoàn thiện pháp luật về thi hành án ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ đề cập đến các vấn đề khác nhau của THADS, riêng việc nghiên cứu về thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La thì chưa được nghiên cứu và đề cập Do vậy, việc lựa chọn đề tài "Thực tiễn thi hành án dân

sự tại tỉnh Sơn La" được xem là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu và đánh giá về thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La hiện nay, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La,

Trang 10

4

từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật THADS nói chung và bảo đảm thực hiện pháp luật thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La nói riêng

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ được thực trạng của công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La thông qua việc nghiên cứu, phân tích những vụ việc cụ thể, đánh giá được những vướng mắc khó khăn hiện nay, tìm ra được nguyên nhân của những vướng mắc Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật THADS nói chung và bảo đảm thực hiện pháp luật thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La nói riêng, đảm bảo mọi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án phải được đưa ra thi hành

+ Đánh giá đúng đắn và toàn diện về thực tiễn THADS trên địa bàn tỉnh Sơn La trên cơ sở phân tích các vụ việc phức tạp, kéo dài và những vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án và giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS + Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật THADS nói chung

và bảo đảm thực hiện pháp luật thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La nói riêng

4 Phạm vi nghiên cứu

“Thực tiễn thi hành án dân sự tại tỉnh Sơn La” là một đề tài nghiên cứu

về thực tiễn của công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La nhưng có nội dung rộng và phức tạp Vì vậy trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ luật học, tác giả

Trang 11

5

tập trung nghiên cứu về các quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt độngra quyết định thi hành án, một số các quyết định phát sinh trong quá trình THADS và thực tiễn áp dụng các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án dân sự của các cơ quan THADS ở tỉnh Sơn La; đánh giá đúng thực tiễn hoạt động thi hành án dân sự tại tỉnh Sơn La từ năm 2013 cho đến nay, trên cơ sở

đó kiến nghị một số giải pháp nhằmhoàn thiện pháp luật THADS nói chung

và bảo đảm thực hiện pháp luật thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La trong những năm tiếp theo

Do giới hạn về số trang của luận văn thạc sĩ luật học ứng dụng nên luận văn không nghiên cứu về hệ thống CQTHADS và Thừa phát lại ở tỉnh Sơn

La, không nghiên cứu về thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia THADS

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận truyền thống của chủ nghĩa Mác- Lê nin đó là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử

- Cùng với các phương pháp trên, tác giả đã sử dụng các phương pháp thu thập thông tin, số liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp và nghiên cứu thực tiễn Đây là các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình thực hiện đề tài

Phương pháp thu thập thông tin chủ yếu được thực hiện thông qua báo cáo, các hồ sơ từng vụ việc thi hành án cụ thể của Cục và các Chi cục thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Sơn La, thông qua các bài viết, tạp chí…của các tác giả trên báo chí, internet để lấy số liệu liên quan đến quá trình nghiên cứu…

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích, tổng hợp các quy định của pháp luật về công tác thi hành án, cũng như thực tiễn áp

Trang 12

6

dụng pháp luật trong quá trình thi hành án ở Sơn La

6 Ý nghĩa và những điểm mới của luận văn

- Luận văn đã làm rõ hơn một số quan điểm cơ bản về thi hành án dân

sự như khái niệm THADS, đặc điểm, bản chất của THADS, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm cho hoạt động nghiên cứu khoa học về pháp luật THADS

- Từ việc đánh giá thực trạng công tác thi hành án dân sự tại tỉnh Sơn La, tác giả đã chỉ ra những hạn chế, khó khăn trong công tác thi hành án dân sự, luận giải nguyên nhân, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật THADS nói chung và bảo đảm thực hiện pháp luật thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Nhận thức chung về thi hành án dân sự

1.2 Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về thi hành án dân sự Kết luận chương 1

Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH SƠN LA

VÀ KIẾN NGHỊ

2.1 Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La

2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La

Kết luận chương 2

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 13

7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm củathi hành án và thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thi hành án thi hành

Để làm rõ khái niệm thi hành án dân sự ( viết tắt là THADS), trước hết cần làm rõ khái niệm thi hành án ( viết tắt là THA)

Dưới góc độ ngôn ngữ “thi hành” là: "Thực hiện điều đã chính thức

quyết định" 2 Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thi “thi hành án”

được hiểu là “thực hiện bản án, quyết định của Tòa án”3

, là việc đưa các bản

án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế Bản

án, quyết định của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính Tuy nhiên, cách giải thích này chưa hoàn chỉnh, bởi hiện nay THA không chỉ là việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án mà còn là việc thực hiện quyết định của Trọng tài và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.Dưới góc độ pháp lý, đến nay vẫn có các quan điểm khác nhau về khái niệm THA

Loại quan điểm thứ nhấtcho rằng THA là hoạt động tố tụng Song, THA

là hoạt động tố tụng nào và nằm ở giai đoạn nào của quá trình tố tụng thì lại

có những ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, THA là một giai đoạn tố tụng

và là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng Ý kiến khác cho rằng, THA

là một thủ tục tố tụng đặc biệt mang cả đặc trưng của tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính, THA vừa tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, vừa biểu hiện tính cưỡng chế của Nhà nước Có ý kiến lại cho rằng,

Trang 14

8

THA thuộc loại tố tụng "hỗn hợp" vì "THA có rất nhiều trình tự, thủ tục và đặc trưng giống các loại tố tụng khác"4

Loại quan điểm thứ hai,coi THA là hoạt động hành chính - tư pháp thì

cho rằng, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Toà án chấm dứt khi Toà án ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó Toà án đã xác định quyền, nghĩa vụ của các bên, còn việc thi hành phán quyết đó lại là một giai đoạn khác, không thuộc quá trình tố tụng THA không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì THA có mục đích khác với mục đích tố tụng; tố tụng là quá trình

đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn THA là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Toà án đã

có hiệu lực pháp luật5

Loại quan điểm thứ ba cho rằng, THA là hoạt động tư

pháp của Nhà nước nhằm đưa ra và đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật6

Xuất phát từ các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác THA ở nước ta, nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm cho rằng THA là hoạt động đặc thù, vừa có tính chất của hoạt động hành chính, vừa có tính chất của hoạt động tư pháp bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, cơ sở của hoạt động THA chủ yếu là các bản án, quyết định

dân sự của Tòa án Các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành bao gồm bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa

án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên

4 Chính phủ (2008), Tờ trình số 31/TTr-CP ngày 04/04/2008 về “Dự án Luật THADS, tr1

5 Lê Minh Tâm (2001), "Thử bàn về lý luận THA", Luật học, số 2/2001

6

Lê Minh Tâm (2001), "Thử bàn về lý luận THA", Luật học, số 2/2001

Trang 15

9

phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành)

Thứ hai, THA là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ

mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó Tuy nhiên, THA lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định THA của người có thẩm quyền Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc THA

Thứ ba, THA và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả

với nhau Nếu bản án, quyết định của Tòa án tuyên rõ ràng, cụ thể thì việc THA sẽ dễ dàng, nhanh chóng Ngược lại, nếu bản án, quyết định đó không

rõ ràng, không khách quan, thiếu tính khả thi sẽ gây khó khăn cho việc THA Đồng thời, việc THA nhanh chóng, kịp thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, góp phần củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử

Thứ tư, bản chất của THA là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp

hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa

án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình Mục đích cuối cùng của THA

là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trên thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của hoạt động hành chính

Từ các phân tích trên, tác giả đồng tình với khái niệm về thi hành án:

“Thi hành án là thủ tục tố tụng tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm

quyền tiến hành để thi hành bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước, tổ chức khác do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cả các cơ quan, tổ chức và

Trang 16

10

1.1.2 Khái niệm, đặc điểmcủa thi hành án dân sự

Ngoài các đặc điểm chung của THA, THADS còn có những đặc điểm riêng như sau:

- Thứ nhất, THADS là một dạng hoạt động mang tính hành chính – tư pháp của nhà nước, thể hiện quyền lực nhà nước, do CQTHADS và Thừa

phát lại thực hiện, bảo đảm hiệu lực thực tế của các BA, QĐ về dân sự của

TA bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước Tính quyền lực nhà nước trong THADS được thể hiện ở chỗ, cơ quan, tổ chức THADS có quyền ra quyết định THA dân sự, buộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải tuân thủ, nghiêm chỉnh chấp hành Trong trường hợp người phải THADS không tự nguyện THADS thì cơ quan, tổ chức THADS có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế THADS, buộc người phải THADS phải chấp hành bản

án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành

- Thứ hai, THADS chủ yếu là thi hành các quyết định của TA mang tính chất tài sản - đặc trưng của quan hệ dân sự, vì vậy, quyền tự định đoạt của

đương sự luôn được tôn trọng trong suốt quá trình THA Điều này khác với THA hình sự, người được THA trong THADS luôn giữ vai trò chủ động, có quyền quyết định việc có đưa ra yêu cầu THA hay không? đưa ra vào thời điểm nào (miễn là trong thời hiệu quy định), yêu cầu THA một phần hay toàn

bộ quyết định của bản án

Trong THADS, các bên có quyền thỏa thuận với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức THA, song việc thỏa thuận đó phù hợp phải không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội

Thứ ba, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương

sự, nên khác với THA hình sự, trong một số trường hợp cụ thể, CQTHA có

thể lựa chọn biện pháp thích hợp để việc THA được nhanh chóng, đạt hiệu quả trên cơ sở thỏa thuận của các đương sự Trong những trường hợp này việc

Trang 17

11

THA không nhất thiết phải theo đúng như nội dung quyết định của bản án mà

TA đã tuyên Ngoài ra, trong từng loại hình cụ thể của THADS lại có những đặc trưng riêng phù hợp với từng loại bản án, quyết định đó Chẳng hạn, đối với việc THA các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại thì giá trị tài sản phải thi hành thường rất lớn và việc thi hành có phần thuận lợi hơn so với THADS Bởi lẽ, người phải THA là những doanh nghiệp, tổ chức có tư cách pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh, có tài khoản riêng, cho nên, CQTHA có điều kiện thuận lợi hơn trong việc điều tra, xác minh tài sản, khấu trừ vào tài khoản hoặc phong tỏa tài khoản bảo đảm cho việc THA đạt hiệu quả Đối với THA lao động, thường là các quyết định cần phải được thi hành ngay và các biện pháp cưỡng chế thường là biện pháp trừ vào thu nhập của người phải THA Đối với việc thi hành các quyết định về tài sản, quyền tài sản trong các BA, QĐ của TA về hành chính nên việc THA thường được thực hiện giữa một bên là cơ quan, tổ chức, cá nhân, còn bên kia là cơ quan nhà nước; thủ tục THA hành chính là thủ tục hành chính và thủ tục THADS Trong THA hành chính, người phải THA, nếu là cơ quan nhà nước, thì việc thi hành thường gặp rất nhiều khó khăn do các cơ quan nhà nước hoạt động bằng ngân sách nhà nước, trong các mục chi ngân sách, chưa có khoản nào được dành cho việc THA hành chính nên thường phải áp dụng các quy định

về hỗ trợ tài chính từ ngân sách Nhà nước

Ở Việt Nam hiện nay có ba loại hình THA chủ yếu: THA hình sự, THA hành chính và THADS, trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn về thủ tục thi hành án dân sự So với THA hình sự và THA hành chính, THADS là cách thức, trình tự tổ chức thi hành bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành Nên THADS khác với THA hình sự về đối tượng thi hành, chủ thể tổ chức THA và thủ tục THA

Trang 18

12

- Về đối tượng THADS, là những phán quyết của các cơ quan như Tòa

án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh

Thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, xét xử chính là tiền đề của thi hành án dân sự Cơ sở của hoạt động THA chủ yếu là các bản án, quyết định dân sự của Tòa án Các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành bao gồm bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản

án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành)

- THADS là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật

thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó Tuy nhiên, THA lại có tính

độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng Cơ quan THADS đối với THADS Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả chủ thể có trách nhiệm và nghĩa

vụ liên quan đến việc THA

Hoạt động thi hành án lệ thuộc và chịu sự chi phối của hoạt động xét xử, bởi lẽ thi hành án được tiến hành dựa trên BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Nói cách khác, căn

cứ pháp lý để thi hành án là bản án, quyết định của các cơ quan nói trên đã có hiệu lực pháp luật Ngược lại, THADS tiếp nối với xét xử làm cho BA, QĐ được thực hiện trên thực tế Sau khi có bản án, quyết định của tòa án, trọng tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trên cơ sở của bản án, quyết định do Tòa án và các cơ quan này chuyển giao hoặc đơn yêu cầu THA của đương

Trang 19

13

sự, CQTHADS ra quyết định thi hành và thụ lý, tổ chức việc thực hiện thi hành án THADS là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án; trong quá trình thi hành án, Chánh

án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu CQTHA hoãn việc THA, quyết định tạm đình chỉ THA để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm ) Tuy nhiên, THA lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng CQTHADS đối với THADS Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc THA Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có

nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả Nhằm

bảo đảm hiệu lực thi hành của các bản án, quyết định của các cơ quan Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này được quy định tại các Điều từ Điều 465 đến Điều 467 BLTTDS năm 2015, Điều 66, 67 Luật Trọng tài thương mại, từ Điều 134 đến Điều 135 NĐ số 116/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh và các Điều 26, 27, 28, 48, 49 và 179 LTHADS năm 2014

Với ý nghĩa có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết với giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử - thi hành án nhằm thi hành phán quyết của các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Cụ thể, khoản 2

Điều 121 Luật cạnh tranh năm 2004 quy định“Trường hợp quyết định xử lý

vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành thì bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan THADS tỉnh, TP trực thuộc Trung ương nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải THA tổ chức thực hiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh” Đối với việc thi hành quyết

định của Trọng tài thương mại cũng được quy định tại Điều 66, 67 Luật

Trang 20

14

Trọng tài thương mại năm 2010: “Phán quyết của trọng tài được thi hành

theo quy định của Pháp luật về THADS” Như vậy, nếu mục đích của thi hành

án không đạt được thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô nghĩa Nếu như một bản án, quyết định của Tòa án

có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường Chính

vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án là một yêu cầu khách quan trong hoạt động quản lý Nhà nước

-Về chủ thể tổ chức THADS, THADS do cơ quan, tổ chức thi hành án thực hiện

Tùy theo mô hình THA dân sự của mỗi nước khác nhau mà cơ quan thực hiện hoạt động tổ chức THA dân sự cũng khác nhau Ở Việt Nam hiện nay, ngoài cơ quan THADS của Nhà nước còn có tổ chức Thừa phát lại thực hiện thí điểmtại thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay nhân rộng ra phạm vi cả nước theo Nghị quyết số 107 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về về thực hiện chế định Thừa phát lạithì một số thủ tục THADS do văn phòng thừa phát lại thực hiện như: Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc CQTHADS; lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện THA theo yêu cầu của đương sự; trực tiếp tổ chức THA các BA, QĐ của Tòa án theo yêu cầu của đương sự Thừa phát lại không tổ chức THA các

BA, QĐ thuộc diện Thủ trưởng CQTHADS chủ động ra quyết định THA

- Về thủ tục THADS, THADS bao gồm nhiều thủ tục khác nhau và khác

với thủ tục THA hình sự

Thủ tục THADS do pháp luật quy định, Chấp hành viên cũng không được đặt ra trình tự, thủ tục và không tùy tiện trong quá trình tổ chức thực hiện THA mà phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật Quá trình THADS thực hiện thông qua nhiều thủ tục và theo một trình tự nhất định Thủ tục THA bao gồm nhiều bước để đưa một bản án, quyết định của Tòa án ra thi hành

Trang 21

15

Đầu tiên là thủ tục cấp, chuyển giao BA, QĐ của Tòa án cho đương sự

và CQTHADS để thi hành; cùng với đó là thủ tục gửi và giải thích BA, QĐ của Tòa án nhằm mục đích để các cơ quan thực thi pháp luật có cách hiểu thống nhất đối với các BA, QĐ đảm bảo cho việc CQTHA thực thi đúng bản chất của sự việc, đúng pháp luật, đúng phán quyết của Tòa án và các cơ quan khác Tiếp theo đến thủ tục yêu cầu THA của đương sự, nộp đơn yêu cầu THA, thủ tục nhận hoặc từ chối nhận đơn của CQTHADS Và bước quan trọng là thủ tục ra quyết định THA của thủ trưởng CQTHADS, trong quá trình THA có thể phát sinh các thủ tục như hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA, trả lại đơn yêu cầu THA, xác minh THA… cho đến chuyển giao quyền và nghĩa vụ THA, nộp phí thi hành án, cưỡng chế thi hành án… rồi cuối cùng kết thúc THA Trong quá trình THADS, ở mỗi giai đoạn thực hiện từng thủ tục là khác nhau và các thủ tục này liên kết toàn bộ quá trình thi hành án dân sự Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án, có những thủ tục không phải thực hiện hoặc có những thủ tục phải thực hiện ngay ở giai đoạn đầu, giữa hoặc sau khi

đã thi hành xong việc thi hành án, ví dụ như thủ tục giải quyết khiếu nại hoặc thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát

Như vậy, qua những phân tích ở trên có thể rút ra khái niệm về THADS

như sau: Thi hành án dân sự là thủ tục tố tụng tư pháp do cơ quan thi hành án

dân sự, tổ chức thi hành án (Thừa phát lại) để thi hành các bản án, quyết định

về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định về hình sự, hành chính có hiệu lực thi hành của Tòa án, quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cả các cơ quan, tổ chức thủ tục thi hành án dân sự

là trình tự thi hành và quyết định khác do Cơ quan, tổ chức thi hành án dân

sự thực hiện theo qui định pháp luật

Trang 22

16

1.2 Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về thi hành án dân sự

1.2.1.Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về việc ra quyết định thi hành án dân sự

Các quy định về thủ tục THADS được quy định tại Chương III LTHADS, từ Điều 26 đến Điều 65 và quy định tại Nghị định số 62/2015/NĐ-

CP ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THA dân sự về thủ tục THA dân sự

1.2.1.1.Quyết định thi hành án dân sự chủ động

Các trường hợp THADS chủ động được quy định tại Điều 36 LTHADS Theo đó, Thủ trưởng cơ quan THA dân sự có thẩm quyền chủ động ra quyết định THA và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành đối với phần bản án, quyết định sau: a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; b) Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; d) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; đ) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; e) Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản

Đối với trường hợp THADS chủ độngthì cơ quan, tổ chức ban hành bản

án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành chủ động chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan THADS theo quy định của pháp luật tố tụng và Điều

28 LTHADS Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 36, Thủ trưởng cơ quan THA dân sự phải ra quyết định THA.Đối với quyết định quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 36 thì phải ra ngay quyết định THA Đối với quyết định quy định tại điểm e khoản 2 Điều 36 thì phải ra quyết định THA trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định Theo khoản 1 Điều 6

NĐ 62/2015/NĐ-CP thì Thủ trưởng cơ quan THA dân sự ra một quyết định

Trang 23

17

THA chung cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành trong một bản án, quyết định, trừ trường hợp: (i) Trong một bản án, quyết định có khoản chủ động về trả lại tiền, tài sản thì ra một quyết định THA đối với mỗi người được THA; (ii) Trong một bản án, quyết định có nhiều người phải thi hành nhiều khoản chủ động khác nhau thì ra một quyết định THA chung cho các khoản thuộc diện chủ động THA đối với mỗi người phải THA

1.2.1.2 Quyết định thi hành án theo yêu cầu

Ngoài các trường hợp THADS chủ động, người được THA, người phải THA muốn thi hành bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành thì phải làm đơn yêu cầu THADS Đối với trường hợp THADS theo đơn yêu cầu thì

cơ quan, tổ chức ban hành bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành cấp bản án, quyết định cho người được THA và người phải THA theo quy định của pháp luật tố tụngvà Điều 27 LTHADS

Đơn yêu cầu THADS phải thỏa mãn các điều kiện sau:

+ Người làm đơn yêu cầu THA phải là người có quyền yêu cầu THADS Theo Điều 7 và Điều 31 LTHADS thì người được THA, người phải THA hoặc người được đương sự ủy quyền THA có quyền làm đơn yêu cầu THADS Như vậy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong THADS không có quyền làm đơn yêu cầu THADS

+ Đơn yêu cầu THADS phải được gửi đến cơ quan THADS có thẩm quyền theo Điều 35 LTHADS8 Thông thường, cơ quan THADS có thẩm quyền THA là cơ quan THADS cùng cấp trên cùng địa bàn với Tòa án nơi xét

xử sơ thẩm Do luật Tổ chức TAND năm 2014 có sự thay đổi về cơ cấu, tổ chức hệ thống cơ quan Tòa án, thành lập thêm TAND cấp cao nên thẩm quyền THADS cũng có sự thay đổi cho phù hợp Theo đó, cơ quan THADS cấp huyện có thẩm quyền thi hành đối với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm

8

Giáo trình Luật THADS, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr…

Trang 24

18

của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan THA dân sự có trụ sở Cơ quan THADS cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định của TAND cấp cao

+ Đơn yêu cầu THA phải được gửi trong thời hiệu yêu cầu THA Thời hiệu yêu cầu THA dân sự là thời hạn do pháp luật quy định cho người được THA, người phải THA có quyền yêu cầu cơ quan THA dân sự, thừa phát lại

tổ chức THA dân sự Thời hiệu yêu cầu THA dân sự chỉ đặt ra đối với phần bản án, quyết định thi hành theo yêu cầu của đương sự Thời hiệu yêu cầu THA dân sự được quy định tại Điều 30 LTHADS và Điều 4 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 Thời hiệu yêu cầu THADS có thể được khôi phục trong những trường hợp này đã được quy định tại khoản 3 Điều 30 LTHADS và khoản 2, khoản 3 Điều 4 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015

+ Việc yêu cầu THADS được thực hiện bằng việc nộp, gửi đơn yêu cầu THA cho cơ quan THADS có thẩm quyền THA qua bưu điện hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan THADS có thẩm quyền THA Đơn yêu cầu THADS phải có các nội dung quy định tại Điều 31 LTHADS Trong đó, người làm đơn yêu cầu THADS không bắt buộc phải cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện THA của người phải THA, nhưng khuyến khích họ cung cấp thông tin.Người yêu cầu THA cũng có quyền yêu cầu cơ quan THA dân

sự áp dụng biện pháp bảo đảm THA quy định tại Điều 66 LTHADS ngay khi yêu cầu THADS.Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan THADS trong việc tổ chức THADS và trách nhiệm của người được THA đối với yêu cầu của mình

So với LTHADS năm 2008, LTHADS năm 2014đã bỏ điểm đ, khoản 1 Điều 31 Điểm đ, khoản 1 của Điều 31 Luật THADS năm 2008 quy định: người được THA khi nộp đơn yêu cầu phải cung cấp thông tin khả năng (hoàn

Trang 25

19

cảnh kinh tế…) về tài sản hoặc điều kiện của người phải THA và thông tin này phải được chính quyền địa phương xác nhận Quy định này rất khó áp dụng trên thực tế bởi người được THA và người phải THA có thể ở những địa phương khác nhau thì không thể biết hết được hoàn cảnh kinh tế của nhau.Bên cạnh đó, khi xác minh được rồi, việc nhờ chính quyền địa phương nơi bên phải THA cư trú để xác nhận đóng dấu cũng không phải dễ Mặt khác, thông tin do người được THA cung cấp không mang tính chính xác cao bởi có khi người được THA cứ nghe dư luận là ghi lại còn địa phương nơi nào

dễ dãi thì cứ đóng dấu xác nhận cho xong việc, còn chấp hành viên nhiều khi vẫn phải tiến hành xác minh lại thông tin nếu muốn tiến hành áp dụng các biện pháp cưỡng chế

Theo quy định tại khoản 4 Điều 31 LTHADS, khi nhận đơn yêu cầu THA, cơ quan THADS phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận đơn yêu cầu THA và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu Đối với trường hợp đơn yêu cầu THA không có đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật hoặc không nêu rõ thông tin về điều kiện THA của người phải THA và không yêu cầu xác minh thì cơ quan THA dân sự thông báo để đương sự bổ sung nội dung đơn yêu cầu THA trước khi quyết định THA Đối với trường hợp đơn yêu cầu THA không có đầy đủ các điều kiện THA theo quy định của pháp luật thì cơ quan THA dân sự từ chối nhận đơn yêu cầu THA theo Điều 34 LTHADS

Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 LTHADS, thời hạn ra quyết định THA trong trường hợp THA theo yêu cầu của đương sự là 05 ngày làm việc,

kể từ ngày nhận được yêu cầu THA Tùy trường hợp, thủ trưởng cơ quan THA dân sự có thể ra một hoặc nhiều quyết định THA Theo quy định tại Điều 6 và Điều 7 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 thì đối với trường hợp THA theo yêu cầu thì thủ trưởng cơ quan THA dân sự ra

Trang 26

20

một quyết định THA cho mỗi đơn yêu cầu THA Nếu trong bản án, quyết định

có một người phải THA cho nhiều người được THA và các đương sự có đơn yêu cầu THA vào cùng thời điểm thì thủ trưởng cơ quan THA dân sự có thể ra một quyết định THA chung cho nhiều đơn yêu cầu THA

Trong trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ thể theo bản án, quyết định mà chỉ có một hoặc một số người có đơn yêu cầu THA thì thủ trưởng cơ quan THA dân sự ra quyết định THA đối với những người đã có đơn yêu cầu THA đồng thời thông báo cho những người được THA chưa có đơn yêu cầu THA biết để họ làm đơn yêu cầu THA trong thời hạn 30 ngày, kể

từ ngày được thông báo hợp lệ Hết thời hạn này, nếu người được thông báo không yêu cầu THA thì chấp hành viên tổ chức giao tài sản cho người được THA đã có đơn yêu cầu THA quản lí Quyền và lợi ích hợp pháp của những người được THA đối với tài sản được giải quyết theo thoả thuận hoặc quy định của pháp luật

Đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới thì thủ trưởng cơ quan THA dân sự ra một quyết định THA chung cho những người có quyền, nghĩa

vụ liên đới Trường hợp người được THA chỉ yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải THA thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì thủ trưởng cơ quan THA dân sự ra quyết định THA đối với người đó

1.2.1.3 Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định thi hành án 9

Trong quá trình THA có thể phát hiện được những sai sót của quyết định THA Để xử lí những vấn đề này, pháp luật THADS quy định người có thẩm quyền ra quyết định THA có quyền ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, huỷ quyết định THA Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 LTHADS, người có thẩm quyền ra quyết định THA có quyền ra quyết định thu hồi quyết định THA trong trường hợp quyết định về THA được ban hành không đúng thẩm

9 Giáo trình Luật THADS, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr 136-142

Trang 27

21

quyền; quyết định về THA có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc; căn cứ ra quyết định về THA không còn hoặc trong trường hợp chuyển giao quyền, nghĩa vụ THA

Theo quy định tại khoản 2 Điều 37 LTHADS, người có thẩm quyền ra quyết định THA, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về THA có quyền

ra quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định THA trong trường hợp quyết định

về THA có sai sót mà không làm thay đổi nội dung vụ việc THA Theo quy định tại khoản 3 Điều 37 LTHADS, người có thẩm quyền ra quyết định THA, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về THA có quyền ra quyết định huỷ quyết định THA của thủ trưởng cơ quan THA dân sự cấp dưới trong trường hợp phát hiện có các căn cứ thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định THA quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 37 LTHADS mà thủ trưởng cơ quan THA dân sự cấp dưới không tự khắc phục sau khi được yêu cầu hoặc quyết định THA có vi phạm pháp luật theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ quyết định THA phải ghi rõ căn cứ, nội dung và hậu quả pháp lí của việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ

1.2.2 Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về ra các quyết định phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự

1.2.2.1 Quyết định chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự 10

Trong quá trình THADS, nếu xảy ra trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan là cá nhân chết hoặc cơ quan, tổ chức hợp nhất, sáp nhập, giải thể, chia, tách thì sẽ dẫn đến việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ THADS Ngoài ra, trong thi hành án dân

sự, các đương sự có quyền tự định đoạt nên có quyền thoả thuận việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án cho người khác Việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án trong các trường hợp cụ thể được thực hiện theo quy

10

Giáo trình Luật THADS, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr 162-166

Trang 28

22

định tại Điều 54 LTHADS Theo đó, đối với cơ quan, tổ chức hợp nhất, sáp nhập , chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi công ty thì quyền, nghĩa vụ THADS được thực hiện theo quyết định về phá sản hoặc Luật Doanh nghiệp năm 2014

Theo quy định tại khoản 2 Điều 54 LTHADS, việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật về thừa kế và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 15 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015

Ngoài ra, các đương sự có quyền thỏa thuận về việc chuyển giao quyền nghĩa vụ thi hành án cho người thứ ba Tuy nhiên theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 thì việc thỏa thuận không được ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của của tổ chức, cá nhân khác và phải được lập thành văn bản có chữ ký xác nhận của người chuyển giao, người nhận chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án Trường hợp người được thi hành án chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền được thi hành án của mình cho người thứ ba thì người thứ ba trở thành người được thi hành án tương ứng với phần quyền được chuyển giao và có các nghĩa vụ của người được thi hành án theo quy định của LTHADS Người chuyển giao quyền về thi hành án phải thông báo bằng văn bản cho người phải thi hành án,

cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án biết về việc chuyển giao quyền về thi hành án Việc chuyển giao quyền về thi hành án không cần

có sự đồng ý của người phải thi hành án, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác Trường hợp người phải thi hành án chuyển giao nghĩa vụ thi hành án cho người thứ ba thì phải được sự đồng ý của người được thi hành án

Trang 29

23

Khi quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao thì tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án hoặc phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với cá nhân, tổ chức mới tương ứng với quyền, nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao và ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án trước đây Đối với các quyết định, thông báo khác về thi hành án thì tùy từng trường hợp cụ thể mà cơ quan thi hành án dân sự giữ nguyên, thu hồi hoặc ra các quyết định, thông báo khác phù hợp theo quy định của pháp luật

1.2.2.2.Ủy thác thi hành án dân sự 11

Để đảm bảo hiệu quả của THADS, trong trường hợp bản án, quyết định

có liên quan đến nhiều người phải thi hành án ở những nơi khác nhau, tài sản, thu nhập của người phải thi hành án ở những nơi khác nhau hoặc trong quá trình thi hành án người phải thi hành án chuyển đi nơi khác thì cơ quan THADS cần phải ủy thác THADS Việc ủy thác thi hành án dân sự được thực hiện các nguyên tắc theo Điều 55 LTHADS Ngoài ra, đối với việc ủy thác thi hành án về tài sản theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 còn phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng; đối với loại tài sản khác thì

có thể ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có tài sản tổ chức thi hành

- Trường hợp người phải thi hành án có nhiều tài sản ở nhiều nơi thì thực hiện ủy thác theo thứ tự sau: (1) Theo thỏa thuận của đương sự; (2) Nơi có tài sản đủ để thi hành án; (3) Trường hợp một tài sản không đủ để thi hành án thì

ủy thác đến nơi có tài sản giá trị lớn nhất, nơi có nhiều tài sản nhất

11

Giáo trình Luật THADS, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr 143-147

Trang 30

24

- Trường hợp bản án, quyết định tuyên tài sản bảo đảm cho khoản phải thi hành án cụ thể mà tài sản đó ở nơi khác thì có thể ủy thác khoản phải thi hành án mà tài sản đó bảo đảm cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có tài sản bảo đảm

Thẩm quyền và thủ tục uỷ thác THA của các cơ quan THADS được thực hiện theo quy định tại Điều 56 LTHADS

1.2.2.3 Xác minh điều kiện thi hành án và xác định việc chưa có điều kiện thi hành án dân sự 12

Để tổ chức thi hành án dân sự được nhanh chóng và đúng đắn, ngoài việc nắm vững nội dung quyết định bản án, quyết định được đưa ra thi hành, nội dung yêu cầu thi hành án của đương sự thì cơ quan thi hành án dân sự còn phải nắm vững được tất cả những vấn đề khác liên quan đến việc thi hành án như địa chỉ, tài sản, thu nhập v.v của người phải thi hành án Trong thi hành

án dân sự người phải thi hành án thường giấu giếm các thông tin về địa chỉ, tài sản, thu nhập của họ v.v để trốn tránh việc thi hành án nên người được THA không thể cung cấp thông tin về điều kiện THA của người phải THA cho cơ quan THADS Trong những trường hợp này, để tổ chức thi hành án đạt hiệu quả thì cơ quan thi hành án phải thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án Việc xác minh điều kiện thi hành án được quy định tại Điều 44 LTHADS, Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CPngày 18/7/2015 và Điều 3 Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sựvà phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự Theo các quy định này, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án chấp hành viên phải tiến hành việc xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn

12 Giáo trình Luật THADS, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr 151-158

Trang 31

25

cấp tạm thời thì phải xác minh ngay Các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức THADS trong việc xác minh điều kiện THADS

Khi tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án.Việc xác minh đối với tài sản thuộc diện phải đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản thì tùy từng trường hợp

cụ thể mà chấp hành viên căn cứ vào một trong các giấy tờ sau: hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc tặng cho, giấy chứng nhận về quyền sở hữu, sử dụng tài sản hoặc thông qua chủ sở hữu, chính quyền địa phương, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan chức năng hoặc người làm chứng như xác nhận của người bán, của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng về việc mua bán tài sản

Ngoài ra, người được thi hành án cũng có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự Căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 44a LTHADS

1.2.2.4.Hoãn thi hành án dân sự 13

Hoãn thi hành án là việc cơ quan thi hành án dân sự quyết định chưa tổ chức thi hành bản án, quyết định khi có căn cứ pháp luật quy định Việc hoãn thi hànhán được thực hiện theo các căn cứ quy định tại Điều 48 LTHADS Thời hạn hoãn thi hành án trong trường hợp người có thẩm quyền kháng nghị yêu cầu hoãn thi hành án không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án Đối với các trường hợp khác, thời hạn hoãn thi hành án cho đến khi lí do của việc hoãn không còn nữa

13 Giáo trình Luật THADS, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr170-174

Trang 32

26

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án có thẩm quyền ra quyết định hoãn thi hành án Khi có căn cứ hoãn thi hành án thì chấp hành viên chịu trách nhiệm thi hành án đề nghị thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án Đối với việc hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có yêu cầu hoãn thi hành án phải có văn bản gửi cho

cơ quan thi hành án dân sự, trong đó ghi rõ thời hạn hoãn thi hành án Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án ngay khi nhận được yêu cầu nhưng ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành

án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế Trường hợp cơ quan thi hành

án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị

ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết

05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của toà án Người có thẩm

14 Giáo trình Luật THADS, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr 174-176

Trang 33

27

quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền tạm đình chỉ thi hành án bản án, quyết định

bị kháng nghị Việc quyết định tạm đình chỉ thi hành án trong trường hợp này

có thể thực hiện ngay khi ra quyết định kháng nghị hoặc sau khi có quyết định kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Sau khi có quyết định tạm đình chỉ thi hành án các hoạt động thi hành án dân sự được tạm ngừng lại Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án khi nhận được quyết định rút kháng nghị của người

có thẩm quyền hoặc quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của toà án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị hoặc quyết định của toà án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Thời hạn ra quyết định tiếp tục thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được các quyết định này

1.2.2.6 Đình chỉ thi hành án dân sự 15

Đình chỉ thi hành án dân sự là việc cơ quan thi hành án dân sự quyết định ngừng hẳn việc thi hành án dân sự khi có căn cứ do pháp luật quy định Việc đình chỉ thi hành án được thực hiện theo căn cứ quy định tại Điều 50 LTHADS

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ thi hành án Sau khi có quyết định đình chỉ thi hành án, các hoạt động thi hành án dân sự được ngừng lại hẳn Trường hợp quyết định đình chỉ thi hành án do bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ thì các đương sự có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của việc đã thi hành bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định bị huỷ

15 Giáo trình Luật THADS, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr 176- 178

Trang 34

Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được quy định tại các điều, từ Điều 66 đến 69 LTHADS, bao gồm các biện pháp sau:

- Biện pháp phong toả tài khoản là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

được chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và họ có tiền gửi trong tài khoản tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác Việc áp dụng biện pháp phong toả tài khoản nhằm cô lập, đặt tài khoản của người phải thi hành án trong tình trạng bị phong toả, không thể sử dụng được, ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản Từ việc áp dụng biện pháp bảo đảm này có thể chuyển thành việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án để thi hành án nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án

Biện pháp phong toả tài sản ở nơi gửi giữ là biện pháp bảo đảm thi hành

án dân sự được chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành

án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền hoặc trả tài sản và họ có tài sản đang gửi giữ Việc áp dụng biện pháp phong toả tài sản ở nơi gửi giữ nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản đang gửi giữ Từ việc áp dụng biện pháp bảo đảm này có thể chuyển thành việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự kê biên, xử

16

Giáo trình Luật THADS, trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr219-231

Trang 35

Tạm giữ tài sản của đương sự là biện pháp bảo đảm thi hành án được

tiến hành trên các động sản của người phải thi hành án, đặt những động sản này trong tình trạng bị hạn chế quyền sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án tẩu tán, huỷ hoại tài sản để trốn tránh việc thi hành án

và được quy định tại Điều 68 LTHADS Tài sản bị tạm giữ sau đó sẽ được bán đấu giá để thi hành án nếu xác định được thuộc sở hữu của người phải thi hành án và họ không tự nguyện thi hành án Ngoài ra, biện pháp tạm giữ tài sản có thể được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả vật Trong trường hợp này biện pháp tạm giữ tài sản là tiền

đề cho việc cưỡng chế trả đồ vật cho người được thi hành án

Tạm giữ giấy tờ của đương sự là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

được tiến hành trên các động sản phải đăng kí quyền sở hữu, giấy tờ có giá

hoặc bất động sản của người phải thi hành án Việc áp dụng biện pháp tạm

giữ giấy tờ của đương sự là tiền đề, cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thu giữ giấy tờ có giá (Điều 82), kê biên quyền sở hữu trí tuệ (Điều 84),

kê biên phương tiện giao thông (Điều 96), cưỡng chế giao, trả giấy tờ (Điều 116) Khi áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ của đương sự, để đảm bảo hiệu quả của việc thi hành án nếu xét thấy cần thiết thì chấp hành viên có thể đồng thời tạm giữ cả tài sản của người phải thi hành án

Theo quy định tại Điều 68 LTHADS và Điều 18 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 thì chấp hành viên đang thực hiện

Trang 36

hỗ trợ việc tạm giữ tài sản, giấy tờ để thi hành án

Tạm dừng việc đăng kí, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án là biện pháp bảo đảm thi hành án

dân sự được áp dụng đối với các động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc bất động sản của người phải thi hành án nhằm ngăn chặn hoặc tạm dừng các hành

vi của người phải thi hành án như chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, huỷ hoại, thay đổi hiện trạng tài sản Việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự này là tiền đề cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự kê biên, xử lí tài sản của người phải thi hành án; cưỡng chế trả vật, chuyển quyền sử dụng đất

Theo quy định tại Điều 69 LTHADS và Điều 19 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 thì trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án, Chấp hành viên

ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án, tài sản chung của người phải thi hành án với người khác

1.2.3.2 Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 17

Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, do chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người

17

Giáo trình Luật THADS, trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr232-290

Trang 37

Thứ nhất, chỉ chấp hành viên mới có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng

chế thi hành án dân sự

Thứ hai, chấp hành viên chỉ được áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi

hành án dân sự do pháp luật quy định

Thứ ba, không được tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự trong những

thời gian mà pháp luật quy định không được cưỡng chế thi hành án dân sự

Thứ tư, chấp hành viên có quyền áp dụng một hoặc nhiều biện pháp

cưỡng chế thi hành án nhưng phải tương ứng với nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án có nghĩa vụ phải thực hiện theo bản án, quyết định của toà án

- Về biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ

có giá của người phải thi hành án

Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có

giá của người phải thi hành án là một trong bốn biện pháp cưỡng chế thi hành

nghĩa vụ trả tiền Biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi,

xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án sẽ được áp dụng khi có

các điều kiện được quy định tại Điều 76 và các điều từ Điều 79 đến Điều 83 LTHADS Trên thực tế, khó khăn lớn nhất khi áp dụng biện pháp này là xác minh được tài khoản và số dư trong tài khoản của khách hành

- Khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án

Việc cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án được áp

Trang 38

32

dụng trong trường hợp người phải thi hành án có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc kho bạc nhà nước Trước khi ra quyết định cưỡng chế, chấp hành viên cần xác định số tiền của người phải thi hành án trong tài khoản tại ngân hàng, kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng trên cơ sở các tài liệu, thông tin do người được thi hành án cung cấp Theo yêu cầu của người được thi hành án hoặc trong trường hợp cần kiểm tra lại thì cơ quan thi hành

án dân sự yêu cầu, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước cung cấp các thông tin về tiền trong tài khoản của người phải thi hành án.Nếu xác định người phải thi hành án có tiền gửi hoặc có tiền trong tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc thì chấp hành viên lập biên bản về tình trạng tiền trong tài khoản của người phải thi hành án tại ngân hàng, kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng khác và ra quyết định khấu trừ tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án để thi hành án Theo quy định tại Điều 76 LTHADS số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế thi hành án.Điều 21 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-

CP ngày 18/7/2015 còn quy định thêm về cách xử lý đối với trường hợp người phải thi hành án có nhiều tài khoản

- Thu hồi, xử lí tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án

Tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án có thể do chính người phải thi hành án đang giữ hoặc do người thứ ba giữ Việc thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ được quy định tại Điều 81 LTHADS và Điều 23 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 Theo đó, khi có căn cứ xác định tổ chức, cá nhân đang giữ tiền, tài sản của người phải thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản làm việc hoặc

có văn bản yêu cầu tổ chức, cá nhân đang giữ tiền, tài sản giao nộp cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án Nếu tổ chức, cá nhân đang giữ tiền, tài sản của người phải thi hành án không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên

Trang 39

33

về việc giao nộp số tiền, tài sản đó thì bị áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế để thi hành án Chi phí cưỡng chế thi hành án do người phải thi hành án chịu

- Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi hành án do chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định, có thu nhập nhưng không tự nguyện thi hành án Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được áp dụng khi có các căn cứ quy định tại Điều 78 LHADS

Trong trường hợp chấp hành viên đã xác định rõ người phải thi hành án

có thu nhập để khấu trừ thì chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án Quyết định này phải được gửi cho người được thi hành án, người phải thi hành án và cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lí thu nhập của người phải thi hành án

- Biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lí tài sản của người phải thi hành án

Trong quá trình tổ chức THADS, biện pháp này được áp dụng nhiều nhất.Kê biên, xử lí tài sản của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi hành án do chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành

án có nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định có điều kiện thi hành án nhưng

không tự nguyện thi hành

Tài sản bị kê biên phải thuộc sở hữu của người phải thi hành án, bao gồm tài sản thuộc sở hữu riêng của người phải thi hành án và tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác Những tài sản này có thể đang do người phải thi hành án hoặc người thứ ba quản lí, sử dụng Để bảo đảm việc thi hành án có hiệu quả và đúng pháp luật, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên phải tuân theo những nguyên tắc quy định tại Điều

74, Điều 75, Điều 89, Điều 95 của LTHADS và Điều 24 Nghị định của Chính

Trang 40

34

phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 Với mục đích nhân đạo, để bảo đảm cuộc sống bình thường của người phải thi hành án và những người họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, Điều 87 LTHADS quy định một số tài sản của người phải thi hành án không được kê biên

Sau khi có kết quả xác minh về tài sản của người phải thi hành án thì chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản và thông báo cho những chủ thể liên quan biếttheoquy định tại các điều 38, 39 và 88 LTHADS Khi tiến hành

kê biên một số loại tài sản cụ thể của người phải thi hành án, chấp hành viên phải tuân theo những quy định chung về kê biên tài sản18

Ngoài ra, chấp hành viên cũng phải tuân theo cả những quy định riêng về kê biên đối với mỗi loại tài sản cụ thể theo các quy định từ Điều 84 đến Điều 97, Điều 110, Điều 111 LTHADS

Sau khi kê biên tài sản, cơ quan thi hành án dân sự phải tiến hành xác định giá trị của tài sản kê biên nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự của người phải thi hành án Việc xác định giá trị tài sản kê biên có thể được tiến hành theo sự thoả thuận của các đương sự thông qua tổ chức thẩm định giá hoặc do chấp hành viên tự xác định theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 98, Điều 99 LTHADS Sau khi kê biên tài sản, tài sản sẽ được xử lý một trong 3 phương án: (1) người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án; (2) Bán tài sản đã kê biên để thi hành án theo quy định tại Điều

101 LTHADS, tuỳ trường hợp tài sản đã kê biên được bán qua thủ tục bán đấu giá hoặc không qua thủ tục đấu giá; (3) Trả lại tài sản kê biên cho người phải thi hành án trong trường hợp sau khi đưa ra bán đấu giá nhưng không thể bán được và người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án

-Biện pháp khai thác tài sản của người phải thi hành án

Khai thác tài sản của người phải thi hành án là biện pháp cưỡng chế thi

18 Điều 6 Thông tư của Bộ tư pháp, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao số

14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/10/2010 hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành

án dân sựvà phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự

Ngày đăng: 02/08/2019, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w