- Luận án Tiến sĩ Luật học: “Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình – Vấn đề lý luận và thực tiễn” của Ngô Thị Hường, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006… - Luận văn Thạc sĩ Luậ
Trang 1NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN VÀ CON CHUNG KHI LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
TẠI HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 2NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN VÀ CON CHUNG KHI LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
TẠI HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGÔ THỊ HƯỜNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn này đảm bảo tính chính xác và trung thực Những nội dung trong luận văn có sử dụng tài liệu tham khảo đều được trích dẫn nguồn đầy đủ và chính xác Đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4HĐTP : Hội đồng thẩm phán HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình
Trang 52018
Bảng 2.2 Tỉ lệ các vụ, việc hôn nhân và gia đình hòa giải thành
Bảng 2.3 Độ tuổi của con trong các vụ việc hôn nhân và gia đình đã thụ lý
Bảng 2.4 Số vụ việc đưa ra xét xử và công nhận sự thỏa thuận của đương sự
Trang 6Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ PHÁP
LÝ VỀ TÀI SẢN VÀ CON CHUNG KHI LY HÔN 6
1.1 Khái niệm ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn 6
1.1.1 Khái niệm ly hôn 6
1.1.2 Khái niệm hậu quả pháp lý của ly hôn 8
1.2 Giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn 9
1.2.1 Khái niệm giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn 9
1.2.2 Đặc điểm của giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn 10
1.3 Pháp luật hiện hành về giải quyết hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản và con chung khi ly hôn 13
1.3.1 Hậu quả pháp lý về tài sản 13
1.3.2 Hậu quả pháp lý về con chung 18
Chương 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN VÀ CON CHUNG KHI LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA 22
2.1 Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội và điều kiện cơ sở vật chất, con người của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 22
2.1.1 Đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Mai Sơn 22
2.1.2 Điều kiện con người và cơ sở vật chất của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn 24
2.2 Thực tiễn giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 27
2.2.1 Thực tiễn giải quyết về tài sản 27
2.2.2 Thực tiễn giải quyết về con chung 41
2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 51
Trang 7VÀ CON CHUNG KHI LY HÔN 54
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tài sản và con chung khi ly hôn 54
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về phân chia tài sản chung và con chung khi ly hôn 55
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 55
3.2.2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật 64
KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi kết hôn các cặp vợ chồng đều hướng tới mục đích tươi đẹp là xây dựng một cuộc sống chung hạnh phúc Tuy nhiên, không phải cặp vợ chồng nào khi xác lập quan hệ hôn nhân cũng đều đạt được mục đích đó Khi mâu thuẫn phát sinh gay gắt, đời sống chung không thể tiếp tục duy trì thì ly hôn là điều dễ xảy ra Đây có lẽ
là giải pháp tối ưu, giải thoát cho vợ, chồng khỏi sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ đối với nhau, tạo điều kiện cho vợ hoặc chồng có thể tìm cho mình một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, tránh được những xung đột, bạo lực trong gia đình Đó chính là nền tảng và là cơ sở quan trọng để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, góp phần vào việc ổn định xã hội, tạo điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế gia đình cũng như phát triển xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho mỗi cá nhân
Để được ly hôn, vợ chồng bắt buộc phải nộp đơn tới Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết Thực tế xét xử tại các Tòa án, án ly hôn chiếm tới khoảng 1/2 số vụ việc dân sự do Tòa án thụ lý giải quyết và con số này ngày càng có xu hướng gia tăng Trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, vợ chồng có thể tự thỏa thuận về việc phân chia tài sản và con chung Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp vợ chồng không thể thống nhất được việc phân chia này Vì vậy, các tranh chấp về việc phân chia tài sản chung và con chung khi ly hôn thường xuyên xảy ra, chiếm tỉ lệ lớn trong các loại việc hôn nhân và gia đình
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định cụ thể về việc phân chia tài sản và con chung khi ly hôn Trong quá trình giải quyết tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, các thẩm phán đã vận dụng triệt để, chính xác các quy định đó Tuy nhiên, do các quan hệ xã hội thường xuyên biến đổi, nảy sinh các tình huống mới mà pháp luật còn chưa dự liệu nên đôi khi trong công tác áp dụng pháp luật các chủ thể còn gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, nhận thức pháp luật của người dân tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới thực trạng giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn
Trang 9Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về các quy
định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, tác giả lựa chọn đề tài “Thực trạng giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn theo Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” để làm đề tài luận văn
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề hậu quả pháp lý của ly hôn là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu ở phạm vi rộng, hẹp khác nhau, bao gồm các công trình như: Sách, luận án, luận văn và các bài viết đăng trên báo, tạp chí chuyên ngành Trong
đó có thể kể tới một số công trình sau:
- Sách chuyên khảo: “Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” do Đinh Thị Mai Phương chủ biên, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000” của tác giả Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường (chủ biên), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Cừ, nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội, 2008
- Luận án Tiến sĩ Luật học: “Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình – Vấn đề lý luận và thực tiễn” của Ngô Thị Hường, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006…
- Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Áp dụng pháp luật chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại tỉnh Sơn La” của tác giả Lò Thị Thu Hoa, trường Đại học Luật
Hà Nội, 2016; “Áp dụng pháp luật trong giải quyết ly hôn trên địa bàn tỉnh Điện Biên” của tác giả Nguyễn Thị Nga, trường Đại học Luật Hà Nội, 2016; “Bảo vệ quyền lợi của người vợ khi ly hôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Doãn Thanh Thủy, trường Đại học Luật Hà Nội, 2015; “Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai, trường Đại học Luật Hà Nội, 2015; “Hậu quả pháp lý của ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” của tác giả Nguyễn Viết Thái, trường Đại học Luật Hà Nội,
Trang 102013; “Ly hôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Cao Mai Hoa, trường Đại học Luật Hà Nội, 2014; “Pháp luật Việt Nam với việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn” của tác giả Lê Thị Loan, trường Đại học Luật Hà Nội, 2015…;
- Bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật như: “Xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1 năm 2010; “Bình đẳng giới trong gia đình” của tác giả Ngô Thị Hường, đăng trên tạp chí Luật học, số 5 năm 2012…
Rà soát các công trình nghiên cứu trên, tác giả nhân thấy về chế độ tài sản của vợ chồng, có tác giả nghiên cứu về vấn đề chia tài sản trong thời kì hôn nhân,
có tác giả lại nghiên cứu vấn đề chế định cấp dưỡng, có tác giả nghiên cứu về vấn
đề chia tài sản khi vợ chồng ly hôn… Tuy nhiên, các tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu một khía cạnh về phân chia tài sản hoặc giải quyết quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa vợ chồng với con chung, còn vấn đề nghiên cứu chung về hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn thì chưa có một đề tài nào nghiên cứu đầy đủ và đặc biệt về thực trạng giải quyết vấn đề chia tài sản chung và con chung của vợ chồng khi ly hôn tại tỉnh Sơn La thì chưa có công trình nào đề cập đến Do đó, để bù đắp lỗ hổng nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Thực trạng giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn
La” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hôn nhân
và gia đình hiện hành về hậu quả pháp lý về tài sản và con chung của vợ chồng khi
ly hôn và thực tiễn thi hành trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Để thực hiện mục đích này, luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu khái quát một số vấn đề lý luận về ly hôn; hậu quả pháp lý về tài sản khi ly hôn; hậu quả pháp lý về con chung của vợ chồng khi ly hôn
Trang 11- Phân tích, đánh giá nội dung các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản liên quan về việc phân chia tài sản chung, giải quyết vấn
đề con chung của vợ chồng khi ly hôn
- Đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về việc giải quyết quan hệ tài sản và con chung khi ly hôn của vợ chồng tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung của vợ chồng khi ly hôn
4 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả khoanh vùng phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau:
- Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành
- Phạm vi nghiên cứu thực tiễn: Trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Phạm vi thời gian: Từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực tới nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính được sử dụng là phương pháp tổng hợp, phân tích Bên cạnh đó để giải quyết vấn đề nghiên cứu, người viết còn sử dụng phương pháp logic tại Chương 1, phương pháp phỏng vấn, liên hệ thực tế và so sánh để nêu rõ các nội dung ở Chương 2, và phương pháp so sánh để làm rõ phương hướng hoàn thiện pháp luật và đưa ra các đề xuất cụ thể cho vấn đề này tại Chương 3
6 Kết quả nghiên cứu của luận văn
Luận văn đạt được những kết quả chủ yếu sau:
- Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm pháp lý của hậu quả pháp lý về tài sản và hậu quả pháp lý về con chung của vợ chồng khi ly hôn;
- Nêu thực trạng giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung của vợ chồng khi ly hôn tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó
Trang 12- Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung của vợ chồng khi ly hôn tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo luận văn được
cơ cấu thành ba chương là:
Chương 1 Khái quát chung về giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn
Chương 2 Thực tiễn giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi
ly hôn tại tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Chương 3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết tài sản và con chung khi ly hôn
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN
VÀ CON CHUNG KHI LY HÔN 1.1 Khái niệm ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn
1.1.1 Khái niệm ly hôn
Ly hôn là một thuật ngữ pháp lý được đề cập đến trong rất nhiều công trình nghiên cứu Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, ly hôn là một hiện tượng
xã hội mang tính giai cấp sâu sắc và bị quyết định bởi chế độ xã hội Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân Nếu như kết hôn làm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng đó Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng lại
là mặt không thể thiếu của quan hệ hôn nhân khi quan hệ này đã thực sự tan vỡ Khi quan hệ hôn nhân đã không thể tiếp tục duy trì thì ly hôn là điều cần thiết, có lợi cho
vợ, chồng và các thành viên trong gia đình cũng như toàn thể xã hội Theo V.I Lê nin: “Thực ra, tự do ly hôn không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình
mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có và vững chắc trong một xã hội văn minh”1 Thực chất, ly hôn giúp giải phóng gia đình khỏi những xung đột, mâu thuẫn và bế tắc trong cuộc sống chung, giúp những thành viên trong gia đình không còn phải tiếp tục duy trì một cuộc sống chung khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích hôn nhân đã không thể đạt được Do đó, theo quan điểm trên, tự do ly hôn cũng góp phần thúc đẩy sự bền chắc của gia đình và xã hội
Trang 14thích này chưa nói lên được hậu quả của việc ly hôn, cũng như trình tự, thủ tục ly hôn Bởi việc vợ chồng bỏ nhau không đương nhiên được công nhận là ly hôn về mtawj pháp lý
Xét về mặt luật học:
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thì ly hôn được định nghĩa “là chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”3 Đây là định nghĩa phản ánh quan điểm chung nhất về ly hôn, thể hiện bản chất pháp lí của ly hôn Do đó, cách giải thích này được sử dụng nhiều trong công tác nghiên cứu, giảng dạy khoa học Luật và giải thích cho các đương sự có liên quan trong thực tiễn giải quyết các vụ việc ly hôn
Khái niệm ly hôn cũng đã được định nghĩa trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam và có sự thay đổi phù hợp với thực tiễn xã hội Luật HN&GĐ năm 2000 quy định “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng “khoản 8, Điều 8) Đến Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án (khoản 14, Điều 3) Hai cách định nghĩa này đều xác định ly hôn là làm chấm dứt quan hệ vợ chồng và thẩm quyền giải quyết ly hôn chỉ có thể do Tòa án giải quyết Tuy nhiên, định nghĩa về ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 đã mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu giải quyết
ly hôn, theo đó không chỉ có vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu
ly hôn như Luật HN&GĐ năm 2000 quy định
Qua các định nghĩa về ly hôn trên có thể thấy ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng Việc chấm dứt quan hệ vợ chồng xuất phát từ bản chất của cuộc hôn nhân “đã chết” như Mác- Ăng ghen đã chỉ ra: “Bản chất của ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện, cuộc sống hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối”4 Vợ chồng ly hôn bởi cuộc hôn
3 Viện nghiên cứu khoa học pháp lí – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 460
4 C.Mác – Ph Ăng ghen (2002), “Bản dự luật về ly hôn”, Toàn tập, tập 1, tr 231-235, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội
Trang 15nhân của họ đã mất hết ý nghĩa, việc ly hôn để giải phóng cho vợ, chồng khỏi những mâu thuẫn sâu sắc mà họ không thể tự giải quyết được Tuy vậy, tự do ly hôn không có nghĩa là ly hôn một cách tùy tiện Trong C.Mác – Ph Ăng ghen toàn tập,
C Mác phê phán mạnh mẽ quan điểm vợ chồng chỉ nghĩ đến hạnh phúc cá nhân và xin ly hôn một cách tùy tiện, không chú ý đến lợi ích chung của gia đình, của nhà nước và xã hội Do đó, Nhà nước ta đã quy định Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết ly hôn Quyết định của Tòa án thể hiện bằng bản án hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn Tòa án quyết định cho ly hôn phải căn cứ vào quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như tiên hành theo một thủ tục luật định để xác định sự kiện vợ chồng chấm dứt quan hệ hôn nhân
1.1.2 Khái niệm hậu quả pháp lý của ly hôn
Trong Luật Hôn nhân và gia đình cũng như các văn bản pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa “hậu quả pháp lý về ly hôn” Xét về mặt ngữ nghĩa, “Hậu quả pháp lý của ly hôn” được cấu tạo bởi hai thành tố là “hậu quả pháp lý” và “ly hôn” Theo đó, để có thể hiểu được nội hàm của khái niệm này tác giả sẽ làm rõ định nghĩa về hai thành phần nêu trên của nó Trong đó khái niệm “ly hôn” tác giả
đã phân tích ở phần trên Do đó, trong nội dung tiểu mục này tác giả sẽ làm rõ khái niệm “hậu quả pháp lý”
Theo từ điển tiếng Việt “hậu quả” được hiểu là “kết quả không hay, có ảnh hưởng về sau”5, còn “pháp lý” là “những lí luận, nguyên lí về pháp luật”6
Như vậy,
có thể hiểu “hậu quả pháp lý” là những hệ quả (thông thường mang tính chất tiêu cực) về mặt pháp luật do hành vi mà một chủ thể pháp luật nào đó đã thực hiện để
lại/ mang đến Từ đó có thể hiểu “hậu quả pháp lý của ly hôn” là những hệ quả mà
pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng với nhau, vợ và chồng với con chung khi họ thực hiện hành vi ly hôn
Xét về mặt xã hội, ly hôn ảnh hưởng sâu sắc đến lợi ích của vợ chồng, của gia đình và xã hội Từ góc độ pháp luật, việc Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn
5 Từ điển tiếng Việt (2010), nxb Đà Nẵng, tr 666
6 Từ điển tiếng Việt (2010), nxb Đà Nẵng, tr 1192
Trang 16dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định: Chấm dứt quan hệ vợ chồng, đồng thời Tòa án cần phải giải quyết các vấn đề về chia tài sản giữa vợ chồng, quyết định cấp dưỡng cho người vợ, người chồng gặp khó khăn, túng thiếu sau khi ly hôn và về vấn đề con cái (nếu có)7 Như vậy, hậu quả pháp lý của ly hôn bao gồm việc giải quyết cả các quan hệ về nhân thân giữa vợ chồng với nhau, giữa vợ chồng với con cái và quan hệ tài sản cụ thể là quan hệ cấp dưỡng giữa vợ chồng việc phân chia tài sản chung của vợ chồng
1.2 Giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn
1.2.1 Khái niệm giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn
Nam nữ có tình cảm với nhau và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì được quyền đăng ký kết hôn với nhau để xác lập quan hệ vợ chồng Đây là một thủ tục pháp lý bắt buộc phải thực hiện để quan hệ chung sống giữa người nam và người nữ trở nên hợp pháp (được pháp luật thừa nhận) Cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn là
ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cấp huyện theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật hộ tịch Và khi cán bộ tư pháp có thẩm quyền thực hiện công việc đăng ký kết hôn cho cặp đôi người nam và người nữ chính là việc giải quyết các yêu cầu về mặt pháp lý để công nhận hôn nhân của họ là hợp pháp
Thông thường khi xác lập quan hệ hôn nhân cặp vợ chồng nào cũng mong muốn có được một cuộc sống gia đình hạnh phúc, đầm ấm Tuy nhiên, khi cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được, việc chung sống không còn là niềm hạnh phúc của vợ chồng và các thành viên trong gia đình thì ly hôn là điều tất yếu Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình và pháp luật
tố tụng dân sự thì việc giải quyết yêu cầu ly hôn cho vợ chồng sẽ do tòa án nhân dân thụ lý và giải quyết Theo đó, cán bộ Tòa án sẽ tuân theo các quy định chung về thủ tục tố tụng dân sự để tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu cũng như đơn xin ly hôn của các cặp vợ chồng khi họ muốn ly hôn Việc thực hiện các công việc này của các
Nội, tr 278
Trang 17cán bộ Tòa án chính là quá trình áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ly hôn là một hành vi pháp lý mà hậu quả pháp lý của nó sẽ dẫn tới việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền bắt buộc phải giải quyết các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ với chồng và giữa vợ chồng với các thành viên khác trong gia đình mà việc giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung chính là một trong những hậu quả pháp lý đó
Từ đó có thể hiểu “Giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly
hôn” là hoạt động áp dụng pháp luật của tòa án và các cán bộ tòa án có thẩm quyền vận dụng các quy định của pháp luật để phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và giao con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao độn, không có tài sản để tự nuôi mình cho một bên vợ hoặc chồng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; đồng thời quyết định vấn đề cấp dưỡng và thăm nom con của những người không trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn
1.2.2 Đặc điểm của giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn
Giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn là một hình thức cụ thể của áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc về ly hôn, nên khi chủ thể áp dụng pháp luật phải tuân theo những nguyên tắc và trình tự chung về thủ tục giải quyết vụ việc ly hôn cũng như pháp luật nội dung về hôn nhân và gia đình Bên cạnh đó, hoạt động giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn còn có những điểm đặc trưng riêng sau đây:
Thứ nhất, giải quyết hậu quả pháp lý về ly hôn nói chung và phân chia tài sản, con chung khi ly hôn là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do tòa án nhân dân có thẩm quyền tiến hành
Trong việc thực hiện quyền tư pháp, khoản 2 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Trong việc thực hiện quyền tư pháp, tòa án nhân dân là
cơ quan xét xử, tham gia thực hiện quyền tư pháp trong phạm vi một địa giới hành chính Với thẩm quyền xét xử của mình trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, khi xét
Trang 18xử Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật, căn cứ vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc của tài sản cũng như thời gian sinh thành của đứa trẻ để xác định tài sản chung hay tài sản riêng, con chung hay con riêng của vợ chồng Từ đó, Tòa án sẽ ra những bản án, quyết định có tính bắt buộc thực hiện đối với các bên Trong trường hợp chủ thể bị áp dụng pháp luật không nghiêm chỉnh thực hiện phán quyêt của tòa
án thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật
Thứ hai, việc giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn là hoạt động mang tính cá biệt nhằm cụ thể hóa những quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng
Khi vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng hoặc cha, mẹ, người thân thích theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có đơn yêu cầu
ly hôn thì “Tòa án sẽ thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng” (khoản 1 Điều 53 Luật HN&GĐ 2014) Như vậy, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết
vụ việc ly hôn cũng như phân chia tài sản chung và con chung của vợ chồng khi ly hôn nếu có yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn yêu cầu đó Quan hệ pháp luật về về ly hôn cũng là một loại quan hệ pháp luật dân sự, theo đó việc giải quyết các quan hệ này, Tòa án luôn luôn phải tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thỏa thuận Theo đó, tòa án tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự, nếu sự thỏa thuận đó đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên, đặc biệt
là của vợ và con thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó nếu nó không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội Trường hợp các bên
đã thỏa thuận được một số nội dung và còn một số nội dung không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết và tòa án sẽ chỉ giải quyết trong phạm vi đương
sự yêu cầu Sau đó, Tòa án căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân Bản án, quyết định của tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức tòa án năm 2014) Vì vậy, các phan quyết của tòa án về việc phân chia tài sản cũng như con chung của vợ chồng khi ly hôn là hoạt động mang tính cá biệt nhằm
Trang 19cụ thể hóa những quyền và nghĩa vụ của vợ chồng thông qua nội dung các quyết định, bản án
Thứ ba, việc giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo Do đó các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật cần phải nghiên cứu kỹ vụ việc và các căn cứ pháp lý để áp dụng pháp luật chia tài sản và con chung của vợ chồng khi ly hôn chính xác, hợp tình hợp lý Trong trường hợp pháp luật chưa có quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng sáng tạo bằng cách áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật và
án lệ để giải quyết vụ việc Điều 7, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng” Như vậy, nếu như trong các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung và các quan hệ phân chia tài sản, con chung khi ly hôn nói riêng mà pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì sẽ áp dụng tập quán tốt đẹp của các dân tộc nếu tập quán đó không trái với nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, không
vi phạm điều cấm của pháp luật Ngoài ra, khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định: “Tòa án không được từ chói giải quyết vụ việc dân sự vì lý
do chưa có điều luật để áp dụng” Trên cơ sở đó, Điều 5 và Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định cách thức giải quyết trong trường hợp này như sau: Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự tương tự; trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều
3 của Bộ luật này áp dụng án lệ và lẽ công bằng Như vậy, pháp luật quy định Tòa
án được phép áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật và án lệ để giải quyết những trường hợp chưa có điều luật để áp dụng Điều đó đòi hỏi phải có tính sáng tạo trong quá trình áp dụng pháp luật Đồng thời, tính sáng tạo này còn thể hiện ở
Trang 20việc áp dụng pháp luật một cách linh hoạt phù hợp với hoàn cảnh, tránh máy móc gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như đứa trẻ
1.3 Pháp luật hiện hành về giải quyết hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản và con chung khi ly hôn
1.3.1 Hậu quả pháp lý về tài sản
Khi ly hôn, nếu các bên chứng minh được tài sản riêng của mình thì tài sản
đó sẽ thuộc về người đó Riêng đối việc với phân chia tài sản chung của vợ chồng, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP) quy định: “Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo quy định của pháp luật” Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện theo các trường hợp sau:
Thứ nhất, trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc
vợ chồng tự thỏa thuận
- Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận:
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có điểm mới so với Luật HN&GĐ năm
2000 đó là: “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận” (khoản 1 Điều 28) Vì vậy, nếu “Trường hợp vợ chồng có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không
bị tòa án tuyên bố là vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn” (điểm b, khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP)
- Trường hợp vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chung khi ly hôn:
Là sự thỏa thuận chia tài sản chung khi ly hôn nhưng đây là trường hợp vợ chồng thỏa thuận chia khi lựa chọn để chế độ tài sản theo luật định Luật HN&GĐ
Trang 21năm 2014 quy định “Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận”
Như vậy, pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng và cho phép vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng với nhau Trước hết, nếu các bên đã lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận và những thỏa thuận này có hiệu lực thì khi ly hôn sẽ áp dụng những thỏa thuận này để chia tài sản chung của
vợ chồng Tiếp theo nếu vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản thỏa thuận nhưng khi ly hôn đã tự thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng, sự thỏa thuận của vợ chồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Chẳng hạn như việc thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với bên thứ ba sẽ bị coi là vi phạm quy định của pháp luật và không được thừa nhận Việc tự thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn phải đảm bảo nguyên tắc
vợ, chồng hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, đe dọa, cưỡng ép, ngăn cản bên nào… Ngoài ra, Luật HN & GĐ năm 2014 còn quy định việc tự thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hon còn phải đảm bảo các nguyên tắc theo khoản 2 Điều 50
Việc vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản khi ly hôn có ý nghĩa rất lớn, nó không chỉ đáp ứng được nguyện vọng của các bên mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn đề phát sinh như: Tòa án sẽ không cần phải tiến hành xác định đâu là tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, giúp tiết kiệm được rất nhiều thời gian, tránh xảy ra tình trạng tranh chấp kéo dài; đối với việc thi hành án thì việc thi hành án cũng được tiến hành một cách dễ dàng, nhanh chóng
Pháp luật hiện hành không ghi nhận việc thỏa thuận chia tài sản chung của
vợ chồng cần có sự ghi nhận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Vì vậy có thể thấy pháp luật nước ta tôn trọng tối đa sự tự định đoạt tài sản của vợ chồng khi
có thỏa thuận, không cần điều kiện phải được tòa án công nhận mới có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, khi không quy định như vậy có thể sẽ tạo kẽ hở cho các cặp
vợ, chồng lợi dụng thỏa thuận chia tài sản chung nhằm mục đích trốn tránh thực
Trang 22hiện nghĩa vụ đối với người thứ ba Do vậy thông tư liên tịch số 01/2016 hướng dẫn: “Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ
ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng Trường hợp
vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác” Quy định này nhằm góp phần bảo đảm cho người thứ ba liên quan đến tài sản của vợ chồng, khi vợ chồng ly hôn mà có yêu cầu giải quyết quyền và nghĩa vụ đối với người thứ ba thì Tòa án sẽ giải quyết khi chia tài sản ly hôn
Tuy nhiên, trong thực tiễn không phải trường hợp nào vợ chồng đều có thể cùng nhau thỏa thuận việc chia tài sản chung của họ theo đúng ý nguyện của mình, nhất là khi tình cảm vợ chồng của họ không còn nữa thì rất khó để họ có thể ngồi nói chuyện với nhau để cùng bàn bạc, thỏa thuận việc phân chia tài sản chung Do vậy, pháp luật quy định vợ chồng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết
Thứ hai, trường hợp vợ chồng yêu cầu Tòa án giải quyết
Khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như sau: “2.Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sẩn chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” Theo đó pháp luật ghi nhận: trong trường hợp vợ chồng chọn chế độ tài sản theo luật định và đã có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận nhưng thỏa thuận này
bị Tòa án tuyên bố vô hiệu, hoặc với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận, hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, hoặc vợ
Trang 23chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luật định thì khi vợ chồng ly hôn mà không tự thỏa thuận được việc chia tài sản chung khi ly hôn họ có thể yêu cầu Tòa án giải quyết Việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn phải tuân thủ triệt để nguyên tắc trên Quy định này đã được hướng dẫn cụ thể tại khoản 4, Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, cụ thể: Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến yếu
tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:
Một là, “hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” Đây là các yếu tố về năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng
Hai là, “công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung”: Các yếu tố được kể đến như sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình
mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia phần nhiều hơn
Ba là, “bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” Theo căn cứ này, việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục sản xuất, kinh doanh để tạo ra thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi
Trang 24bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và các thành viên trong gia đình
Bốn là, “lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” Yếu
tố lỗi được nhắc đến ở đây là sự nhận thức, ý thức của bên vợ hoặc chồng trong việc làm cho hôn nhân tan vỡ dẫn đến ly hôn Ví dụ trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng
để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên
Quy định trên đã đảm bảo việc phân chia tài sản chung được thực hiện một cách công bằng cũng như đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng Pháp luật quy định việc phân chia này cần phải xem xét tới hoàn cảnh của các bên vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Chính điều này đã đặt ra yêu cầu đối với cơ quan tòa án khi giải quyết việc chia tài sản chung cần phải tiến hành điều tra, tìm hiểu mọi vấn đề liên quan đến tài sản, công sức đóng góp cũng như hoàn cảnh sống của các bên để phân chia một cách công bằng, hợp lý
Khoản 3, Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 còn quy định: “Tài sản chung của
vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch” Quy định này góp phần hạn chế những hệ quả xấu khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Việc chia tài sản chung của vợ chồng có thể chia bằng hiện vật hoặc chia theo giá trị, nếu chia bằng hiện vật thì phải đảm bảo vật phải sử được được sau khi chia, cho nên sẽ xảy
ra trường hợp một bên nhận tài sản sẽ có giá trị lớn hơn bên kia Vì vậy pháp luật quy định, bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch của tài sản đó
Ngoài ra, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP cũng quy định nguyên tắc “giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc” Bởi vì, việc xác định giá trị của tài sản không phải là vấn đề đơn giản Giá trị của tài
Trang 25sản thường biến động theo giá thị trường Để hạn chế các tranh chấp liên quan đến việc xác định giá trị tài sản pháp luật đã quy định giá trị của tài sản được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm Quy định như vậy cũng tạo nên
sự thống nhất trong đường lối xét xử của Tòa án, qua đó bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các bên
Khi giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, pháp luật quy định Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Ví dụ khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc người chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc người vợ nếu người đó
có yêu cầu
Luật HN&GĐ năm 2014 đã có những hướng dẫn cụ thể đối với một số trường hợp: chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình; chia quyền sử dụng đất của vợ chồng ly hôn; chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh tại Điều 61, 62 và 64 Ngoài ra Luật HN&GĐ năm 2014 còn quy định quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn vì mục đích nhân đạo: “Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”
1.3.2 Hậu quả pháp lý về con chung
Hậu quả pháp lý về con cái sau khi ly hôn với nội dung bao gồm: Giao con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không
có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình cho ai nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc; người không được giao nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, trực tiếp có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
Trang 26như thê nào Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con là nghĩa vụ và là quyền của cha mẹ, không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của cha mẹ có tồn tại hay không
Về vấn đề trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn, Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “1 Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan
2 Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con
3 Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Bên cạnh việc quy định giao con cho ai nuôi, Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2014 còn quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện trong trường hợp “a.Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; b Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
Trang 27con” (khoản 2 Điều 84 Luật HN&GĐ năm 2014) Quy định này là điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 so với Điều 93 Luật HN&GĐ năm 2000 Theo đó, việc
mở rộng và sửa đổi các căn cứ thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn là điều hợp lý, phù hợp với tình hình mới và sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự; đồng thời bảo đảm được tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn
Cùng với việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục, Tòa án đồng thời giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con phù hợp với các quy định về điều kiện cấp dưỡng, mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Chương VII của Luật HN&GĐ năm 2014 Theo đó “cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không
có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung…” (Điều 110)
Các con được cha mẹ cấp dưỡng gồm có con đẻ và con nuôi là con chung của hai vợ chồng Về nguyên tắc, cha mẹ phải cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con
đã thành niên (đủ 18 tuổi) Trường hợp con đã thành niên mà bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì cha mẹ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con khỏi bệnh, phục hồi sức khỏe và có thể lao động tự túc được
Về mức cấp dưỡng nuôi con: Điều 116 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: mức cấp dưỡng có thể do các bên thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Như vậy, mức cấp dưỡng phải bao gồm cả ăn, mặc, học hành, chữa bệnh… và các khoản phí tổn khác của con ở điều kiện bình thường Phải bảo đảm yêu cầu tối thiểu về đời sống của con, đồng thời Tòa án căn cứ vào hoàn cảnh và khả năng kinh tế của người phải cấp
Trang 28dưỡng và người được giao trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con để quyết định mức cấp dưỡng cho hợp lý
Kết luận chương 1
Thông qua phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, trong chương 1, tác giả đã xây dựng được các khái niệm cơ bản liên quan tới nội dung của để tài như ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn, giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn Đồng thời tác giả cũng chỉ ra đặc điểm cũng như nội dung pháp luật giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành
Qua các phân tích đã trình bày có thể thấy việc phân chia tài sản cũng như con chung của vợ chồng khi ly hôn là một vấn đề được pháp luật nước ta ghi nhận
từ rất sớm Tuy nhiên, các quy định của pháp luật qua từng thời kỳ có sự thay đổi theo hướng chuyển từ tư duy trọng nam khinh nữ trong pháp luật phong kiến, thực dân sang cách tư duy nam nữ bình đẳng của pháp luật Việt Nam hiện đại Theo đó, quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
về phân chia tài sản chung và con chung ngày càng được thể hiện rõ nét hơn
Các vấn đề đã nêu trong Chương 1 sẽ là những cơ sở lý luận cơ bản để tác giả triển khai tiếp các nội dung về thực tiễn áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết ly hôn, phân chia tài sản và con chung của vợ chồng khi ly hôn tại Chương 2
Trang 29Chương 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ PHÁP LÝ
VỀ TÀI SẢN VÀ CON CHUNG KHI LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA 2.1 Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội và điều kiện cơ sở vật chất, con người của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
2.1.1 Đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Mai Sơn
Mai Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Sơn La, là huyện trọng điểm kinh tế của Tỉnh nằm trong cụm tam giác kinh tế thành phố Sơn La – Mai Sơn – Mường
La Nhân dân các dân tộc Mai Sơn có một bề dày truyền thống văn hóa hết sức phong phú và đa dạng, với truyền thống đoàn kết, truyền thống lịch sử đấu tranh anh dung gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Tiếp nối truyền thống đấu tranh anh dũng, vận dụng sáng tạo đường lối của Trung ương Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương, sau hơn ba mươi lăm năm xây dựng và phát triển từ ngày giải phóng đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, đây là thời kỳ cùng với nhân dân cả nước tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế; đồng thời là thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới
và cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự đe doạ của kẻ thù xâm lược và các thế lực thù địch, nhưng với tình yêu quê hương, đất nước nồng nàn, truyền thống cần cù lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Sơn La, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Mai Sơn đã cùng
kề vai sát cánh với nhân dân cả nước vượt qua những biến động phức tạp của tình hình thế giới cùng với những khó khăn trong nước của những thập niên cuối thế kỷ
XX, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Mai Sơn đã đoàn kết một lòng, phát huy tiềm năng, thế mạnh, đã giành được những thành tựu về kinh tế, xã hội hết sức quan trọng, đem lại nhiều đổi thay trên quê hương Mai Sơn, tạo ra thế và lực mới, những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản
Trang 30Việt Nam khởi sướng và lãnh đạo, đã được khẳng định về những thành tựu sau 25 năm thực hiện
Về điều kiện tự nhiên của huyện Mai Sơn:
Nằm trong tọa độ từ từ 20o52’ đến 21o20’ vĩ độ Bắc; từ 103o41’đến 104o16’' kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Mường La, thành phố Sơn La Ranh giới chủ yếu là đồi núi, khe suối Phía Đông giáp huyện Yên Châu, ranh giới chủ yếu là đồi núi, khe suối; giáp huyện Bắc Yên với ranh giới là dòng Sông Đà (chảy qua hai xã Chiềng Chăn và Tà Hộc) Phía Tây giáp huyện Sông Mã, huyện Thuận Châu Ranh giới chủ yếu là đồi núi, khe suối Phía Nam giáp huyện Sông Mã, tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào) Ranh giới chủ yếu là đồi núi, khe suối, với chiều dài dường biên giới 6,4 km
Mai Sơn có Tổng diện tích tự nhiên là 143.247,0 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp là chủ yếu chiếm tới 71,24% so với tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Đất lâm nghiệp còn chiếm tỉ lệ lớn (43,86% so với tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện) Hầu hết các loại đất trên địa bàn huyện có độ dày tầng đất trung bình đến khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Các chất dinh dưỡng trong đất, như: Đạm, Lân, Kali, Canxi, Manhê… có hàm lượng trung bình Do đa phần đất đai nằm trên độ dốc lớn, độ che phủ của thảm thực vật thấp nên cần chú trọng các biện pháp bảo vệ đất, hạn chế rửa trôi, xói mòn làm nghèo dinh dưỡng đất
Mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền núi Tây Bắc, các yếu tố khí hậu, thời tiết đo được như sau: Nhiệt độ trung bình trong năm là 21oC Thường nóng nhiều vào các tháng 4 – 8 Thường lạnh nhiều vào các tháng: 11 - 03 năm sau Thường nắng nhiều vào các tháng: 3-10 với tổng số giờ nắng 1.940 giờ/năm Mùa mưa thường mưa nhiều vào các tháng: 5-9 Độ ẩm trung bình năm là 80,5% Tổng lượng mưa bình quân 1.410 mm/năm
Địa hình chủ yếu là đồi núi nên nguồn nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trên địa bàn huyện được lấy từ các con suối và hệ thống cấp nước chảy, nước ngầm
Trang 31Việc di chuyển của người dân trong huyện cũng gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa hình đồi núi, đèo, dốc và cao nguyên trùng điệp, giao thông còn chưa phát triển tới các bản, làng
Về dân cư trên địa bản huyện có rất nhiều dân tộc cùng chung sống bao gồm: Thái, Mường, Tày, Kinh… Người dân trong huyện chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp Trình độ dân trí chưa đồng đều
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới thực trạng ly hôn trên địa bàn huyện Theo Báo cáo của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thì án ly hôn là loại án chiếm tỉ lệ lớn nhất trong các lĩnh vực Nguyên nhân của thực trạng này một phần xuất phát từ ý thức pháp luật của người dân trong huyện chưa cao, phần nữa là do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn, gây ảnh hưởng tới cuộc sống của vợ chồng Số lượng các vụ việc ly hôn xuất phát từ nguyên nhân kinh tế gia đình chiếm tỉ lệ cao nhất trong các nguyên nhân dẫn tới ly hôn trên địa bàn huyện trong thời gian qua
2.1.2 Điều kiện con người và cơ sở vật chất của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn
yêu cầu nhiệm vụ và quy định của Nhà nước cả về số lượng và chất lượng
Về cơ sở vật chất
Được sự quan tâm của ngành Tòa án và chính quyền địa phương, hiện đơn
vị có trụ sở gồm: 2 dãy nhà 2 tầng được xây dựng trên diện tích hơn 1.000 m2 Trong đó có 01 phòng họp, 02 hội trường xét xử được trang bị âm ly, loa đài; 01
Trang 32nhà công vụ; 09 phòng làm việc; đảm bảo mỗi Thẩm phán có phòng làm việc riêng
và được trang bị máy tính có kết nối mạng internet
Quyền hạn của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình
Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là một TAND cấp huyện (cấp
sơ thẩm) trong hệ thống Tòa án của Việt Nam nên có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TAND nói chung quy định tại Điều 2 Luật tổ chức TAND năm 2014:
Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn có quyền:
- Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ
vụ án;
- Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do Luật sư và những người tham gia tố tụng khác cung cấp;
- Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết các vụ việc dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của luật tố tụng
- Xử lý vi phạm hành chính; xem xét đề nghị của cơ quan quản lý nhà nước
và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật
- Ra quyết định hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ chấp hành biện pháp xử lý hành chính do Tòa án áp dụng và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính
- Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan,
Trang 33tổ chức; cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án
- Bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử
- Thực hiện quyền hạn khác theo quy định của luật
Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của Tòa án
o Thuận lợi
- Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, đơn vị luôn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức và hướng dẫn nghiệp vụ của TAND Tối cao và TAND tỉnh Sơn La; sự quan tâm, tạo điều kiện của cấp uỷ, lãnh đạo chính quyền địa phương
- Tập thể lãnh đạo và Chi bộ luôn có sự đoàn kết nhất trí cao, phối hợp chặt chẽ trong công tác, tạo được sự đồng thuận thống nhất trong cơ quan
- Đội ngũ cán bộ, công chức của Tòa án đủ so với định biên, được chuẩn hoá với 100% cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ có trình độ đại học Mỗi cán bộ, công chức trong cơ quan luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, có bản lĩnh chính trị vững vàng Nội bộ đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
- Sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng được duy trì thường xuyên,
có hiệu quả trong công tác giải quyết các loại án nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp; chất lượng điều tra, truy tố, xét xử ngày càng nâng cao
o Khó khăn
- Mai Sơn là một huyện miền núi biên giới phía Bắc có nền kinh tế còn thấp Giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, hệ thống hạ tầng chưa phát triển ảnh hưởng trực tiếp đến công tác xét xử lưu động cũng như công tác điều tra, xác minh thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật
- Nhiều cán bộ trẻ mới được tuyển dụng chưa có kinh nghiệm làm việc, trong khi đó nhiều cán bộ theo học các lớp đào tạo bồi dưỡng trình độ chuyên
Trang 34môn, chính trị và việc luân chuyển cán bộ giữa các huyện gây không ít khó khăn trong hoạt động tại Tòa án
- Trình độ dân trí, hiểu biết pháp luật của người dân còn rất hạn chế; trong khi đó tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật cũng như các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình ở địa phương có chiều hướng gia tăng với tính chất ngày càng phức tạp
2.2 Thực tiễn giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và con chung khi ly hôn tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
2.2.1 Thực tiễn giải quyết về tài sản
2.2.1.1 Kết quả đạt được
Thực hiện nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao trong công tác xét xử Tòa
án nhân dân huyện Mai Sơn đã và đang từng bước nâng cao chất lượng xây dựng
hồ sơ, vận dụng, áp dụng đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn của liên ngành trung ương, bảo đảm các quyền và lợi ích của người tham gia
tố tụng Tính từ năm 2015 tới hết sáu tháng đầu năm năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã thụ lý 1302 vụ, việc bao gồm các lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh – thương mại Trong đó số lượng vụ việc thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình do Tòa án thụ lý giải quyết trong các năm chiếm tỉ lệ tương đối lớn và đều là các vụ việc ly hôn:
Bảng 2.1 Số vụ việc hôn nhân và gia đình đã thụ lý
từ năm 2015 đến nửa đầu năm 2018
số vụ việc đã thụ lý
4 Sáu tháng đầu năm 2018 116/262
Nguồn: Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn
Trang 35Qua số liệu thống kê nêu trên có thể thấy số vụ việc ly hôn trên địa bàn huyện luôn chiếm tỉ lệ cao nhất trong tất cả các loại việc được tòa án nhân dân huyện thụ lý, tuy nhiên, số lượng vụ việc ly hôn qua các năm diễn ra không đồng đều: năm 2015 chiếm 32,6%, sang năm 2016 tăng lên 49,2%, năm 2017 lại giảm xuống còn 28,6% và năm 2018 lại có xu hướng tăng vọt chiếm 61,8% Nếu tính riêng số vụ việc ly hôn đã thụ lý trên địa bàn huyện thì có thể thấy các vụ ly hôn tại huyện Mai Sơn ngày càng có xu hướng gia tăng, trong đó năm 2016 tăng 7,6% so với năm 2015, năm 2017 tăng 6,3% so với năm 2016, còn theo con số thống kê vào nửa đầu năm 2018 so với năm 2017 tăng gần 72% Đây thực sự là một con số đáng báo động về thực trạng ly hôn và sự vất vả của ngành tòa án trong việc giải quyết ly hôn trên địa bàn huyện thời gian qua
Sau khi thụ lý, các cán bộ Tòa án huyện đã không ngừng nỗ lực hết sức mình trong công tác giải quyết các vụ, việc: Năm 2015, Tòa án nhân dân huyện đã giải quyết 100% số vụ việc ly hôn đã thụ lý8 Tiếp đó, trong số 127 vụ, việc hôn nhân và gia đình đã thụ lý trong năm 2016, tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã giải quyết 100% Trong đó, xét xử 13 vụ; Đình chỉ 6 vụ; tạm đình chỉ 6 vụ; công nhận
sự thỏa thuận của đương sự 100 vụ; hòa giải đoàn tụ thành 2 vụ và không có vụ án nào bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm9 Tiếp đó, theo báo cáo của tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, trong năm 2017 Tòa án đã thụ lý 135 vụ, việc hôn nhân và gia đình, bao gồm: thụ lý mới 132 vụ, cũ chuyển sang 03 vụ Đã giải quyết
126 vụ đạt tỉ lệ 93,3% Trong đó: xét xử 11 vụ; đình chỉ 2 vụ; công nhận sự thỏa thuận của đương sự 111 vụ (đạt tỉ lệ 88,1% so với án đã giải quyết, trong đó có hòa giải đoàn tụ thành 02 vụ); chuyển hồ sơ 02 vụ trong số 09 vụ còn lại có 7 vụ tạm đình chỉ giải quyết10
Tiếp đó, trong 6 tháng đầu năm 2018, tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã thụ lý 116 vụ, việc ly hôn Trong đó án thụ lý mới là 88 vụ, việc, án cũ
8
Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Báo cáo tổng kết công tác tòa án năm 2015, tr 4
9 Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Báo cáo tổng kết công tác tòa án năm 2016, tr.4
10 Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, Báo cáo tổng kết công tác tòa án năm 2017, tr 3, 4
Trang 36chuyển sang 28 vụ; đã giải quyết 86 vụ đạt tỉ lệ 71,7%, bao gồm: xét xử 74 vụ; đình chỉ 01 vụ; công nhận sự thỏa thuận của đương sự 78 vụ11
Qua số liệu thống kê nêu trên có thể thấy, tỉ lệ các vụ, việc ly hôn được hòa giải và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự qua các năm có sự gia tăng đáng kể
Bảng 2.2 Tỉ lệ các vụ, việc hôn nhân và gia đình hòa giải thành
Năm Tỉ lệ các vụ, việc hòa giải thành (%)
Nguồn: Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn
Các con số nêu trên cho thấy công tác hòa giải tranh chấp ly hôn nói chung
và phân chia tài sản, con chung khi ly hôn nói riêng của tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đạt kết quả rất cao Từ đó có thể thấy các đương sự thông qua tuyên truyền, vận động của cán bộ Tòa án đã tiếp thu những kiến thức pháp luật hôn nhân và gia đình và tự nguyện thỏa thuận không để tranh chấp kéo dài gây mất đoàn kết và ảnh hưởng tới tình cảm cũng như quyền, nghĩa vụ của các bên Đây là một kết quả rất đáng khích lệ của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn trong thời gian qua
Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 là cơ sở pháp lý quan trọng, đã bổ sung, thay đổi một số nội dung trong quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 phù hợp hơn với điều kiện, tình hình của đất nước Luật là căn cứ pháp
lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình, trong đó có các quy định về chia tài sản chung
và quyền nuôi con của vợ chồng khi ly hôn
Các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đã góp phần củng cố chế độ hôn nhân và gia đình tại tỉnh Sơn La nói chung và huyện Mai Sơn nói riêng Cũng
tr.4
Trang 37giống như các huyện khác của tỉnh, Mai Sơn là một huyện miền núi, nơi sinh sống của đông đảo người đồng bào dân tộc thiểu số Vì vậy, người dân trong huyện chịu ảnh hưởng rất lớn từ việc áp dụng các phong tục, tập quán để điều chỉnh quan hệ xã hội, trong đó đặc biệt là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Ví dụ như các tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, “gia trưởng”, “chế độ mẫu hệ”,
“chế độ phụ hệ”, “thách cưới”, “tảo hôn”… làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Người phụ nữ trong gia đình thường không được nắm giữ tài sản hoặc tham gia bàn bạc trong việc định đoạt tài sản Trước đây, khi chia tài sản họ chỉ được hưởng phần rất nhỏ trong khối tài sản hoặc thậm chí là không được hưởng, phân chia không công bằng, không đảm bảo được quyền lợi của phụ nữ Các quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn đã góp phần điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình, giải quyết các tranh chấp theo định hướng của Nhà nước; góp phần đẩy lùi, xóa bỏ các hủ tục, quan niệm lạc hậu về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng cũng như chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Hiện nay, quyền lợi của người phụ nữ đã được pháp luật ghi nhận và bảo hộ trong nhiều văn bản pháp lý Người vợ trong gia đình ngày nay cũng được đảm bảo các quyền lợi giống như nam giới, góp phần xây dựng gia đình và xã hội Bản thân người phụ nữ hiện đại ngày nay cũng tự mình từng bước khẳng định được bản thân trước gia đình và xã hội Vì vậy những quyền lợi của chính họ đã được pháp luật ghi nhận, trong đó có quyền sở hữu tài sản Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung Khi chia tài sản chung vợ và chồng có quyền nghĩa vụ ngang nhau, việc chia tài sản được thực hiện trên cơ sở bình đẳng, tự thỏa thuận và tuân theo quy định của pháp luật Quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc chia tài sản chung của vợ chồng, góp phần bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, đảm bảo quyền lợi cho các bên
Các quy định của pháp luật là căn cứ pháp lý quan trọng để chia tài sản của
vợ chồng khi ly hôn, đảm bảo được quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng và các
Trang 38con cũng như các thành viên khác trong gia đình Cụ thể là các căn cứ xác định tài sản vợ chồng: căn cứ vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc tài sản là quy định để xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng Bởi vì trong cuộc sống, bên cạnh mối quan hệ giữa vợ và chồng thì vợ chồng còn có các mối quan hệ với các thành viên khác trong gia đình… Khi con cái còn nhỏ, bố mẹ có nghĩa vụ yêu thương chăm sóc, giáo dục con; khi những đứa con lớn lên, lập gia đình, cha mẹ thường cho con một số tài sản để lập nghiệp Sau khi kết hôn do các bên lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, thu nhập hợp pháp khác hoặc tài sản có thể được tặng cho, thừa kế, có được bằng việc xác lập giao dịch với người thứ ba… Như vậy, tài sản của vợ chồng có thể có được từ rất nhiều nguồn khác nhau Khi vợ chồng còn hạnh phúc thì những tài sản này thường dùng một phần để chi cho những nhu cầu thiết yếu của gia đình, phần còn lại để tích lũy hoặc đầu tư sản xuất, kinh doanh; một số tài sản được sáp nhập, chia tách hoặc thay đổi sang một loại tài sản khác thông qua các giao dịch dân sự… Vì vậy khi vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, để xác định những tài sản này là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ hoặc chồng cũng là điều gây tranh cãi trong các vụ án ly hôn Vì vậy Luật Hôn nhân và gia đình đã có những quy định là căn cứ pháp lý quan trọng góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong việc xác định và phân chia tài sản của vợ chồng khi
ly hôn nêu trên để đảm bảo quyền lợi cho hai bên vợ và chồng
Khi ly hôn xảy ra vấn đề chia tài sản cho vợ chồng như thế nào để bảo đảm quyền lợi của các bên là vấn đề rất quan trọng Luật HN&GĐ năm 2014 đã đưa ra nguyên tắc chung để chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn Nguyên tắc chung này cũng đã góp phần bảo đảm quyền lợi của người vợ sau khi ly hôn Theo nguyên tắc chung, tài sản của vợ chồng được chia đôi cho hai người nhưng có tính đến công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Về mặt nguyên tắc thì phải tìm được cơ sở để chứng minh cho việc đóng góp công sức vào khối tài sản chung này Như vậy, quy định của pháp luật cũng đã góp phần đảm bảo cho quyền sở hữu tài sản của người vợ khi phân chia tài sản chung Ví dụ: Trong nhiều trường hợp vợ chồng có tài sản chung do bố mẹ chồng
Trang 39để lại, người chồng mắc các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy có thể dẫn tới phá tán tài sản Nhưng người vợ chăm chỉ làm ăn, chăm lo cho gia đình cùng góp sức xây dựng được tài sản chung nhiều hơn người chồng Vậy nên phần phân chia tài sản phải tính toán đến công sức của người vợ để bảo đảm quyền lợi về tài sản cho người
vợ Thêm nữa, Luật HN&GĐ 2014 đã coi lao động của vợ chồng trong gia đình được coi là lao động có thu nhập cũng góp phần bảo đảm quyền lợi của người vợ và người chồng khi ly hôn Thực tế, phần lớn người vợ thực hiện công việc lao động trong gia đình trước đây là rất lớn nhưng khi phân chia tài sản thì công sức của họ lại không được thừa nhận Ví dụ: tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu, bám rễ trong tư tưởng của đồng bào một số dân tộc tại huyện Mai Sơn, con trai trong gia đình luôn được coi là trụ cột Vì vậy từ nhỏ các con trai đã được ưu tiên hơn con gái Gia đình nào không có điều kiện cho tất cả các con đi học thì con trai sẽ được
ưu tiên Con gái ở nhà giúp đỡ việc nhà, chăm em nhỏ hoặc lên nương phụ giúp bố
mẹ Đến khi dựng vợ, gả chồng người vợ cũng mặc nhiên gắn cho mình các công việc nội trợ, chăm lo cho gia đình, con cái, để người chồng có thời gian tham gia các công tác ngoài xã hội, chiếm hữu địa vị xã hội và tạo lập tài sản lớn Nếu không coi lao động trong gia đình là lao động có thu nhập thì sẽ không tính đến công sức đóng góp của người vợ trong việc giúp người chồng tạo lập khối tài sản chung Điều này là không công bằng cho người vợ Với quy định này của pháp luật đã nâng quyền sở hữu tài sản của người vợ so với trước đây Điều này góp phần bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ Khi người vợ hy sinh sự nghiệp, xin nghỉ công việc của mình để chăm lo gia đình Đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Sơn La nói chung và huyện Mai Sơn nói riêng thường có tập tục con cái sau khi kết hôn ở chung với gia đình chồng Hiện nay vẫn có những gia đình sống nhiều thế hệ với nhau Họ cùng lao động, sản xuất, xây dựng khối tài sản chung cho đại gia đình
Vì vậy, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như đời sống chung của gia đình (Điều 61) Như vậy công sức của người vợ khi chăm lo cho
Trang 40gia đình hoặc làm những công việc nông nghiệp nhỏ như trồng trọt, chăn nuôi, nội trợ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình phải được tính là công sức đóng góp
và được coi là lao động có thu nhập Quy định này đã góp phần đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng, đặc biệt là người vợ
Luật HN&GĐ 2014 có một điểm đáng lưu ý đó là “lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” cũng được được coi là căn cứ để chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2016 thì trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người
vợ và con chưa thành niên Như vậy, về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn đã có bổ sung mới khi đưa yếu tố lỗi vào là một trong những căn cứ trong phân chia tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, quy định này sẽ chỉ được áp dụng trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Quy định này góp phần hạn chế được tình trạng bạo lực gia đình, đẩy lùi các tệ nạn xã hội trong suốt thời gian vợ chồng chung sống; nếu vợ hoặc chồng có hành vi bạo hành, sống không chung thủy (ngoại tình) hoặc phá tán tài sản như rượu chè, cờ bạc… khi chia tài sản chung của vợ chồng yếu tố này được Tòa án xem xét, bên nào có lỗi bên đó phải chịu thiệt thòi khi chia tài sản chung của vợ chồng
Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn còn xem xét dưới góc
độ bảo vệ quyền lợi của người vợ, người chồng trong sản xuất kinh doanh, hoạt động nghề nghiệp để tạo điều kiện cho người chồng tiếp tục cho người vợ, người chồng đó được sở hữu tài sản để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh Khi vợ chồng ly hôn, tài sản chủ yếu có giá trị lớn thường là bất động sản Trong một số trường hợp bất động sản đó đang có nhà kho, nhà xưởng do doanh nghiệp mà một bên vợ hoặc chồng quản lý, sản xuất Về mặt nguyên tắc tài sản đó sẽ được chia đôi nhưng nếu một bên vợ hoặc chồng đang cần sử dụng tài sản đó để kinh doanh thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng (Điều 64) Đây là một