Vì vậy, theo quy định của Điều 136 Hiến pháp năm 1992 thì "Các bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Ngọc Thỉnh
Hµ néi - 2010
Trang 31.1.2 Khái niệm, đặc điểm của thi hành án dân sự 10
1.2 Những quy định cơ bản về thi hành án dân sự trong pháp
luật hiện hành
16
1.2.2 Những quy định cơ bản về thủ tục thi hành án 17 1.2.3 Các biện pháp cưỡng chế thi hành án 26 1.2.4 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án 28 1.3 Một số nét khái quát về thi hành án dân sự ở Việt Nam 32 1.3.1 Thời kỳ từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1993 32
1.3.2.1 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm
1993 đến trước khi có Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004
34
1.3.2.2 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm
2004 đến nay
35
Trang 41.4.1 Tổ chức bộ máy và quy chế chấp hành viên thi hành án 38 1.4.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án, chấp hành viên 40 1.4.3 Quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình thi hành án 41
1.4.5 Về thủ tục và biện pháp cưỡng chế thi hành án 42
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH THÁI BÌNH 45 2.1 Về đặc điểm tự nhiên - xã hội và một số nét khái quát về
công tác tư pháp ở Thái Bình
45
2.1.2 Về một số nét khái quát của công tác tư pháp ở Thái Bình 47 2.2 Về tổ chức bộ máy các cơ quan thi hành án dân sự ở Thái Bình 49
2.3.2 Trường hợp thi hành án theo yêu cầu 53 2.4 Một số vụ điển hình và nguyên nhân của những vướng mắc
đặt ra
56
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÁO GỠ ÁN TỒN ĐỌNG
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở THÁI BÌNH
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thi hành án là giai đoạn tiếp nối cuối cùng của quá trình tố tụng, nếu những phán quyết của Tòa án không được đưa ra thi hành thì các giai đoạn trước đó của quá trình tố tụng không có ý nghĩa trên thực tế
Thi hành án đảm bảo hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Hoạt động thi hành án hiệu quả thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, của bản án và quyết định của Tòa án Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, có thể nói vị trí, vai trò của công tác thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng ở Việt Nam vẫn chưa thực sự được quan tâm đầy
đủ, dẫn đến hiệu quả hoạt động của các Cơ quan thi hành án dân sự chưa cao,
án dân sự còn tồn đọng nhiều, đòi hỏi phải có giải pháp tháo gỡ những ách tắc trong hoạt động thi hành án dân sự
Trong những năm qua, mặc dù chúng ta đã có nhiều cố gắng và đạt được những kết quả nhất định, nhưng hiệu quả của công tác thi hành án vẫn còn là vấn đề phải bàn luận Trong thi hành án dân sự, số án tồn đọng chưa thi hành gia tăng qua các năm mà chưa tìm ra phương án giải quyết hữu hiệu nhất Theo thống kê, năm 2009, các cơ quan thi hành án dân sự thụ lý 662.961 việc, đã thi hành xong 354.490 việc, đạt 81,05% số việc có điều kiện thi hành;
đã thi hành xong 6.621,7 tỷ về tiền, đạt 70,5% số việc có điều kiện thi hành Mặc dù số việc và tiền thi hành xong vượt chỉ tiêu đề ra nhưng số lượng việc tồn đọng vẫn nhiều, trong số 270.925 việc còn phải thi hành thì có hơn 188 ngàn chưa có điều kiện, với tổng số tiền phải thi hành là 17.199 tỷ 843 triệu đồng (trong số trên 188 ngàn việc chưa có điều kiện thi hành án, có hơn 89 ngàn việc người phải thi hành án ốm nặng, chưa xác định được nơi cư trú; người phải thi hành án không có tài sản, các việc Tòa án, Viện kiểm sát yêu
Trang 6cầu hoãn Ngoài ra, án tồn đọng vì những nguyên nhân khác như đình chỉ vì
có kháng nghị; tuyên không rõ ràng, không phù hợp với thực tế, tài sản kê biên chưa xử lý được hoặc có khiếu nại tổng số 98 ngàn 754 việc) [40]
Theo Bộ Tư pháp, còn có khoảng gần 30% vụ việc thi hành án tồn đọng là do người phải thi hành án không có điều kiện thi hành Hầu hết trong
số đó là những trường hợp người phải thi hành án bị tuyên phạt tù nhiều năm,
tù chung thân, hoặc không có tài sản để thi hành án Nhiều vụ việc có giá trị thi hành án nhỏ, nhưng nếu tính chi phí thực tế mà cơ quan thi hành án phải
bỏ ra để tổ chức thi hành án còn lớn hơn nhiều lần giá trị phải thi hành
Xét về mặt nhận thức, nhiều tổ chức cá nhân trong xã hội và ngay cả các cấp chính quyền cũng thường coi tổ chức thi hành án dân sự là việc riêng của hệ thống cơ quan thi hành án thuộc Bộ Tư pháp, thậm chí, một số ủy ban nhân dân là đối tượng bị thi hành án còn không tự giác thi hành hoặc cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng án tồn đọng ngày càng nhiều, dẫn đến hiệu quả của công tác thi hành án chưa cao
Riêng đối với tỉnh Thái Bình, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án Dân sự, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, cấp ủy và chính quyền các cấp, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của cán
bộ, công chức trong ngành, công tác thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Kết quả thi hành án từ ngày 01/10/2009 đến ngày 30/9/2010 [22] như sau:
Tổng số việc thụ lý 5.882 việc trong đó ủy thác 79 việc, tổng số việc phải thi hành là 5.803 việc, giảm 360 việc so với năm 2009 (trong đó số thụ lý mới 2683 việc, giảm 33 việc so với năm 2009), bao gồm:
+ 3.320 việc có điều kiện thi hành (57%)
+ 2.483 việc chưa có điều kiện thi hành (43%)
Trang 7Trong đó việc có điều kiện thi hành, đã thi hành xong 3.040 việc /3.320 việc, đạt 90% vượt 4% so với chỉ tiêu đặt ra, giảm 264 việc = 10% so với cùng kỳ năm 2009 Số việc giải quyết xong (ủy thác + xong + đình chỉ + miễn giảm + trả đơn) là 3.286 việc/5.882 đạt 55%
Tổng số tiền và giá trị hiện vật thụ lý là 60.141.190.000đ, ủy thác 842.319.000đ còn tổng số tiền và giá trị hiện vật phải thu là: 59.298.871.000đ Trong đó: số có điều kiện thu 14.679.331.000đ (30%), số chưa có điều kiện thu 37.632.927.000đ (70%)
Tổng số tiền và giá trị hiện vật đã thu được 12.006.576.000đ, đạt (82%) số tiền có điều kiện thu vượt 18% so với chỉ tiêu và giảm so với cùng
kỳ năm 2009 là 2.404.429.000đ = 20%
Mặc dù các kết quả thi hành án dân sự của Thái Bình cả về việc và tiền đều đạt và vượt so với chỉ tiêu do Bộ Tư pháp đặt ra nhưng lượng án tồn đọng vẫn còn nhiều, án xếp vào diện không có điều kiện thi hành chiếm tỉ lệ lớn (43%), có những vụ kéo dài hàng chục năm, nhiều cơ quan đã tham gia, nhiều cuộc họp được tổ chức song đến nay vẫn chưa giải quyết dứt điểm, đương sự liên tục đến yêu cầu và gửi đơn đi rất nhiều nơi Tính đến năm 2010
số lượng án tồn đọng của Thái Bình vẫn còn khá lớn cụ thể:
+ Số việc có thời gian trên 10 năm là 405 việc với số tiền là 4.743.590.000đ
+ Số việc có thời gian từ 5 năm đến dưới 10 năm là 928 việc với số tiền là 11.553.436.000đ
+ Số việc có thời gian dưới 5 năm là 1.894 việc với số tiền là 31.909.230.000đ
+ Kết quả đã giải quyết xong bằng hình thức xét miễn giảm 366 việc với số tiền 215.589.000đ
+ Trong đó đã phối hợp với các trại giam trong đợt đặc xá năm 2010 được 43 việc với số tiền 220.058.000đ
Trang 8Thực tiễn công tác thi hành án dân sự ở Thái Bình còn đang gặp rất nhiều khó khăn, bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau như: cơ chế chính sách về thủ tục thi hành án chưa hoàn thiện; chế tài đối với người chây ỳ không chấp hành án còn nhẹ; công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng thiếu chặt chẽ; đội ngũ chấp hành viên ít về số lượng, trình độ không đồng đều, chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm còn hạn chế, chưa tích cực tổ chức thi hành án, không kiên quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế
Từ những lý do trên khẳng định cho việc lựa chọn đề tài "Thực tiễn
thi hành án dân sự ở tỉnh Thái Bình" cho luận văn tốt nghiệp của tác giả sẽ
góp phần đánh giá được thực trạng và những hạn chế, bất cập trong công tác thi hành án dân sự ở Thái Bình để từ đó tìm ra được nguyên nhân, đưa ra được những giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Thi hành án là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thi hành án dân sự: Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Văn Quảng
(1996): Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt
Nam; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Công Long (2000): Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện; Luận văn
thạc sĩ của Lê Xuân Hồng (2001): Xã hội hóa thi hành án dân sự; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Thủy (2001): Hoàn thiện pháp luật về thi hành án
dân sự Ngoài ra còn có nhiều công trình, nhiều bài báo đề cập đến các lĩnh
vực của công tác thi hành án dân sự như: Thực tiễn thi hành án dân sự: vẫn
nhiều án tồn đọng của tác giả Nhật Anh - Báo Người đại biểu nhân dân số ra
ngày 16/01/2010; Những bất cập trong thực thi Luật thi hành án dân sự của
tác giả Dương Văn Thịnh - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên - Báo Người đại biểu nhân dân số ra ngày 08/7/2010; Mô hình
tổ chức thi hành án một số nước trên thế giới- Thạc sĩ Nguyễn Văn Nghĩa -
Trang 9Tạp chí Nghề luật số 1 năm 2007; Để nâng cao chất lượng công tác thi hành
án của tác giả Việt Anh - Tạp chí Cộng sản số 10 (154) năm 2008; Vướng mắc trong việc thu phí thi hành án trên thực tế, khắc phục và thống nhất thực hiện của Nguyễn Linh Giang đăng trên Website Đongnghieptha.ucoz.com
ngày 10/6/2010; Luật thi hành án dân sự và những điều bất cập - Báo Bình
Thuận số ra ngày 05/4/2010 Đây là những công trình nghiên cứu công phu,
có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chỉ đề cập đến các vấn đề mang tính chung, trên phạm vi cả nước còn vấn đề mang tính thực tiễn riêng ở tỉnh Thái Bình thì chưa được nghiên cứu và đề cập Do vậy, việc
lựa chọn đề tài "Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Thái Bình" được xem là
một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về thực tiễn công tác thi hành
án dân sự ở một địa phương cụ thể
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ được thực tiễn của công tác thi hành
án dân sự ở Thái Bình bằng việc nghiên cứu, phân tích những vụ việc cụ thể, đánh giá được những vướng mắc khó khăn hiện nay, tìm ra được nguyên nhân của những vướng mắc Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp nhằm tháo gỡ tình trạng án tồn đọng, đảm bảo mọi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án phải được đưa ra thi hành
- Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyết các vấn
Trang 10- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định về thi hành án dân sự trong pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự ở Thái Bình hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn
đề cơ bản về thi hành án và thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Thái Bình, trên
cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp nhằm giảm lượng án tồn đọng hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận truyền thống của chủ nghĩa Mác- Lê nin đó là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử
- Cùng với các phương pháp trên, tác giả đã sử dụng các phương pháp thu thập thông tin, số liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp và nghiên cứu thực tiễn Đây là các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình thực hiện đề tài
Phương pháp thu thập thông tin chủ yếu được thực hiện qua hệ thống Công báo, các trang Web của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đồng thời thông qua các báo cáo, các hồ sơ từng vụ việc thi hành án cụ thể của Cục Thi hành án, các Chi cục thi hành án ở Thái Bình, thông qua các bài viết, tạp chí…của các tác giả trên báo chí, internet để lấy số liệu liên quan đến quá trình nghiên cứu, thông qua việc phỏng vấn trực tiếp một số chấp hành viên, cán bộ thi hành án…
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích, tổng hợp các quy định của pháp luật về công tác thi hành án, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật trong quá trình thi hành án, thực tiễn thi hành án ở Thái Bình
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác để nghiên cứu nội dung của luận văn như phương pháp phỏng vấn trực tiếp, phương pháp suy đoán…
Trang 115 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề về thi hành án dân sự
Chương 2: Thực tiễn thi hành án ở Thái Bình
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tháo gỡ án tồn đọng trong thi hành
án dân sự ở Thái Bình
Trang 12Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm chung về thi hành án
Hoạt động thi hành án có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn trật tự,
kỷ cương pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhất là trong điều kiện hiện nay khi Đảng và Nhà nước ta đang chú trọng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Việc đạt được công lý, công bằng qua hoạt động xết xử sẽ phát huy vai trò của Tòa án khi những bản án, quyết định được tổ chức thi hành
Bản án, quyết định - kết quả giải quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước - là sự xác nhận quyền và nghĩa vụ của các đương sự có liên quan Vì vậy, theo quy định của Điều 136 Hiến pháp năm 1992 thì "Các bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" Chính vì vậy, khi bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án muốn giải quyết được các tranh chấp, muốn những phán quyết của Tòa án được thực thi trên thực tế thì phải
có thi hành án
Theo nguyên tắc hiến định nêu trên và yêu cầu khách quan trong hoạt động của nhà nước, có thể thấy thi hành án là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động của nhà nước, vừa có những đặc tính phổ biến của một dạng hoạt động nhà nước, vừa có những đặc trưng riêng:
Thứ nhất, thi hành án là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử của tòa
án Các bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án Tuy nhiên, thi hành án là một dạng hoạt động
Trang 13hành chính nhà nước, chứ không phải là hoạt động tố tụng bởi xét về bản chất thì hoạt động tố tụng phải tuân theo một trình tự, thủ tục tố tụng hết sức chặt chẽ với mục đích tìm ra sự thật của vụ án, còn thi hành án chỉ là sự thực thi kết quả của quá trình tố tụng trước đó trên thực tế, tức là không phải đi tìm sự thật của vụ án nữa mà là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Thứ hai, thi hành án là hoạt động có tính chấp hành nhưng là chấp
hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của toà phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình Mục đích cuối cùng của thi hành
án là bảo đảm cho các quyết định của tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trên thực tế chứ không phải ban hành văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính chất điều hành như trong hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính Mặt khác, tính chất chấp hành không chỉ là yêu cầu trong hoạt động thi hành án mà còn là yêu cầu bắt buộc trong các giai đoạn tố tụng trước đó với ý nghĩa cao nhất là chấp hành các quy định của pháp luật, bởi bản thân pháp luật được nhà nước ban hành có tính bắt buộc chung mà mọi người phải tôn trọng thực hiện
Thứ ba, hoạt động thi hành án bên cạnh việc sử dụng phương pháp
giáo dục, thuyết phục còn sử dụng các phương pháp điều chỉnh của hoạt động hành chính như phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc thi hành đặc biệt là trong thi hành án hình sự Trong thi hành án dân sự phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc thể hiện rõ nhất trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Từ những phân tích trên có thể hiểu thi hành án là hoạt động hành
chính - tư pháp mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm thực hiện trên thực tế các phán quyết của Tòa án theo bản án và quyết định
có hiệu lực pháp luật
Trang 141.1.2 Khái niệm, đặc điểm của thi hành án dân sự
Xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội và quá trình tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự phát sinh thì bản án, quyết định dân sự - kết quả giải quyết của tòa án nhân danh nhà nước là sự xác nhận quyền và nghĩa vụ dân sự của các đương sự có liên quan Hoạt động thi hành
án dân sự nhằm đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh các bản án, quyết định dân sự
Căn cứ theo Luật thi hành án dân sự hiện nay thì việc thi hành án dân
sự bao gồm bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại (gọi chung là bản án, quyết định) Tuy nhiên, nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo trình tự tố tụng khác nhau (như những vụ việc về hành chính, về lao động, về kinh tế…) nhưng đến giai đoạn thi hành đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành
án dân sự Như vậy, có thể nói phạm vi của thi hành án dân sự hiện nay là rất rộng
Việc ban hành Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã tạo bước ngoặt mới trong sự phát triển của pháp luật về thi hành án dân sự, là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoạt động thi hành án theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, bước đầu đã mang lại những kết quả khả quan cho công tác thi hành án dân sự Tuy nhiên, từ các văn bản pháp lý trước đó
về thi hành án dân sự như Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đến năm 2008 là Luật thi hành án dân sự vẫn chưa có điều luật nào khái niệm cụ thể về thi hành án dân sự Chính vì vậy cũng phát sinh những ý kiến khác nhau về tính chất đặc trưng của thi hành án dân sự:
Trang 15Có ý kiến cho rằng "thi hành án dân sự là tổng hợp các hành vi tố tụng thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định" [28] Theo ý kiến này, xét về những đặc điểm cơ bản của hoạt động thi hành án, thì có thể coi đây là một giai đoạn kết thúc quá trình tố tụng dân sự Ngay trong hệ thống pháp luật hiện hành, hoạt động thi hành án dân
sự cũng đã được xác định thuộc phạm vi điều chỉnh trong các văn bản pháp luật về tố tụng như: Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2004 thì Bộ luật Tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động…và về thi hành án dân sự Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành cũng có một phần riêng (phần thứ bảy) quy định về thi hành án bản án, quyết định dân sự của Tòa án…
Có ý kiến lại cho rằng: Thi hành án là tố tụng hành chính vì các cơ quan thực hiện việc thi hành án thuộc Chính phủ không phải thuộc tòa án, việc giải quyết khiếu nại, kháng nghị trong thi hành án đã khác hẳn về hình thức, thủ tục so với việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân
sự [36]
Nhưng trên cơ sở bản chất của hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất tư pháp đặt dưới sự chỉ đạo, tổ chức và quản lý của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước cho thấy:
Thứ nhất cơ sở của hoạt động thi hành án là các bản án, quyết định
dân sự của Tòa án; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là
cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng)
Thứ hai thi hành án và giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ với
nhau Nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể, được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc thi hành án sẽ dễ dàng, nhanh chóng hơn Ngược lại, nếu bản án, quyết định của Tòa án được tuyên không khách quan, toàn diện và công bằng, thiếu tính khả
Trang 16thi sẽ gây cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước Đồng thời, việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời sẽ
có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử
Xuất phát từ sự phân tích trên, trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự có thể khái niệm mang tính
bao quát: thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp, là giai đoạn
cuối cùng của quá trình tố tụng do các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp quản lý và thực hiện nhằm thi hành trên thực tế các bản án, quyết định về dân
sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Từ khái niệm trên, có thế thấy thi hành án dân sự có những đặc điểm sau:
- Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính tài sản Xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự là quan hệ mang tính tài sản chính vì thế mà quá trình thi hành án dân sự cũng mang tính tài sản, nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, tức là khôi phục lại những lợi ích vật chất trước đó của người được thi thi hành án Do đó, các trình tự, thủ tục thi hành án cũng được quy định chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng trước đó vì đều liên quan đến các quyền công dân
- Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính định đoạt: Xuất phát từ quyền tự định đoạt của các chủ thể trong luật dân sự, các chủ thể được phép
sử dụng quyền của mình theo nhiều cách thức khác nhau nhằm thực hiện lợi ích của mình Chủ thể có quyền được yêu cầu chủ thể khác thực hiện những hành vi nhất định hoặc không thực hiện những hành vi nhất định để đáp ứng lợi ích, ở đây là việc người được thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án thực hiện thi hành án (thi hành án theo yêu cầu của đương sự) Quyền lợi của người được thi hành án chỉ có thể được thực hiện khi cơ quan thi hành án thực hiện một hoặc nhiều hành vi tích cực (ra quyết định thi hành án, quyết định kê biên tài sản…) Chính vì vậy mà quyền yêu cầu thi hành án của đương sự
Trang 17được hiện thực hóa thông qua việc người được thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án thực hiện việc thi hành án Sự chủ động của người được thi hành
án không thể hiện ở việc thực hiện hành vi mà là yêu cầu thực hiện hành vi Người được thi hành án trong thời hạn do pháp luật quy định, có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án buộc người phải thi hành án bảo vệ quyền lợi của mình theo quyết định có hiệu lực của Tòa án và trách nhiệm của cơ quan thi hành án là phải đưa bản án, quyết định ra thi hành ngay cả khi yêu cầu thi hành án được đưa ra sau khi hết thời hiệu yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án cũng không thể từ chối tiếp nhận đơn yêu cầu với lý do thời hiệu đã hết mà phải xem xét khả năng khôi phục thời hiệu vì trở ngại khách quan
- Thi hành án dân sự còn là hoạt động mang tính thỏa thuận: Pháp luật công nhận sự thỏa thuận tự nguyện của người thi hành án và người phải thi hành án về việc chấp hành quyết định của Tòa án, nếu sự thỏa thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội Người phải thi hành án có yêu cầu về việc thi hành án khác với nội dung bản án, quyết định đã tuyên và được người được thi hành án chấp thuận thì việc thi hành án được thực hiện theo yêu cầu đó
- Thi hành án dân sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm hiệu lực thực tế của các bản án, quyết định của Tòa án, được sử dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật Các chủ thể liên quan phải tôn trọng các bản án, quyết định của Tòa án nhân danh nhà nước, phối hợp nghiêm chỉnh thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình để bảo vệ pháp chế, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tập thể, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân Các cơ quan thi hành án được sử dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để thực hiện việc thi hành án
- Hoạt động thi hành án dân sự phải tuân thủ những trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Đó là trình tự nhận đơn, xác minh, ra quyết định thi hành án, cưỡng chế thi hành án… Việc tuân thủ các trình tự này đảm
Trang 18bảo tính dân chủ, công khai, công bằng, đảm bảo cho kết quả của hoạt động thi hành án dân sự là thực thi có hiệu quả các bản án, quyết định của Tòa án
Sự vi phạm trình tự, thủ tục về thi hành án dân sự được pháp luật quy định đều dẫn đến những sai lầm, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, xã hội và công dân
- Trong quá trình thi hành án dân sự chấp hành viên, cán bộ thi hành
án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Đặc điểm này cũng là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự, đòi hỏi những cán bộ thi hành
án phải am hiểu pháp luật, có tinh thần trách nhiệm và phải tự ý thức phòng, tránh những tác động tiêu cực trong hoạt động thi hành án dân sự Việc tổ chức thi hành án phải được tiến hành một cách khách quan, thận trọng, không
bị tác động tiêu cực nhằm làm sai lệch những nội dung phải thi hành trong các bản án, quyết định của Tòa án
xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành." Có như vậy mới bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước
Trang 19Thông qua thi hành án, các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật phải chấm dứt các hành vi đó và thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quyết định của Tòa án Qua thi hành án các quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm được khôi phục vì thế bảo đảm thực hiện được mục đích của giải quyết vụ việc dân sự, bảo vệ được lợi ích nhà nước, bảo hộ được các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân
Thi hành án là thực hiện các quyết định của Tòa án nhưng trong mỗi trường hợp cụ thể cơ quan thi hành án vẫn phải áp dụng nhiều quy phạm liên quan mới tổ chức thi hành bản án, quyết định được Vì vậy, thi hành án còn
có ý nghĩa giúp cho việc phát hiện những khiếm khuyết của các quy định của pháp luật trên cơ sở đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật
Thông qua thi hành án cũng có thể kiểm tra lại quá trình xét xử trước đó, bản án có thấu tình, đạt lý mới có thể thi hành dễ dàng trên thực tế, trái lại, việc xét xử, ra bản án có sai sót, sẽ khó thi hành án Thông qua thi hành án, bản án, quyết định của tòa án mới có hiệu lực trên thực tế, công lý mới được thực hiện Với ý nghĩa đó, thi hành án dân sự là một hoạt động không thể thiếu được trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, qua thi hành án, kết quả của công tác xét xử được củng cố, hiệu lực các bản án, quyết định của tòa án được bảo đảm Mặt khác, thi hành án dân sự còn là giai đoạn kiểm nghiệm qua thực tiễn những phán quyết của tòa án phản ánh trung thực chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử Thông qua hoạt động thi hành án, các thẩm phán có thể rút kinh nghiệm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xét xử
Thi hành án không chỉ là cưỡng chế, ép buộc người phải thi hành án thực hiện thi hành án, mà cơ quan thi hành án còn thực hiện các biện pháp giáo dục, thuyết phục đối tượng thi hành án, qua đó có tác dụng quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân Đặc thù của thi hành án dân sự là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của chấp hành viên, cơ
Trang 20quan thi hành án và sự chỉ đạo sát sao của chính quyền địa phương, sự phối hợp của các cơ quan tổ chức có liên quan, sự đồng tình của nhân dân, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong hoạt động thi hành án dân sự Thông qua thi hành án, ý thức pháp luật của nhân dân, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được nâng lên, niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật và sức mạnh của nhà nước ngày càng được củng cố vững chắc
1.2 NHỮNG QUY ĐỊNH CƠ BẢN VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
1.2.1 Tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án
Vấn đề về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, nên việc quy định về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự trong Luật thi hành án dân sự, nhất là phân định rõ cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự trong hệ thống tổ chức là cần thiết, tạo cơ sở cho Chính phủ quy định cụ thể mô hình tổ chức cơ quan thi hành án dân sự
Vấn đề tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự hiện nay được quy định một cách đầy đủ, toàn diện và cụ thể trong văn bản pháp lý có hiệu lực cao đó là Luật thi hành án dân sự (Điều 13) Ngoài ra còn được quy định một cách chi tiết trong các văn bản như:
- Thông tư 17/2010/TT-BTP ngày 11/10/2010 của Bộ Tư pháp quy định phân cấp quản lý công chức, công chức lãnh đạo cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự;
- Nghị định 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự;
Trang 21- Quyết định 32/2009/QĐ-TTg ngày 02/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục thi hành án dân sự trực thuộc Bộ Tư pháp;
- Thông tư 04/2009/TTLT-BNV-BTC ngày 24/12/2009 của Bộ Nội
vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên nghề đối với cán bộ, công chức đã được xếp lương theo các ngạch hoặc chức danh chuyên ngành thi hành án dân sự;
- Quyết định 86/2007/QĐ-TTg ngày 11/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề đối với thẩm tra viên thi hành
Các văn bản pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý để hệ thống tổ chức các cơ quan quản lý thi hành án, cơ quan thi hành án hoạt động có hiệu quả, quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan thi hành án đã được phân định rõ ràng,
cụ thể Sự quản lý tập trung, thống nhất về tổ chức, biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động…đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án trong việc triển khai nhiệm vụ, mặt khác, giúp các cơ quan thi hành án phát huy được vai trò của cơ quan chuyên trách, hạn chế được sự can thiệp từ bên ngoài vào quá trình thi hành án
1.2.2 Những quy định cơ bản về thủ tục thi hành án
Được quy định tại Chương III Luật thi hành án dân sự năm 2008, từ Điều 26 đến Điều 65 và quy định tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi
Trang 22hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự; Thông tư 144/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 22/9/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự; Quyết định 07/2007/QĐ-BTP ngày 12/7/2007 của Bộ Tư pháp ban hành quy định về biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân sự…
Luật thi hành án dân sự cũng như một số văn bản trên quy định khá đầy đủ, chặt chẽ thủ tục thi hành án dân sự như:
Thứ nhất: Hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án dân sự và thời hiệu
yêu cầu thi hành án
Điểm mới trong quy định về hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án là khi ra bản án, quyết định, cơ quan ban hành phải giải thích cho đương sự, đồng thời ghi rõ trong bản án, quyết định về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án Quy định này nhằm đảm bảo cho việc thực hiện quyền yêu cầu thi hành án, hạn chế thấp nhất tình trạng nhận thức không
rõ về quyền yêu cầu thi hành án dẫn đến tình trạng yêu cầu thi hành án không đúng nội dung hoặc yêu cầu khi đã hết thời hiệu Mặt khác, tòa án khi ra bản
án, quyết định cấp cho đương sự bản án, quyết định phải ghi "Để thi hành"
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 3 năm Thực tiễn thi hành án dân sự thời gian qua cho thấy quy định thời hiệu này là ngắn, ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi của đương sự Vì vậy, Luật thi hành án dân sự đã quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 5 năm
Thứ hai: Thủ tục gửi và nhận đơn yêu cầu thi hành án
- Thủ tục gửi đơn yêu cầu thi hành án: Người yêu cầu thi hành án tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức nộp
Trang 23đơn trực tiếp hoặc trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc gửi đơn qua bưu điện Ngày gửi đơn tính từ ngày người yêu cầu thi hành án nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi Trường hợp người yêu cầu thi hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải lập biên bản ghi rõ các nội dung Biên bản có giá trị như đơn yêu cầu
- Thủ tục nhận đơn yêu cầu thi hành án: Khi nhận đơn yêu cầu, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận đơn và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn Từ chối nhận đơn trong trường hợp người yêu cầu thi hành án không có quyền yêu cầu thi hành
án hoặc nội dung đơn không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định;
cơ quan thi hành án được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án hoặc hết thời hiệu yêu cầu thi hành án
Thứ ba: Ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi
hành án
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định về hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản
án, quyết định, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do tòa án chuyển giao hoặc do đương sự giao trực tiếp, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành
Ngoài các trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án, thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án khi có đơn yêu cầu
Trang 24Thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu thi hành án
Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án ra quyết định thu hồi quyết định về thi hành án trong các trường hợp quyết định về thi hành án được ban hành không đúng thẩm quyền; quyết định về thi hành án có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc; căn cứ ra quyết định về thi hành án không còn và trường hợp tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án
Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án, có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc yêu cầu sửa đổi,
bổ sung quyết định về thi hành án trong trường hợp quyết định về thi hành án
có sai sót mà không làm thay đổi nội dung vụ việc thi hành án Có quyền ra quyết định hủy hoặc yêu cầu hủy quyết định về thi hành án của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới
Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định về thi hành án phải ghi rõ căn cứ, nội dung và hậu quả pháp lý của việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ
Thứ tư: Gửi quyết định và thông báo về thi hành án
Quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp Quyết định cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án
Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản
đó Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày
ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án
Trang 25Thông báo được thực hiện theo các hình thức: Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; niêm yết công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Thứ năm: Xác minh điều kiện thi hành án
Luật thi hành án dân sự quy định về xác định điều kiện thi hành án theo hướng nâng cao trách nhiệm của người được thi hành án trong việc chứng minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Theo đó, trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án, chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án
Trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu, nếu người được thi hành án
đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu chấp hành viên tiến hành xác minh Việc yêu cầu phải được lập thành biên bản và ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả kèm theo tài liệu chứng minh
Việc xác minh phải được lập thành biên bản, có xác nhận của tổ trưởng
tổ dân phố, Ủy ban nhân dân, công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh Biên bản xác minh phải thể hiện đầy đủ kết quả xác minh
Tuy nhiên, việc quy định người yêu cầu thi hành án phải xác minh điều kiện của người phải thi hành án cũng còn nhiều bất cập (phân tích cụ thể
ở phần 2.2.3.2 thi hành án theo yêu cầu) như trường hợp người được thi hành
án là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất và tinh thần thì hành vi dân sự của họ chưa được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, thiết nghĩ các cơ quan thi hành án cần chấp nhận yêu cầu xác minh của họ mà không nên buộc họ phải ghi rõ các biện pháp đã áp dụng nhưng không có kết quả kèm theo tài liệu chứng minh
Thứ sáu: Biện pháp bảo đảm thi hành án
Đây là lần đầu tiên pháp luật nước ta quy định về biện pháp bảo đảm thi hành án Để ngăn chặn tình trạng người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại
Trang 26tài sản, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thi hành án, Luật thi hành án dân sự đã quy định về thẩm quyền và thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án Theo
đó, chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương
sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự
Người yêu cầu chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường
Các biện pháp bảo đảm bao gồm: Phong tỏa tài khoản; tạm giữ tài sản, giấy tờ; tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản
Thứ bảy: Thứ tự thanh toán tiền thi hành án
- Số tiền thi hành án, sau khi trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 1 năm (nếu cưỡng chế kê biên bán tài sản là nhà ở duy nhất), được thanh toán theo thứ tự sau:
+ Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần
+ Án phí
+ Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định
- Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau:
Việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự nêu trên Trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán
Trang 27được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế nào thì thành toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán, còn lại được trả cho người phải thi hành án
- Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản
mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bản đảm đó sau khi trừ các chi phí
về thi hành án
- Thứ tự thanh toán tiền thi hành án về phá sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản
Thứ tám: Hoãn thi hành án, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành
án trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 48 Luật thi hành án dân
sự năm 2008, quyết định hoãn thi hành án được ra khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế, trường hợp nhận được yêu cầu hoãn ít hơn 24 giờ thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết
Trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án
Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của tòa án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được
Trang 28Thời hạn hoãn không quá 3 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi hành án người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định tạm đình chủ thi hành án của người
có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị Trong thời gian tạm đình chỉ do kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông báo của tòa án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án Thời hạn ra quyết định là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của tòa án
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành
án trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật thi hành án dân sự
2008 Thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án là 5 ngày làm việc kể từ ngày có căn cứ đình chỉ thi hành án
Thứ chín: Trả đơn yêu cầu thi hành án, kết thúc thi hành án và xác
nhận kết quả thi hành án
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật thi hành án dân sự 2008
- Việc thi hành án đương nhiên kết thúc trong các trường hợp đương
sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình; có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc có quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án
Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu
Trang 29cầu của đương sự, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án
Thứ mười: Ủy thác thi hành án
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở Trường hợp người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở nhiều địa phương thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
ủy thác thi hành án từng phần cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án để thi hành phần nghĩa vụ của họ
Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản; nếu không xác định được nơi có tài sản hoặc nơi có tài sản trùng với nơi làm việc, cư trú, có trụ sở của người phải thi hành án thì ủy thác đến nơi làm việc, cư trú hoặc nơi có trụ sở của người đó Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc
có tài sản ở các địa phương khác nhau thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự ủy thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án
Thứ mười một: Miễn giảm nghĩa vụ thi hành án và bảo đảm tài chính
từ ngân sách nhà nước để thi hành án
- Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án có nhiều đổi mới theo hướng "mở" hơn nhiều so với Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, không chỉ là khoản án phí, tiền phạt, mà bao gồm tất cả các khoản thu nộp ngân sách nhà nước Quy định về miễn, giảm nghĩa
vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước (gọi chung là miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án) tại Luật thi hành án dân sự gồm 4 điều từ Điều 61 đến Điều 64 Để hạn chế việc áp dụng miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án tùy tiện, tránh tạo tâm lý cho đương sự chây ỳ nhằm rũ bỏ trách nhiệm thi hành án
Trang 30đối với nhà nước, quy định của pháp luật đòi hỏi phải chặt chẽ về trình tự, thủ tục và việc thực hiện phải nghiêm túc mới đạt hiệu quả cao
Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án được tiến hành thường xuyên nhưng mỗi người phải thi hành án chỉ được xét miễn giảm một lần trong 1 năm Trường hợp một người phải thi hành nhiều khoản nộp ngân sách nhà nước trong nhiều bản án, quyết định khác nhau thì đối với mỗi bản án, quyết định, người phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm thi hành án một lần trong 1 năm
Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tòa án quân sự khu vực nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở
- Bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án là quy định mới nhưng có sự kế thừa quy định về hỗ trợ tài chính để thi hành án tại Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của nhà nước trong trường hợp cơ quan, tổ chức của nhà nước phải thi hành
án Theo đó, trường hợp cơ quan, tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí
do ngân sách nhà nước cấp phải thi hành án đã áp dụng mọi biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không có khả năng thi hành án thì ngân sách nhà nước bảo đảm nghĩa vụ thi hành án Việc xử lý trách nhiệm vật chất đối với người gây ra thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, thẩm quyền, điều kiện, đối tượng, thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án còn chờ Chính phủ quy định cụ thể
1.2.3 Các biện pháp cƣỡng chế thi hành án
Hết thời hạn tự nguyện thi hành án, người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác
Trang 31Căn cứ để cưỡng chế thi hành án bao gồm: Bản án, quyết định; Quyết định thi hành án và quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án bao gồm 6 loại sau: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ Khai thác tài sản của người phải thi hành án Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy
tờ Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định
Trước khi tiến hành cưỡng chế thi hành án, chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế ngay Kế hoạch cưỡng chế thi hành án bao gồm các nội dung chính sau: Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu
về lực lượng tham gia và bảo vệ cưỡng chế và dự trù chi phí cưỡng chế
Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án Căn cứ vào kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an có trách nhiệm lập kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết
để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội
Chi phí cưỡng chế thi hành án tùy từng trường hợp do các đối tượng khác nhau chịu, bao gồm:
- Người phải thi hành án chịu chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án; chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế,
Trang 32phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án; chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản; chi phí định giá lại tài sản, trừ trường hợp ngân sách nhà nước trả chi phí cưỡng chế thi hành án; chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án; chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ; tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo
vệ cưỡng chế thi hành án
- Người được thi hành án phải chịu chi phí xác minh; chi phí định giá lại tài sản nếu người được thi hành án yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định giá; một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ
- Ngân sách nhà nước trả chi phí cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp định giá lại tài sản khi có vi phạm quy định về định giá; chi phí xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp chủ động thi hành án; trường hợp đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật và chi phí cần thiết khác theo quy định của Chính phủ
1.2.4 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án
* Luật thi hành án dân sự quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự, trong đó có nhiều điểm đổi mới
- Thời hiệu khiếu nại về thi hành án được phân chia cụ thể hơn, với những giai đoạn của quá trình thi hành án như sau:
+ Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó
Trang 33+ Đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản là 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định Đối với quyết định, hành vi
về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó
+ Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó
+ Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là
30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó
Trường hợp do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại
Lần khiếu nại tiếp theo, thời hiệu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền
- Thời hạn giải quyết khiếu nại theo từng loại hành vi khác nhau như sau: + Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu
là 15 ngày, lần 2 là 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại
+ Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản thì thời hạn giải quyết khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại
+ Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45 ngày,
kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại
Trường hợp cần thiết, đối với những vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại
Trang 34+ Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại
* Tố cáo và giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự
- Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự, chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
- Người tố cáo có các quyền gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình; yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo; yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù
Người tố cáo có các nghĩa vụ trình bày trung thực, cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo; nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật
- Người bị tố cáo có các quyền được thông báo về nội dung tố cáo; đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật; được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; được phục hồi danh
dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra và yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật
Người bị tố cáo có các nghĩa vụ giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật
- Thẩm quyền, thời hạn và thủ tục giải quyết tố cáo được quy định như sau: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền
Trang 35quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết Trường hợp người bị tố cáo là thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp trên trực tiếp hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết Trường hợp người bị tố cáo là thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết
Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá
90 ngày
Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình
Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật
Trang 361.3 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 hoạt động thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng hình thành cùng với hoạt động xét xử Dưới chế độ phong kiến hoạt động thi hành án dân sự chủ yếu do tổ chức thừa phát lại thực hiện
1.3.1 Thời kỳ từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1993
- Giai đoạn từ 1945-1950
Hoạt động thi hành án trong giai đoạn này chủ yếu là thi hành các bản
án, quyết định về hình sự Trên cơ sở Sắc lệnh ngày 10/10/1945 của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về việc cho tạm thời giữ các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những Bộ luật chung thống nhất cho toàn quốc, nếu những đạo luật ấy "không trái với các nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa" thì chế định Thừa phát lại được duy trì Tại Nghị định số 37 ngày 1/12/1945 về tổ chức Bộ Tư pháp, phòng giám đốc Hộ vụ được thành lập, trong đó có Ban công lại thực hiện nhiệm vụ quản
lý tổ chức Thừa phát lại Cũng theo tinh thần Sắc lệnh ngày 10/10/1945, những quy định về thủ tục thi hành án dân sự tiếp tục được áp dụng, đáp ứng yêu cầu của hoạt động tư pháp trong những năm đầu của chính quyền cách mạng
Sắc lệnh số 13 ngày 20/11/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức các Tòa án và các ngạch thẩm phán đã đặt
cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ chức Thi hành án dân sự Việt Nam Tại khoản 3, Điều 3 Sắc lệnh quy định Ban Tư pháp xã có quyền "thi hành những mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên" bao gồm các bản án, quyết định của tòa án
Trang 37bằng thẩm phán huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Thi hành án dân sự từ chỗ căn cứ vào yêu cầu của đương sự đã trở thành trách nhiệm của Nhà nước Tòa án chủ động thi hành án dân sự mà không chờ yêu cầu của người được thi hành án
Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 được ban hành, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên chấp hành án được xác định rõ đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Ngày 13/10/1972, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 186/TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên Tên gọi "Chấp hành viên" được tồn tại cho đến ngày nay Tuy nhiên, chấp hành viên không thuộc cơ quan thi hành án riêng biệt mà thuộc Tòa án nhân dân các địa phương để thực hiện việc thi hành án dân sự
- Giai đoạn 1981-1990
Hiến pháp 1980 ra đời kéo theo hàng loạt các đạo luật về tổ chức của
bộ máy Nhà nước cũng được ban hành Nghị định số 143 -HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp đã quy định: Bộ Tư pháp có chức năng quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức, trong đó bao gồm cả việc quản
lý công tác thi hành án dân sự
Ngày 28/8/1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự lần đầu tiên đã được ban hành, đặt cơ sở pháp lý cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Trên cơ sở đó, quy chế Chấp hành viên đã được ban hành kèm theo Nghị định số 68/HĐBT ngày 6/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng
Để cụ thể hóa Pháp lệnh, nhiều văn bản hướng dẫn được ban hành như Thông tư liên ngành số 06-89/TTLN ngày 7/12/89 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp; Thông tư liên ngành số 07- 89/TTLN ngày 10/12/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ hướng dẫn việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án v.v Đây là một bước phát
Trang 38triển mới trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật của Nhà nước ta đặc biệt trong lĩnh vực thi hành án dân sự
- Giai đoạn 1990-1993
Hiến pháp năm 1992, luật Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992, Luật tổ chức Tòa án nhân dân được ban hành, đã đặt ra những nguyên tắc nền tảng cho quá trình cải cách tư pháp, trong đó có công tác thi hành án dân sự Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX ngày 6/10/1992 đã thông qua Nghị quyết về
việc bàn giao công tác thi hành án từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ
quan của Chính phủ "chậm nhất vào tháng 6/1993" Pháp lệnh thi hành án
dân sự ban hành ngày 21/4/1993, có hiệu lực ngày 1/6/1993 thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sự ban hành ngày 28/8/1989 đã tạo ra bước ngoặt về tổ chức và hoạt động của công tác thi hành án dân sự ở nước ta, đưa công tác này sang một giai đoạn phát triển mới, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ đổi mới
1.3.2 Thời kỳ 1993-2004 và hiện nay
1.3.2.1 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm
1993 đến trước khi có Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004
Trên cơ sở Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, các cơ quan quản
lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự, các cơ quan thi hành án dân sự được hình thành từ Trung ương đến địa phương trong phạm vi cả nước
Ngày 02/6/1993 Nghị định 30/CP của Chính phủ được ban hành, hệ thống cơ quan quản lý thi hành án dân sự đã nhanh chóng được hình thành cả
ở 3 cấp: Cục quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; Phòng quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng; Sở Tư pháp cấp tỉnh; Phòng Tư pháp cấp huyện Các cơ quan tư pháp địa phương nhất là ở một số huyện, thị xã trước đây Phòng
Tư pháp bị giải thể do chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy được khẩn trương thành lập lại nhằm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp và cơ quan Tư pháp cấp trên trong việc quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự địa phương
Trang 39Về cơ quan thi hành án dân sự: Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan
có thẩm quyền tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của Tòa án, được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện, gồm có: Phòng thi hành
án thuộc Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng thi hành
án quân khu và cấp tương đương; Đội thi hành án thuộc Phòng Tư pháp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Tuy nhiên, do Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 còn giữ nguyên các quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, chỉ sửa đổi nội dung liên quan đến thẩm quyền của cơ quan quản lý công tác thi hành án và thủ trưởng cơ quan thi hành án mà chưa sửa đổi bổ sung nhiều nội dung quan trọng khác dẫn đến tình trạng vẫn nhiều án tồn đọng, kéo dài nhiều năm Bên cạnh đó nhà nước cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật mới có liên quan đến công tác thi hành án dân sự như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật phá sản doanh nghiệp, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì công tác thi hành án dân sự không còn mang tính chất dân sự thuần túy như trước đây mà cơ quan thi hành án dân sự còn được giao thêm các loại việc mới, có tính đặc thù như thi hành quyết định tuyên bố phá sản, thi hành án kinh tế, lao động, hành chính
1.3.2.2 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm
2004 đến nay
Qua hơn 10 năm thi hành, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 đã bộc lộ nhiều bất cập trước những đòi hỏi của quá trình đổi mới, cải cách hành chính, cải cách tư pháp Vì vậy, ngày 14/01/2004 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh thi hành án dân sự sửa đổi thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993
Để cụ thể hóa thẩm quyền quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự, tổ chức các cơ quan thi hành án dân sự, Chính phủ đã ban hành Nghị
Trang 40định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 quy định về cơ quan quản lý thi hành
án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự Theo Nghị định này, thì các cơ quan quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự bao gồm: Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp (cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước); Sở Tư pháp (cơ quan chuyên môn giúp
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự trên địa bàn cấp tỉnh; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý đối với cơ quan thi hành án ở địa phương theo ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp); Phòng Tư pháp (cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quản lý về công tác thi hành án dân sự trên địa bàn cấp huyện) Đồng thời, để phân định rõ thẩm quyền quản lý công tác thi hành án, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1148/2005/QĐ-BTP ngày 18/5/2005 quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, sự phân cấp, ủy quyền trong quản lý nhà nước giữa Bộ Tư pháp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp về công tác thi hành án dân sự
- Các Cơ quan thi hành án dân sự: Theo Điều 11 của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì Phòng Thi hành án đổi tên thành cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Đội thi hành án đổi tên thành cơ quan thi hành án dân sự quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và
cơ quan thi hành án trong quân đội
Theo đó, vị thế cơ quan thi hành án được nâng cao một bước, độc lập hơn trong tác nghiệp của mình Cơ quan thi hành án dân sự không còn là một phòng, đội trực thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp như trước đây mà có tư cách độc lập nhất định Việc quy định thành lập các đơn vị trực thuộc trong
cơ quan thi hành án cấp tỉnh cũng như quy định chức danh thẩm tra viên tại các cơ quan thi hành án dân sự đã góp phần hoàn thiện tổ chức bộ máy các
cơ quan thi hành án