Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, quy định về độ tuổi kết hôn có những khác biệt nhất định: Nước Cộng hòa Dân chủ Congo quy định tuổi kết hôn từ 18 tuổi đối với nam, từ 15 tuổi đối với nữ; ở In
Trang 1CÀ BÌNH MINH
ĐỀ TÀI
Thực trạng vấn đề tảo hôn và kết hôn cận huyết thống
trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CÀ BÌNH MINH
ĐỀ TÀI
Thực trạng vấn đề tảo hôn và kết hôn cận huyết thống
trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Mã số: 8380103
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Cừ
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trĩnh dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này./
Tác giả luận văn
Cà Bình Minh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
ảng 1: Thống kê dân số chia theo cấp xã tại huyện Mường La, năm 201729
ảng 2: Thống kê dân số chia theo hộ nghèo, hộ cận nghèo trong từng dân
tộc tại huyện Mường La, năm 2017 31
ảng 3: Số học sinh phổ thông trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La
ảng 7: Số cặp tảo hôn được phát hiện trên địa bàn huyện Mường La trong
năm 2017 phân theo xã, thị trấn và theo nhóm dân tộc (cặp) 40
ảng 8: Số cặp kết hôn (có đăng ký và chưa có đăng ký kết hôn) và cặp tảo
hôn trên địa bàn huyện Mường La năm 2017 42
ảng 9: Số cặp tảo hôn trên tổng số cặp kết hôn và tổng dân số theo từng xã
của huyện Mường La trong năm 2017 43
ảng 10: Số cặp kết hôn cận huyết thống được thống kê trên địa bàn huyện
Mường La từ năm 2013 -2017 (cặp) 52
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Tỷ lệ dân số chia theo dân tộc trên địa bàn huyện Mường La
trong năm 2017 30
Biểu đồ 2: Số học sinh phổ thông phân chia theo giới tính và dân tộc trên
địa bàn huyện Mường La năm học 2016 - 2017 (học sinh) 36
Biểu đồ 3: Số lượng và tỷ lệ các cặp tảo hôn trên địa bàn huyện Mường La
từ năm 2013 - 2017 (năm 2013 = 100%) 39
Biểu đồ 4: Số lượng các cặp kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện
Mường La từ năm 2013 - 2017 (cặp) 53
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Tính mới và những đóng góp của luận văn 6
8 Bố cục của luận văn 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẢO HÔN VÀ KẾT HÔN CẬN HUYẾT THỐNG 7
1.1 Khái niệm tảo hôn và kết hôn cận huyết thống 7
1.1.1 Khái niệm tảo hôn 7
1.1.2 Khái niệm kết hôn cận huyết thống 10
1.2 Nguyên nhân dẫn đến tảo hôn, kết hôn cận huyết thống 14
1.2.1 Nguyên nhân khách quan 14
1.2.2 Nguyên nhân chủ quan 17
1.3 Hệ quả tiêu cực của tảo hôn, kết hôn cận huyết thống 20
1.3.1 Hệ quả tiêu cực đối với cá nhân, gia đình 20
1.3.2 Hệ quả tiêu cực đối với xã hội 23
Kết luận Chương 1 26
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ ĐỐI VỚI TẢO HÔN VÀ KẾT HÔN CẬN HUYẾT THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MƯỜNG LA – TỈNH SƠN LA 27
Trang 72.1 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán của
các dân tộc trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La 27
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
2.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội 28
2.2 Thực trạng và biện pháp xử lý các trường hợp tảo hôn tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La 38
2.2.1 Thực trạng tảo hôn 38
2.2.2 Nguyên nhân xảy ra tình trạng tảo hôn 44
2.2.2.1 Xuất phát từ phong tục tập quán 45
2.2.2.2 Do những khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế 46
2.2.2.3 Việc xử lý vi phạm chưa đủ tính răn đe, hiệu quả chưa cao, ý thức chấp hành của người dân còn thấp 46
2.2.3 Biện pháp xử lý tình trạng tảo hôn 47
2.2.3.1 Xử lý về dân sự 47
2.2.3.2 Xử lý về hành chính 49
2.2.3.3 Xử lý về hình sự 50
2.3 Thực trạng và biện pháp xử lý các trường hợp kết hôn cận huyết thống tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La 51
2.3.1 Thực trạng kết hôn cận huyết thống 51
2.3.2 Nguyên nhân xảy ra tình trạng kết hôn cận huyết thống 54
2.3.2.1 Xuất phát từ phong tục tập quán 54
2.3.2.2 Do những khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế 54
2.3.3 Biện pháp xử lý tình trạng kết hôn cận huyết thống 55
2.3.3.1 Xử lý về dân sự 55
2.3.3.2 Xử lý về hành chính 56
2.3.3.3 Xử lý về hình sự 57
Kết luận Chương 2 58
Chương 3: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TẢO HÔN VÀ KẾT HÔN CẬN HUYẾT THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MƯỜNG LA – TỈNH SƠN LA 59
3.1 Kiến nghị về hoàn thiện quy định pháp luật 59
Trang 83.1.1 Quy định về mức xử phạt hành chính đối với tảo hôn, kết hôn cận
huyết thống 59
3.1.2 Quy định cụ thể về xử phạt đối với các trường hợp tảo hôn, kết hôn cận huyết thống nhưng không đăng ký kết hôn 60
3.1.3 Quy định về xử lý hình sự đối với tảo hôn, kết hôn cận huyết thống 61
3.2 Giải pháp hạn chế tảo hôn và kết hôn cận huyết thống tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La 62
3.2.1 Xóa bỏ những hủ tục lạc hậu về tảo hôn, kết hôn cận huyết thống62 3.2.2 Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí của người dân 63
3.2.3 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình liên quan đến tảo hôn và kết hôn cận huyết thống 63
3.2.4 Một số giải pháp khác 64
Kết luận Chương 3 66
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Để đảm bảo quyền kết hôn của cá nhân hài hòa, phù hợp với lợi ích và sự phát triển chung của xã hội, pháp luật thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng đều có những quy định về điều kiện kết hôn
Trên thế giới, độ tuổi kết hôn trung bình hiện nay thường được quy định
từ 18 tuổi trở lên, đây là độ tuổi được cho là đánh dấu sự trưởng thành của trẻ1,2 Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, quy định về độ tuổi kết hôn có những khác biệt nhất định: Nước Cộng hòa Dân chủ Congo quy định tuổi kết hôn từ 18 tuổi đối với nam, từ 15 tuổi đối với nữ; ở Indonesia, tuổi kết hôn được quy định từ 19 tuổi đối với nam và 16 tuổi đối với nữ, việc kết hôn sớm hơn có thể được chấp nhận với sự cho phép của cha mẹ và thẩm phán; Lào quy định tuổi kết hôn của cả nam và nữ là 18 tuổi, trong một số trường hợp đặc biệt, có thể cho phép kết hôn
từ 15 tuổi; tại Trung Quốc, độ tuổi kết hôn theo quy định là từ 22 tuổi đối với nam, 20 tuổi đối với nữ, đây cũng là quốc gia có độ tuổi kết hôn cao nhất trên thế giới3… Pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng có những quy định cụ thể về việc cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có quan hệ họ hàng với nhau Cụ thể, ở Mỹ, 24/50 bang quy định cấm hoàn toàn kết hôn với người có họ trong phạm vi ba đời, một số bang chỉ cho phép khi đáp ứng được những điều kiện kết hôn ngặt nghèo như: Có bằng chứng giám định di truyền, cả hai bên đều trên 65 tuổi hoặc cả hai bên trên 55 tuổi nếu một trong hai bị vô sinh… Các quốc gia Châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Philippnes, Trung Quốc… quy định cấm hoàn toàn việc kết hôn với anh
1
Điều 1 Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em quy định: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ
em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.”
2
Điều 2 Công ước số 182 - Công ước Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao
động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 quy định: “Trong Công ước này, thuật ngữ “trẻ em” sẽ áp dụng cho tất cả
những người dưới 18 tuổi.”
3
Các số liệu về độ tuổi kết hôn được tổng hợp dựa trên thống kê của Youth Policy tại địa chỉ: http://www.youthpolicy.org/factsheets/ ngày truy cập: 05/8/2018;
Trang 10em họ trong đời thứ ba Mặc dù quy định cụ thể khác nhau, nhìn chung pháp luật trên thế giới đều có những quy định nhằm nghiêm cấm và giảm thiểu tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống
Tại Việt Nam, pháp luật về hôn nhân - gia đình đã có nhiều quy định nhằm ngăn chặn nạn tảo hôn và kết hôn cận huyết thống Tuy nhiên, tình trạng này vẫn đang diễn ra tại nhiều nơi
Huyện Mường La - tỉnh Sơn La là một huyện miền núi phía Tây Bắc của
tổ quốc, có diện tích tự nhiên khoảng 1424,58 km2, có 16 đơn vị hành chính cấp
xã với 288 bản, tiểu khu; tổng dân số khoảng 94.713 người Đây là địa bàn cư trú của nhiều đồng bào dân tộc, trong đó chủ yếu là dân tộc: Thái, H’Mông, La
Ha, Kinh, Kháng với nhiều nét truyền thống văn hóa đáng trân trọng và giữ gìn Tuy nhiên, nơi đây cũng phải cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội nhức nhối trong đó có nạn tảo hôn và kết hôn cận huyết thống
Xuất phát từ thực tiễn tại địa phương, để tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La - tỉnh Sơn
La, đi đến nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật của người dân, đề xuất, kiến nghị để giảm thiểu và có những chính sách pháp luật phù hợp hơn đối với địa
bàn huyện Mường La - tỉnh Sơn La, tôi xin đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Thực trạng vấn đề tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường
La, tỉnh Sơn La” Đề tài luận văn nghiên cứu về thực trạng tình trạng tảo hôn và
kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quy định của pháp luật về vấn đề độ tuổi kết hôn và kết hôn cận huyết thống nói chung và tại huyện Mường La, tỉnh Sơn
La nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến những nội dung thuộc phạm vi của chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ với nhiều khía cạnh và cấp độ khác nhau; tuy vậy, chưa thực sự có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và toàn diện về
Trang 11vấn đề tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trong nhóm dân tộc cụ thể tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tác giả đã tham khảo, tìm hiểu một số bài viết có nội dung liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận văn như:
Luận án tiến sỹ Luật học của tác giả: Bùi Thị Mừng (2015), “Chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ - Vấn đề lý luận và thực tiễn” đã nghiên cứu một
cách toàn diện về chế định kết hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ trước, trong và sau khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thi hành; đánh giá những ảnh hưởng của chế định kết hôn tới việc xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam; nêu ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện chế định kết hôn ở Việt Nam trong giai đoạn mới Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, do việc tảo hôn và kết hôn cận huyết thống liên quan đến vấn đề vi phạm điều kiện kết hôn trong chế định kết hôn của Luật HN&GĐ, do đó, tác giả có tham khảo một số nội dung nhất định thuộc phạm vi của chế định kết hôn
Luận án tiến sỹ Sử học của tác giả: Phạm Thị Kim Oanh (2010), “Hôn nhân và Gia đình của người Thái ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La” mặc dù nghiên
cứu dưới góc độ nhân học văn hoá tuy nhiên tác giả đã nghiên cứu một cách có
hệ thống về HN&GĐ từ truyền thống đến hiện đại của người Thái ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, là địa bàn cư trú của tộc Thái Trắng có nhiều nét tương đồng với người Thái ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La, dân tộc có dân số chủ yếu trên địa bàn huyện Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả đã tham khảo nhiều luật tục trong HN&GĐ của đồng bào dân tộc Thái nói chung, qua đó làm rõ hơn tác động của phong tục tập quán đến việc vi phạm về tảo hôn và kết hôn cận huyết thống tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu một số tài liệu liên quan đến tảo hôn và kết hôn cận huyết thống khác như các bài báo khoa học đăng tải trên các
tạp chí chuyên ngành: Bài viết “Tảo hôn và kết hôn cận huyết thống ở các dân
Trang 12tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị” (2017) của PGS.TS Nguyễn Văn
Mạnh - Trường ĐH Khoa học Huế đăng trên Tạp chí Thông tin khoa học và
công nghệ Quảng Bình - Số 2/2017; bài viết “Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở Lâm Đồng” của Thạc sỹ Nguyễn Thị Vân Anh - Khoa Luật, ĐH Đà Lạt đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp Luật số 1 (298) - 2017; bài viết “Tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc - Thực trạng và một số giải pháp, kiến nghị” (2018) của Thạc sỹ Nguyễn Thị Vân Anh
- Trường ĐH Công nghiệp Thái Nguyên đăng trên trang báo điện tử của Tạp chí
Dân chủ và Pháp Luật; chuyên đề “Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp đẩy lùi tảo hôn trên địa bàn huyện Vân Hồ” (2016) của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn I (201 - 2020)” và một số tài liệu nước ngoài khác nghiên cứu về
nguyên nhân và thực trạng của tảo hôn, kết hôn cận huyết thống trên thế giới Tuy nhiên, các bài viết nghiên cứu trên mới chỉ ra những nét khái quát về tảo hôn và kết hôn cận huyết thống ở một số nhóm người nhất định chủ yếu dưới dạng báo cáo, tham luận về tảo hôn và kết hôn cận huyết thống như một vấn nạn xã hội mà chưa đi vào nghiên cứu và chỉ ra những biện pháp cụ thể dưới góc độ luật học
Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu về thực trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống dưới góc độ pháp lý trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố trước đó
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Nhằm tìm ra thực trạng, qua đó đưa ra
những giải pháp cụ thể, mang tính khả thi và có những kiến nghị hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật, giảm thiểu tình trạng tảo hôn
và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể: Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề
tài, tác giả cần phải đạt được các mục tiêu cụ thể sau:
Trang 13Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận chung về tảo hôn, kết hôn cận
huyết thống, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này
Thứ hai, phân tích, đánh giá được thực trạng của nạn tảo hôn và kết hôn
cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La, từ đó đưa ra một số kiến nghị góp phần giảm thiểu tình trạng này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng của vấn đề tảo
hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu dưới góc độ Luật Hôn nhân
và gia đình (HN&GĐ) về vấn đề tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa
bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La trong khoảng thời gian 05 năm trở lại đây (từ năm 2013 đến năm 2017) Trên cơ sở đó, đánh giá, đưa ra các kiến nghị, giải
pháp giảm thiểu tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin với phép biện chứng duy vật và lịch sử, gắn kết với tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề HN&GĐ nói chung và tảo hôn, kết hôn cận huyết thống nói riêng
Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành: Phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học… Đặc biệt, sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh luật nhằm làm sáng
tỏ những vấn đề lý luận cũng như các quy định của pháp luật hiện hành về tảo hôn, kết hôn cận huyết thống và thực tiễn thực hiện
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu khoa học về thực trạng vấn đề tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về nguyên nhân, thực trạng của tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện
Trang 14Mường La, từ đó đưa ra những phương pháp giải quyết phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương
7 Tính mới và những đóng góp của luận văn
Đề tài sẽ góp phần mang đến cái nhìn thực tế về vấn đề tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên một địa bàn cụ thể với những nét đặc trưng riêng của cộng đồng các dân tộc Thái, H’Mông, La Ha, Kinh, Kháng tại huyện Mường
La, tỉnh Sơn La vừa mang những nét đặc trưng riêng của dân tộc với những phong tục, tập quán lâu đời giao thoa, hội nhập cùng với sự phát triển chung của đất nước, xã hội Từ đó, tác giả đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm hạn chế tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn này
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các tài liệu tham khảo, danh mục các bảng, biểu, nội dung của Luận văn gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về tảo hôn và kết hôn cận huyết thống
Chương 2: Thực trạng và biện pháp xử lý đối với tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La - tỉnh Sơn La
Chương 3: Kiến nghị và giải pháp nhằm hạn chế tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La - tỉnh Sơn La
Trang 15NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẢO HÔN
VÀ KẾT HÔN CẬN HUYẾT THỐNG
1.1 Khái niệm tảo hôn và kết hôn cận huyết thống
1.1.1 Khái niệm tảo hôn
Hôn nhân là cơ sở, là nền tảng của gia đình - tế bào xã hội; phản ánh tính chất, kết cấu của xã hội Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của hôn nhân, của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội; trong xã hội có giai cấp, Nhà nước luôn quy định bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
và quan điểm của giai cấp thống trị xã hội
Pháp luật quy định độ tuổi kết hôn dựa trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện kinh tế - xã hội, nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của nam, nữ thanh niên và điều quan trọng là để họ có thể đảm đương trách nhiệm làm vợ chồng, làm cha mẹ trước khi bước vào cuộc sống gia đình Khi đến độ tuổi trưởng thành, thể chất và trí tuệ phát triển hoàn thiện, các cá nhân mới có đủ khả năng tự xây đắp và chăm lo cho gia đình của bản thân, sinh ra
và chăm sóc những thế hệ sau khoẻ mạnh, không trở thành gánh nặng cho xã hội Trải qua sự biến đổi vận động của lịch sử và sự phát triển của đời sống kinh
tế, văn hóa, xã hội, điều kiện về độ tuổi kết hôn cũng có nhiều sự thay đổi
Tại thời Lê Sơ, một bản văn ghi chép trong sách “Thiên nam dự hạ tập”
có nhan đề “Hồng Đức hôn giá lễ nghi” có ghi lại quy định về lễ Nghị hôn (tức
lễ Chạm mặt) như sau: “Con trai từ 18 tuổi, con gái từ 16 tuổi trở lên mới có thể được thành hôn…”4 So sánh với pháp luật thời nhà Đường - Trung Quốc thời bấy giờ, độ tuổi kết hôn của nam nữ có thể căn cứ theo sách Lễ Ký, trong
đó, đối với nam, Lễ Ký cho rằng “Người ta đến 20 tuổi còn yếu nhược, đến tuổi
ấy thì làm lễ đội mũ; đến 30 tuổi thì tráng kiện, có gia thất” như vậy, tuổi lập
Luật, năm thứ nhất), Saigon – 1975, tr.39
Trang 16gia đình đối với nam có thể trong khoảng 20 - 30 tuổi Đối với nữ, sách viết
“con gái đến 15 tuổi làm lễ cài trâm và 20 tuổi thì gả chồng” So sánh với pháp
luật Trung Quốc, mặc dù đều chịu ảnh hưởng của Khổng giáo, pháp luật Việt Nam đã có sự dung hòa, kết hợp giữa lễ giáo Trung Quốc và nét văn hóa xã hội của nước ta
Trong thời Nguyễn, Bộ luật Gia Long có nhiều quy định gần như dẫn lại
Bộ luật của nhà Thanh - Trung Quốc Tương tự như luật nhà Thanh, Bộ luật Gia Long cũng không quy định cụ thể tuổi kết hôn, chỉ có Khoản 2 của Điều
94 quy định: “việc hôn nhân của nam nữ có tuổi đã định” Nghiên cứu điều
Luật này, luật gia Philastre5 đã giải thích một cách sai lầm rằng: Theo Kinh
Lễ, tuổi cưới xin của con trai là 16 tuổi, con gái là 14 tuổi và cho rằng tuổi kết hôn trong thời Nguyễn cũng được áp dụng như vậy, điều này đã có ảnh hưởng đến những quy định pháp luật về độ tuổi kết hôn của Việt Nam trong thời gian
thời kỳ bấy giờ: 13 tuổi đối với con gái và 16 tuổi đối với con trai7
Trong thời kỳ Pháp thuộc, Việt Nam bị chia cắt thành ba miền Bắc - Trung - Nam, đã có ba bộ Dân luật riêng được áp dụng để điều chỉnh các quan
hệ Dân sự, trong đó có HN&GĐ cho từng miền: Ở miền Bắc, áp dụng các quy định trong Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931; ở miền Trung, áp dụng các quy định trong Hộ Luật Trung kỳ năm 1936, miền Nam áp dụng các quy định trong Bộ Dân luật Giản yếu năm 1883 Trong đó, cả hai bộ Dân luật Bắc kỳ và Trung
5 Paul-Louis-Félix Philastre (1837 - 1902): Hải quân đại úy, kiêm chức thống soái việc hình luật ở Nam Kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc; là người có công nghiên cứu và dịch nhiều sách, tài liệu của Việt Nam và Trung Quốc sang tiếng Pháp, trong đó có sách Kinh Dịch của Trung Quốc và Bộ luật Gia Long của Việt Nam;
6 Vũ Văn Mẫu, tlđd chú thích 4, tr.41
7 Vũ Văn Mẫu, tlđd chú thích 4, tr.40
Trang 17kỳ đều kế thừa Bộ luật Hồng Đức với quy định tuổi kết hôn của nam là đầy 18 tuổi và nữ là đầy 15 tuổi; riêng Bộ Dân luật Giản yếu, xuất phát từ giải thích của luật gia Philastre đối với Bộ luật Gia Long, bộ luật này đã kế thừa quy định về tuổi kết hôn của nam là đầy 16 tuổi, của nữ là đầy 14 tuổi
Có thể thấy, pháp luật thời kỳ này mang tính chất chuyển tiếp về nội dung các quy định pháp luật thời kỳ phong kiến, từng bước du nhập các tư tưởng, kỹ thuật lập pháp của phương tây, mà trực tiếp là ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804
Từ năm 1954 - 1975, Việt Nam tồn tại song song hai thể chế chính trị khác nhau ở miền Bắc và miền Nam
Ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ban hành Luật
Gia đình số 1/59 ngày 02/01/1959, Điều thứ 6 của Luật này quy định: “Con trai chưa đủ 18 tuổi, con gái chưa đủ 15 tuổi, không được kết hôn.” Luật cũng quy
định trường hợp cho miễn tuổi khi có lý do đặc biệt quan trọng được Tổng thống đặc cách (Điều 11 Luật Gia đình số 1/59) Điều này tương tự với quy định về độ tuổi kết hôn theo Bộ luật Hồng Đức, cho thấy các nhà làm luật không chỉ áp dụng những tư tưởng pháp luật phương tây mà còn tiếp tục kế thừa những quy định đúng đắn, tiên tiến của thời kỳ phong kiến
Ở miền Bắc, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Luật
HN&GĐ năm 1959 quy định độ tuổi kết hôn tại Điều 6 như sau: “Con gái từ 18 tuổi trở lên, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn” Nhà làm luật xác định
ở độ tuổi này nam và nữ mới phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý, có đủ khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi kết hôn Bên cạnh đó, nhà làm luật cũng dự liệu trường hợp xác lập quan hệ hôn nhân trước độ tuổi
theo luật định, Điều 3 của Luật quy định: “Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ Cấm lấy vợ lẽ.”
Sau khi hai miền Nam - Bắc thống nhất, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp tục áp dụng Luật HN&GĐ năm 1959 Trải qua nhiều lần sửa đổi,
Trang 18bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước, sự hội nhập với quốc
tế, Luật HN&GĐ năm 2014 về cơ bản vẫn tiếp tục giữ các quy định về độ tuổi
kết hôn, chỉ có sự thay đổi về cách diễn đạt “từ… tuổi trở lên” thành “từ đủ… tuổi trở lên” để tránh gây sự nhầm lẫn trong cách xác định tuổi kết hôn: “Nam
từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.” (Điểm a - khoản 1 - Điều 8);
đồng thời quy định rõ việc xác lập quan hệ hôn nhân trước độ tuổi theo luật
định là hành vi bị cấm: “Cấm các hành vi sau đây: Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn.” (điểm b - khoản 2 - Điều 5 Luật HN&GĐ
2014)
Giải thích rõ hơn về khái niệm “tảo hôn”, khoản 8 - Điều 3 Luật
HN&GĐ 2014 quy định: “Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc
cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật”
Theo quy định nêu trên, ta có thể hiểu, tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng thuộc một trong ba trường hợp sau đây: (1) Cả nam và nữ đều chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật; (2) Nam đã đủ tuổi nhưng nữ chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật; (3) Nữ đã đủ tuổi nhưng nam chưa
đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật
Thuật ngữ “tảo hôn” được sử dụng trong cả khoa học pháp lý (học thuật) và trong thực tiễn đời sống xã hội Thông thường, “tảo hôn” được hiểu
là việc nam, nữ lấy nhau thành vợ chồng nhưng một bên hoặc cả hai bên chưa
đủ tuổi kết hôn theo luật định (dù đăng ký kết hôn hay không)
1.1.2 Khái niệm kết hôn cận huyết thống
Bên cạnh các điều kiện kết hôn, để bảo vệ quyền lợi của mỗi cá nhân, gia đình, xã hội và theo quan niệm, tín ngưỡng thực tế của mỗi quốc gia, mỗi thời
kỳ, pháp luật còn dự liệu những quy định trong việc cấm kết hôn giữa những người có quan hệ họ hàng, thân thích, chỉ có sự khác biệt trong quy định về mức
độ, phạm vi huyết thống giữa các thế hệ kết hôn
Tại thời Lê Sơ, Điều 319 Luật Hồng Đức quy định: “Phàm lấy cô, dì, chị,
em, kế nữ (tức con riêng của vợ), cùng thân thích, tức giá thú (hôn nhân) phi
Trang 19loại, đều luận theo tội gian thông”; trong đó, giá thú phi loại là giá thú kết hợp
giữa hai người không được xếp vào cùng một loại (vì lý do có liên hệ thân thích)
Trong Hồng Đức thiện chính thư, đoạn 280 cũng ghi lại một bản án kết
luận như sau: “Trưởng ấu phải có luân thường, bậc tiền vương đã nêu ra pháp điển, tôn ty phải có trật tự, trong sách lễ đã có minh lệnh Đó là phép nước rõ ràng để lưu truyền hậu thế… các bà con tôn ty không thể lấy nhau, nên nghị tội tám chục trượng…” Trong Thiên Nam dự hạ tập có ghi một lệnh năm Hồng Đức thứ 5 (năm 1974): “Phàm cùng họ mà kết hôn, bị tội 60 trượng, vợ chồng phải ly dị” 8
Có thể thấy, pháp luật nhà Lê đã có những quy định nghiêm khắc về cấm kết hôn với phạm vi rất rộng, bao trùm lên tất cả những người cùng họ, có quan
hệ thân thích, kể cả là hàng trên, hàng dưới hay ngang hàng
Trong thời nhà Nguyễn, Điều 100 Luật Gia Long quy định về hôn nhân
giữa những người cùng họ (đồng tính) như sau: “Phàm là những người đồng tính lấy nhau thì bị tội 60 trượng và phải ly dị, tuy nhiêu, nếu cùng họ nhưng không cùng phả hệ thì không áp dụng luật này” Điều 101 quy định về hôn nhân giữa người trong họ bậc trên và bậc dưới (tôn ti): “Phàm người họ ngoại còn có tang lấy nhau; hay là lấy chị em gái cùng mẹ khác cha; chồng sau với con gái chồng trước; mà lấy nhau, đều lấy luật về bà con thông gian mà xử tội (tội thông gian chịu tù 03 năm); những người có họ ngoại, bậc trên hay bậc dưới, đều không được lấy nhau, hễ trái luật thì phải tội 100 trượng; chị em gái con
cô, con cậu, đôi con dì, lấy nhau thì phải tội 80 trượng và ly dị; con gái con trai chồng trước với chồng sau lấy lẫn nhau thì theo luật anh em chị em gái cùng
mẹ khác cha lấy lẫn nhau mà xử tội 03 năm và bắt ly dị” 9
Trong thời kỳ Pháp thuộc, ba bộ Dân luật ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam đều có những quy định tiến bộ về cấm kết hôn giữa những người có quan
hệ họ hàng, thân thích Điều 74 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: “Phàm những
8 Vũ Văn Mẫu, tlđd chú thích 4, tr.23, 24;
9 Vũ Văn Mẫu, tlđd chú thích 4, tr.25,26;
Trang 20người thân thuộc hay thích thuộc về trực hệ, vào bậc nào cũng vậy, bất cứ là con chính, con hoang hay con nuôi, cấm không được kết hôn với nhau Về hàng
hệ thì những người sau này cũng không được kết hôn với nhau: (1) Anh chị em đồng phụ, đồng mẫu hay không cũng thế, hoặc lấy lẫn nhau hoặc lấy anh chị
em nuôi; (2) Chị dâu, em dâu với em chồng, anh chồng; (3) Chú, bác, cậu với cháu gái; cô, dì với cháu trai; (4) Bác gái hay thím với cháu chồng; (5) Anh em với chị em con chú, con bác, con cậu, con cô, con dì cả hai bên nội ngoại; anh
em, chị em cháu chú, cháu bác, cháu cô về bên nội; (6) Anh em họ với chị em
họ đồng tông.” Khoản 3 - Điều 84 quy định trường hợp giá thú vô hiệu: “Khi hai người lấy nhau là thân thuộc, thích thuộc vào bậc mà trong luật đã cấm không được giá thú ”
Trong thời kỳ đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc, cả hai chính quyền đều có những tiến bộ nhất định trong pháp luật về hôn nhân - gia đình về vấn đề này
Ở miền Nam Việt Nam, Luật Gia đình số 1/59 của chính quyền Việt Nam
Cộng Hòa quy định tại Điều thứ 10 như sau: “Những người bà con trực hệ do huyết tộc hay do hôn nhân bất cứ chánh thức hay ngoại hôn hay vì lập con nuôi
mà ra, vào bậc nào cũng vậy, đều cấm không được kết hôn với nhau
Về bàng hệ, những người sau này cũng không được kết hôn với nhau: (1) Anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha, anh chị em nuôi hoặc lấy lẫn nhau, hoặc lấy anh chị em nuôi của mình; (2) Chúc, bác, cậu với cháu gái do huyết tộc hay do hôn nhân; cô, dì với cháu trai do huyết tộc hay
do hôn nhân; ông chú, ông bác, ông cậu với cháu gái do huyết tộc hay do hôn nhân; bà cô, bà dì với cháu trai do huyết tộc hay do hôn nhân; (3) Bác gái, thím hay mợ với cháu chồng, dượng với cháu vợ; bà bác, bà thím, bà mợ với cháu chồng; ông dượng với cháu vợ; (4) Anh em với chị em con chú, con bác, con cậu, con cô, con dì, cả hai bên nội ngoại; anh chị em, cháu chú, cháu bác, cháu cậu, cháu cô, cháu dì về bên nội cũng như bên ngoại; (5) Chị dâu, em dâu với anh chồng, em chồng; anh rể, em rể với chị vợ, em vợ.”
Trang 21Ở Miền Bắc, Điều 9 Luật HN&GĐ năm 1959 của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa quy định: “Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Cấm kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha Đối với những người khác có
họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán.”
Mặc dù hai bộ luật về HN&GĐ của hai chính quyền có cách cách diễn đạt khác nhau nhưng đều quy định các trường hợp cấm kết hôn với phạm vi rộng hơn so với quy định pháp luật trong thời kỳ Pháp thuộc Các yếu tố truyền thống, phong tục tập quán vẫn chi phối phần nào ý chí của nhà làm luật, việc cấm kết hôn không chỉ xem xét trên mối liên hệ về huyết thống mà còn cả về lý
do đạo đức (cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, con đẻ với con nuôi…) Tuy vậy, Luật HN&GĐ năm 1959 của nhà nước VNDCCH không cấm hoàn toàn việc kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi năm đời mà để ngỏ theo tập quán pháp của mỗi địa phương
Sau khi nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, Luật HN&GĐ đã trải qua nhiều lần sửa đổi quy định về cấm kết hôn giữa người có quan hệ huyết thống trực hệ, thân thuộc để đảm bảo kế thừa và phát huy các truyền thống tốt đẹp của đất nước, tiếp thu những điểm tiến bộ của pháp luật quốc tế Trong Luật
HN&GĐ năm 2014, điểm d - Khoản 2, Điều 5 quy định: “Cấm các hành vi sau đây: Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu
về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.” Quy định này đã thu hẹp phạm vi cấm kết hôn giữa những người
họ hàng từ phạm vi năm đời xuống chỉ trong phạm vi ba đời; đây là một điểm thay đổi phù hợp với các nghiên cứu khoa học quốc tế đã chỉ ra rằng tỷ lệ con sinh ra mắc các bệnh về di truyền do kết hợp gen lặn của cha mẹ là những người
Trang 22có họ trong phạm vi đời thứ tư trở đi gần như bằng với tỷ lệ của các cặp vợ chồng bình thường khác10
Để làm rõ hơn về kết hôn cận huyết thống thuộc trường hợp bị cấm theo quy định của pháp luật, khoản 17, 18 - Điều 3 Luật HN&GĐ giải thích: Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong
đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau; những người có họ trong phạm vi
ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba Kết hôn cận huyết thống là hình thức hôn nhân nội tộc, người vợ và người chồng nằm trong cùng một nhóm thân tộc, họ hàng có cùng mối quan hệ huyết thống với nhau theo dòng họ cha, mẹ hoặc có cùng dòng máu trực hệ
Như vậy, có thể hiểu kết hôn cận huyết thống là việc hai bên nam, nữ có quan hệ họ hàng, thân thích thuộc phạm vi Luật HN&GĐ quy định cấm kết hôn nhưng họ vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với nhau
1.2 Nguyên nhân dẫn đến tảo hôn, kết hôn cận huyết thống
Tảo hôn, kết hôn cận huyết thống là một tập tục lạc hậu tồn tại lâu đời trên thế giới nói chung, và Việt Nam nói riêng Hiện nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống văn hóa xã hội, tình trạng này đã phần nào được ngăn chặn, tuy nhiên ở một bộ phận dân cư, việc tảo hôn, kết hôn cận huyết thống vẫn tồn tại và ngày càng có xu hướng gia tăng do những nguyên nhân sau:
1.2.1 Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán
Tảo hôn và kết hôn cận huyết thống là tình trạng diễn ra từ lâu đời, từ thế
hệ này qua thế hệ khác, được nhiều cộng đồng dân cư duy trì Trong xã hội Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ phong kiến, kết hôn là một vấn đề hệ trọng không
10
Denise Grady (2002), “No Genetic Reason to Discourage Cousin Marriage, Study Finds” tại địa chỉ
https://www.nytimes.com/2002/04/03/health/no-genetic-reason-to-discourage-cousin-marriage-study-finds.html truy cập ngày 05/8/2018;
Trang 23chỉ đối với cặp vợ chồng mà còn đối với cả gia đình, dòng tộc Việc hôn nhân hầu hết đều xuất phát từ ý chí của cha mẹ, thân tộc, vì lợi ích chung của dòng
họ
Tư tưởng này phần nào được thể hiện và cụ thể hóa trong các quy phạm
pháp luật của thời kỳ phong kiến Điều 94 Luật Gia Long quy định: “Trong việc hôn nhân của con trai và con gái, người chủ hôn bao giờ cũng là ông bà, cha
mẹ Nếu không có ông bà, cha mẹ, người thân thuộc khác đứng chủ hôn Nếu chồng chết, mẹ đã tái giá và đem con gái mình ở với chồng sau, việc hôn nhân của con gái sẽ do người mẹ đứng chủ hôn.” Giải thích rõ hơn cho quy định này Luật Gia Long phân tích: “Mỗi khi trai gái kết hôn, thế nào cũng cần có một người điều khiển và định đoạt mọi việc đứng ra làm chủ hôn… là những bậc tôn trưởng rất được tôn trọng, các bậc ấy có uy quyền để điều khiển và định đoạt với tư cách chủ hôn và các người ty ấn không thể nào trái lệnh”.11
Đứng trên góc độ của gia tộc, việc kết hôn không chỉ là sự gắn kết giữa người nam và người nữ mà còn nhằm duy trì, phát triển nòi giống, tăng mối quan hệ gắn kết giữa hai gia đình ên cạnh đó, cũng có quan niệm cho rằng việc kết hôn giữa anh em họ có thể giúp cuộc hôn nhân trở nên bền vững hơn, làm gắn bó hơn mối quan hệ trong dòng tộc, tiếp tục duy trì khối tài sản của dòng tộc mà không bị phân tán ra nhiều chi thứ khác khi truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác
Thứ hai, do quy định của pháp luật về xử lý đối với các hành vi tảo hôn
và kết hôn cận huyết thống còn chưa nghiêm khắc, chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa
Như vậy, hành vi tảo hôn có thể bị xử phạt hành chính đến 3.000.000 đồng hoặc bị xử lý hình sự đến 03 năm tù nếu tiếp tục vi phạm cưỡng ép kết hôn; hành vi tổ chức tảo hôn có thể bị xử phạt hành chính đến 1.000.000 đồng, nếu tiếp tục vi phạm có thể bị xử lý hình sự cải tạo không giam giữ đến 02 năm;
11 Vũ Văn Mẫu, tlđd chú thích 4, tr.20;
Trang 24hành vi vi phạm về kết hôn cận huyết thống có thể bị xử phạt hành chính đến 30.000.000 đồng hoặc bị xử lý hình sự đến 05 năm tù Nhìn chung, mức xử phạt đối với hành vi tảo hôn khá thấp, chỉ từ 500.000 đến 1.000.000 đồng, luật chỉ dự liệu khung tăng nặng đối với những trường hợp tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật Nhà làm luật chủ yếu dự liệu mức phạt mang tính răn đe cao đối với các trường hợp vi phạm kết hôn với người có cùng dòng máu về trực hệ, tội loạn luân
Ngoài những nguyên nhân trên, còn một số nguyên nhân khách quan khác tác động đến tảo hôn và kết hôn cận huyết thống
Cho đến trước thế kỷ 19, các gia đình, dòng tộc ít có sự biến động lớn về địa bàn cư trú, nhiều trường hợp vẫn ở tại một địa phương hàng thế kỷ và những người đàn ông trong các gia đình đó chỉ rời nhà trong phạm vi không quá 5 dặm
- khoảng cách họ có thể đi bộ từ nhà đến nơi làm việc trong ngày12 Có thể thấy,
ở những cộng đồng dân cư nhỏ, biệt lập, vùng sâu, vùng xa thường có tỷ lệ tảo hôn và kết hôn cận huyết thống cao hơn so với vùng thành thị, nơi có tần suất dân số lưu động cao hơn
Sự khác biệt về vị trí địa lý, giữa vùng nông thôn và thành thị đã tạo ra những khác biệt lớn về điều kiện kinh tế, trình độ dân trí giữa người dân, phần nào tác động đến tảo hôn và kết hôn cận huyết thống
Patrick Bateson, nhà Sinh vật học, Giáo sư chuyên ngành tập tính học tại trường Đại học Cambridge nghiên cứu và chỉ ra rằng, khi những đứa trẻ cùng lớn lên với nhau, chúng sẽ không còn hấp dẫn giới tính với nhau nữa; đồng thời, chúng lại tiếp tục tìm kiếm những người bạn đời tương tự - những người không phải anh chị em nhưng lại tương tự như anh chị em của mình Ngược lại, nếu những người anh em, họ hàng này gặp gỡ nhau khi đã trưởng thành, rất có khả
12 Richard Conniff (2003), “Go ahead, kiss your cousin”, tlđd 12;
Trang 25năng hai bên sẽ bị hấp dẫn, nảy sinh tình cảm Hiện tượng này được gọi là “giao phối chọn lựa”13
1.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, xuất phát từ những khó khăn về kinh tế dẫn đến tảo hôn và kết hôn cận huyết thống Không phải là điều khó hiểu khi mà tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống chủ yếu xảy ra tại các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, nơi có hoàn cảnh khó khăn Thống kê trên thế giới, hơn một nửa số trẻ
em gái trong các gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn ở các nước đang phát triển kết hôn từ dưới 18 tuổi14
Ở Việt Nam, khoảng 11% trẻ em gái kết hôn trước khi đủ 18 tuổi, trong
đó vùng dân tộc thiểu số, những vùng đặc biệt khó khăn chiếm tỷ lệ cao hơn cả Trong năm 2014, tổng số người kết hôn ở dân tộc La Hủ là 182 cặp, tảo hôn có đến 83 cặp, chiếm 45,6%; ở dân tộc La Ha có 127 cặp kết hôn, tảo hôn chiếm
67 cặp, chiếm 52,8%; ở dân tộc Lự có 64 cặp kết hôn, tảo hôn chiếm 31 cặp, chiếm 48,4%15,16 Tỷ lệ kết hôn cận huyết thống ở các dân tộc thiểu số trung bình khoảng 6,1%, trong đó có những dân tộc trên 20% như: dân tộc Mạ (44,1%), M’nông (40,2%); dân tộc Mảng (43,6%) Đây đều là những dân tộc thiểu số đặc biệt ít người, cư trú chủ yếu ở những vùng miền núi đặc biệt khó khăn như tỉnh Lai Châu, tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai…17
Hoàn cảnh gia đình khó khăn khiến nhiều cha mẹ lựa chọn cho con mình, đặc biệt là những bé gái kết hôn nhằm giảm thiểu chi phí sinh hoạt, “bán” con
để duy trì sinh kế gia đình Tại nhiều nơi, kết hôn thậm chí còn được coi là một cách để đưa các bé gái và bản thân gia đình đó thoát khỏi cảnh nghèo khổ
http://discovermagazine.com/2003/aug/featkiss truy cập ngày 05/8/2018;
14 Girls not brides, “Why does child marriage happen” tại địa chỉ: does-it-happen truy cập ngày 05/8/2018;
https://www.girlsnotbrides.org/why-15 Ủy ban Dân tộc (2016), Kết quả điều tra thực trạng KT-XH 53 dân tộc thiểu số năm 2015 tại địa chỉ
05/8/2018;
16
https://www.girlsnotbrides.org/child-marriage/vietnam/ truy cập ngày: 05/8/2018;
17 Ủy ban Dân tộc (2016), tlđd 15;
Trang 26Thứ hai, trình độ dân trí chưa cao, ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế, không chấp hành các quy định của pháp luật về điều kiện độ tuổi kết hôn, cố tình vi phạm quy định về kết hôn
Việc được học tập, giáo dục sẽ phần nào làm giảm tỷ lệ tảo hôn ở trẻ, ngược lại, trẻ em bỏ học sớm sẽ có nguy cơ tảo hôn cao hơn những trẻ em thông thường Thống kê cho thấy, trẻ em gái không được học tập có nguy cơ kết hôn trước tuổi 13 cao gấp 03 lần so với những trẻ em được học tập (cấp trung học cơ
sở hoặc cao hơn) Trên 60% phụ nữ (từ 20 - 24 tuổi) không được học tập kết hôn trước khi đủ 18 tuổi18
Trên thế giới, tỷ lệ trẻ em sinh ra mắc các chứng bệnh bẩm sinh như bệnh
xơ nang ở trẻ em, tật nứt đốt sống là khoảng 3 - 4%, trường hợp cha mẹ là anh, chị em họ trong phạm vi đời thứ ba, con sinh ra có nguy cơ mắc chứng bệnh này tăng khoảng 1,7 - 2,8% Hiện nay khoa học tiên tiến đã có nhiều biện pháp xét nghiệm gen giúp phát hiện các gen lặn của cha mẹ, sàng lọc bệnh di truyền
có thể xảy ra đối với trẻ Đây là một biện pháp có ý nghĩa lớn, làm thay đổi góc nhìn của giới nghiên cứu về tác hại lớn nhất mà kết hôn cận huyết thống gây ra Việc xét nghiệm gen cũng trở thành một trong những điều kiện mà pháp luật nhiều nước quy định trước khi cho phép kết hôn giữa anh, chị em họ Tuy vậy, đối với nhiều nơi có trình độ dân trí thấp, những người kết hôn cận huyết thống hoàn toàn không thể hiểu được những hậu quả di truyền mà con cháu họ sau này có thể phải gánh chịu dẫn đến nhiều hậu quả đau lòng
Ở nước ta, do trình độ nhận thức chưa cao dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm tảo hôn, kết hôn cận huyết thống, nhiều trường hợp không có ý thức chấp hành pháp luật, cố tình vi phạm Do quan niệm truyền thống khiến mọi người ít cởi mở về giáo dục giới tính Trên ghế nhà trường, trẻ chỉ được biết sơ lược về giáo dục giới tính thông qua bài học ngắn trong chương trình lớp 5 và chương
trình lớp 9 Một giáo viên đã nhận xét “Nội dung giáo dục giới tính chưa được
18 Girls not rides, “Education” tại địa chỉ: https://www.girlsnotbrides.org/themes/education/ ngày truy
cập: 05/8/2018;
Trang 27tách bạch thành môn học hoặc chương trình chuyên biệt mà vẫn còn lồng ghép vào các bộ môn khác như “sức khỏe” hay “sinh học” Thời điểm bắt đầu học khá trễ (đầu năm lớp 5) và không liên tục (lớp 5, lớp 8, lớp 11)… Số tiết/ bài quá ít, chỉ khoảng 8 tiết (lớp 5), 5 bài ở lớp 9, còn bậc THPT thì lồng ghép Nội dung mang tính giới thiệu, phân tích sơ bộ hơn là giáo dục cả về mặt tâm lý lẫn
kỹ năng cho học sinh”19
Việc không được tiếp cận này đã khiến người dân không hiểu rõ được tác hại của nạn tảo hôn và kết hôn cận huyết thống, chưa có sự chuẩn bị tâm sinh lý cần thiết, phần nào làm gia tăng tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống
Thứ ba, việc việc xử lý của chính quyền địa phương đối với các trường hợp tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn chưa mạnh mẽ, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật mang lại hiệu quả chưa cao
Trên thế giới có rất nhiều tổ chức, nhóm tình nguyện không ngừng tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về tảo hôn và kết hôn cận huyết thống Những việc làm này đã phần nào mang đến những kết quả tích cực nhưng vẫn chưa thể mang lại hiệu quả sâu rộng, bền vững
Ở nước ta, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện
từ Trung ương đến địa phương thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các tuyên truyền viên pháp luật, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng Bên cạnh đó, còn được tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các đài truyền thanh - truyền hình, cơ quan báo chí… với các tin bài, phỏng vấn, phóng sự, các chuyên trang, chuyên mục Tuy vậy, những biện pháp tuyên truyền này thường tỏ ra kém hiệu quả khi đi đến các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Việc tuyên truyền còn mang tính hình thức, ít có sự gắn kết với phong tục tập quán riêng của từng địa phương
19
thanhnien.vn, “Giáo dục giới tính cho học sinh: Giáo viên đứng lớp còn 'đỏ mặt tía tai'!” (2017) tại địa chỉ: https://thanhnien.vn/giao-duc/giao-duc-gioi-tinh-cho-hoc-sinh-giao-vien-dung-lop-con-do-mat-tia-tai- 830681.html truy cập ngày 05/8/2018;
Trang 28Bên cạnh những nguyên nhân chính trên, còn một số nguyên nhân chủ quan khác như tình trạng phận biệt giới tính, do ảnh hưởng của thiên tai, chiến tranh
Trẻ em gái là đối tượng có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi tảo hôn cao hơn so với trẻ em nam Nguyên nhân là do trong những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em gái thường phải bỏ học sớm, nhiều trường hợp không được học tập, phải phụ giúp gia đình; nhiều nơi, cha mẹ giảm gánh nặng cho gia đình bằng cách cho trẻ em gái lấy chồng sớm Một khi đã kết hôn, trẻ em gái sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực của xã hội khi trở thành lao động cho gia đình chồng, buộc phải mang thai khi còn nhỏ tuổi Đặc biệt khi kết hôn với người đàn ông lớn tuổi hơn mình, trẻ em gái sẽ gặp nhiều khó khăn để làm chủ những mong muốn, nguyện vọng của bản thân, thậm chí phải đối mặt với các nguy cơ bị bạo hành tình dục, thể chất, cũng như tinh thần
Thiên tai, chiến tranh cũng gây ảnh hưởng phần nào dẫn đến tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống Tình trạng thiên tai xảy ra khiến nhiều trẻ
em phải bỏ học, điều này khiến các em phải lao động sớm hơn, tăng cao tỷ lệ tảo hôn ở các em Ở nước ta, ảnh hưởng của hai cuộc chiến tranh dẫn đến nhiều gia đình ly tán, có trường hợp vợ chồng sau khi kết hôn, có con mới phát hiện mình là anh em, ruột thịt với nhau20
1.3 Hệ quả tiêu cực của tảo hôn, kết hôn cận huyết thống
1.3.1 Hệ quả tiêu cực đối với cá nhân, gia đình
Thứ nhất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bà mẹ và trẻ em
Theo kết quả nghiên cứu của nền y học hiện đại, nam từ khoảng 16 tuổi trở lên, nữ từ khoảng 13 tuổi trở lên đã có khả năng sinh sản Tuy nhiên, để đảm bảo cho con sinh ra được khỏe mạnh, nòi giống phát triển, bảo đảm sức khỏe cho người phụ nữ mang thai, tuổi có con tốt nhất cần phải trên 18 tuổi Trẻ em
20
Pháp Luật 247, “ ình Định: Chị em ruột lấy nhau, 12 năm sau mới biết” tại địa chỉ: http://www.phapluat247.com/binh-dinh-chi-em-ruot-lay-nhau-12-nam-sau-moi-biet-2621.html truy cập ngày 05/8/2018;
Trang 29gái mang thai từ 15 - 19 tuổi gặp phải nhiều nguy cơ tử vong do những biến chứng thai sản và trong quá trình sinh con cao hơn so với phụ nữ sinh con ở độ tuổi 20, nguy cơ này còn cao hơn đối với trẻ em gái mang thai dưới 15 tuổi21 Trẻ quan hệ tình dục sớm dẫn đến mang thai nhưng không thể kết hôn đã tự phá thai, phá thai chui ở những cơ sở y tế không bảo đảm chất lượng, trẻ dễ gặp phải những tai biến như băng huyết, nhiễm khuẩn, sót nhau, thủng tử cung, tắc ống dẫn trứng, rách bàng quang, nhiễm trùng máu Nạo phá thai sớm dễ dẫn đến biến chứng lâu dài như viêm tắc hai vòi trứng, dính buồng tử cung, vô sinh…
Trẻ tảo hôn tiếp cận với tình dục khi cơ thể còn đang phát triển, trẻ chưa
có sự hiểu biết đầy đủ về giới tính và sức khỏe sinh sản, chưa thể đảm đương trách nhiệm làm vợ chồng, làm cha mẹ Bên cạnh đó, do cơ thể chưa phát triển đầy đủ nên trẻ em gái không đủ sức khỏe để nuôi dưỡng bào thai, con của trẻ
em tảo hôn bị thường chết lưu hoặc chết non trong những tháng đầu đời, nhiều trường hợp tử vong ở cả mẹ và trẻ sơ sinh Trẻ mang thai ở tuổi vị thành niên gặp phải nhiều nguy cơ biến chứng trong thời kỳ thai sản, ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe cũng như khả năng lao động trong tương lai, không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nhân mà còn tác động tiêu cực đến chất lượng dân số Trẻ em gái là nạn nhân của tảo hôn mất đi cơ hội học tập, việc làm, có nguy cơ bị bạo hành, phụ thuộc hoàn toàn vào chồng và gia đình nhà chồng
Trẻ em do cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống sinh ra có nguy cơ cao mắc các bệnh di truyền, dị tật bẩm sinh, chậm phát triển, thậm chí tử vong sơ sinh cao hơn so với các trẻ thông thường Bên cạnh đó, trẻ mang thai ở tuổi vị thành niên cũng gặp phải nhiều nguy cơ biến chứng trong thời kỳ thai sản, ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe cũng như khả năng lao động trong tương lai Những đứa trẻ do bà mẹ tảo hôn sinh ra thường bị suy dinh dưỡng, thấp còi, gặp phải
21
Girls not Brides “5 reasons end child marriage improve maternal health” (2016) tại địa chỉ:
05/8/2018;
Trang 30nhiều vấn đề về sức khỏe hơn những đứa trẻ bình thường, gây ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe của cả bà mẹ và trẻ em
Một nghiên cứu từ 13,500 trẻ sơ sinh tại radford, West Yorkshire nước Anh cho thấy, con của anh em họ đời thứ ba có nguy cơ mắc phải các dị tật bẩm sinh về hệ tim mạch và hệ thần kinh cao gấp hai lần so với những đứa trẻ thông thường22
Một số dị tật bẩm sinh mà con của các cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống có nguy cơ mắc phải cao như bệnh mù màu, bệnh về tim mạch, bệnh đao, bạch tạng… Ngoài ra, cặp vợ chồng kết hôn cận huyết khi sinh con, trẻ thường có sức đề kháng kém, sinh lực yếu, kém phát triển về chiều cao và cân nặng, nhiều trường hợp bị thiểu năng, trí tuệ không phát triển, nhiều trẻ không thể sống đến tuổi trưởng thành
Thứ hai, dẫn đến tình trạng nghèo đói, thất học, làm suy giảm chất lượng cuộc sống của cá nhân, gia đình
Thực tế cho thấy, những cặp vợ chồng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống thường có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện được học tập, rèn luyện, chưa đủ khả năng để chăm sóc con cái phát triển một cách khỏe mạnh cũng như chu cấp về kinh tế, giáo dục cho con cái về sau Bên cạnh đó, những cặp vợ chồng lấy nhau quá sớm nên sự hiểu biết, suy nghĩ chưa chín chắn dễ làm phát sinh những bạo lực gia đình, gây ra stress và trầm cảm và những sang chấn về tâm thần khác
Trẻ em gái tảo hôn gặp phải nhiều nguy cơ bị bạo hành từ người chồng hoặc gia đình nhà chồng cao hơn so với phụ nữ kết hôn ở độ tuổi trưởng thành Theo thống kê trên thế giới, có 44% trẻ em gái từ 15 - 19 tuổi tin rằng người chồng có thể đánh đập mình mà không có ý định phản kháng hay cho rằng đó là sai trái23 Trẻ em gái sau kết hôn thường bị bạn bè đồng lứa cô lập và bỏ rơi
22 The guardian “Marriage between first cousins doubles risk of birth defects, say researchers” (2013), tại địa chỉ: https://www.theguardian.com/science/2013/jul/04/marriage-first-cousins-birth-defects truy cập ngày 05/8/2018;
23
Girls not briges (2014) “Why is child marriage a form of violence against women and child” tại địa chỉ https://www.girlsnotbrides.org/why-is-child-marriage-a-form-of-violence-against-women-and-girls/; truy cập ngày 05/8/2018;
Trang 31Đặc biệt, tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn khiến trẻ em mất đi cơ hội được tiếp tục học tập, mất đi cơ hội có việc làm tạo thu nhập cho gia đình, ít có
cơ hội độc lập về kinh tế, không có tiếng nói trong gia đình, thậm chí là bị cô lập với xã hội bên ngoài
Những gia đình có cha mẹ không được giáo dục đầy đủ về quy định của pháp luật cũng như tác hại của tảo hôn, kết hôn cận huyết thống có thể phải chịu những hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật, trẻ em sinh ra bị ảnh hưởng
về sức khoẻ, thể chất trong tương lai Cha mẹ không đủ nhận thức về tác hại của tảo hôn, kết hôn cận huyết thống và tiếp tục duy trì những hủ tục này ở những thế hệ sau, không đủ điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho trẻ, trở thành gánh nặng cho gia đình, kéo theo những hệ luỵ đói nghèo kéo dài từ thế hệ này qua thế hệ khác
1.3.2 Hệ quả tiêu cực đối với xã hội
Thứ nhất, ảnh hưởng đến chất lượng dân số, suy giảm sức khoẻ giống nòi
Trẻ em do cặp vợ chồng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống sinh ra đều có nguy cơ cao mắc các bệnh di truyền, dị tật bẩm sinh, chậm phát triển, tử vong
sơ sinh cao hơn so với các trẻ thông thường Bên cạnh đó, trẻ mang thai ở tuổi
vị thành niên cũng gặp phải nhiều nguy cơ biến chứng trong thời kỳ thai sản, ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe cũng như khả năng lao động trong tương lai Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nhân mà còn tác động tiêu cực đến chất lượng dân số
Tảo hôn, kết hôn cận huyết thống có nguy cơ ảnh hưởng đến dân số cả về
số lượng và chất lượng Ở những vùng có tỷ lệ tảo hôn, kết hôn cận huyết thống, tuổi thọ trung bình thường thấp hơn so với những vùng khác Trẻ em do cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống sinh ra có nguy cơ cao mắc các bệnh di truyền, dị tật bẩm sinh, chậm phát triển, thậm chí tử vong sơ sinh cao hơn so với các trẻ thông thường Bên cạnh đó, trẻ mang thai ở tuổi vị thành niên cũng gặp
Trang 32phải nhiều nguy cơ biến chứng trong thời kỳ thai sản, ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe cũng như khả năng lao động trong tương lai
Thứ hai, kéo theo gánh nặng giảm thiểu các thiệt hại do tảo hôn và kết hôn cận huyết thống gây ra cho xã hội
Tảo hôn và kết hôn cận huyết tác động đến các vấn đề kinh tế xã hội, gây nên một vòng luẩn quẩn khó giải quyết, đó là: Nghèo đói - Tảo hôn, kết hôn cận huyết - Bỏ học - Không có cơ hội tìm kiếm việc làm - Sinh con ra sức khỏe kém, dễ ốm đau bệnh tật - Nghèo đói Vấn nạn này là rào cản đối với hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết
Những ảnh hưởng đến sức khỏe của bà mẹ và trẻ em đòi hỏi phải được sự chăm sóc sức khỏe phù hợp Tuy nhiên, những đối tượng này thường là những người yếu thế trong xã hội, có những ảnh hưởng nặng nề, cần đến sự giúp đỡ,
hỗ trợ của các trung tâm y tế, tổ chức phúc lợi xã hội Xã hội sẽ phải chăm lo nhiều hơn về mặt y tế, điều kiện học hành đặc biệt là trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi mỗi con người phải có trí tuệ phát triển, sức khỏe tốt để đáp ứng được yêu cầu xây dựng xã hội trong thời đại mới
Thứ ba, khiến cho các cơ quan chính quyền gặp khó khăn trong công tác thực thi pháp luật, quản lý dân số - hộ tịch, phát triển các chính sách kinh tế -
xã hội ở địa phương, đất nước
Các trường hợp tảo hôn, kết hôn cận huyết thống không đăng ký kết hôn, trẻ em tảo hôn sinh ra không được đăng ký khai sinh, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc quản lý dân số tại địa phương, không thể kịp thời có các biện pháp chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em
Những tác động đến chất lượng dân số do tảo hôn, kết hôn cận huyết thống gây ra làm cũng ảnh hưởng đến chất lượng lao động, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế Thực tế cho thấy, tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống ở vùng nông thôn, điều kiện kinh tế khó khăn, vùng dân tộc thiểu số có tỷ
lệ cao hơn so với vùng thành thị, nơi có điều kiện kinh tế phát triển Điều này
Trang 33phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng lao động nói chung của đất nước, đặc
biệt trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, lao động Việt Nam đang
phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày một khốc liệt với các lao động khác trong
khu vực và trên thế giới
Trẻ em sinh sống tại những khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn
thường bỏ học sớm, không được trang bị đầy đủ kiến thức, cơ hội tham gia việc
làm được trả lương là rất thấp, gia tăng áp lực về sinh kế cho gia đình
Trang 34mà nước ta là thành viên, đồng thời giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc
Mặc dù đã có nhiều phát triển tích cực, tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống vẫn đang diễn ra và có nhiều nguy cơ gia tăng, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trong đó có địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Trang 35Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ ĐỐI VỚI TẢO HÔN VÀ KẾT HÔN CẬN HUYẾT THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MƯỜNG LA – TỈNH SƠN LA
2.1 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán của các dân tộc trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Để xác định được thực trạng từ đó đề xuất các biện pháp xử lý đối với trường hợp tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La, trước hết, ta cần xác định được các điều kiện tự nhiên cũng như về kinh tế, văn hóa, xã hội của địa bàn có tác động đến thực trạng, phong tục, tập quán của người dân về tảo hôn và kết hôn cận huyết thống
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Mường La, tỉnh Sơn La là huyện miền núi của tỉnh Sơn La, nằm ở phía Tây Bắc tổ quốc Phía Bắc giáp huyện Than Uyên (tỉnh Lai Châu); phía Đông giáp huyện Trạm Tấu, huyện Mù Cang Chải (tỉnh Yên Bái); phía Nam giáp huyện Mai Sơn, huyện Bắc Yên và thành phố Sơn La, phía Tây giáp huyện Quỳnh Nhai, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Huyện có 16 đơn vị hành chính cấp xã, cụ thể: Xã Nậm Giôn, xã Chiềng Lao, xã Mường Bú, xã Pi Toong, xã Chiềng Hoa, xã Ngọc Chiến, xã Nặm Păm, xã Chiềng San, xã Hua Trai, xã Tạ
Bú, xã Chiềng Công, xã Mường Chùm, xã Chiềng Ân, xã Mường Trai, xã Chiềng Muôn và thị trấn Ít Ong, với 08 xã khu vực III, 05 xã khu vực II và 03
xã, thị trấn khu vực I; trong đó có 288 bản, tiểu khu
Cách trung tâm thành phố Sơn La khoảng 41 km, huyện Mường La có hệ thống giao thông thuận tiện gồm tuyến Quốc lộ 279D dài 76 km nối từ thành phố Sơn La đi qua huyện Mường La đến huyện Than Uyên của tỉnh Lai Châu
và tỉnh lộ 106 giao với Quốc lộ 32 đi các tỉnh khác Đây là con đường giao thông quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh của huyện Mường La nói riêng và của Tây Bắc nói chung Đến nay, 100% các xã đã
có đường ô tô đến trung tâm, tuy nhiên vào mùa mưa, một số đoạn đường bị sạt
lở gây ách tắc giao thông trên địa bàn Về đường thủy, huyện có 02 tuyến chính
Trang 36trên sông Đà: Tuyến từ cảng Tạ ú đến đập thủy điện Hòa Bình và tuyến từ hồ thủy điện Sơn La nối thị trấn Ít Ong với thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên Ngoài sông Đà, huyện Mường La còn có 07 con suối lớn: Nặm Giôn, Nặm
Mu, Nặm Trai, Nặm Păm, Nặm Chiến, Nặm Pia, Nặm Pàn với tổng chiều dài khoảng 200km và nhiều suối nhỏ có vai trò điều hòa tưới tiêu, phục vụ trồng trọt, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, giao thông đến khắp các xã và các tỉnh lân cận
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Mường La là 142.536 ha, có độ cao trung bình từ 600 - 700 m so với mực nước biển Phía Đông và Đông ắc là những dãy núi cao, thấp dần về phía Nam và dọc theo hai bờ sông Đà
Huyện Mường La thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông ắc, gió Tây Nam Nhiệt độ trung bình từ 20 - 260C, lượng mưa bình quân 1.374mm/năm, độ
Do huyện Mường La địa hình chủ yếu có độ dốc lớn, chia cắt bởi nhiều ngọn núi và sông suối nên đại bộ phận đồng ruộng rất nhỏ hẹp, chủ yếu là ruộng bậc thang với khoảng 1.651,5 ha ruộng lúa nước, chiếm 1,15% diện tích toàn huyện Khí hậu và thổ nhưỡng của huyện thích hợp trồng cây công nghiệp, cây
ăn quả, khoanh nuôi và bảo vệ rừng Theo thống kê năm 2017, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là: 20,85 nghìn ha; đất lâm nghiệp: 56,01 nghìn ha; đất
Trang 37chuyên dùng 6,73 nghìn ha; đất ở: 0,66 nghìn ha Bên cạnh đó, phát huy thế mạnh và tiềm năng thủy điện của địa phương, trên địa bàn huyện đã xây dựng nhiều công trình thủy điện đi vào hoạt động như: Thủy điện Nậm Chiến 1, Nậm Chiến 2, Nậm Bú, Nậm Pia… Đặc biệt, Nhà máy thủy điện Sơn La tại thị trấn Ít Ong có công suất 2.400MW, là công trình thủy điện lớn nhất khu vực Đông Nam Á
ảng 1: Thống kê dân số chia theo cấp xã tại huyện Mường La, năm 2017
Tổng dân
Trang 3865.17 5.95
22.97
5.91
Tỷ lệ dân số chia theo dân tộc
Tổng dân
(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La)
Tỷ lệ dân số chia theo dân tộc trên địa bàn huyện Mường La được thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 1: Tỷ lệ dân số chia theo dân tộc trên địa bàn huyện Mường La
trong năm 2017
Huyện Mường La là địa bàn cư trú chủ yếu của các dân tộc Kinh, Thái, H’Mông, Kháng, La Ha và một số dân tộc ít người khác, tuy vậy, dân số chủ yếu là dân tộc Thái (chiếm 65,17%) và dân tộc H’Mông (chiếm 22,97%), hai dân tộc cư trú hầu khắp các xã, thị trấn; dân tộc Kinh và các dân tộc khác chỉ chiếm khoảng 12% tổng dân số toàn huyện
Trang 39ảng 2: Thống kê dân số chia theo hộ nghèo, hộ cận nghèo trong từng dân tộc tại huyện Mường La, năm 2017
TT Dân tộc Hộ Khẩu Số hộ nghèo, hộ cận nghèo
(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La)
Từ bảng thống kê trên, có thể thấy, trong năm 2017, huyện Mường La có
số lượng hộ nghèo và hộ cận nghèo khá cao, trên 50%, đặc biệt trong các nhóm dân tộc H’Mông, La Ha, tỷ lệ hộ nghèo đều cao đến 80% Mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi và định hướng phát triển kinh tế theo từng tiểu vùng, những tiềm năng của huyện vẫn chưa được phát triển đầy đủ, điều kiện kinh tế của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn
Đặc điểm về văn hóa, xã hội
Theo số liệu thống kê năm 2017 tại bảng 1, tổng số nhân khẩu trong toàn huyện là 94.713 khẩu; trong đó số khẩu dân tộc thiểu số là 89.080 người, chiếm 94,05% tổng dân số toàn huyện, chủ yếu gồm các dân tộc: Thái, H’Mông, La
Ha, Kháng…
Dân tộc Thái là dân tộc đông đảo nhất trên địa bàn huyện Mường La với tổng số 61.727 người (bảng 01) cư trú ở hầu khắp các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Người Thái đã định cư tại huyện Mường La từ lâu đời, có sự phát triển khá tiến bộ, điều này được ghi chép lại qua nhiều văn thơ, truyện cổ và các tục
lệ được ghi chép còn lưu trữ lại đến ngày nay, trong đó còn nhiều văn bản luật tục mường được văn bản hóa trong các luật bản mường quy định về cơ cấu tổ
Trang 40chức xã hội, phân phối đất đai, các nguồn tài nguyên môi trường và một số luật
lệ khác cho thấy trình độ phát triển của người Thái cổ tương ứng với một thể
chế tiền nhà nước: “Luật mường Mai Châu” do ông Hà Công Tường ghi chép từ trước khi Pháp xâm lược; “Luật lệ bản mường ở Mai Sơn” do cụ Cầm Văn Oai
(1870 - 1933) chép lại bằng chữ Thái cổ Trong đời sống hôn nhân gia đình, luật
lệ của người Thái cho phép trai gái tự do yêu đương, quy định vợ chồng phải chung thủy, yêu thương nhau suốt đời, đồng thời thừa nhận bỏ vợ, bỏ chồng là
tự do, hợp với lẽ tự nhiên
Việc tự do yêu đương của nam nữ dân tộc Thái cũng phải tuân thủ các phong tục tập quán của dân tộc Luật lệ bản mường quy định nhiều trường hợp ngăn cấm trong hôn nhân và gia đình như: hủ hóa với gái khác họ, hủ hóa với
vợ góa tạo, loạn luân với gái góa người trong họ, loạn luân với người trong họ còn con gái chưa có mang, loạn luân với người trong họ còn con gái đã có mang… Về tuổi kết hôn, luật tục người Thái quy định nam nữ đến tuổi trưởng thành cũng là lúc đủ tuổi để kết hôn, theo đó, độ tuổi trưởng thành thường được quy định vào khoảng 15 - 16 tuổi đối với cả nam và nữ Ngày nay, những quy định về hôn nhân gia đình của dân tộc Thái đã có nhiều sự thay đổi, giảm bớt nhiều hủ tục, sính lễ nhưng vẫn còn nhiều thủ tục vẫn được duy trì và thực hiện
Trên địa bàn huyện Mường La còn có hai nhóm dân tộc La Ha và Kháng
có nhiều nét tương đồng với dân tộc Thái Tính đến năm 2017, dân tộc La Ha và dân tộc Kháng trên địa bàn huyện Mường La có 5.539 người (bảng 01) Cả hai dân tộc này đều sinh sống xen lẫn cùng với cộng đồng dân tộc Thái, có nhiều nét tương đồng về ngôn ngữ, trang phục và các phong tục, tập quán với dân tộc Thái, trong đó có các phong tục về hôn nhân, cưới xin
Đối với dân tộc La Ha, sau thời gian đôi trai gái tìm hiểu, người con trai thông báo với bố mẹ để nhờ bà mối đi dạm, nhà gái nhận trầu và đưa áo của cô gái cho bên nhà trai xem bói Nếu nhà gái không trả lại trầu cho nhà trai có nghĩa là nhà gái đồng ý và người con trai đến nhà gái bắt đầu ở rể làm công cho
bố mẹ vợ, sau khi hết hạn ở rể mới tổ chức lễ cưới chính thức Sau lễ cưới này,