Bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà nội (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà nội (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà nội (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà nội (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà nội (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà nội (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà nội (LV thạc sĩ)Bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà nội (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC SƠN
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI KÊ BIÊN TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quyền Con người
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Trần Đình Hảo
Hà Nội, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN NGỌC SƠN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… … 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ…… ……… .6
1.1.Khái niệm, đặc điểm của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 6 1.2.Nguyên tắc bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành
án dân sự 9 1.3 Các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI
KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 22
2.1 Bối cảnh thực tế và thực trạng pháp lý ảnh hưởng đến việc đảm quyền con người trong quá trình kê biên tài sản tại cơ quan thi hành án dân sự quận
Hà Đông ……….… 22 2.2.Thực trạng bảo đảm quyền con người tại cơ quan thi hành án dân sự quận
Hà Đông trong quá trình kê biên tài sản 36 2.3 Đánh giá chung về thực trạng bảo đảm quyền con người tại cơ quan thi hành án dân sự quận Hà Đông trong quá trình kê biên tài sản 48
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 54
3.1 Các quan điểm về bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự……… 54 3.2.Giải pháp về thể chế bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 58 3.3.Giải pháp về thiết chế bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 64 KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam hiện nay, việc bảo vệ quyền con người luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Quyền con người và quyền công dân luôn là những nội dung hàng đầu được Đảng và Nhà nước quan tâm đưa vào các văn kiện, tài liệu quan trọng; những quy định về bảo vệ quyền con người được ghi nhận trong những bản Hiến pháp qua các thời kì lịch sử của đất nước và ngày càng được cụ thể hóa trong nhiều văn bản điều chỉnh các phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hành chính tư pháp Trong đó cụ thể có lĩnh vực thi hành án dân sự với nhiệm vụ thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa
án Việc thi hành án đạt hiệu quả, một mặt sẽ bảo đảm được việc thực hiện quyền lực Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của mọi chủ thể trong xã hội đối với phán quyết của Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước Mặt khác, đây là một biện pháp hữu hiệu để khôi phục lại các lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đã bị xâm hại
Trong giai đoạn hiện nay, thi hành án dân sự là một vấn đề bức xúc, bởi trong quá trình thực thi pháp luật về thi hành án dân sự đã nảy sinh rất nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết, cũng như phải chịu áp lực từ nhiều phía, nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho việc THADS gặp nhiều khó khăn Trong đó, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nói chung và biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng cũng có không ít những trở ngại cả về mặt pháp lý cũng như thực tiễn vì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người của các bên đương sự bao gồm bên phải thi hành án, bên được thi hành án
Trong hoạt động kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án dân sự bản thân công dân là người bị quản lý và chịu sự phán quyết nên họ luôn luôn ở vị thế bất lợi Trong điều kiện đó, người công dân không có vũ khí, phương tiện
Trang 62
nào khác hữu hiệu hơn là sử dụng pháp luật để đấu tranh tự bảo vệ lấy các quyền và lợi ích của mình Bởi vậy, sự ra đời của Luật Thi hành án dân sự cùng các văn bản pháp luật liên quan đã góp phần quan trọng trong việc hình thành thể chế bảo đảm quyền con người trong các hoạt động thi hành án dân
sự Tuy nhiên, vấn đề đảm bảo quyền con người trong các hoạt động thi hành
án dân sự mà cụ thể là khi kê biên tài sản thi hành án dân sự vẫn còn nhiều bất cập – đây là vấn đề còn rất mới trong nhận thức của công dân, cũng là vấn đề khá phức tạp cần được nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện cả về lý
luận và thực tiễn nên học viên đã lựa chọn đề tài: “Bảo đảm quyền con người
khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà nội” làm đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quyền con
người đợt 2 khóa VI/2015
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề kê biên tài sản thi hành án dân sự và các quy định pháp lý để bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản thi hành án dân sự đã được nhiều nhà nghiên cứu, các chuyên gia đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau Có thể khái quát một số tài liệu như sau:
- Luật THADS năm 2008 và Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014;
- Đề tài nghiên cứu về “Các điều kiện bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước” do GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ nhiệm;
- Đề tài “Xây dựng và hoàn thiện đảm bảo pháp luật thực hiện quyền con người trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Mạnh;
- Sách “Quyền con người trong quản lý tư pháp” của Nxb Chính trị quốc gia năm 2000…
Trong những tài liệu nêu trên đều có sự phân tích, nhận định về quyền con người trong lĩnh vực thi hành án dân sự ở nhiều góc độ khác nhau, tuy
Trang 73
nhiên thực trạng quyền con người khi kê biên tài sản thi hành án dân sự chưa
có sự nghiên cứu chuyên sâu Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Bảo đảm quyền
con người khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà nội” để nghiên cứu từ góc độ quyền con người có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn
Mục đích nghiên cứu đề tài là khái quát và hệ thống hóa một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản thi hành
án dân sự, đề xuất quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bảo đảm con người khi kê biên tài sản thi hành án dân sự
- Phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, làm
rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản thi hành án dân sự hiện nay
- Trên cở sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản thi hành án dân
sự trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản thi hành án dân sự như khái niệm, đặc điểm, điều kiện bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản thi hành án dân sự; cơ chế bảo đảm và thực trạng bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản thi hành án dân sự từ thực tiễn thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Trang 84
4.2.Về phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn
Về không gian: Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu về bảo đảm quyền
con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự nhìn từ góc độ người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với một số quyền cụ thể từ thực tiễn thi hành án dân sự tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội thông qua các vấn đề cơ bản như sau:
- Cơ sở lý luận bảo đảm quyền con người,
- Thiết chế, thể chế bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong lĩnh vực thi hành án dân sự và thực trạng hoạt động
Về thời gian: Đề tài luận văn nghiên cứu về bảo đảm quyền con người
khi kê biên tài sản từ thực tiễn thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội từ năm 2014 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về đổi mới hoạt động của các cơ quan tư pháp mà trọng tâm
là hoạt động thi hành án dân sự
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn dựa trên cách tiếp cận đa ngành, liên ngành luật, quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê nin và đường lối quan điểm của Đảng, Nhà nước, chú trọng các phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh để đánh giá đúng thực trạng về bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Trang 95
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
- Đưa ra những kết quả và hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự hiện nay tại Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp có tính khả thi nhằm bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự giai đoạn hiện nay
Luận văn đề cập đến vấn đề mang tính chất thời sự trong vấn đề bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản thi hành án dân sự nói chung và cụ thể tại địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần nâng cao nhận thức về bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản thi hành án dân sự nói chung đối với công dân cũng như các cơ quan thực thi pháp luật, các cơ quan ban ngành có liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự
Đồng thời, học viên hy vọng luận văn sẽ là tài liệu có giá trị tham khảo đối với công tác nghiên cứu, giảng dạy ở các khối trường đào tạo chuyên ngành luật và những người quan tâm đến đề tài này
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận và khuyến nghị luận văn được sắp xếp theo cấu trúc gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự từ thực tiễn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Trang 106
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI
KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Thuật ngữ kê biên tài sản đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật của nước ta như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993, 2004 và trong Luật Thi hành án dân sự về sau này… do đó, có thể thấy rằng đây là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng nhiều trong pháp luật tố tụng dân sự
Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự là một trong 06 biện pháp
cưỡng chế thi hành án do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án cónghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành Bản chất thi hành án dân sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng lại có tính độc lập tương đối thể hiện qua việc hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Trưởng cơ quan thi hành án dân sự mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án Việc kê biên tài sản chỉ áp dụng với đối tượng là với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản cũng như đối với người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Tuy nhiên không phải tất cả các tài sản của những người thuộc các đối tượng trên đều bị
kê biên
Qua khái niệm nêu trên ta thấy rằng trong đời sống hàng ngày có những khái niệm tương tự, gần giống với kê biên Nhưng kê biên tài sản luôn gắn với một chủ thể quyền nhất định, nhân danh cho quyền lực Nhà nước, vì thế không phải ai cũng có quyền kê biên tài sản của người khác, không phải hành
Trang 11cả tài sản do người thứ ba giữ là một trong những biện pháp đó Chính vì vậy, việc kê biên tài sản của người phải thi hành án có những đặc điểm chung của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự như sau:
-Thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước;
- Được chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành
án không tự nguyện thi hành án nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa án;
- Đối tượng của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành vi của người phải thi hành án mà cụ thể đối tượng của biện pháp kê biên là tài sản của người phải thi hành án;
-Người bị áp dụng thi hành án ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ trong bản án, quyết định do tòa án tuyên họ còn phải chịu mọi chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự;
- Biện pháp cưỡng chế được chấp hành viên quyết định áp dụng có hiệu lực đối với người phải thi hành án dân sự và các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải của người phải thi hành án chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện dưới đây:
-Theo bản án, quyết định của Tòa án, người phải thi hành án có nghĩa
vụ trả tiền cho người được thi hành án;
-Người phải thi hành án có tài sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền cho người được thi hành án;
Trang 128
-Đã hết thời gian tự nguyện do chấp hành viên ấn định nhưng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản
Ngoài ra, do tính đặc thù nên biện pháp kê biên tài sản còn có những lưu ý cụ thể như sau:
-Tất cả tài sản của người phải thi hành án đều có thể bị kê biên để thi hành án trừ những tài sản không được kê biên đã được quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án dân sự 2014;
-Người phải thi hành án có quyền thỏa thuận với người được thi hành
án về tài sản được kê biên để đảm bảo thi hành án; trong trường hợp không thỏa thuận được thì người phải thi hành án có quyền đề nghị thứ tự kê biên tài sản và Chấp hành viên phải chấp hành đề nghị đó nếu đề nghị đó không cản trở việc thi hành án Trường hợp người phải thi hành án không có đề nghị, hiện nay có hai nguyên tắc thường được áp dụng để kê biên tài sản mặc dù hiện tại chưa có quy định cụ thể về thứ tự kê biên tài sản Thứ nhất, nếu người phải thi hành án không đề nghị kê biên tài sản nào trước thì tài sản thuộc sở hữu riêng của người phải thi hành án được kê biên trước; nếu người phải thi hành án không có hoặc không đủ tài sản riêng để thi hành án thì mới kê biên đến tài sản chung của người phải thi hành án với người khác Thứ hai, trong
số những tài sản thuộc diện kê biên thì kê biên bất động sản trước, sau khi kê biên hết các bất động sản mà vẫn không đủ để thi hành án thì kê biên các động sản Trong trường hợp có thể bị tịch thu toàn bộ tài sản thì khi kê biên vẫn phải để lại một phần tư liệu sinh hoạt tối thiểu, cần thiết cho gia đình bị can, bị cáo có điều kiện sinh sống như lương thực, thuốc, đồ đạc, dụng cụ sản xuất, chăn, màn, quần áo…
-Chấp hành viên chỉ được kê biên tài sản của người phải thi hành án tương ứng với nghĩa vụ thi hành án và các chi phí liên quan Đó là các khoản phải thi hành theo quyết định của bản án, khoản lãi chậm thi hành án nếu có
Trang 139
và các chi phí dự tính mà theo quy định người phải thi hành án phải chịu như chi phí kê biên, giám định chất lượng, định giá tài sản…Nếu người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất có giá trị lớn hơn nghĩa vụ phải thực hiện
mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc nếu phân chia sẽ làm giảm đáng
kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên tài sản đó nhưng chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại…
-Nếu tài sản của người phải thi hành án đã được cầm cố, thế chấp cho người khác nhưng tài sản đó có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm bằng việc cầm cố, thế chấp hoặc người phải thi hành án không còn tài sản nào khác thì Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên tài sản này để thực hiện thi hành án Đây là biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán tài sản thông qua một giao dịch dân sự khác
-Trường hợp có tranh chấp về tài sản kê biên thì Chấp hành viên vẫn tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện ra Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết
-Đối với tài sản kê biên thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, quyền
sử dụng đất hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật thì khi kê biên, xử lý tài sản đã kê biên Chấp hành viên phải thông báo cho các
cơ quan liên quan biết
1.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Về khái niệm quyền con người, đây là phạm trù rộng có nhiều định
nghĩa khác nhau Trước hết cần hiểu rõ thuật ngữ human rights (tiếng Anh) và
quyền con người theo tiếng thuần Việt hay nhân quyền theo tiếng Hán - Việt
đều có nghĩa tương đồng Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì nhân quyền chính
là quyền con người 7, tr.43 Theo tài liệu Hỏi Đáp về Nhân quyền của Liên hợp quốc (United Nations: Human rights: Questions and Answers) thì có đến
Trang 1410
gần 50 định nghĩa quyền con người được công bố Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc, quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người 8, tr.23 Theo từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng: “ Quyền con người là các quyền tất yếu mà con người được hưởng và các quốc gia phải tôn trọng” 12, tr.338 Theo quan niệm chung hiện nay: “Quyền con người là những giá trị, năng lực, nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” 12, tr.26
Ở Việt Nam, chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về quyền con người như một định nghĩa Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm quyền con người được thể hiện trong những quy định cụ thể mà gần đây nhất Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”
Trên phương diện nghiên cứu khoa học pháp lý, theo Giáo trình Lý luận
và pháp luật về Quyền con người của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội thì quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế
Trang 1511
Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người 17 Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc thường xuyên được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.Ở Việt Nam, đã có nhiều tác phẩm phân tích về vấn đề quyền con người, trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế 7, tr.38
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do ; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người Quyền con người có những tính chất cơ bản sau đây:
Trang 1612
- Tính phổ biến:
Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người được
áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân Con người, dù ở trong những chế
độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyền và sự tự do cơ bản
- Tính đặc thù:
Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội
ở khu vực đó Ví dụ: ở các nước Tây Âu, do điều kiện kinh tế phát triển nên con người ở đây được hưởng chế độ an sinh xã hội tốt hơn nơi khác Ngược lại, ở một số nước châu Á, do kinh tế còn chậm phát triển nên mức độ thụ hưởng an sinh xã hội thấp hơn
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền:
Tất cả các quyền con người đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác Ví dụ: nếu một người không được làm việc, không có một mức sống đảm bảo cho sự sống
Trang 1713
còn của cá nhân thì người đó sẽ ít chú ý đến các quyền dân chủ như Quyền bầu cử hoặc Quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội
Bảo đảm quyền con người là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính
trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các tổ chức của công dân được thực hiện các quyền tự do, lợi ích chính đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận Các quyền con người rất đa dạng, được bảo đảm bằng cả
hệ thống pháp luật, từ Hiến pháp đến các luật cụ thể đối với từng lĩnh vực đời sống như Luật dân sự, Luật lao động, Luật Hôn nhân và gia đình…Mỗi lĩnh vực pháp luật bảo đảm quyền con người bằng những phương thức, cách thức chuyên biệt Trong tổ chức bộ máy nhà nước ta, thi hành án dân sự là lĩnh vực hoạt động được chú trọng và là một nhiệm vụ của ngành Tư pháp Ngay từ những năm đầu thành lập nước, khi chính quyền cách mạng đang trong thời
kỳ “trứng nước”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều văn bản pháp luật xoá bỏ nền tư pháp của chế độ thực dân phong kiến để xây dựng nền tư pháp nước nhà, trong đó có công tác thi hành án dân sự Mặc dù, những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945, tổ chức thi hành án dân sự tồn tại dưới hai hình thức là Thừa phát lại và Ban Tư pháp, nhưng cũng đã là một lĩnh vực công tác của ngành Tư pháp, việc thi hành án dân sự thể hiện quyền lực nhà nước và được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước không chỉ tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự trong giao lưu dân sự, thương sự
và tố tụng, mà còn đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong việc bảo
vệ lợi ích hợp pháp bằng sự cưỡng chế của Nhà nước 17 Sau khi Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về “cải cách bộ máy tư pháp và pháp luật tố tụng” thì trong tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự
có sự thay đổi từ chỗ việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp
xã thực hiện được thay thế bằng Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý Nhà nước thực thi trách nhiệm thi hành án thông qua việc Toà án chủ động thi hành án dân sự mà không cần chờ đến yêu cầu của các đương sự
Trang 1814
Qua hơn 70 năm hình thành và phát triển, thi hành án dân sự tạo ra những tiền
đề quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển ngành Tư pháp, xây dựng Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân; tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người
Với một đặc thù riêng, hoạt động thi hành án dân sự là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành (hiện thực hóa), góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế XHCN, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, bảo vệ công lý 11, tr.287 Hoạt động này luôn ẩn chứa sự động chạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được pháp luật xác định là người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự mà nếu không thực sự chú ý thì quyền con người, quyền công dân sẽ bị xâm hại từ phía cơ quan thi hành án dân sự và các chủ thể có thẩm quyền khác Bên cạnh đó, hoạt động thi hành
án dân sự cũng có vai trò trả lại sự ổn định cho các quan hệ xã hội, tạo niềm tin của xã hội vào Nhà nước pháp quyền, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội Phán quyết của Tòa án sẽ mãi chỉ là câu chữ và không khi nào khả thi nếu không được tổ chức thi hành hiệu quả, đặc biệt là lĩnh vực thi hành án dân sự với các quan hệ giao dịch nảy sinh từ thực tế cuộc sống làm phát sinh tranh chấp, xâm hại lợi ích của các cơ quan, tổ chức xã hội và công dân Chính vì lẽ đó, nhu cầu được bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án dân sự như một lẽ tự nhiên đòi hỏi phải có những điều kiện nhất định để đáp ứng
Bảo đảm quyền con người trong thi hành án dân sự chính là bảo đảm
quyền con người trong hoạt động hành chính-tư pháp Đồng nghĩa với việc bảo đảm các điều kiện, yếu tố cần và đủ cho quá trình thực hiện quyền con người trong lĩnh vực thi hành án dân sự nhằm làm cho hoạt động này có hiệu lực, hiệu quả cao nhất Các yếu tố cơ bản như: có hệ thống các quy phạm
Trang 1915
pháp luật về lĩnh vực này đầy đủ, không ngừng được hoàn thiện; có hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự hoàn chỉnh, có chất lượng, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; có cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng với yêu cầu của hoạt động,
có cơ chế giám sát chặt chẽ, thông suốt, có sự tham gia đông đảo của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và công dân…
Tại Điều 5 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã khẳng định bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rất cụ thể “Trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” Đây thực sự là một ghi nhận mang tính tuyên ngôn nhân quyền của một đạo luật của Việt Nam, nó được ban hành vào thời điểm cả thế giới đang trong giai đoạn suy thoái kinh tế và đầy sự biến động xã hội cũng như biến đổi khí hậu mà quyền con người không hề bị giảm sút mà ngày càng được tôn vinh và bảo vệ bằng mọi biện pháp, trong các lĩnh vực nhất là trong lĩnh vực thi hành án dân sự nói riêng 16,tr.288
Trong quá trình kê biên tài sản đảm bảo thi hành án dân sự, quyền con người được bảo đảm một cách cụ thể chi tiết bởi các quy định được ghi nhận trong Luật Thi hành án dân sự cũng như các văn bản hướng dẫn liên quan Có thể nhận thấy các nhóm quyền được thể hiện tương đối đầy đủ bám sát nội dung Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR), ví dụ như quyền có cơ chế bảo vệ quyền cụ thể là “Mọi người đều có quyền được các Tòa án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi
vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được Hiến pháp hay pháp luật quy định” Trong phạm vi lĩnh vực kê biên tài sản trong THADS về cơ bản có thể liệt kê một số quyền như sau:
-Quyền được thông tin (nhận các thông báo, quyết định , giấy báo, giấy triệu tập và các văn bản liên quan đến việc kê biên tài sản );
-Quyền được thỏa thuận;
Trang 2016
-Quyền ưu tiên mua tài sản chung;
-Quyền được thanh toán tiền thi hành án theo thứ tự do pháp luật quy định;
-Quyền khiếu nại, tố cáo
Bên cạnh đó, để đảm bảo quyền con người được thực thi một cách hiệu quả trong lĩnh vực này Điều 20, 21 Luật Thi hành án dân sự cũng quy định nghĩa vụ,trách nhiệm của Chấp hành viên là người nhân danh Nhà nước phải nghiêm chỉnh chấp hành “Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín” Để đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án dân sự nói chung và kê biên tài sản thi hành án nói riêng, yếu tố quyết định vẫn là con người trong việc tổ chức thực hiện Trong quá trình thực hiện các hoạt động thi hành án dân sự nhằm đảm bảo tính khả thi, nghiêm minh của pháp luật cũng như bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cần phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc của Luật Thi hành án dân sự vì đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng thi hành Luật, thể hiện quan điểm, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước
Nguyên tắc bảo đảm quyền con người nằm trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật Thi hành án dân sự được áp dụng đối với tất cả các hoạt động thi hành án dân sự kể cả hoạt động kê biên tài sản thi hành án, có thể khái quát cụ thể như sau:
-Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
-Nguyên tắc nhân đạo;
-Nguyên tắc kết hợp sự tự nguyện với cưỡng chế;
-Nguyên tắc phối hợp hành động giữa cơ quan THADS với các cấp chính quyền, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong THADS;
Trang 2117
- Nguyên tắc thi hành án kịp thời, tuân thủ pháp luật…
1.3 Các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Để thực hiện hiệu quả việc bảo đảm thực hiện quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự không thể không kể tới các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền Về cơ bản, có thể nhận thấy đó là các điều kiện về chính trị - pháp lý, điều kiện kinh tế, điều kiện văn hóa, xã hội
Chính trị luôn đóng vai trò tiên quyết trong vấn đề bảo đảm quyền con người, thể hiện ở chế độ chính trị dân chủ, tiến bộ, coi trọng và đề cao quyền con người Từ nhận thức chung có thể thấy điều kiện chính trị để đảm bảo thực hiện quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự thể hiện qua những định hướng của Đảng và Nhà nước, công tác điều hành chỉ đạo bộ máy tổ chức trong hệ thống cơ quan THADS Cả một hệ thống bộ máy
cơ quan THADS từ TW tới địa phương là đại diện cho chủ thể quyền trong công tác THADS, đồng thời có sự hỗ trợ về mặt thể chế của hệ thống văn bản pháp luật, các quy định hướng dẫn liên quan đến mọi hoạt động trong lĩnh vực THADS nói chung và hoạt động cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng đều nhằm hướng tới mục tiêu cơ bản là đảm bảo thực thi pháp luật, bảo đảm quyền con người một cách toàn diện Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, hoạt động lập pháp đã đạt được một số thành tựu nhất định, một số văn bản có giá trị pháp
lý cao đã ra đời nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về bảo đảm quyền con người trong hệ thống pháp luật thi hành án dân sự để phù hợp với điều kiện thực tiễn: Bộ Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Và gần đây nhất là Luật THADS sửa đổi bổ sung năm
2014 chính là phương tiện thúc đẩy và mang lại giá trị hiện thực cho các điều kiện khác, bảo đảm việc thực thi quyền con người trong lĩnh vực THADS Cụ thể việc kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án chính là việc cơ
Trang 22tự thủ tục kê biên, xử lý tài sản được quy định hết sức chặt chẽ qua nhiều giai đoạn từ tiến hành kê biên, định giá tài sản, bán đấu giá tài sản và giao tài sản cho người mua trúng đấu giá Trong các giai đoạn trên, người phải thi hành
án, người được thi hành án đều có quyền tham gia và có quyền thỏa thuận với nhau Mặc dù, các quy định pháp luật về kê biên, xử lý tài sản được Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định khá cụ thể, chặt chẽ nhưng trong quá trình
áp dụng đã nảy sinh ra một số bất cập làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và gây khó khăn lúng túng cho cơ quan thi hành
án khi áp dụng trên thực tế Để khắc phục các khó khăn, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành
án dân sự năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung 16 điều, khoản liên quan đến cưỡng chế trong đó có các quy định về kê biên, xử lý tài sản như: xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án (Điều 74); giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án (Điều 75);định giá tài sản kê biên (Điều 99); hủy kết quả bán đấu giá (Điều 102); xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành (Điều 104); bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án (Điều 103); đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản (Điều 106)
Đồng thời, để thi hành có hiệu quả các quy định của Luật Thi hành án dân sự, ngày 18/7/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân
sự (Nghị định này hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và thay thế
Trang 2319
Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ và Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ về trình tự, thủ tục thi hành
án dân sự, bên cạnh việc hướng dẫn các nội dung về tổ chức cán bộ của ngành Thi hành án dân sự), trong đó cũng đã hướng dẫn cụ thể một số vấn đề về kê biên tài sản để thi hành án, lựa chọn tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá và xử
lý kết quả bán đấu giá để thi hành án…
Tất cả những điều kiện chính trị - pháp lý đó đều nhằm mục tiêu xây dựng một nhà nước pháp quyền ngày càng hoàn thiện, một nỗ lực cho một thiết chế đảm bảo quyền con người làm trung tâm trong đó có bảo đảm thực hiện quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Hệ thống các cơ quan nhà nước đảm bảo thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật, đảm bảo các quyền và lợi ích của các bên đương sự trong tất cả các hoạt động thi hành án
Nhắc tới điều kiện kinh tế dễ dàng nhận thấy một nền kinh tế ổn định
là nền tảng cho mục tiêu bảo đảm tốt nhất nhân quyền Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi căn bản, chế độ bao cấp xóa
bỏ hoàn toàn, tiến hành cổ phần hóa tất cả các doanh nghiệp của nhà nước, phát triển nền kinh tế thị trường cạnh tranh với tất cả các khu vực kinh tế trên thế giới Nền kinh tế Việt Nam phát huy được tất cả các nguồn lực trong nước
và tận dụng các nguồn lực bên ngoài để tạo ra sự phát triển cân bằng, ổn định Công cuộc đổi mới nền kinh tế theo hướng thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giúp cho tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt ở mức cao liên tục trên 7%/năm trong nhiều năm qua Các thành phần kinh tế khuyến khích phát triển, đặc biệt đóng góp cho vấn đề tạo việc làm và cải thiện đời sống nhân dân Thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 5 lần, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia giảm 4 lần (từ 60% xuống còn 13,8%) Năm 2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hoàn thành quá trình hội nhập kinh tế, quốc tế, tạo đà phát triển cho nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa
Trang 2420
Từ điều kiện thuận lợi về kinh tế, với tốc độ tăng trưởng an toàn là một điều kiện tương đối tốt để đảm bảo thực thi quyền con người trong đó có việc bảo đảm thực hiện quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Bên cạnh những điều kiện chính trị-pháp lý, điều kiện kinh tế thì điều kiện văn hóa, xã hội cũng được coi là một trong những điều kiện cơ bản bảo đảm thực hiện quyền con người khi kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Sự khác biệt về điều kiện xã hội, trình độ văn hóa cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự chênh lệch về tỷ lệ lượng án cần thi hành hàng năm Do đặc thù giữa nông thôn, thành thị có sự khác biệt, chúng ta còn nhận thấy một sự khác biệt khá rõ nét về nhận thức pháp luật của công dân tại các vùng, trình độ học vấn hoàn toàn khác biệt nhau, môi trường nông thôn và thành thị cũng hoàn toàn khác nhau, nguồn thu nhập chính ở nông thôn là nông nghiệp khác với thành thị nên dẫn tới tính chất phức tạp của án từ, vô hình chung tạo ra sự khó khăn đối với công tác kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Thêm vào đó, phải kể tới sự nhận thức chưa toàn diện về quyền của chủ thể nghĩa vụ có trách nhiệm thực hiện quyền (duties-bearers, đội ngũ thực thi pháp luật, hay cán bộ công chức trong ngành THADS nói chung)’ và nhận thức về quyền của chính chủ thể thụ hưởng quyền (right-holders, tức là những người bị kê biên tài sản trong khi THADS…)
Trang 2521
Kết luận chương 1
Quyền con người là một trong những vấn đề được cả nhân loại quan tâm và nghiên cứu Ở Việt Nam, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), công cuộc đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam đã làm thay đổi nhận thức về vấn đề bảo vệ quyền con người Hiến pháp năm 2013 được ban hành, sửa đổi, bổ sung một số điều đã khẳng định cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm quyền con người trong mọi lĩnh vực với sự giám sát chặt chẽ của lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân Trong bối cảnh đó, lĩnh vực thi hành
án dân sự được điều chỉnh bởi Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm
2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan đã chú trọng bảo đảm quyền con người một cách tối đa song song với việc bảo đảm tính khả thi và nghiêm minh của pháp luật thông qua nội dung các quy định chặt chẽ dựa trên những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thi hành án dân sự Luật THADS đã quy định tương đối đầy đủ các quyền lợi của người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong mọi hoạt động thi hành án, đặc biệt chi tiết với việc kê biên tài sản trong THADS cũng như vấn
đề tổ chức hoạt động, trách nhiệm nghĩa vụ của Chấp hành viên, cán bộ cơ quan THADS - đó chính là sự bảo đảm các yếu tố, điều kiện cần và đủ cho quá trình thực hiện quyền con người trong lĩnh vực THADS đạt hiệu quả cao nhất Thêm vào đó các điều kiện bảo đảm quyền con người được thực thi như các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cũng góp phần thúc đẩy sự bảo đảm quyền con người trong hoạt động THADS nói chung và cụ thể đối với việc kê biên tài sản trong THADS Tuy vậy, để nhìn nhận một cách khách quan và chính xác nhất về việc bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản trong THADS cần xem xét tổng thể dựa trên thực trạng triển khai công tác này, từ đó có sự điều chỉnh phù hợp kịp thời để đảm bảo tính hiệu quả, khả thi hơn nữa
Trang 2622
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
KHI KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Bối cảnh thực tế và khuôn khổ pháp lý ảnh hưởng đến việc đảm quyền con người trong quá trình kê biên tài sản tại cơ quan thi hành án dân sự quận Hà Đông
Quận Hà Đông với vị trí là trung tâm chính trị - kinh tế của tỉnh Hà Tây trước đây, cùng với sự hợp nhất của Thành phố Hà nội và tỉnh Hà Tây theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Đông chính thức trở thành một thành phố trực thuộc Thành phố
Hà nội Đến ngày 08/5/2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 19/NQ-CP, thành phố Hà Đông chính thức trở thành một quận thuộc Thành phố Hà nội,
là một quận nội thành quan trọng phía Tây Nam Thủ đô Hà nội Hà Đông còn
là quận có kinh tế tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng trưởng đạt trung bình 18,5%/năm Quận nằm ở vị trí rất thuận lợi để giao thương phát triển kinh tế, càng có cơ hội phát triển nhanh hơn Trên địa bàn quận có nhiều làng nghề tiểu thủ công nghiệp có truyền thống hàng trăm năm, nay phát triển mạnh như làng Vạn Phúc với nghề dệt lụa, làng Đa Sỹ với nghề rèn dao, kéo…đồng nghĩa với sự đa dạng về các loại hình tài sản Tuy nhiên, trình độ dân trí và nhận thức pháp luật của công dân trên địa bàn nhìn chung chưa đồng đều nên trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đã kéo theo nhiều vi phạm pháp luật phát sinh Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới công tác thi hành án dân sự trên địa bàn, đòi hỏi một cơ chế hoạt động thực sự hiệu quả để vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật vừa không gây ảnh hưởng đến quyền con người Không thể không ghi nhận sự quan tâm sát sao của Đảng bộ, chính quyền quận Hà Đông cùng các cấp lãnh đạo cơ sở các ban ngành trên địa bàn cũng
Trang 2723
như cấp quản lý trực tiếp ngành THADS xuyên suốt trong công tác chỉ đạo, phối hợp thi hành án Nhưng cơ bản và quan trọng nhất đó là hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động cụ thể trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Như chúng ta đã biết, bảo đảm quyền con người là một quá trình phụ thuộc vào tổng thể nhiều điều kiện khác nhau (kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa…) trong đó pháp luật có vị trí, vai trò và tầm quan trọng hàng đầu,
là công cụ sắc bén của Nhà nước Quyền con người có thể bị xâm phạm từ phía chủ thể bảo đảm quyền là các cơ quan, tổ chức, công chức Nhà nước trong khi thi hành công vụ, cũng như từ phía các thành viên khác trong xã hội, đặc biệt đối với hoạt động của bộ máy Nhà nước thì hoạt động của hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật có nguy cơ làm phương hại đến các quyền con người rất cao vì trong quan hệ với Nhà nước, công dân là chủ thể quyền vừa
là người chủ Nhà nước, vừa là đối tượng bị quản lý Bởi vậy, Luật THADS từ trước đến nay rất chú trọng đến việc đảm bảo quyền con người trong quá trình triển khai thực hiện, ngay cả trường hợp cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án để đảm bảo thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, hiệu quả Cưỡng chế thi hành án là biện pháp mà cơ quan thi hành án áp dụng để buộc người phải thi hành án chấp hành phán quyết của Tòa án, cho nên khi áp dụng biện pháp cưỡng chế cơ quan thi hành án phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế Liên quan đến các quy định về cưỡng chế thi hành án tại Luật Thi hành án dân sự năm
2008 có đến 69/183 điều Theo các quy định hiện hành của pháp luật Thi hành
án dân sự thì có 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó biện pháp kê biên, xử lý tài sản chỉ áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ thi hành án bằng tiền Đây là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc,chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các biện pháp cưỡng chế mà cơ quan thi hành
án áp dụng, thể hiện qua số liệu thống kê từ ngày 1/10/2014 đến 31/5/2017 như sau: cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định cưỡng chế đối với
Trang 2824
14.715 việc với tổng giá trị tiền phải thi hành án là 13.246.559.986 đồng trong
đó biện pháp kê biên, xử lý tài sản chiếm 74,4% về việc và 90,3% về tiền Khoản 3, Điều 71 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014 quy định “Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ
ba giữ” liên quan đến tương đối nhiều quyền cơ bản của con người, nên đối với nội dung này Luật đã quy định cụ thể chi tiết về thủ tục, trình tự đối với các đối tượng áp dụng cũng như đối với các nhóm tài sản cơ bản Cơ bản nhất
có thể nhận thấy trong nội dung các điều luật là sự thể hiện đan xen giữa các nhóm quyền cơ bản về dân sự kinh tế, quyền bình đẳng, quyền sống, quyền có
cơ chế bảo vệ quyền, quyền sở hữu, quyền hưởng trật tự xã hội, quyền tự do
tư tưởng, lương tâm và tôn giáo …
Những trường hợp tài sản của người phải thi hành án không được
kê biên
Điều 87 Luật THADS sửa đổi năm 2014 đã quy định chi tiết những tài sản không được kê biên của người phải thi hành án, theo đó gồm ba nhóm tài sản nhằm đảm bảo các quyền hợp pháp của con người, các cơ quan, tổ chức cũng như doanh nghiệp, hợp tác xã…
“1 Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức
2 Tài sản sau đây của người phải thi hành án là cá nhân:
a) Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;
b) Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình; c) Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; d) Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương;
đ) Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình;
Trang 2925
e) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình
3 Tài sản sau đây của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ
sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
a) Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;
c) Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường.”
Thủ tục kê biên tài sản của người phải thi hành án
Chấp hành viên chỉ có thể ra quyết định kê biên tài sản sau khi có kết quả xác minh về tài sản của người phải thi hành án và có trách nhiệm thông báo cho những chủ thể liên quan biết về việc tổ chức kê biên tài sản trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại, trốn tránh việc thi hành án Việc thông báo đó được quy định cụ thể tại Điều 38,39 và 88 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014 Đối tượng được nhận thông báo không chỉ là các bên đương sự để kịp thời tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn là các cơ quan có liên quan để thực hiện chức năng do Nhà nước quy định Để đảm bảo tính khách quan phải có mặt đương sự khi tiến hành kê biên tài sản, trường hợp vắng mặt họ hoặc người được ủy quyền vẫn tiến hành kê biên nhưng phải
có người làm chứng và thể hiện đầy đủ nội dung này trong biên bản Như vậy, nhận thấy các bên đương sự đã được đảm bảo quyền được thông tin, được đảm bảo thực hiện đúng theo nguyên tắc đã quy định đối với hoạt động
kê biên tài sản Trong một số trường hợp cụ thể, bên cạnh việc tuân theo những quy định chung, để quyền con người được đảm bảo một cách triệt để, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014 còn quy định chi tiết như sau:
Thủ tục kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án:
Trang 3026
Điều 84 quy định những quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án như quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng…thì chấp hành viên kê biên để thực hiện nghĩa vụ tài sản ngay cả khi người phải thi hành là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đã chuyển quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác Đối với từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ khác nhau mà Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ khác nhau của người phải thi hành án Trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao; Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về
sở hữu trí tuệ thu và quản lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án; Trường hợp người phải thi hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền chưa thanh toán để thi hành án
Thủ tục kê biên tài sản là đồ vật đang bị khóa hay đóng gói của người phải thi hành án:
Điều 93 quy định “Khi kê biên đồ vật đang bị khóa hoặc đóng gói thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý
đồ vật mở khóa, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khóa, phá khóa hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người làm chứng Người phải thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khóa, phá khóa, mở gói Trường hợp
Trang 3127
cần thiết, sau khi mở khóa, phá khóa, mở gói, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo quy định tại Điều 58 của Luật này Việc mở khóa, phá khóa, mở gói hoặc niêm phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người làm chứng.”
Trong trường hợp cần thiết sau khi mở khóa, mở gói Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản cho người phải thi hành án, người thân thích của người phải thi hành án hoặc người đang sử dụng bảo quản, cá nhân
tổ chức có điều kiện bảo quản hoặc Kho bạc Nhà nước, kho tang vật của cơ quan THADS tùy vào tình hình thực tế sự việc và tài sản đó là gì Trên thực tế hầu hết các tài sản kê biên đều được bảo quản tại kho tang vật của cơ quan thi hành án dân sự để hạn chế hiện tượng tẩu tán tài sản kê biên
Thủ tục kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án:
Điều 74 quy định thủ tục kê biên tài sản thuộc sở hữu chung, kể cả tài sản chung của vợ chồng Theo đó, có hai trường hợp:
Trường hợp thứ nhất: chưa xác định được phần sở hữu của các chủ sở
hữu chung, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo Nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung
Trường hợp thứ hai: tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định
được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung Nếu tài sản có thể chia được thì
áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án Nếu tài sản chung không chia được hoặc việc chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần
Trang 32Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành
án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà; Trường hợp khi kê biên nhà ở của người phải thi hành
án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết; Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự Việc kê biên nhà ở bị khóa được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này
Thủ tục kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án:
Được quy định tại Điều 110 và 111 Theo đó, Chấp hành viên chỉ kê biên được quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong trường hợp
Trang 3329
người đó có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc nếu chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi đất Các giấy tờ về quyền sử dụng đất phải được người phải thi hành án hoặc người đang quản lý giấy tờ về quyền sử dụng đất nộp đầy đủ cho cơ quan thi hành
án dân sự Nếu có tài sản của người phải thi hành án gắn liền với quyền sử dụng đất phải kê biên thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản đó Ngược lại, nếu tài sản gắn liền với đất là của người khác thì chỉ kê biên quyền sử dụng đất và chủ tài sản gắn liền với đất bị kê biên đó sẽ được thông báo Biên bản kê biên quyền sử dụng đất phải ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê biên và phải có đầy đủ chữ ký của những người tham gia kê biên
Ngoài ra, Điều 112 đã quy định chi tiết về việc “Tạm giao quản lý, khai thác,
sử dụng diện tích đất đã kê biên” Về thủ tục xử lý tài sản gắn liền với đất
cũng được quy định chi tiết tại Điều 113
Thủ tục kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ
ba giữ: Trường hợp này quy định tại Điều 91 “Trường hợp xác định người
thứ ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án, kể cả trường hợp tài sản được xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên ra quyết định
kê biên tài sản đó để thi hành án; trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi hành án Trường hợp tài sản kê biên đang cho thuê thì người thuê được tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết.”
Thủ tục kê biên vốn góp của người phải thi hành án:
Trường hợp này quy định tại Điều 92, theo đó khi tiến hành kê biên vốn góp “ Chấp hành viên yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành
Trang 3430
viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án; trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành án Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần vốn góp của người phải thi hành án.”
Thủ tục kê biên phương tiện giao thông của người phải thi hành án:
Trường hợp này quy định tại Điều 96 Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng phương tiện giao thông phải giao giấy đăng ký phương tiện đó trong trường hợp kê biên phương tiện giao thông của người phải thi hành án để thực hiện nghĩa vụ Chấp hành viên có thể thu giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, người đang sử dụng phương tiện giao thông đang được khai thác sử dụng nhưng họ không được cầm cố, chuyển nhượng hay thế chấp phương tiện đó Ngoài ra, Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển nhượng, cầm cố,thế chấp, cho thuê hoặc hạn chế giao thông đối với phương tiện được kê biên Việc kê biên đối với tàu bay để thi hành án được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh bắt giữ tàu bay năm 2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011; việc
kê biên tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh bắt giữ tàu bay năm 2008
Thủ tục kê biên hoa lợi của người phải thi hành án:
Trường hợp này quy định tại Điều 97 “Trường hợp người phải thi hành
án có tài sản mang lại hoa lợi, Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm thi hành án Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh sống theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 87 của Luật này.”
Định giá tài sản kê biên của người phải thi hành án
Tuân thủ nguyên tắc tự định đoạt và có quyền thỏa thuận, tại Điều 98
đã quy định về quyền được thỏa thuận về giá tài sản hoặc chọn tổ chức thẩm định giá, quyền này được bảo đảm thực hiện trong vòng 5 ngày kể từ ngày kê
Trang 3531
biên Để đảm bảo giá trị của tài sản, không gây thiệt hại cho người phải thi hành án, đối với tài sản tươi sống mau hỏng, hoặc có giá trị nhỏ (tại thời điểm xác định giá, sản phẩm cùng loại chưa qua sử dụng có giá bán trên thị trường không quá 2 triệu đồng) thì khi kê biên các đương sự phải thỏa thuận ngay về giá; nếu khi kê biên các bên không thỏa thuận được thì Chấp hành viên có trách nhiệm định giá ngay tài sản để bán Ngoài ra tại khoản 2 Điều 98 đã quy định chi tiết những trường hợp mà Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc TW nơi có tài sản
kê biên
Xử lý tài sản kê biên của người phải thi hành án
Luật THADS đã quy định chi tiết các tình huống cụ thể trong quá trình
kê biên tài sản tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng, góp phần thuận lợi cho các cơ quan THADS trong việc thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao, đồng thời hạn chế tối đa khả năng gây tổn hại đến các bên đương sự thi hành án đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền con người khi kê biên tài sản thi hành án Cụ thể là giao tài sản kê biên cho người được thi hành án, bán tài sản đã kê biên, trả lại và giải tỏa tài sản kê biên
Giao tài sản kê biên cho người được thi hành án
Điều 100 quy định về điều kiện, thủ tục giao tài sản kê biên cho người được thi hành án Quy định này cho phép đương sự có quyền thỏa thuận về việc nhận tài sản để trừ tiền thi hành án đã đảm bảo được quyền tự định đoạt của các bên đương sự và đảm bảo được kết quả được thi hành án, đồng thời tiết kiệm đượcthời gian và tiền bạc, rút ngắn quá trình tổ chức thi hành án
Trong trường hợp có nhiều người được thi hành án thì người nhận tài sản thi hành phải thanh toán cho những người được thi hành án còn lại số tiền tương ứng với tỷ lệ họ được nhận Quy định này tuy thể hiện sự tôn trọng thỏa thuận của các bên nhưng vẫn phải có sự can thiệp của Chấp hành viên để đảm bảo trường hợp có nhiều người được thi hành án mà chỉ có một người đồng ý
Trang 3632
nhận tài sản Chấp hành viên phải lập biên bản về sự thỏa thuận của đương sự
và giao tài sản kê biên cho người được thi hành án để trừ vào nghĩa vụ thi hành án trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày thỏa thuận
Bán tài sản đã kê biên để thi hành án
Trong trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản đã
kê biên thì tài sản này sẽ được bán để đảm bảo thi hành án Điều 101 đã quy định cụ thể trong trường hợp nào tài sản đã kê biên được bán đấu giá, trường hợp nào bán không qua thủ tục bán đấu giá Để đảm bảo tính khách quan thì các tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10 triệu đồng và bất động sản phải do tổ chức bán đấu giá thực hiện Đối với động sản có giá trị từ 02 đến
10 triệu đồng thì Chấp hành viên có quyền chủ động bán đấu giá tài sản (trong thời hạn 30 ngày đối với động sản; 45 ngày đối với bất động sản tính từ ngày tổ chức đấu giá từ chối bán đấu giá) trong trường hợp tại tỉnh, thành phố trực thuộc TW nơi kê biên tài sản không có tổ chức đấu giá hoặc tổ chức đấu giấ không ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản kê biên Đối với những tài sản trị giá dưới 02 triệu đồng hoặc là tài sản tươi sống mau hỏng thì Chấp hành viên có quyền bán không qua thủ tục đấu giá Người phải thi hành án trước khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đầy đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án và tổ chức bán đấu giá Quy định này nhằm giảm những tổn phí không đáng có cũng như bảo đảm quyền lợi của người phải thi hành án Trong nội dung quy định về thủ tục bán đấu giá tài sản đã kê biên người trực tiếp xét xử vụ án có tài sản được đưa ra đấu giá, thành viên Hội đồng định giá, Chấp hành viên và công chức trực tiếp thi hành vụ việc, thủ trưởng cơ quan thi hành án nơi thi hành vụ việc; cha, mẹ, vợ, chồng của những người đó và những trường hợp khác theo quy định cuả pháp luật không được tham gia mua tài sản đã kê biên
Trả lại tài sản đã kê biên cho người phải thi hành án
Trang 3733
Việc trả lại tài sản đã kê biên cho người phải thi hành án khi tài sản đã đưa ra bán đấu giá nhưng không thể bán được theo quy định tại Điều 104 Quy định về mức giảm mỗi lần không quá 10% giá đã định và giới hạn cho đén khi tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành
án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án là một quy định mang tính thực tế và linh hoạt Trong trường hợp người được thi hành án không nhận tài sản Chấp hành viên
sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế khác phù hợp nếu có điều kiện Trong trường hợp người phải thi hành án không chịu nhận tài sản vẫn chưa có quy định cụ thể để áp dụng thi hành nên trong thực tế Chấp hành viên phải lưu giữ tài sản
đã kê biên trong kho của cơ quan thi hành án mà không có phương án xử lý
Giải tỏa kê biên tài sản
Chấp hành viên ra quyết định giải tỏa kê biên và trả lại tài sản cho người phải thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày phát sinh các trường hợp đương sự thỏa thuận về việc giải tỏa kê biên tài sản mà không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; đương sự đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này hay có quyết định của người có thẩm quyền hủy bỏ quyết định kê biên tài sản hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật này
Bên cạnh các nội dung của Luật THADS trong văn bản hướng dẫn liên quan khác mà cụ thể tại Điều 24, Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự cũng quy định về vấn đề kê biên tài sản để thi hành án như sau:
“1 Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và
Trang 3834
không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Khi kê biên tài sản, nếu có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự
Trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố cho người khác thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án; Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó
2 Việc kê biên, xử lý tài sản chung của người phải thi hành với người khác được thực hiện như sau:
a) Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của đương sự theo quy định tại Khoản 4 Điều này;
b) Trường hợp người phải thi hành án có chung tài sản với người khác mà đã xác định được phần tài sản, quyền tài sản của từng người thì Chấp hành viên
kê biên phần tài sản, quyền tài sản của người phải thi hành án để thi hành án theo quy định tại Khoản 2 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự; trường hợp chưa xác định được phần quyền của người phải thi hành án thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp quy định tại Điểm c Khoản này;
c) Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết
Trang 3935
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu,
sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết
Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên,
xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ
3 Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà kết quả xác minh tại thời điểm thi hành án cho thấy tài sản có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp thì Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải thông báo cho cơ quan thi hành
án dân sự biết
Cơ quan thi hành án dân sự kê biên tài sản sau khi đã được giải chấp hoặc thu phần tiền còn lại sau khi xử lý tài sản để thanh toán hợp đồng đã ký, nếu có Nếu người nhận cầm cố, thế chấp không thông báo hoặc chậm thông báo mà gây thiệt hại cho người được thi hành án thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
4 Trường hợp người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản
đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan thì Chấp hành viên lập biên bản giải thích cho họ về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản