Ở Việt Nam, ngoài cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước còn có tổ chức Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay nhân rộng ra phạm vi cả nước theo nghị qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM VĂN ĐẠO
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380103
Người hướng dẫn khoa học: TS.HOÀNG NGỌC THỈNH
Hà Nội – 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường đại học Luật Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Văn Đạo
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục thi hành án dân sự 6
1.2 Nội dung pháp luật hiện hành về thủ tục thi hành án dân sự 11
1.2.1 Thủ tục thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu 11
1.2.2 Thủ tục thi hành án dân sự chủ động 18
1.2.3 Thủ tục xác minh thi hành án dân sự 21
1 2.4 Ủy thác thi hành án dân sự 29
1.2.5 Hoãn thi hành án dân sự 31
1.2.6 Tạm đình chỉ THADS 35
1.2.7 Thủ tục ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH SƠN LA VÀ KIẾN NGHỊ 41
2.1 Thực tiễn áp dụng thủ tục thi hành án dân sự tại các cơ quan thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La 41
2.1.1 Kết quả thi hành án dân sự và những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng thủ tục thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La 41
2.1.1 Nhiều bản án, quyết định tuyên không rõ ràng và khi có yêu cầu giải thích thì Tòa án và cơ quan thi hành án cấp trên có sự giải thích khác nhau dẫn đến việc thi hành án bị kéo dài 46
2.1.2.Về thủ tục ủy thác thi hành án dân sự 48
2.1.3 Thực tiễn áp dụng quyết định hoãn thi hành án dân sự 50
Trang 42.2 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng thủ tục thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La 56
2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La 61
2.3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự 61 2.3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay 64
KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BLTTDS năm 2015 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015
Luật THADS năm 2014 Luật Thi hành án dân sự năm 2014
Luật sửa đổi, bổ sung Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự
2008
PLTHADS 2004 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
PLTHADS 1993 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993
PLTHADS 1989 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989
THA Thi hành án
THADS Thi hành án dân sự
CQTHADS Cơ quan thi hành án dân sự
CHV Chấp hành viên
UBND Ủy ban Nhân dân
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
TAND Tòa án nhân dân
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
BA, QĐ Bản án, Quyết định
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh (Gọi tắt là BA, QĐ có hiệu lực thi hành)
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thi hành án là hoạt động đưa các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành ra thi hành trên thực tế Bản án, quyết định dân sự nói chung và bản
án, quyết định của TAND nói riêng được tuyên nhân danh Nhà nước, có tác động qun trọng đến việc thực thi pháp luật và đời sống xã hội Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngoài chức năng của cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án thì cơ quan THADS giữ một vai trò đặc biệt và là một mắt xích không thể thiếu của quá trình tố tụng Mọi phán quyết của Tòa án chỉ là những quyết định trên giấy và không thể phát huy hết hiệu quả trên thực tế nếu không được thi hành đúng và đầy đủ, nhất là trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay, khi nước ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; vô số các quan
hệ giao dịch được phát sinh dẫn đến các tranh chấp cũng nhiều hơn, số lượng công việc mà các cơ quan Tư pháp phải giải quyết vì thế cũng ngày càng tăng,
và tính chất cũng phức tạp hơn Đòi hỏi tất yếu đặt ra là các cơ quan Tư pháp nói chung và cơ quan THADS nói riêng phải hoạt động sao cho đạt hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo pháp luật được thực thi, xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa
Luật Thi hành án dân sự (THADS) được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2009 là cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Qua 05 năm thi hành luật, công tác thi hành án dân sự đã từng bước đi vào nề nếp và có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, quá trình thi hành luật cũng cho thấy nhiều nội dung, quy định của luật không còn phù hợp với thực tiễn, tạo ra trở lực cho quá trình thi
Trang 72
hành án và chưa thực sự đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì vậy, luật THADS ban hành ngày 21/2/2014 được Quốc hội biểu quyết thông qua vào ngày 25/11/2014 Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự 2008
đã có hiệu lực thi hành từ 01/7/2015, có nhiều điểm mới về thủ tục THADS
(gọi tắt là Luật Thi hành án dân sự năm 2014)
Đổi mới hoạt động THA nói chung và nâng cao hiệu quả đối với THADS nói riêng là một nội dung quan trọng của công cuộc cải cách tư pháp được ghi nhận trong nhiều văn bản như: Nghị quyết Trung Ương 8 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 3 Khóa VIII, báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng qua các kì
họp, đặc biệt Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 của
Bộ Chính trị ngày 24/5/2005, Nghị quyết 49 – NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ
chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Chính vì lẽ đó mà
tác giả lựa chọn đề tài “Thủ tục thi hành án dân sự và thực tiễn áp dụng tại các cơ quan thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La” để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi Luật THADS ra đời, THADS cũng đã được quan tâm nghiên
cứu trong các công trình như Luận văn thạc sỹ “Đổi mới thủ tục THADS ở
Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn năm 2004; Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn Thanh Thủy năm 2001
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Một số vấn đề về hoàn thiện pháp
luật THADS của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2004, Công trình nghiên
cứu khoa học cấp bộ, Bình luận Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, của
Viện khoa học pháp lý - Bộ tư pháp năm 2006…và rất nhiều công trình nghiên cứu khác
Từ khi Luật THADS năm 2008 có hiệu lực pháp luật đến nay, việc nghiên cứu về THADS đã được quan tâm đáng kể hơn nữa Năm 2011 có Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp trường về “Những điểm mới của Luật THADS
năm 2008” của trường Đại học Luật Hà Nội do Tiến sỹ Bùi Thị Huyền chủ
Trang 83
nhiệm Ngoài ra trên sách báo pháp lý, các diễn đàn pháp luật từ 2009 đến nay cũng có rất nhiều bài nghiên cứu, trao đổi về THADS, trong đó có thủ tục THADS Cũng có thể kể đến những nghiên cứu khác như cuốn sách tham
khảo “Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam” – tác giả Tiến sỹ Lê Thu Hà – học viện Tư Pháp viết, xuất bản năm 2011, hay
các bài viết trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề về thi hành án dân
sự các tháng 2/2012, tháng 4/2012, tháng 12/2012, tháng 03/2014; số chuyên
đề tháng 6/2012 về thi hành án dân sự tồn đọng; số chuyên đề tháng 12/2013
về thực hiện Luật THADS … và rất nhiều các bài viết khác trong các sách báo, tạp chí nghiên cứu về thủ tục THADS như Tạp chí Nghề Luật của Học viện Tư pháp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,…
Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Bùi Thị Vân Anh (2015) về “Thủ
tục Thi hành án dân sự trong pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay” bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã phân tích, đánh giá
nội dung quy định của Luật THADS năm 2014 Tuy nhiên, luận văn đánh giá việc áp dụng các quy định của Luật THADS năm 2014 trên cả nước
Đặc biệt, luận án tiến sĩ: “Cưỡng chế thi hành án dân sự” của tác giả Lê Anh Tuấn (2017) bảo vệ tại trường đại học Luật Hà Nội đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục THAND
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là phân tích, đánh giá một số thủ tục THADS
và thực, nêu ra những hạn chế, bất cập và đề xuất quan điểm hoàn thiện pháp
Trang 94
bảo đảm việc thực thi pháp luật thi hành án, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Đánh giá đúng thực trạng, hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay
- Đưa ra các quan điểm cá nhân về việc sửa đổi, bổ sung pháp luật về thủ tục THADS, góp ý về một số vấn đề liên quan đến thủ tục thi hành án trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2008; cũng như đề xuất các giải pháp có tính khả thi cao nhằm bảo đảm việc thực thi pháp luật THADS, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự
4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề chủ yếu sau:
+ Nghiên cứu những vấn đề chung về thủ tục thi hành án dân sự như: Khái niệm, đặc điểm của thủ tục thi hành án dân sự, phân tích, đánh giá nội dung pháp luật hiện hành về một số thủ tục THADS
+ Đánh giá đúng đắn và toàn diện về thực tiễn thực hiện thủ tục THADS trên địa bàn tỉnh Sơn La trên cơ sở phân tích các vụ việc phức tạp, kéo dài và những vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục THADS
+ Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục THADS và bảo đảm thực hiện pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự ở tỉnh Sơn La
4.2 Phạm vi:
Trong giới hạn của luận văn thạc sĩ ứng dụng, luận văn chỉ nghiên
cứu về thủ tục thi hành các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành của Tòa án Việt Nam mà không nghiên cứu thủ tục thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài thương mại và quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
Thủ tục THADS bao gồm rất nhiều thủ tục khác nhau, rất rộng, với
nên luận văn cũng không đi sâu vào tìm hiểu hết tất cả các thủ tục THADS
Trang 105
mà chỉ đi sâu vào một số thủ tục cụ thể như: Thủ tục ra quyết định thi hành án theo đơn (bao gồm cấp, chuyển giao bản án, thủ tục nhận, từ chối đơn yêu cầu, và ra quyết định THA) và thủ tục thi hành án chủ động của CQTHADS; Thủ tục xác minh THA; Thủ tục ủy thác THA; Các quyết định phát sinh trong quá trình THADS: thủ tục ra quyết định hoãn; đình chỉ; tạm đình chỉ Luận văn không nghiên cứu về thủ tục thi hành án dân sự trong các trường hợp đặc biệt, áp dụng các biện pháp cưỡng chế bảo đảm THADS
Luận văn nghiên cứu việc áp dụng thủ tục thi hành án dân sự tại các
cơ quan THADS ở tỉnh Sơn La từ năm 2014 đến nay
5 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn bám sát việc phân tích các thủ tục thi hành án dân sự theo Luật THADS năm 2014 và những hạn chế, vướng mắc trong áp dụng thủ tục THADS tại các cơ quan THADS ở tỉnh Sơn La từ năm 2014 đến nay để từ đó đề xuất các kiến nghị của cá nhân trong việc hoàn thiện pháp luật THADS và bảo đảm áp dụng thủ tục THADS tại các cơ quan THADS ở tỉnh Sơn La
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mac – Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp và một số phương pháp luận khác để lựa chọn những vấn đề cần thiết đưa vào nội dung nghiên cứu
6 Kết cấu của luận văn
Chương 1 – Những vấn đề chung về thủ tục thi hành án dân sự
Chương 2 - Thực tiễn áp dụng thủ tục thi hành án dân sự tại các cơ quan THADS ở tỉnh Sơn La và kiến nghị
Trang 11
6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục thi hành án dân sự
Trước khi tìm hiểu khái niệm thủ tục thi hành án cần làm rõ các khái niệm sau:
“Thủ tục” – xét về mặt ngôn ngữ có nghĩa “những việc cụ thể phải làm
theo một trình tự đã được quy định, để tiến hành một công việc có tính chất
khái niệm thủ tục là phải thực hiện một công việc nhất định theo những quy
định cụ thể được sắp xếp theo trình tự nhất định Còn “thi hành” là: "Thực
hiện điều đã chính thức quyết định" 3
Trong khoa học pháp lý, “thi hành án” được hiểu là việc đưa các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành ra thi hành trên thực tế Bản án, quyết định của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính Có thể nói, thi hành án được coi là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước Bởi lẽ, thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền lực của Nhà nước, mặt khác lại là công cụ hữu hiệu để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân khi khi
bị xâm hại Trong các công trình nghiên cứu khoa học về thi hành án, có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thi hành án:
Có quan điểm xem thi hành án là một giai đoạn tố tụng, đây là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự Thi hành án là giai đoạn kết thúc của tố tụng mà trong đó cơ quan thi hành án đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành ra thi hành nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức4
1 Viện Ngôn Ngữ học, Hoàng Phê (Chủ biên), Từ Điển Tiếng Việt, nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội 2010, tr.905
2
Viện Ngôn Ngữ học, Hoàng Phê (Chủ biên), Từ Điển Tiếng Việt, nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội 2010, tr 934
3 Đại từ điển tiếng Việt, GS TS Nguyễn Như Ý, nxb Đại học quốc gia TP HCM, 2013, tr 1559
4
Lê Anh Tuấn, Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật Học, Hà Nội, 2004, tr 86
Trang 127
Có quan điểm lại cho rằng thi hành án không phải là một thủ tục tố tụng
mà là một hoạt động mang tính chấp hành và điều hành quyết định của tòa án – cơ quan tư pháp – mang tính chất của hoạt động quản lý hành chính – tư pháp… Thi hành án không mang tính tố tụng thuần túy mà có nhiều tính chất của giai đoạn mang tính hành chính - tư pháp Ở đây có nhiều điểm khác nhau giữa tố tụng và quá trình thực hiện thi hành án Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi không phải là Tòa án Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang nặng tính hành chính - tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động và một phần của thi hành án hình sự đối với loại hình phạt không phải là hình phạt tù )5
Các quan điểm trên về thi hành án đều có những điểm hợp lý, song dù theo quan điểm nào thì thủ tục THADS đều có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, thủ tục thi hành án dân sự là cách thức, trình tự tổ chức thi
hành BA, QĐ dân sự có hiệu lực thi hành được pháp luật quy định, bao gồm nhiều thủ tục khác nhau
Thủ tục THADS do pháp luật quy định, cơ quan THADS, Chấp hành viên cũng không được đặt ra trình tự, thủ tục và không tùy tiện trong quá trình tổ chức thực hiện THA mà phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật Quá trình THADS thường bao gồm các thủ tục sau:
(i) Thủ tục cấp, chuyển giao BA, QĐ của Tòa án cho đương sự và CQTHADS để thi hành;
(ii) Thủ tục gửi và giải thích BA, QĐ của Tòa án nhằm mục đích để các
cơ quan thực thi pháp luật có cách hiểu thống nhất đối với các BA, QĐ đảm bảo cho việc CQTHA thực thi đúng bản chất của sự việc, đúng pháp luật, đúng phán quyết của Tòa án và các cơ quan khác
(iii) Thủ tục yêu cầu THA của đương sự, nộp đơn yêu cầu THA, thủ tục nhận hoặc từ chối nhận đơn của CQTHADS
Trang 13
8
(iv) Thủ tục ra quyết định THA của thủ trưởng CQTHADS, trong quá trình THA có thể phát sinh các thủ tục như xác minh THA, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA, chuyển giao quyền và nghĩa vụ THA, bảo đảm và cưỡng chế thi hành án, kết thúc THA
Trong quá trình THADS, ở mỗi giai đoạn thực hiện từng thủ tục là khác nhau và các thủ tục này liên kết toàn bộ quá trình thi hành án dân sự Tuy nhiên, không phải việc thi hành bất kỳ bản án, quyết định dân sự nào đều phải trải qua tất cả các thủ tục nêu trên
Thứ hai, thủ tục thi hành án dân sự là thủ tục nhằm thi hành phán quyết
của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà chủ yếu là các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành của Tòa án
THADS gắn liền với hoạt động xét xử, xét xử chính là tiền đề của thi
hành án dân sự Hoạt động thi hành án lệ thuộc và chịu sự chi phối của hoạt động xét xử, bởi lẽ thi hành án được tiến hành dựa trên BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Nói cách khác, căn cứ pháp lý để thi hành án là bản án, quyết định của các cơ quan nói trên đã có hiệu lực pháp luật Ngược lại, THADS làm cho BA, QĐ được thực hiện trên thực tế Sau khi có bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trên cơ sở của bản án, quyết định do Tòa án và các cơ quan này chuyển giao hoặc đơn yêu cầu THA của đương
sự, CQTHADS ra quyết định thi hành và thụ lý, tổ chức việc thực hiện thi hành án
THADS là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án; trong quá trình thi hành án, Chánh
án TANDTC, Viện trưởng Viện kiểm sát Tối cao, Chánh án Tòa án cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp cao có thẩm quyền yêu cầu CQTHA hoãn việc THA, quyết định tạm đình chỉ THA để xem xét lại bản án theo trình tự giám
Trang 149
đốc thẩm hoặc tái thẩm ) Tuy nhiên, THA lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng CQTHADS đối với THADS Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc THA Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có
nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả Nhằm
bảo đảm hiệu lực thi hành của các bản án, quyết định của các cơ quan Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong THADS được quy định tại Điều 170 LTHADS năm 2014 Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trong THADS được quy định tại Điều 179 LTHADS năm 2014
Như vậy, nếu mục đích của thi hành án không đạt được thì toàn bộ hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp trước đó cũng trở nên vô nghĩa Nếu như một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành nói riêng và bản án, quyết định của Tòa án nói riêng là một yêu cầu khách quan
Thứ ba, thủ tục thi hành án dân sự do cơ quan, tổ chức thi hành án thực hiện
BA, QĐ của Tòa án có hiệu lực thi hành do CQTHADS, tổ chức THADS thực hiện theo thủ tục THA một cách độc lập và không cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án dân
sự Cơ quan, tổ chức THA phải tuân thủ đúng thủ tục THA trong quá trình tổ chức việc THA
Bên cạnh đó, cơ sở của hoạt động thi hành án là các BA, QĐ có hiệu lực thi hành; các cơ quan tham gia vào quá trình THA chủ yếu là cơ quan tư pháp Tuy nhiên, các bản án, quyết định do các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội
Trang 1510
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh sau khi được tuyên sẽ được CQTHADS thi hành Các nước trên thế giới có các mô hình khác nhau về cơ quan, tổ chức thi hành án Ở Việt Nam, ngoài cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước còn
có tổ chức Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và
hiện nay nhân rộng ra phạm vi cả nước theo nghị quyết số 107 ngày 26/11/2015, thì một số thủ tục THADS do văn phòng thừa phát lại thực hiện như: Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc CQTHADS; lập
vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện THA theo yêu cầu của đương sự; trực tiếp tổ chức THA các BA, QĐ của Tòa án theo yêu cầu của đương sự Thừa phát lại không tổ chức THA các BA, QĐ
thuộc diện Thủ trưởng CQTHADS chủ động ra quyết định THA
Tòa án có trách nhiệm gửi bản án, quyết định tới CQTHADS và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã xét sử sơ thẩm Thủ tục THA do CQTHADS thực hiện từ việc ra quyết định thi hành án, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA, việc cưỡng chế THA,… cho đến việc trả lại đơn yêu cầu THA, và quyết định kết thúc THA Cơ quan THA là cơ quan chuyên trách để thực thi các BA, QĐ
có hiệu lực thi hành trên thực tế Việc ra quyết định THA để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của đương sự do Thủ trưởng CQTHADS đảm nhiệm Trước đây, PLTHADS 1989, việc ra quyết định THA còn do chánh án Tòa án sơ thẩm xét xử vụ án, điều này dẫn đến việc chồng chéo và gánh nặng cho Tòa
án, từ PLTHADS năm 1993 đến nay (khi áp dụng PLTHADS năm 2004 và Luật THADS năm 2008, Luật THADS năm 2014), việc THA chỉ do cơ quan chuyên trách thi hành án thực hiện
Như vậy qua những đặc điểm đặc trưng của thủ tục THA, chúng ta có
thể rút ra khái niệm về thủ tục thi hành án như sau: Thủ tục thi hành án dân
sự là trình tự thi hành các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định về hình sự, hành chính và quyết định khác do Cơ quan, tổ chức thi hành án dân sự thực hiện theo qui định pháp luật.
Trang 1611
1.2 Nội dung pháp luật hiện hành về thủ tục thi hành án dân sự
1.2.1 Thủ tục thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu
1.2.1.1 Cấp bản án, quyết định “để thi hành”
Để đảm bảo cho quyền yêu cầu của đương sự thì Tòa án phải cấp BA,
QĐ cho đương sự (người được THA và người phải THA) “để thi hành” Điều
27 Luật THADS năm 2014 đã quy định trách nhiệm cấp bản án, quyết định:
“Toà án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản
án, quyết định được quy định tại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi “Để thi hành”” Việc cấp bản án, quyết định để thi
hành được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật hiện hành Đối với từng loại BA, QĐ của các cơ quan khác nhau sẽ có những quy định về thời hạn cấp là khác nhau
Cụ thể, theo Điều 484 BLTTDS năm 2015 quy định: “Khi bản án,
quyết định của Tòa án thuộc trường hợp được thi hành theo quy định tại Điều
482 của Bộ luật này thì Tòa án đã ra bản án, quyết định đó phải cấp cho người được thi hành án và người phải thi hành án bản án hoặc quyết định đó
có ghi “để thi hành” Đối với BA, QĐ hoặc phần BA, QĐ của Toà án cấp sơ
thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; BA, QĐ của Toà án cấp phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án; quyết định theo thủ tục đặc biệt của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao quy định tại Điều 360 của BLTTDS năm 2015
Đối với và BA, QĐ về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp
thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc thì Toà án đã tuyên BA, QĐ đó phải chuyển giao BA, QĐ cho CQTHA cùng cấp với Toà án đã xét xử sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra BA, QĐ đó Đối với các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án đã ra quyết định phải chuyển giao ngay quyết định cho CQTHA cùng cấp
Trang 1712
Trên thực tế, nhiều trường hợp Tòa án chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án không phải lúc nào cũng đúng thời hạn theo các quy định pháp luật nói trên Việc chậm gửi bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dẫn đến hậu quả là cơ quan THADS cũng chậm ra quyết định thi hành án,làm ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của đương sự
1.2.1.2 Quyền yêu cầu của người được THA và việc nhận, từ chối nhận đơn của CQTHADS
- Yêu cầu thi hành án dân sự
Việc yêu cầu THADS phải đáp ứng đủ các điều kiện như: phải là người
có quyền yêu cầu THA, đơn yêu cầu THA của người này phải còn trong thời hiệu THA, đơn THA yêu cầu phải gửi đến CQTHA có thẩm quyền, người nộp đơn phải yêu cầu đúng nội dung BA, QĐ Đương sự có thể tự mình thực hiện quyền yêu cầu THA theo quy định của pháp luật hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu THA bằng một trong những cách thức sau: nộp đơn trực tiếp tại CQTHADS, trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan THADS hoặc gửi đơn qua bưu điện
+ Về người có quyền yêu cầu thi hành án: Theo Luật THADS năm
2014, người có quyền nộp đơn yêu cầu THADS là người được thi hành án, người phải thi hành án hoặc người được THADS, người phải THADS ủy quyền Quy định này xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự định đoạt của người được THA và người phải THA Bên cạnh đó, quy định này nhằm khuyến khích người phải THA tự giác chấp hành nghĩa vụ trong bản án, quyết định nhằm bảo đảm quyền lợi của họ nên không chỉ người được THA mà cả người phải THA cũng có quyền làm đơn yêu cầu THA Thủ tục thi hành án dân sự theo yêu cầu được thực hiện thong qua các thủ tục sau
+ Nội dung đơn yêu cầu thi hành án:
Đơn yêu cầu THA thì đơn phải có các nội dung chính như: Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu; tên CQTHADS nơi yêu cầu; họ tên, địa chỉ của người
Trang 1813
được THA, người phải THA; nội dung yêu cầu THA; thông tin về tài sản hoặc điều kiện THA của người phải THA Người làm đơn yêu cầu THA phải ghi rõ ngày, tháng, năm làm đơn Đơn phải được người yêu cầu THA ký tên hoặc điểm chỉ, trường hợp đương sự là pháp nhân thì phải có chữ kí của người đại diện hợp pháp của pháp nhân đó và phải có dấu của pháp nhân
Nếu người yêu cầu THA trình bày trực tiếp bằng lời nói tại CQTHADS thì cán bộ CQTHA phải lập biên bản ghi rõ yêu cầu của người yêu cầu THA Biên bản phải có đủ các nội dung của đơn yêu cầu THA, có chữ kí hoặc điểm chỉ của người yêu cầu, chữ kí của người lập biên bản Biên bản được lập có giá trị như một đơn yêu cầu
Về nội dung đơn yêu cầu thi hành án, Luật THADS đã thay thuật ngữ
“đơn yêu cầu THA” bằng thuật ngữ có tính chung hơn là “yêu cầu THA” để
thể hiện việc yêu cầu THA không chỉ bằng đơn mà còn bằng hình thức khác
và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế, không bắt buộc chỉ bằng hình thức đơn yêu cầu THA Có nhiều hình thức, bao gồm: đơn yêu cầu (gửi trực tiếp tại cơ quan THADS hoặc gửi qua bưu điện), yêu cầu trực tiếp bằng lời nói Khi yêu cầu trực tiếp bằng lời nói thì CQTHADS phải lập thành biên bản có các nội dung cụ thể, biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu, khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án thì phải thông báo bằng văn bản thay cho việc cấp giấy xác nhận đã nhận đơn như trước đây Luật quy định rõ các hình thức thực hiện quyền này: việc lựa chọn một trong ba hình thức đều được chấp nhận Quy định này nhằm hạn chế chi phí thực hiện thủ tục hành chính cũng như ngăn ngừa khả năng có hành vi hạn chế quyền của người yêu cầu
Kèm theo đơn yêu cầu THA phải có BA, QĐ được yêu cầu và tài liệu khác có liên quan, nếu có Tài liệu khác có liên quan có thể là tài liệu chứng minh đương sự có điều kiện THA, tài liệu chứng minh người được THA đã tiến hành các biện pháp xác minh điều kiện THA của người phải THA nhưng không có kết quả
Trang 1914
So với Luật THADS năm 2008, Luật THADS năm 2014 quy định về các nội dung của đơn yêu cầu THA đầy đủ, chặt chẽ hơn và là cơ sở để cơ quan THADS ghi biên bản khi đương sự yêu cầu THA trực tiếp Khi nhận đơn yêu cầu THA của đương sự, CQTHADS phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo Quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật THADS 2008 về đơn yêu cầu THA phải có "Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án" Quy định này đã gây ra không ít trở ngại, khó khăn cho người được THA Chính vì vậy, khoản 2, Điều 31 Luật THADS năm 2014 đã quy định một trong các nội dung của đơn yêu cầu THA là: “Thông tin về tài sản hoặc điều kiện THA của người phải THA, nếu có” Đây là một trong những điểm mới tháo gỡ những vướng mắc, gây khó khăn, bất lợi cho các đương sự nhiều năm qua Bởi việc có thông tin về tài sản hoặc điều kiện của người phải THA để đưa vào nội dung đơn yêu cầu THA là điều không dễ dàng trong nhiều trường hợp Và để khuyến khích đương sự cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án, Luật THADS năm 2014 đã quy định bổ sung về việc người được thi hành án“được miễn, giảm phí thi hành án trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện của người phải thi hành án” (điểm k, Khoản 1, Điều 7)
+ Thời hiệu yêu cầu thi hành án
Theo Điều 30 của Luật THADS năm 2014, thời hiệu yêu cầu thi hành án
là 5 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc nghĩa vụ đến hạn hay đến định kì quy định trong bản án Quá thời hạn này, nếu người yêu cầu THA không chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu THA đúng thời hạn thì hết quyền yêu cầu THA Vấn đề này, từ trước đến nay ít được chú ý khi cấp bản án, quyết định cho đương sự nên các bên đương sự không biết để yêu cầu Đặc biệt trong các vụ án hình sự mà bị cáo tuyên án phạt tù với mức cao hơn 05 năm người được THA không được giải thích về thời hiệu và quyền yêu cầu
Trang 2015
THADS nên họ chờ cho người bị kết án THA phạt tù xong họ mới yêu cầu THA thì thời hiệu yêu cầu THA đã hết Trong trường hợp này, người được THA phải căn cứ yêu cầu THA ngay khi người bị kết án đang thi hành hình phạt tù để đảm bảo về thời hiệu yêu cầu THA
+ Thẩm quyền thi hành án:
Thẩm quyền thi hành án dân sự được quy định tại Điều 35 Luật THADS năm 2014 Thông thường cơ quant hi hành án có thẩm quyền thi hành án ban đầu là cơ quan THADS cùng cấp với Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm vụ việc dân sự, bởi đây là cơ quan THADS có điều kiện thi hành án tốt nhất, việc xác minh nhân than, điều kiện THA của người phải THA cũng thuận lợi, dễ dàng, thuận lợi và giảm chi phí thi hành án cho các đương sự
Tuy nhiên, do có sự thay đổi về hệ thống tổ chức của TAND nên thẩm quyền THADS cũng được thay đổi cho phù hợp So với Luật THADS năm
2008, thẩm quyền THADS theo Luật THADS năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1, khoản 2 và điểm d khoản 3 Điều 35, theo đó cơ quan THADS cấp huyện có thẩm quyền THADS đối với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở Đồng thời bỏ thẩm quyền thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở của cơ quan THADS cấp huyện Bởi theo quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014 thì kể từ ngày 1/6/2015, TAND cấp tỉnh không có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện, mà thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện thuộc về TAND cấp cao
Trang 2116
Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây: a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cùng địa bàn; b) Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao; c) Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh; d) Bản án, quyết định của Tòa
án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam; đ) Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; e) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; g) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác; h) Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều này mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành; i) Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải
ủy thác tư pháp về thi hành án.”
- Về thủ tục nhận đơn yêu cầu thi hành án dân sự
Theo quy định tại khoản 4, Điều 31 Luật THADS năm 2014: “Khi tiếp
nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu.” Ngay sau khi nhận được đơn thì
CQTHADS phải cấp hoặc gửi bằng đường bưu điện giấy biên nhận cho người nộp đơn Luật sửa đổi, bổ sung năm 2014 còn quy định rõ việc cơ quan THADS phải thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận yêu cầu; việc từ chối yêu cầu thi hành án cho người yêu cầu
- Về thủ tục từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án dân sự
Theo khoản 1 Điều 34 Luật THADS năm 2008 thì CQTHADS có thẩm quyền từ chối nhận đơn yêu cầu THA Đó là những trường hợp việc yêu cầu THA không đáp ứng đủ những điều kiện yêu cầu THA: người yêu cầu THA không có quyền yêu cầu THA; nội dung đơn yêu cầu THA không liên quan đến nội dung của BA, QĐ; CQTHADS được yêu cầu không có thẩm quyền THA; thời hiệu yêu cầu THA đã hết
Trang 2217
Luật THADS năm 2014 đã gộp thủ tục từ chối nhận đơn yêu cầu THA vào Điều 31 quy định về tiếp nhận và từ chối yêu cầu THA Thêm nữa, tại khoản 5, Điều 31 Luật THADS năm 2014 bổ sung thêm quy định về thời hạn thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu nếu CQTHADS từ chối yêu cầu THA của họ là 05 ngày làm việc Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho người dân, đặc biệt là người có quyền yêu cầu THA Luật THADS năm 2014 cũng bổ sung một căn cứ mới để từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án tại
điểm a, Khoản 5, Điều 31: “…BA, QĐ không làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ của các đương sự theo quy định của Luật này” vì thực tiễn THA cho thấy
có trường hợp BA, QĐ của Tòa án được yêu cầu thi hành không xác định được nội dung cần thi hành là gì
1.2.1.3 Ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu
Sau khi nhận được đơn yêu cầu THA, Thủ trưởng CQTHA có thẩm quyền phải ra quyết định THA CQTHA có thẩm quyền thực hiện việc THA theo nguyên tắc xác định CQTHA có điều kiện thi hành là cách tốt nhất Đó là nơi người phải THA làm việc, cư trú hoặc nơi có tài sản để THA Thời hạn ra quyết định THA theo đơn yêu cầu được quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật THADS năm 2014, là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu THA Việc THA theo đơn yêu cầu rất đa dạng, từ việc thanh toán tiền, trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tiền cấp dưỡng, đến buộc người sử dụng lao động nhận người lao động trở lại làm việc, buộc thực hiện hành vi nhất định…
Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/07/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều Luật THADS thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án cho mỗi yêu cầu thi hành án Trường hợp trong bản án, quyết định có một người phải thi hành án cho nhiều người được thi hành án và các đương sự yêu cầu thi hành án vào cùng thời điểm thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho nhiều yêu cầu Trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ thể hoặc nhận chung một
Trang 2318
khoản tiền theo bản án, quyết định, nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với những người đã có yêu cầu, đồng thời thông báo cho những người được thi hành án khác theo bản án, quyết định đó biết để yêu cầu thi hành án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ Hết thời hạn trên, nếu người được thông báo không yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên tổ chức giao tài sản, khoản tiền đó cho người đã có yêu cầu hoặc người đại diện của những người đã có yêu cầu để quản lý Quyền và lợi ích hợp pháp của những người được thi hành án đối với tài sản đó được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật
1.2.2 Thủ tục thi hành án dân sự chủ động
1.2.2.1 Các trường hợp chủ động thi hành án và thời hạn ra quyết định thi hành án
Chủ động ra quyết định THA là trường hợp sau khi nhận được BA, QĐ
do Tòa án chuyển giao thì CQTHADS tự mình ra quyết định THA mà không cần phải chờ có đơn yêu cầu của đương sự Theo quy định của pháp luật THADS thì CQTHADS chủ động ra quyết định THADS thường đối với phần
BA, QĐ mà việc thi hành nhằm thu tiền, tài sản nộp vào ngân sách Nhà nước Luật THADS năm 2014 đã bổ sung thêm một số BA, QĐ mà thủ trưởng CQTHADS có thẩm quyền chủ động ra quyết định THA đó là: lệ phí Tòa án, các khoản thu khác cho Nhà nước; quyết định của Tòa án giải quyết phá sản Theo quy định tại khoản 2 Điều 36 LTHADS năm 2014, trong thời hạn
05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định về hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước thủ trưởng cơ quan THADS phải chủ động
ra quyết định THADS đây là những loại việc mà BA, QĐ tuyên người được hưởng quyền lợi là Nhà nước nên CQTHA phải có trách nhiệm quan tâm, bảo vệ bằng cách chủ động đưa ra thi hành để sớm thu hồi lại tài sản, đảm bảo tài sản
Trang 24mà không đợi đương sự phải yêu cầu, hoặc khoản vật chứng, tài sản bị Toà án tuyên tịch thu tiêu huỷ thì không còn thuộc quyền quyết định của đương sự, nên cũng giao CQTHA chủ động thực hiện việc tiêu huỷ
Đối với thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì thủ trưởng cơ quan THADS phải chủ động ra ngay quyết định thi hành án Việc
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng là nhằm mục đích đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA, bảo đảm hiệu quả của việc THA, cao hơn thế, là đảm bảo hiệu lực của BA, QĐ của Toà án, của pháp luật, và do tính chất khẩn cấp của việc áp dụng mà nhà nước cần chủ động thực hiện để phù hợp với mục đích của việc ban hành quyết định đó
Đối với quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định, thủ trưởng cơ quan THADS phải chủ động ra quyết định THADS Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, cũng chính là những người được thi hành án
1.2.2.2 Chuyển giao bản án, quyết định
Để có căn cứ ra quyết định THA thì cơ quan, tổ chức đã tuyên BA, QĐ
có trách nhiệm chuyển giao BA, QĐ cho CQTHADS có thẩm quyền Việc chuyển giao BA, QĐ cho CQTHADS có thẩm quyền được thực hiện căn cứ theo Điều 28 Luật THADS năm 2014
Tòa án đã ra BA, QĐ phải chuyển giao cho CQTHADS có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày BA, QĐ có hiệu lực pháp luật để CQTHADS tổ chức việc THA (đối với BA, QĐ quy định tại các điểm a, b, c và
Trang 2520
d khoản 1 Điều 2 của Luật THADS năm 2014) Đối với BA, QĐ về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc thì Toà án đã ra BA, QĐ phải
chuyển giao cho CQTHADS trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra BA, QĐ Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án đã ra quyết
định phải chuyển giao cho CQTHADS ngay sau khi ra quyết định
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên quan đến việc THA thì khi chuyển giao BA, QĐ cho CQTHADS, Toà án phải gửi kèm theo bản sao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác
có liên quan
Theo Điều 29 Luật THADS năm 2014, khi nhận BA, QĐ do Tòa án chuyển giao, CQTHADS phải kiểm tra, vào sổ nhận BA, QĐ Sổ nhận BA,
QĐ phải ghi rõ số thứ tự, ngày, tháng, năm nhận BA, QĐ và tên Tòa án đã ra
BA, QĐ, họ tên, địa chỉ của đương sự và các tài liệu khác có liên quan Việc giao, nhận trực tiếp BA, QĐ phải có chữ kí của hai bên Trong trường hợp nhận được BA, QĐ và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì CQTHADS phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án, Trọng tài thương mại
đã chuyển giao biết
1.2.2.3 Ra quyết định thi hành án dân sự chủ động
Thẩm quyền ra quyết định THA cũng do thủ trưởng cơ quan THA chịu trách nhiệm và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định THA
đó Luật THADS năm 2014 đã quy định rõ hơn thời hạn ra quyết định THA
và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành đối với một số trường hợp cụ thể: Đối với quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì CQTHADS phải ra ngay quyết định THA; đối với quyết định của Tòa án giải quyết phá sản thì CQTHADS phải ra quyết định THA trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định; đối với các quyết định còn lại thì thời hạn vẫn là
Trang 2621
05 ngày làm việc Thêm nữa, Luật còn bổ sung khoản 3 Điều 36: “3 Quyết
định thi hành án phải ghi rõ họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; số, ngày, tháng, năm, tên cơ quan, tổ chức ban hành bản án, quyết định; tên, địa chỉ của người phải thi hành án, người được thi hành; phần nghĩa vụ phải thi hành án; thời hạn tự nguyện thi hành án.”
Tại các khoản 1, 2, 3 Điều 6 Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều Luật THADS quy định: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự ra một quyết định thi hành án chung cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành trong một bản án, quyết định, trừ trường hợp:
- Trong một bản án, quyết định có khoản chủ động về trả lại tiền, tài sản thì ra một quyết định thi hành án đối với mỗi người được thi hành án;
- Trong một bản án, quyết định có nhiều người phải thi hành nhiều khoản chủ động khác nhau thì ra một quyết định thi hành án chung cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành án đối với mỗi người phải thi hành án Trường hợp thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho những người có quyền, nghĩa vụ liên đới
1.2.3 Thủ tục xác minh thi hành án dân sự
Xác minh tài sản THA là một công việc có vị trí quan trọng đặc biệt trong quá trình THA Việc xác minh tài sản, điều kiện THA của người phải THA và những người liên quan là cơ sở pháp lý để CHV áp dụng các biện pháp cưỡng chế THA hoặc kiến nghị lãnh đạo ra các quyết định về việc tiếp tục tổ chức THA, ủy thác, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA… và là cơ sở để phân loại án, nên tính xác thực, chi tiết, tính pháp lý là yêu cầu bắt buộc trong công tác xác minh điều kiện THA của đương sự6 Như vậy, có thể thấy, đây là một trong những công việc phức tạp và khó thực hiện nhất, vì việc xác minh tài sản của người phải THA mất nhiều thời gian, chi phí…
6
Đinh Duy Bằng, Những khó khăn trong xác minh thi hành án dân sự, tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề về Thi hành án dân sự tháng 3/2011, tr12,13
Trang 2722
Thứ nhất, về trách nhiệm tiến hành việc xác minh điều kiện THA
Theo Luật THADS năm 2008 thì trách nhiệm xác minh điều kiện THA thuộc về người được THA Tại Điều 44 Luật THADS năm 2008, đối với trường hợp THA theo đơn yêu cầu thì người được THA phải tự tiến hành xác minh điều kiện THA của người phải THA CHV chỉ tiến hành xác minh khi người được THA có yêu cầu và trong trường hợp thi hành quyết định THA chủ động Trong trường hợp người được THA yêu cầu CHV tiến hành xác minh thì yêu cầu này phải đáp ứng đủ hai điều kiện: được lập thành văn bản
và ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh Quy định người được THA phải tự tiến hành xác minh nhằm tháo gỡ bớt gánh nặng xác minh cho CHV Tuy nhiên, mặt bằng am hiểu pháp luật của đại bộ phận người dân nước ta còn thấp cho nên khả năng
tự mình thực hiện nghĩa vụ xác minh điều kiện THA của người phải THA là hạn chế Bên cạnh đó, việc tự tiến hành xác minh của người được THA cũng gặp không ít trở ngại, khó khăn khi không có sự phối hợp, giúp đỡ giữa các
cơ quan, tổ chức, cũng như người phải THA
Để phù hợp hơn với thực tiễn, Luật THADS năm 2014 quy định theo hướng chuyển việc xác minh điều kiện thi hành án từ nghĩa vụ của người được THA thành trách nhiệm của Chấp hành viên Điều này được quy định tại
khoản 1, Điều 44 Luật THÁN năm 2014 “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày
hết thời hạn tự nguyện THA mà người phải THA không tự nguyện thi hành thì CHV tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay” Theo quy định này thì
nghĩa vụ xác minh điều kiện của người được THA chuyển hóa thành quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện THA, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện THA của người phải THA cho CQTHA
Thứ hai, về phí xác minh THA, theo quy định của Luật THADS năm 20008
nghĩa vụ xác minh thuộc về người được THA nên người được THA phải chịu
Trang 2823
chi phí xác minh Tuy nhiên lại không có quy định nào về việc thu phí xác minh
là bao nhiêu? Thu theo tính chất của việc cần xác minh là khó hay dễ, tiền này được thu nộp và sử dụng như thế nào? Thế nào là chi phí thực tế, hợp lý cho việc xác minh? … Từ đó dễ dẫn đến việc phát sinh các yêu tố tiêu cực trong quá trình thực hiện xác minh của CHV7
Luật THADS năm 2014 quy định trách nhiệm xác minh điều kiện THA thuộc về CHV nên Điều 73 Luật THADS năm 2014 quy định người được THA không phải trả chi phí cho việc xác minh điều kiện thi hành án, chi phí xác minh do Ngân sách Nhà nước chịu
Thứ ba, về thời gian xác minh, khoản 2 Điều 44 Luật THADS năm
2008 quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày chủ động ra quyết định THA hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được THA thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh, trong khi đó tại khoản 1 Điều 45 Luật THADS năm 2008 quy định thời hạn tự nguyện là 15 ngày kể từ ngày người phải THA nhận được thông báo hợp lệ quyết định THA Như vậy, có
sự không thống nhất về thời gian để tiến hành xác minh điều kiện THA theo quy định của Luật THADS Do đó, Luật THADS năm 2014 đã sửa đổi thống nhất, xác định rõ thời hạn Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện THA, cụ thể là: trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì CHV tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay
Thứ tư, trách nhiệm của người phải THA, Luật THADS năm 2014 xác
định cụ thể trách nhiệm của người phải THA phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện THA với cơ quan THADS
và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình Tuy nhiên, chế tài cụ thể cho quy định này chưa được quy định cụ thể
– Học Viện Tư Pháp, Số chuyên đề về Luật THADS 2/2009, tr 14
Trang 2924
Thứ năm, về thủ tục xác minh THA:
Để đảm bảo việc xác minh được chặt hiệu quả công tác phối hợp trong THADS, Luật THADS năm 2014 bổ sung quy định yêu cầu CHV phải xuất trình thẻ CHV; CHV được quyền yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc mời, thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh trong trường hợp cần thiết; được trực tiếp xem xét tài sản, sổ sách quản lý vốn, tài sản, xác minh tại cơ quan, tổ chức khác có liên quan đang quản lý, bảo quản, lưu giữ thông tin về tài sản, tài khoản của người phải THA Các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện THA phải thực hiện yêu cầu của CHV và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp Trường hợp từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý
do Xác định cụ thể và hợp lý hơn về trách nhiệm xác nhận biên bản xác minh; xác nhận của ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã, hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh
Tại khoản 1, Điều 9, Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định rõ: Khi tiến hành xác minh, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án Nội dung kê khai phải nêu rõ loại, số lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập; địa chỉ, nơi cư trú của người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng; khả năng và điều kiện thực hiện nghĩa vụ thi hành án Chấp hành viên phải nêu rõ trong biên bản xác minh điều kiện thi hành án về việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án Luật THADS năm 2014 cũng khẳng định rõ vai trò của các công chức
Tư pháp – Hộ tịch, địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường, cán bộ công chức cấp xã nói riêng và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác nói chung trong việc thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin cho
Trang 3025
CHV và phải chịu trách nhiệm về các nôi dung thông tin đã cung cấp; quy định rõ thời hạn phải thực hiện yêu cầu của CHV Cụ thể: Bảo hiểm xã hội, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; ký vào biên bản trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên, đối với thông tin
về tài khoản thì phải cung cấp ngay; Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do
Luật THADS năm 2014 cũng quy định về trách nhiệm của người được THA, các cơ quan, tổ chức trong trường hợp không hợp tác cung cấp thông tin điều kiện THA: Trường hợp người được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành
án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt hại thì phải bồi thường Khoản 1, Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định cụ thể và rõ ràng:
Trường hợp người phải thi hành án không kê khai hoặc phát hiện việc kê khai không trung thực thì tùy theo mức độ vi phạm, Chấp hành viên có thể xử phạt hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, Luật THADS năm 2014 cũng quy định rõ căn cứ và thời hạn xác minh lại: CHV thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của CHV và người được THA khác nhau hoặc có kháng nghị của VKSND thì phải xác
Trang 3126
minh lại Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của VKSND Quy định về kéo dài thời hạn xác minh (01 năm/1 lần) thay cho 06 tháng/1 lần như trước đây đối với trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải THA
Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung 2014 đã thêm một quy định mới tại Điều
44a, làm rõ hơn thế nào là “chưa có điều kiện thi hành án” và việc công khai
thông tin của người phải thi hành án trong một số trường hợp Theo đó, việc chưa có điều kiện thi hành án thuộc 1 trong 3 trường hợp sau:
- Khi người phải thi hành án không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;
- Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;
- Chưa xác minh được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng
Khoản 4 Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật THADS năm 2014 quy định cụ thể về thời hạn
ra quyết định về việc chưa có điều kiện THA: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 44a Luật THADS, Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án
Trang 3227
Luật THADS năm 2014 cũng quy định: Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa
vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho UBND cấp xã nơi xác minh để niêm yết Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành Quy định mới này nhằm nhắc nhở người phải THA cân nhắc, lựa chọn biện pháp tự nguyện THA, hạn chế các trường hợp không chấp hành án, góp phần giảm bớt chi phí, thời gian, trách nhiệm của CHV và người được THA trong quá trình tổ chức THA Theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP thì Cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi có đủ các điều kiện sau:
- Đã hết thời hạn 02 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án hoặc đã hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án;
- Đã xác minh ít nhất hai lần theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự;
- Không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án
Các trường hợp chưa có điều kiện thi hành án được quy định tại Điều 44a Luật THADS năm 2014, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự phải tiếp tục tổ chức việc thi hành án theo quy định tại khoản 4, Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP: Trong thời hạn 10 ngày,
kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh Sau khi có quyết định về
Trang 3328
việc chưa có điều kiện thi hành án, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án
Như vậy, có thể thấy Luật THADS năm 2014 đã sửa đổi khá toàn diện các quy định về xác minh điều kiện THA Các quy định mới đều rất phù hợp với thực tiễn, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà Luật THADS
2008 gặp phải, là những bước tiến nhằm nâng cao hiệu quả công tác THADS trong thời gian tới
Bên cạnh đó, Điều 3 Thông tư liên tịch số TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp _ TANDTC –VKSNDTC quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự có hướng dẫn cụ thể hơn về xác minh THA trong một số trường hợp cụ thể: Việc xác minh đối với tài sản thuộc diện phải đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Chấp hành viên căn cứ vào một trong các giấy tờ sau: hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc tặng cho, giấy chứng nhận
11/2016/TTLT-BTP-về quyền sở hữu, sử dụng tài sản hoặc thông qua chủ sở hữu, chính quyền địa phương, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan chức năng hoặc người làm chứng như xác nhận của người bán, của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng về việc mua bán tài sản
Đối với trường hợp đình chỉ thi hành án do người được thi hành án chết
mà không có người thừa kế thì phải xác minh qua chính quyền địa phương, cơ quan quản lý hộ khẩu, nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thi hành án Kết quả xác minh thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương để người có quyền, nghĩa vụ liên quan biết và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo công khai hợp lệ mà không có người khiếu nại thì được coi là có căn cứ đình chỉ thi hành án
Trang 3429
1 2.4 Ủy thác thi hành án dân sự
Ủy thác là việc chuyển giao toàn bộ hoặc từng phần việc thi hành bản
án, quyết định dân sự của Tòa án từ CQTHADS này sang CQTHADS khác theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự8” Uỷ thác THADS là trường hợp mà CQTHA có thẩm quyền THADS nhưng không có điều kiện để tổ chức thi hành mà phải chuyển hồ vụ việc cho CQTHA khác có điều kiện tổ chức thi hành vụ việc Điều 55 Luật THADS năm 2014 quy định về các nguyên tắc ủy thác THADS như sau:
- Thủ trưởng CQTHADS phải uỷ thác THA cho CQTHADS nơi người phải THA có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở Việc xác định người phải THA có tài sản ở địa phương nào được thực hiện thông qua công tác xác minh điều kiện THA Để việc uỷ thác được chính xác thì công tác xác minh cũng phải đúng và đầy đủ Thông thường, nơi làm việc của người phải THA cũng
là nơi chi trả thu nhập cho họ, cho nên Luật THADS quy định như vậy để thuận tiện hơn trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với người phải THA trong trường hợp họ không tự nguyện THA Khi xác minh nơi làm việc cần chú ý xác định rõ hình thức làm việc của họ như thế nào (Công chức hay làm việc theo hợp đồng dài hạn, ngắn hạn ) Khi xác định nơi cư trú của người phải THA, CHV cần căn cứ vào quy định tại Luật Cư trú năm 2006
Điều 12 quy định xác định nơi cư trú của công dân như sau: Nơi cư trú của
công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú; Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú; Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú
8
TS Nguyễn Công Bình, Giáo trình Luật Thi hành án dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư pháp,
2018 tr136
Trang 3530
- Trường hợp người phải THA có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở
ở nhiều địa phương thì Thủ trưởng CQTHADS uỷ thác THA từng phần cho CQTHADS nơi người phải THA có điều kiện THA để thi hành phần nghĩa vụ của họ
- Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì Thủ CQTHADS ủy thác đến CQTHADS nơi người phải THA có tài sản; nếu không xác định được nơi có tài sản hoặc nơi có tài sản trùng với nơi làm việc,
cư trú, có trụ sở của người phải THA thì ủy thác đến nơi làm việc, cư trú hoặc nơi có trụ sở của người đó
- Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải THA cư trú hoặc
có tài sản ở các địa phương khác nhau thì Thủ trưởng CQTHADS uỷ thác toàn bộ nghĩa vụ THA đến CQTHADS thuộc một trong các địa phương nơi người phải THA có điều kiện THA
Việc ủy thác phải thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác; trường hợp cần thiết phải ủy thác việc thi hành quyết định của Tòa án về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì việc uỷ thác phải thực hiện ngay sau khi có căn cứ uỷ thác
Điều 56 Luật THADS năm 2014 quy định, CQTHADS cấp tỉnh uỷ thác thi hành các BA, QĐ sau đây:
- Uỷ thác cho CQTHADS cấp tỉnh nơi khác thi hành các BA, QĐ về nhận người lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại mà người phải thi hành án là cơ quan nhà nước cấp tỉnh trở lên; bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; quyết định của Trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;
- Ủy thác cho CQTHADS cấp quân khu thi hành vụ việc mà đương sự hoặc tài sản có liên quan đến quân đội trên địa bàn;
Trang 36CQTHA cấp quân khu ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền THA của mình cho CQTHA cấp quân khu khác, CQTHADS cấp tỉnh hoặc CQTHADS cấp huyện có điều kiện thi hành
1.2.5 Hoãn thi hành án dân sự
Hoãn THA là việc CQTHA quyết định chưa thực hiện việc thi hành bản án, quyết định dân sự sau khi có những căn cứ do pháp luật quy định Hay
nói cách khác “là chuyển thời điểm thi hành bản án, quyết định dân sự đã
khi có các căn cứ quy định theo Luật THADS
Các căn cứ hoãn THA tại Điều 48 Luật THADS năm 2008 trong thực tiễn thi hành đã bộc lộ một số bất cập, vướng mắc, nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến việc không thống nhất thi hành So với Luật THADS năm 2008, Luật THADS năm 2014 đã có những quy định về căn cứ hoãn THA như sau:
Thứ nhất, bổ sung căn cứ hoãn thi hành án khi người phải THA bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án:
Thứ hai, sửa đổi căn cứ hoãn thi hành án theo điểm b, Điều 48 Luật THADS 2008 như sau: Đương sự đồng ý hoãn thi hành án; việc đồng ý hoãn thi hành án phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác;
Theo đó, Luật THADS năm 2014 quy định rõ “trừ trường hợp đương sự
có thỏa thuận khác” thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm
Trang 37
kê biên;” Việc bỏ căn cứ hoãn THA này là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ Luật
THADS sửa đổi, bổ sung đã bỏ quy định về trả đơn yêu cầu THA và quy định trong mọi trường hợp, người phải THA không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để THA thì cơ quan THA sẽ ra quyết định về việc chưa có điều kiện THA Như vậy, cơ quan THA sẽ không phải ra quyết định hoãn THA như trước đây
Thứ tư, sửa đổi căn cứ hoãn THA theo điểm d, Khoản 1, Điều 48 Luật THADS 2008 như sau:
- Tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này; tài sản được kê biên theo Điều 90 của Luật này nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm;
- Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 170 và khoản 2 Điều 179 của Luật này;
Trước đây, theo quy định tại điểm d khoản 1, Điều 48 Luật THADS năm
2008 thì CQTHADS ra quyết định hoãn thi hành án khi tài sản kê biên có tranh chấp đã được Tòa án thụ lý để giải quyết Như vậy, để có thể ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp này phải thỏa mãn hai điều kiện đó là tài sản tranh chấp phải là tài sản đã kê biên (đã ra quyết định cưỡng chế kê biên hoặc đã tiến hành kê biên) và tranh chấp đó đã được Tòa án thụ lý giải
Trang 3833
quyết Xuất phát từ quy định như vậy, nên trong thực tiễn thi hành đã xuất hiện vướng mắc cho các cơ quan THADS khi áp dụng quy định này Chẳng hạn như trường hợp cơ quan THADS chưa ra quyết định cưỡng chế kê biên nhưng người có tài sản chung đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chia tài sản chung hoặc người có tranh chấp khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp đối với tài sản và Tòa án đã thụ lý giải quyết Trường hợp này trên thực
tế một số CQTHADS băn khoăn trong việc ra quyết định hoãn thi hành án hay không ra quyết định hoãn thi hành án Với vướng mắc trong thực tiễn như
vậy, nên hiện nay, điểm d khoản 1 Điều 48 được sửa đổi thành “tài sản được
thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này…” Quy định như vậy đã giải quyết được vướng mắc
trước đây của các cơ quan THA Với quy định mới này, bất kỳ trường hợp nào khi Tòa án đã thụ lý để giải quyết theo Điều 74 và Điều 75 Luật THADS thì cơ quan THA phải ra quyết định hoãn THA
Bên cạnh đó, Luật sửa đổi, bổ sung còn bổ sung căn cứ hoãn THA khi tài sản được kê biên theo Điều 90 của Luật này nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm
Thứ năm, bổ sung thêm căn cứ hoãn THA: Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận
Thứ sáu, bổ sung căn cứ hoãn THA: Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 54 của Luật này chưa thực hiện được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
Thứ bảy, bổ sung căn cứ hoãn THA: Tài sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 104 của Luật này
Trước đây, theo điểm c, khoản 1, Điều 51 Luật THADS năm 2008 thì tài sản kê biên không bán được mà người được THA không nhận để THA thì
Trang 3934
CQTHA ra quyết định trả đơn yêu cầu THA Hiện nay, Luật mới bỏ quy định trả đơn yêu cầu THA Vì vậy căn cứ này chuyển vào căn cứ hoãn THA là phù hợp
Thời hạn hoãn THA trong trường hợp người có thẩm quyền kháng
nghị yêu cầu hoãn THA không quá 3 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn THA Đối với các trường hợp khác, thời hạn hoãn THA cho đến khi lý
do của việc hoãn không còn nữa
Thời hạn ra quyết định hoãn THA là 5 ngày làm việc kể từ ngày có căn
cứ hoãn THA quy định tại khoản 1 Điều 48 Quy định này của Luật THADS năm 2014 nâng cao trách nhiệm của cơ quan THADS, hạn chế tình trạng kéo dài thời hạn THA, gây khó khăn cho quá trình THA, không đảm bảo quyền lợi của đương sự
Về thẩm quyền hoãn THADS, Thủ trưởng CQTHADS đã ra quyết định
THA có thẩm quyền ra quyết định hoãn THA Ngoài ra, người có thẩm quyền kháng nghị BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cũng có quyền yêu cầu hoãn THA Trong trường hợp này, thủ trưởng CQTHADS ra quyết định hoãn ngay khi nhận được yêu cầu nhưng it nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế Hậu quả pháp lý quan trọng sau khi hoãn THA đó là các hoạt động THADS được tạm ngừng lại; trường hợp vụ việc đã đươc thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì CQTHADS phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn THA; người phải THA không chịu lãi suất chậm THA Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi căn cứ hoãn THA không còn, hết thời hạn hoãn THA theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị hoặc nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì thủ trưởng CQTHADS phải ra quyết định tiếp tục THA
Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định hoãn thi hành án theo quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự trong trường hợp người phải thi hành án phải tự mình thực hiện nghĩa vụ theo bản
án, quyết định Trường hợp đương sự có tài sản khác ngoài trường hợp quy
Trang 4035
định tại Điểm d Khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó để thi hành án
1.2.6 Tạm đình chỉ THADS
Tạm đình chỉ THA là việc CQTHA tạm thời ngừng việc thi hành BA,
QĐ dân sự khi có những căn cứ pháp luật quy định Việc tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định tại Điều 49 Luật THADS Theo đó, có hai căn cứ tạm đình chỉ THADS, đó là :
- CQTHADS nhận được thông báo của Tòa án về việc đã thụ lý đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải THA Quy định mới này đã tạo
nên sự thống nhất giữa Luật phá sản và Luật THADS, bởi Điều 41 Luật Phá sản năm 2014 quy định việc THA bị tạm đình chỉ khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản10
- Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đã bị kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Trong trường hợp BA, QĐ bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là thì việc thi hành án sẽ được tạm đình chỉ cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm Do trên thực tế không phải mọi trường hợp khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm là có kết quả xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cho nên Luật THADS năm 2014 quy định về thời hạn tạm đình chỉ trong trường hợp này là phù hợp với thực tế và BLTTDS năm 2015 Trong thời hạn tạm đình chỉ do có kháng nghị thì người phải THA không phải chịu lãi suất chậm THA
Việc ra quyết định tạm đình chỉ THA trong trường hợp này do người có thẩm quyền kháng nghị BA, QĐ đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám