1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căn cứ ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn áp dụng tại huyện mai sơn, tỉnh sơn la

88 137 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật HN&GĐ năm 1959 Điều 6, Luật HN&GĐ năm 1986 Điều 40 và Luật HN&GĐ năm 2000 Điều 89 quy định dù hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn hoặc một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn khi mâu th

Trang 1

ĐINH THỊ PHƯƠNG THÚY

CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI

HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐINH THỊ PHƯƠNG THÚY

CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TẠI HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Thị Hường

HÀ NỘI - NĂM 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn này đảm bảo tính chính xác và trung thực Những nội dung trong luận văn có sử dụng tài liệu tham khảo đều được trích dẫn nguồn đầy đủ và chính xác Đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 7

1.1 Khái niệm ly hôn và căn cứ ly hôn 7

1.1.1 Khái niệm ly hôn 7

1.1.2 Khái niệm căn cứ ly hôn 10

1.2 Cơ sở của việc quy định căn cứ ly hôn trong Luật hôn nhân và gia đình 13

1.2.1 Cơ sở lý luận 13

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.3 Lược sử quy định về căn cứ ly hôn qua các giai đoạn phát triển của pháp luật về hôn nhân và gia đình 17

1.3.1 Trong thời kỳ phong kiến 17

1.3.2 Trong thời kỳ Pháp thuộc 21

1.3.3 Trong quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 23

1.3.4 Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 24

1.3.5 Trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 26

Kết luận chương 1 28

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CĂN CỨ LY HÔN TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 29

2.1 Quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về căn cứ ly hôn 29

2.1.1 Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn 29

Trang 7

2.2 Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 46

2.2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 46 2.2.2 Tình hình ly hôn tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 47 2.2.3 Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 qua một số vụ án cụ thể 50

2.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về căn cứ ly hôn 61 Kết luận chương 2 68 KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là cái nôi sản sinh ra con người, nuôi dưỡng, giáo dục và hình thành nhân cách con người Vì vậy Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua luôn quan tâm tới vấn đề gia đình Luật Hôn nhân và gia đình (sau đây viết tắt là Luật HN&GĐ) ra đời có vai trò góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ HN&GĐ tiến bộ, nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc, bền vững Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về gia đình được ghi nhận tại Hiến pháp

năm 2013: “Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ HN&GĐ theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những người công dân tốt, con cháu có bổn phận chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con” Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay các vụ án về ly hôn đang ngày càng

có chiều hướng gia tăng, đòi hỏi Tòa án phải hướng dẫn đường lối áp dụng căn cứ

ly hôn để giải quyết các trường hợp ly hôn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng và các thành viên gia đình, thực hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, tránh tình trạng phân biệt đối xử và bạo lực gia đình

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, số lượng vụ án ly hôn xảy ra rất nhiều và có

xu hướng tăng mạnh Bên cạnh đó, có nhiều vụ án chưa được xử lý, giải quyết thỏa đáng, chưa phù hợp với căn cứ ly hôn theo quy định của pháp Luật HN&GĐ Việt Nam Có nhiều nguyên nhân của vấn đề này, đó là: chuyên môn nghiệp vụ chưa đồng đều, một số ít công chức chưa đạt chuẩn về trình độ, chủ yếu mới qua tập huấn đào tạo, chế độ chính sách còn thấp Việc thực thi công vụ do đó vừa thiếu tính chuyên nghiệp, vừa không đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân

Hậu quả của ly hôn không chỉ là việc chấm dứt các quan hệ nhân thân, tình cảm giữa vợ và chồng mà còn làm phát sinh hàng loạt các vấn đề về tài sản, về con cái,

về cấp dưỡng… Những vấn đề đó đều có tác động đến sự ổn định xã hội Do đó, nếu không có sự điều chỉnh một cách chính xác, hợp tình, hợp lý của các chế định pháp luật, mà cụ thể là Luật HN&GĐ thì tình trạng ly hôn như hiện nay sẽ ảnh hưởng lớn đến sự ổn định và phát triển chung của xã hội

Trang 9

Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời đã bảo vệ quyền lợi của mọi thành viên trong gia đình, hướng tới xây dựng hạnh phúc, là căn cứ để Tòa án giải quyết các vụ, việc HN&GĐ một cách thấu tình, đạt lý Bằng các quy định về ly hôn, Nhà nước cũng hướng tới bảo vệ lợi ích của gia đình, của xã hội khi xác định những điều kiện cho phép chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật

Huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là một huyện có diện tích lớn trong tỉnh, với dân

số đông, tiếp giáp với thành phố Sơn La Trên địa bàn huyện phần đông là đồng bào dân tộc Thái, Mông và một số đồng bào dân tộc ít người khác Do đó, nhận thức về các quy định của pháp luật nói chung, trong đó có quy định của pháp Luật HN&GĐ còn nhiều hạn chế Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Mai Sơn, tình hình ly hôn trên địa bàn huyện trong những năm vừa qua cũng rất phức tạp Số vụ ly hôn có xu hướng gia tăng, đặc biệt trong đối tượng là các cặp vợ chồng trẻ, việc giải quyết con cái và tài sản có nhiều phức tạp Các căn cứ ly hôn trong các vụ án đã giải quyết trên địa bàn huyện Mai Sơn là rất đa dạng, có nhiều căn cứ phức tạp cần được đánh giá chi tiết và cẩn thận trong quá trình giải quyết Các căn cứ ly hôn được quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Luật HN&GĐ năm 2014 còn chưa cụ thể, và chưa có văn bản hướng dẫn về việc áp dụng các căn

cứ ly hôn đó Bởi vậy, với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về các căn cứ ly hôn, học

viên quyết định chọn đề tài “Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 và thực tiễn áp dụng tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” làm đề tài luận văn

Thạc sỹ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Căn cứ giải quyết các trường hợp ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 tại Toà

án đã được giới khoa học pháp lý và nhất là những người trực tiếp làm công tác xét

xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài

Về bài viết trên các tạp chí gồm:

- Th.s Nguyễn Thị Thu Vân, “Căn cứ ly hôn trong cổ luật Việt Nam”, Tạp

chí Nhà nước và pháp luật, số 8/20051 Bài viết đề cập đến diện mạo của căn cứ

ly hôn trong cổ luật Việt Nam, giai đoạn được tính từ khi ra đời Bộ luật Hồng

1

Số 208 Từ trang 55 đến trang 61

Trang 10

Đức đến trước thời kỳ pháp thuộc, khi pháp luật Việt Nam nói chung và căn cứ

ly hôn nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Nho giáo và tư tưởng pháp lý Trung Hoa;

- Nguyễn Anh Tuấn, “Một số vướng mắc trong giải quyết án ly hôn với người mắc bệnh tâm thần”, Tạp chí kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao số 7/2005;

- Th.s Đoàn Đức Lương, “Cần có hướng dẫn thống nhất về thụ lý yêu cầu ly hôn hay không công nhận vợ chồng và thủ tục giải quyết”, Tạp chí Kiểm sát, Viện

kiểm sát nhân dân Tối cao số 9/2005;

- Đỗ Văn Chỉnh, “Ly hôn với người mắc bệnh tâm thần – Thực tế và giải quyết”, Tạp chí Tòa án, TAND Tối cao số 9/2006;

- Phạm Thị Quý, “Việc ly hôn có bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở trước khi khởi kiện ra Tòa án?”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10/2009;

- TS Đặng Quang Phương, "Thực trạng của các bản án hiện nay và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các bản án", Tạp chí TAND số 7/1999 và số 8/1999;

- Th.s Nguyễn Văn Cừ, “Quyền sở hữu của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000”, Tạp chí Luật học số 4/2000;

- Trần Thị Quốc Khánh, “Từ hòa giải trong truyền thống dân tộc đến hòa giải

ở cơ sở ngày nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11/2004;

Về Luận văn, luận án:

- Nông Thị Nhung (2014), “Căn cứ ly hôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

áp dụng tại Lạng Sơn”, Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Luận văn thạc sỹ: “Căn cứ ly hôn – một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại Lạng Sơn”, của tác giả Nông Thị Nhung, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,

Trang 11

- Bùi Văn Thuấn (2002), “Phụ nữ và pháp luật, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản riêng và chung”, Nhà xuất bản Phụ nữ

Như vậy, vấn đề căn cứ ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam đã được nghiên cứu khá nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học Đa phần các đề tài trên mới chỉ nghiên cứu các căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Do đó, việc lựa chọn đề tài của tác giả mang ý nghĩa

lý luận và thực tiễn quan trọng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài có mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 cũng như việc áp dụng căn cứ ly hôn trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng căn cứ ly hôn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn như: Khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định về căn cứ ly hôn, ý nghĩa của căn cứ ly hôn;

- Nội dung căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014;

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn trong quá trình giải quyết các vụ việc ly hôn trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết căn cứ ly hôn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài: Luật HN&GĐ năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan về ly hôn cũng như thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận của căn cứ ly hôn theo pháp Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 và thực tiễn áp dụng tại TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

Trang 12

Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;

Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn từ năm

ly hôn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn phân tích được những căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 Ngoài ra, luận văn đưa ra được những vấn đề thực tiễn, khó khăn và tồn tại của căn

cứ ly hôn, cũng như những ưu điểm, hạn chế của các quy định về căn cứ ly hôn theo pháp Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000 Đặc biệt, luận văn

đi sâu vào phân tích các căn cứ ly hôn, nhận xét đưa ra những ưu điểm, hạn chế của các quy định về căn cứ ly hôn Trên cơ sở đó, đưa ra các quan điểm, giải pháp về căn cứ ly hôn theo pháp Luật HN&GĐ Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác giải quyết án ly hôn, nhằm thực hiện nghiêm chỉnh Luật HN&GĐ

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người đang trực tiếp làm công tác giải quyết án ly hôn tại TAND nói chung và TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nói riêng

Trang 13

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 02 chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình

Chương 2: Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La và một số kiến nghị

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ LY HÔN THEO LUẬT HÔN

NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1.1 Khái niệm ly hôn và căn cứ ly hôn

1.1.1 Khái niệm ly hôn

Nếu như kết hôn là khởi đầu để xác lập nên quan hệ vợ chồng thì ly hôn có thể coi là điểm cuối của hôn nhân khi quan hệ này thực sự tan rã Khi đời sống hôn nhân không thể duy trì được nữa thì ly hôn là một giải pháp cần thiết cho cả đôi bên

vợ chồng cũng như cho xã hội Ly hôn giải phóng cho các cặp vợ chồng và những thành viên trong gia đình thoát khỏi xung đột, mâu thuẫn bế tắc trong cuộc sống Bằng các quy định về ly hôn, Nhà nước cũng hướng tới bảo vệ lợi ích của gia đình, của xã hội khi xác định những điều kiện cho phép chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật, gọi chung là căn cứ ly hôn

Quan hệ hôn nhân với đặc điểm tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đời con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa vợ chồng Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng, vì những lý do nào đó dẫn tới giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc đến mức không thể chung sống với nhau nữa, vấn đề ly hôn được đặt ra để giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan

hệ hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ2

Vấn đề ly hôn được quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là khác nhau tùy theo thể chế chính trị, truyền thống văn hóa và quan điểm lập pháp của từng nước Một số nước cấm vợ chồng ly hôn (theo Đạo Thiên chúa), bởi vì theo họ quan hệ vợ chồng bị ràng buộc thiêng liêng theo ý Chúa Một số nước thì hạn chế ly hôn bằng cách đưa ra những điều kiện hết sức nghiêm ngặt Cấm ly hôn hay hạn chế

ly hôn đều trái với quyền tự do dân chủ của cá nhân

Trên quan điểm tự do hôn nhân, bao gồm cả tự do kết hôn và tự do ly hôn, pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khi họ không yêu nhau thì cũng không bắt buộc

vợ chồng phải chung sống với nhau khi tình yêu giữa họ không còn nữa Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ, chồng thoát khỏi cuộc sống chung áp lực và không có

2

Thu Thủy (2011), “Ly hôn mang tính toàn cầu”, Báo phụ nữ Đà Nẵng,

Trang 15

hạnh phúc, với những mâu thuẫn sâu sắc mà trong một thời gian dài họ đã không giải quyết được Thừa nhận quyền tự do ly hôn của vợ, chồng còn nhằm bảo vệ quyền lợi của những thành viên còn lại trong gia đình Vì vậy, pháp luật của Nhà nước XHCN công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt được Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ Điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình

Ly hôn được hiểu là: “chấm dứt quan hệ vợ chồng do TAND công nhận hoặc

quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng3 Cách giải thích

này được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, giải thích cho các đương sự liên quan trong thực tiễn giải quyết vụ việc ly hôn Theo đó, ly hôn được phản ánh rõ nét, đó

là việc “chấm dứt quan hệ vợ chồng”, nghĩa là giữa hai bên vợ chồng không còn tồn tại quan hệ hôn nhân, mọi quyền và nghĩa vụ của hai bên sẽ được pháp luật giải quyết thỏa đáng, đảm bảo quyền lợi cho các bên

Theo Lê-nin: “thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ

sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh”4 Nhưng bên cạnh đó, ly hôn cũng có mặt hạn chế đó là sự ly tán gia đình, vợ

chồng, con cái Vì vậy, khi giải quyết ly hôn, Toà án phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân

và bản chất của quan hệ vợ chồng và thực trạng hôn nhân với nhiều yếu tố khác để đảm bảo quyền lợi cho các thành viên trong gia đình, lợi ích của Nhà nước và của

Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Tr 460

4 V.I.Lênin - Toàn tập (1980), Tập 25, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, Tr 355

Trang 16

quyền yêu cầu ly hôn Để ly hôn vợ, chồng hoặc cả hai người hoàn toàn tự do trong việc làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn của họ

Khi vợ, chồng ly hôn không những ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ tình cảm

vợ chồng, chấm dứt mọi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, mà còn ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khác trong gia đình Tòa án với chức năng là cơ quan có thẩm quyền xem xét và quyết định vợ, chồng có được ly hôn hay không (Tòa án có thể chấp nhận đơn ly hôn hoặc bác đơn ly hôn của vợ, chồng) Bằng biện pháp tư pháp đó, Tòa án có thể hạn chế hoặc ngăn chặn những hiện tượng vợ, chồng lạm dụng quyền tự do ly hôn gây hậu quả xấu cho gia đình và xã hội Nhất là đối với những trường hợp một trong hai bên vợ chồng có quan hệ ngoại tình, không có trách nhiệm chăm lo cho gia đình Vì ích kỷ cá nhân

họ muốn ly hôn càng sớm càng tốt để rũ bỏ trách nhiệm với gia đình để chạy theo người tình

Việc Tòa án cho vợ, chồng ly hôn hay bác đơn yêu cầu của họ phải dựa vào thực chất mối quan hệ vợ, chồng Tuy nhiên, việc đánh giá thực chất mối quan hệ

vợ, chồng là một vấn đề khó khăn và phức tạp Trong những năm gần đây, số vụ ly hôn ở nước ta ngày càng gia tăng về số lượng, với những mâu thuẫn vợ chồng rất đa dạng và phức tạp Để đánh giá thực chất mối quan hệ vợ, chồng đã thực sự rạn nứt

và có thể hàn gắn được hay không đòi hỏi bản thân những Thẩm phán trực tiếp giải quyết phải có kinh nghiệm sống và kiến thức chuyên môn vững vàng Đồng thời phải xác minh thật kỹ để tìm ra nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ, chồng Phải tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của vợ, chồng trong thời gian tiến hành giải quyết vụ kiện Khi đã tìm ra nguyên nhân mâu thuẫn của vợ, chồng, mặc dù đại diện Tòa án đã tiến hành hòa giải hai bên vợ, chồng theo hướng đoàn tụ gia đình Phân tích và giải thích cho vợ, chồng về hậu quả của ly hôn cũng như ảnh hưởng của việc cha, mẹ ly hôn đối với đời sống tinh thần của con cái Nhưng vợ, chồng vẫn cương quyết ly hôn thì Tòa án sẽ căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết

Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật HN&GĐ nói riêng, việc đưa ra khái niệm đầy đủ về ly hôn có ý nghĩa quan trọng, phản ánh quan điểm chung nhất của Nhà nước ta về ly hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các quan hệ pháp

Trang 17

luật HN&GĐ về ly hôn và các vấn đề phát sinh khác Khoản 8 Điều 8 Luật

HN&GĐ Việt Nam năm 2000 quy định: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai

vợ chồng;” Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 quy định: “Ly hôn

là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”

Nhìn chung, Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích thuật ngữ ly hôn có sự thay đổi cơ bản so với Luật HN&GĐ năm 2000 Tuy nhiên, về bản chất, Luật HN&GĐ năm

2014 và Luật HN&GĐ năm 2000 đều phản ánh được ly hôn là việc chấm dứt quan

hệ vợ chồng, giúp các bên trong quan hệ hôn nhân được giải thoát khỏi tình trạng hôn nhân đổ vỡ Khái niệm ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 mang tính chất chặt chẽ hơn khi đề cập tới nội dung: “bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Thông qua đó để phản ánh tính quyền lực của Nhà nước, cũng như phản ánh bản chất của ly hôn nói riêng là mang tính chất giai cấp

Như vậy, có thể hiểu khái niệm ly hôn như sau: Ly hôn là một sự kiện pháp lý

do Tòa án công nhận bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bằng bản án để chấm dứt quan hệ vợ chồng và chấm dứt quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau

1.1.2 Khái niệm căn cứ ly hôn

Nghiên cứu luật HN&GĐ và luật Dân sự của một số nước trên thế giới cũng như trong khu vực về vấn đề ly hôn và căn cứ ly hôn cho thấy mỗi quốc gia có quan điểm về vấn đề ly hôn có khác nhau, do vậy cũng có những quy định khác nhau về căn cứ ly hôn Pháp luật của nhiều nước quy định giải quyết ly hôn là dựa vào lỗi của vợ chồng Nhà nước tư sản coi hôn nhân như hợp đồng dân sự nên việc chấm dứt hôn nhân cũng như chấm dứt hợp đồng là dựa vào lỗi của các bên Giải quyết vấn đề ly hôn ở các nước này là dựa vào hình thức của quan hệ hôn nhân, do vậy

việc xét xử của Toà án là việc làm hết sức rập khuôn, máy móc

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, hôn nhân (trong đó có ly hôn) là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật (hay tục lệ) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà

Trang 18

nước Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào xác lập quan

hệ vợ chồng, đồng thời xác lập trong những điều kiện căn cứ nhất định mới được phép xóa bỏ (chấm dứt) quan hệ hôn nhân Đó chính là căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật của Nhà nước Như vậy, căn cứ ly hôn là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó, Tòa án mới được xử cho ly hôn

Ly hôn là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp Do có quan điểm khác nhau về quy định và giải quyết ly hôn, cho nên căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật của Nhà nước XHCN có nội dung khác về bản chất so với căn cứ ly hôn do Nhà nước phong kiến, tư bản đặt ra Pháp luật của nhà nước phong kiến, tư sản quy định

có thể cấm ly hôn (không quy định căn cứ ly hôn mà chỉ công nhận quyền vợ, chồng được sống tách biệt nhau (biệt cư) bằng chế định ly thân; bằng hạn chế quyền

ly hôn theo thời gian xác lập quan hệ hôn nhân; theo độ tuổi của vợ chồng; và thường quy định xét xử ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng hay của cả hai vợ chồng (các điều kiện có tính chất hình thức, phản ánh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, chứ không phải bản chất ly hôn đã tan vỡ) Ngược lại, pháp luật của Nhà nước XHCN công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không thể cấm hoặc đặt ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn Ly hôn dựa trên

sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ, chồng, con cái và các thành viên trong gia đình5

Giải quyết ly hôn là dựa vào thực chất mối quan hệ vợ chồng, trên cơ sở đánh giá một cách khách quan mà hoàn toàn không có ý chí chủ quan của cán bộ Tòa án hay các đương sự Do đó, việc giải quyết ly hôn không dựa vào lỗi của vợ chồng Trên quan điểm: “Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối Đương nhiên, không phải sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân đã chết

5

Đinh Mai Phương (chủ biên), “Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000”, NXB Chính trị quốc gia, tr.88

Trang 19

hoặc chưa chết Bởi vì, như mọi người đều biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện, trong đó, hôn nhân được phép tan vỡ Nghĩa là trong đó, về thực chất hôn nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi Việc Toà án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có thể là việc ghi biên bản sự tan rã bên trong của nó6

Pháp luật cần dự liệu đúng và chính xác khi quy định về căn cứ ly hôn Dựa vào những quy định đó, Tòa án có thể áp dụng đúng đắn các quy định đó vào từng trường hợp cụ thể để giải quyết ly hôn Điều này vô cùng quan trọng, bởi ly hôn chính là khi đời sống vợ chồng đã thực sự kết thúc, là giải pháp cuối cùng mà cả hai bên vợ chồng cùng hướng đến Sau ly hôn là hàng loạt những hậu quả pháp lý như: quyền nuôi con, quyền thay đổi quyền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ… Vì vậy, pháp luật về căn cứ ly hôn quy định càng rõ ràng, cụ thể và thống nhất thì quá trình áp dụng sẽ thuận lợi và chính xác

Luật HN&GĐ năm 1959 (Điều 6), Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 40) và Luật HN&GĐ năm 2000 (Điều 89) quy định dù hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn hoặc một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn khi mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn Quy định về nội dung căn cứ ly hôn nhằm đảm bảo quyền tự do cá nhân của vợ chồng trong quan hệ gia đình Đồng thời nhằm đảm bảo sự dung hòa giữa các lợi ích trái ngược nhau giữa vợ và chồng, trong đó có lợi ích của con cái, thể hiện ý chí của giai cấp trong hôn nhân tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và trong khuôn khổ quy định của pháp luật Khi quy định về nội dung căn cứ ly hôn phải đảm bảo tính pháp chế, có nghĩa là những nội dung, những điều kiện cần và đủ để giải quyết cho vợ chồng phải được các bên chủ thể tôn trọng và triệt để thực hiện Nếu việc quy định nội dung căn cứ ly hôn không đảm bảo tính pháp chế, không đảm bảo quyền lợi của vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình sẽ dẫn đến việc tuân thủ pháp luật không nghiêm túc và có thể dẫn tới những vi phạm hoặc sự tuân thủ pháp luật không mang tính tự nguyện

6

C Mác Ph Ăng ghen (1978), “Bản dự Luật về ly hôn”, Tập 1, NXB sự thật Hà Nội

Trang 20

Điều kiện cần để cho ly hôn là các tình tiết, sự việc phản ánh tình trạng mối

quan hệ vợ, chồng Khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc

vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Với cách thể hiện nội dung điều luật nói trên thì điều kiện cần là:

“ có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng”, còn điều kiện đủ là “làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”

Dựa trên các điều kiện đó thì Toà án nhân dân các cấp cho phép vợ chồng ly hôn Tuy nhiên, bên cạnh tính pháp chế, khi quy định về nội dung căn cứ ly hôn còn phải đảm bảo tính khách quan, tính khả thi Có nghĩa là, những quy định của pháp luật về căn cứ ly hôn mặc dù được quy định và áp dụng chung cho tất cả các trường hợp xin ly hôn nhưng khi áp dụng vào các trường hợp ly hôn cụ thể chúng ta không thể áp dụng mang tính rập khuôn, máy móc Việc quy định nội dung căn cứ ly hôn nhằm đảm bảo sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của tất cả các bên Trong đó

có sự ưu tiên cho phụ nữ và trẻ em Việc quy định các căn cứ cho ly hôn phải đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu và có thể áp dụng được trong thực tế cuộc sống Điều này đòi hỏi nhà lập pháp khi ban hành nội dung căn cứ ly hôn phải có tính dự liệu cao về những trường hợp có thể cho ly hôn, đảm bảo tính khả thi trong việc áp dụng pháp luật

Như vậy, “căn cứ ly hôn là những tình tiết hay những điều kiện do pháp luật quy định mà khi có những tình tiết hay điều kiện đó thì Tòa án cho ly hôn”

1.2 Cơ sở của việc quy định căn cứ ly hôn trong Luật hôn nhân và gia đình

1.2.1 Cơ sở lý luận

Từ khi giành được chính quyền đến nay Đảng và Nhà nước ta không ngừng chăm lo đến đời sống của gia đình nói riêng và đời sống của nhân dân nói chung Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất sớm đã ban hành nhiều sắc lệnh quy định về kết hôn và các điều kiện để kết hôn, trải qua một thời gian dài nhà nước đã ban hành nhiều văn

Trang 21

bản luật có hiệu lực pháp lý cao như Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm

1986, Luật HN&GĐ năm 2000, và gần đây có Luật HN&GĐ năm 2014

Hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình của nhà nước ta từ năm 1945 đến nay

đã quy định căn cứ ly hôn ngày càng hoàn thiện, phù hợp, là cơ sở pháp lí để tòa án giải quyết các án kiện ly hôn

Cơ sở để quy định căn cứ ly hôn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thể hiện quyền tự do kết hôn của nam nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn của vợ chồng nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn theo đúng bản chất của một sự kiện – đó là hôn nhân "đã chết", sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối Đương nhiên, không phải ý chí của nhà lập pháp, cũng phải sự tùy tiện của các cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc sống hôn nhân này "đã chết" hay chưa Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện bản chất của mối quan hệ, theo đó những trường hợp nào về mặt pháp lý hôn nhân được coi là sự tan vỡ nghĩa

là về thực chất, hôn nhân tự nó đã phá vỡ và việc tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ là việc ghi biên bản công nhận sự tan vỡ bên trong của nó và chỉ khi nào hôn nhân xét về bản chất không còn là hôn nhân nữa, tòa án mới được xử cho ly hôn Sắc lệnh số 159/SL quy định căn cứ ly hôn vẫn dựa trên cơ sở “lỗi” của vợ chồng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (Điều 26), Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 (Điều 40), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 89) và hiện nay là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 55 và Điều 56) đã quy định căn cứ ly hôn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam trước đây không quy định những căn cứ ly hôn riêng biệt mà quy định căn cứ

ly hôn chung nhất, dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ Nhưng với Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có sự lồng ghép quy định về căn cứ ly hôn vào quy định về thuận tình ly hôn cũng như ly hôn theo yêu cầu của một bên

Như vậy, căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Nhà nước ta được quy định dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, có cơ sở khoa học và thực tiễn kiểm nghiệm trong mấy chục năm qua, từ khi Nhà nước ta ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 Khi giải quyết ly hôn, cần hiểu điều

đó nói lên một thực trạng hôn nhân đã tan vỡ, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại

Trang 22

được nữa, vì “sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối” và ly hôn là một giải pháp tích cực để giải phóng cho vợ chồng cũng như các thành viên khác trong gia đình khỏi cảnh “bất bình thường” đó, đảm bảo lợi ích của vợ chồng, của gia đình và xã hội

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Sau hơn 10 năm đưa vào triển khai, thực hiện Luật HN&GĐ năm 2000 đã đạt được những thành tựu đáng kể Nhiều quy định của Luật đã được thực hiện tốt đi sâu vào nhận thức của người dân Các nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ năm

2000 đã được thực hiện Hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng ngày càng được nâng cao Vai trò của người phụ nữ trong gia đình ngày càng được khẳng định và trở nên quan trọng Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều trường hợp người phụ nữ bị ngược đãi, nạn bạo hành gia đình vẫn còn Chính vì vậy, hiện nay số lượng các vụ án về ly hôn ngày càng gia tăng Có nhiều vụ án phức tạp và giải quyết kéo dài Tòa án giải quyết các vụ án ly hôn phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết Đây chính là nguyên do cơ bản dẫn tới sự ra đời của Luật HN&GĐ năm 2014 Tuy nhiên, việc xây dựng căn cứ ly hôn như thế nào để đáp ứng được yêu cầu có thể điều chỉnh được các quan hệ xã hội đang diễn ra là một câu hỏi lớn Từ những phân tích trên có thể thấy việc quy định căn cứ ly hôn phải dựa trên một số cơ sở sau:

Thứ nhất, quy định căn cứ ly hôn phải đảm bảo lợi ích của cá nhân, gia đình và

của xã hội, trong đó có quan hệ vợ chồng Xã hội muốn vững mạnh thì tế bào của

xã hội – gia đình phải ổn định Nhà nước chỉ chấp nhận cho phép chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng khi việc ly hôn không trái với lợi ích gia đình Ví dụ: trong pháp luật phong kiến, lợi ích của gia đình được chú trọng đứng trên lợi ích của

vợ và chồng, do đó, khi có căn cứ làm ảnh hưởng tới lợi ích của gia đình, thì vợ chồng được ly hôn

Thứ hai, căn cứ ly hôn đảm bảo sự công bằng về lợi ích giữa các bên đương sự Khi giải quyết ly hôn, cần hiểu điều đó nói lên một thực trạng hôn nhân đã tan vỡ, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại được nữa, vì “sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài

và giả dối” và ly hôn là một giải pháp tích cực để giải phóng cho vợ chồng, đảm bảo lợi ích của vợ chồng, của gia đình và xã hội Ly hôn bảo đảm quyền lợi ích các bên,

Trang 23

giải thoát xung đột, bế tắc trong đời sống hôn nhân, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ hôn nhân

Thứ ba, quy định căn cứ ly hôn giúp cho vợ chồng nhận thức, điều chỉnh hành

vi của mình để có thể tự dàn xếp, thỏa thuận để quan hệ vợ chồng tốt đẹp hơn; hoặc đưa ra quyết định ly hôn Thông qua đó, là biện pháp hữu hiệu trong việc củng cố quan hệ gia đình, bảo vệ lợi ích chính đáng của các đương sự và trên hết là bảo vệ cuộc hôn nhân đã được xác lập, vì chỉ có người trong cuộc mới thực sự hiểu tình trạng thực tế của cuộc sống vợ chồng

Thứ tư, căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết việc ly hôn của vợ chồng khi có yêu cầu Tòa án chỉ giải quyết ly hôn khi việc

ly hôn là cần thiết, phù hợp với thực tế của quan hệ vợ chồng và đảm bảo sự thống nhất trong việc xét xử Trường hợp Tòa án xét thấy quan hệ hôn nhân của vợ và chồng không có đủ căn cứ để đưa ra quyết định, bản án ly hôn thì Tòa án sẽ không

ra quyết định, bản án ly hôn Đồng thời, Tòa tiến hành cho các bên hòa giải tại cơ

sở, phân tích, giải thích để cho các bên hiểu và suy nghĩ lại

Thứ năm, căn cứ ly hôn nhằm bình ổn quan hệ hôn nhân, bảo vệ và thúc đẩy sự

phát triển của xã hội, góp phần củng cố chế độ một vợ một chồng, tự nguyện, tiến

bộ, góp phần khẳng định nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng Căn cứ ly hôn là cơ

sở đảm bảo sự nhất quán, thống nhất trong việc xây dựng những chế định, những quy phạm pháp luật HN&GĐ Khi tế bào gia đình của một xã hội ổn định thì xã hội

đó cũng được ổn định Các quy định về căn cứ ly hôn được quy định chặt chẽ thì sẽ góp phần giảm tình trạng ly hôn, khi tình trạng hôn nhân chưa đáp ứng đủ các căn

cứ ly hôn theo pháp luật quy định thì Tòa án sẽ không giải quyết ly hôn Căn cứ ly hôn thể hiện sự bình đẳng ở việc pháp luật không “thiên vị” chủ thể nào, pháp luật quy định quyền yêu cầu ly hôn, đưa ra và chứng minh các căn cứ ly hôn là quyền của cả vợ và chồng Điều này được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014 là hoàn toàn tiến bộ so với pháp luật ở những thời kỳ trước – thiên vị người chồng hơn Nhà nước quy định về căn cứ ly hôn, đây là căn cứ pháp lý, công cụ để Tòa án

có thể giải quyết yêu cầu ly hôn một cách chính xác và thỏa đáng Quy định căn cứ

ly hôn trong pháp luật là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng Tuy vậy, căn cứ ly hôn được quy định trên cơ sở các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa trong từng thời kỳ

Trang 24

lịch sử Pháp luật phong kiến đề cao bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn ông, trách nhiệm của người đàn ông Do đó, pháp luật phong kiến luôn “trọng nam, khinh nữ” gây ra sự bất bình đẳng trong vấn đề ly hôn giữa vợ và chồng Căn cứ ly hôn trên cơ sở đạo đức Nho giáo, đặt ra đối với người đàn ông với vai trò gia trưởng trong gia đình Tới thời kỳ thực dân Pháp, chủ nghĩa nhân dân ảnh hưởng tới từng gia đình, từng quy định pháp lý Luật cho phép thuận tình ly hôn trong trường hợp

vợ chồng không hợp tính tình Nhiều quy định của pháp luật hôn nhân thời kỳ Pháp thuộc có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống nhân dân ta Khi tới thời kỳ xã hội chủ nghĩa, kinh tế phát triển, vị thế của người phụ nữ ngày càng được nâng cao Các quy định của pháp luật về ly hôn nói chung và căn cứ ly hôn nói riêng có sự quy định cụ thể, rõ ràng hơn, bình đẳng hơn giữa vợ và chồng, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên

1.3 Lược sử quy định về căn cứ ly hôn qua các giai đoạn phát triển của pháp luật về hôn nhân và gia đình

1.3.1 Trong thời kỳ phong kiến

Từ thế kỷ XV, dưới ảnh hưởng của Nho giáo thì đạo tề gia là cơ sở của đạo trị quốc Các mối quan hệ cha con, vợ chồng, anh em là ba trong số các mối quan hệ

cơ bản của xã hội Với sự ra đời của Bộ luật Hồng Đức và sau này là Luật Gia Long, pháp Luật HN&GĐ đã bắt đầu đề cập về ly hôn một cách khá rõ nét

Người Việt Nam, về đạo lý luôn luôn mong muốn cuộc hôn nhân lâu dài, bền vững Tuy nhiên, pháp luật phong kiến cũng thừa nhận việc chấm dứt hôn nhân do những nguyên nhân khác nhau

Trong cổ luật Việt nam, các căn cứ ly hôn thường được biết tới dưới tên gọi

“duyên cớ ly hôn” hay “các trường hợp ly hôn”

Các duyên cớ ly hôn thời kỳ này thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Nho giáo, nghĩa

là chúng được quy định dựa trên sự bất bình đẳng giữa vợ chồng và nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi gia đình, gia tộc hơn là quyền lợi cá nhân nên chúng được chia làm

ba loại: rẫy vợ, ly hôn bắt buộc và ly hôn thuận tình

* Rẫy vợ:

Rẫy vợ là việc người chồng được đơn phương bỏ vợ ngoài tầm kiểm soát của tất cả các thiết chế xã hội Điều 310 Bộ luật Hồng Đức quy định, nếu người vợ

Trang 25

phạm phải một trong các điều “thất xuất” thì chồng phải bỏ vợ, không bỏ sẽ bị tội biếm Tuy Bộ luật Hồng Đức không thống kê rõ các trường hợp nào được coi là

“thất xuất”, nhưng Hồng Đức thiện chính thư (Đoạn 161) và Bộ luật Gia Long (Điều 108) đã nêu rõ, đó là bảy trường hợp sau: không có con, dâm đãng, không thờ

bố mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông và bị ác tật

Trong quan niệm của xã hội Việt Nam truyền thống, việc hôn nhân không đơn thuần là việc hai cá nhân tạo lập một gia đình mà hơn thế, nó là việc của hai bên gia tộc Đối với cộng đồng gia tộc, mục đích của hôn nhân là để duy trì dòng dõi và thờ phụng tổ tiên Trong hoàn cảnh ấy, việc không có con được coi là bất hiếu với cha

mẹ, gây thiệt hại cho lợi ích gia tộc và vì cớ ấy, người chồng được phép đơn phương rẫy bỏ vợ mình Cũng trong lợi ích (về mặt tinh thần) của cộng đồng gia tộc

mà việc người vợ ghen tuông hay dâm đãng, nếu người chồng không bỏ thì bại hoại gia đạo; người vợ phạm tội trộm cắp mà không bỏ thì vạ lây đến chồng; vì lý do người vợ bị ác tật, khi có việc tế tự sẽ không làm được xôi hay cỗ, ảnh hưởng tới lợi ích gia đình, người chồng cũng phải bỏ Có thể nói, với bảy lý do mà người chồng được đơn phương rẫy vợ các luật gia phong kiến đã hy sinh lợi ích của các cá nhân

để đặt lên trên lợi ích gia đình Năm trong số bảy duyên cớ rẫy vợ nói trên tuy có phần lỗi của người vợ dù chúng không hẳn nghiêm trọng nhưng vì lợi ích gia đình, người chồng được quyền đơn phương ly hôn không cần biết đến ý kiến người vợ cũng như không cần xét đâu là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm lỗi của người vợ Hai duyên cớ còn lại, không có con và bị ác tật, dù người phụ nữ không hề có lỗi nhưng nhà lập pháp cũng coi là duyên cớ ly hôn, cũng là vì mục đích để bảo vệ quyền lợi gia đình Sự hy sinh quyền lợi cá nhân vợ chồng để bảo vệ quyền lợi gia đình còn được các nhà lập pháp hướng Nho đẩy xa đến mức mô phỏng hoàn toàn quy định của pháp luật Trung Hoa, theo đó, nếu người chồng không bỏ vợ trong trường hợp “thất xuất”, chính bản thân người chồng sẽ bị xử tội biếm (Điều 310 Bộ luật Hồng Đức, Đoạn 166 Hồng Đức chính thiện thư)

Bên cạnh các trường hợp “thất xuất”, cổ luật Việt Nam còn quy định ba trường hợp mà người chồng không được bỏ vợ, dù rằng người vợ đã phạm phải “thất xuất”,

đó là: vợ đã để tang nhà chồng được 3 năm; khi vợ chồng lấy nhau nghèo hèn, sau trở nên giàu có; khi vợ chồng lấy nhau, vợ còn bà con họ hàng, khi bị bỏ, vợ không

Trang 26

còn nơi nương tựa (tam bất khứ) Nếu vợ nằm trong trường hợp “thất xuất” nhưng nại được trường hợp “tam bất khứ” mà chồng vẫn bỏ vợ, thì chồng bị phạt nhẹ hai trật và hai vợ chồng phải đoàn tụ lại Tuy nhiên, “tam bất khứ ” sẽ không có hiệu lực nếu người vợ phạm phải tội thông gian Như vậy, “rẫy vợ” không phải là căn cứ

để người vợ xin ly hôn Điều này thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng

* Ly hôn bắt buộc:

Ngoài các trường hợp “thất xuất”, cổ luật Việt Nam còn quy định khi việc kết hôn vi phạm các điều kiện thiết yếu của hôn nhân thì vợ chồng bị buộc phải ly dị Luật không quy định bằng cách thống kê đâu là các điều kiện thiết yếu của hôn nhân cũng như quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ chồng, mà luật chỉ can thiệp khi có

sự vi phạm các điều kiện hay nghĩa vụ này Và ly hôn bắt buộc được coi như một

“hình phạt ” cho sự vi phạm ấy Ví dụ, về sự vi phạm nghĩa vụ chung sống giữa hai

vợ chồng, Điều 308 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Chồng bỏ lửng vợ trong 5 tháng thì mất vợ” Điều 108 lệ Gia Long cũng quy định: “Nếu người chồng mất tích hoặc

bỏ trốn ba năm không về, thì người vợ được trình quan xin phép cải giá và nhà vợ không phải hoàn lại đồ sính lễ ” Quy định này thể hiện quyền yêu cầu ly hôn của người vợ.Trường hợp này người vợ được trình quan sở tại và xã quan làm chứng và thực hiện quyền ly dị của mình Quyền yêu cầu ly dị của vợ còn được ghi nhận ở Điều 333 Bộ luật Hồng Đức: “Nếu con rể lấy chuyện phi lý mà mắng nhiếc cha mẹ

vợ, đem việc thưa quan sẽ cho ly dị” Điều này chứng tỏ địa vị của người chồng không làm mất năng lực pháp lý của người vợ Người vợ được coi là ngang hàng với người chồng Ly hôn bắt buộc cũng áp dụng khi vợ chồng vi phạm nghĩa vụ giúp đỡ lẫn nhau (Điều 308 Bộ luật Hồng Đức), hay trong trường hợp kết hôn giả mạo, lừa dối; mất trật tự thê thiếp; mệnh phụ vi phạm quy định để tang; cưới người cùng họ, cùng tôn ti, trong thân thuộc; kết hôn không môn đăng hộ đối Đặc biệt, Điều 108 Bộ luật Gia Long quy định khi vợ chồng phạm phải điều “nghĩa tuyệt” thì buộc phải ly hôn “Nghĩa tuyệt” có thể do lỗi của vợ (vợ mưu sát chồng), hoặc lỗi của chồng (chồng bán vợ làm nô lệ, cho thuê vợ, hay cầm vợ), nhưng cũng có thể là lỗi của hai vợ chồng (người chồng đem người vợ ngoại tình gả bán cho nhân tình của vợ) Riêng trường hợp nếu vợ phạm phải “nghĩa tuyệt” mà chồng không bỏ, thì chồng cũng bị phạt 80 trượng Nghĩa là, ở các trường hợp “nghĩa tuyệt”, dù người

Trang 27

phụ nữ cũng được quyền ly hôn trong một số tình huống, địa vị pháp lý của họ vẫn không được bình đẳng với chồng Có thể nói, với các trường hợp ly hôn bắt buộc,

cổ luật Việt Nam chưa phân biệt sự khác nhau giữa chế định ly hôn với hủy hôn nhân trái pháp luật

Điều 284 Luật Gia Long quy định thuận tình ly hôn như sau: “Nếu vợ chồng trẹo ý không vui nhau, cả hai đều muốn ly dị, tình thì không hợp, ân đã lìa thì không thể nào hoà lại được, cho phép họ ly dị, không bị tội”7

Có thể nói, khác với luật đương đại Việt Nam chỉ chấp nhận một căn cứ ly hôn duy nhất dựa trên thực chất sự tan vỡ của cuộc hôn nhân, trong cổ luật Việt Nam, căn cứ ly hôn được quy định không đơn nhất mà đa dạng: hoặc người chồng có thể

tự ý ly hôn theo ý chí đơn phương của mình khi vợ phạm phải một trong các điều

“thất xuất”, hoặc hai vợ chồng có thể thuận tình ly hôn, cũng có khi hai vợ chồng bị bắt buộc ly hôn khi bên kia vi phạm một trong các điều kiện thiết yếu của hôn nhân hay vi phạm các nghĩa vụ giữa vợ chồng Điều quan trọng là, một khi những điều kiện của các căn cứ ly hôn nói trên hội đủ, các đương sự được phép đặt dấu chấm hết cho cuộc hôn nhân của mình vì các duyên cớ ly hôn nói trên đặt trên cơ sở trật

tự thiên nhiên đoàn thể vợ chồng chỉ có thể giao hoà với thiên nhiên khi liên hệ giữa hai vợ chồng được phát khởi bằng tình yêu, kết chặt bằng nghĩa vụ và duy trì bằng

lễ giáo Mất một trong ba điều kiện này, trật tự thiên nhiên không còn nữa và đoàn thể vợ chồng sẽ mất căn bản Quan niệm này đã giải thích rõ các quy định trong luật

7

Nguyễn Văn Thành – Vũ Trinh – Trần Hựu (1995), Hoàng Việt luật lệ, Nxb Văn hóa thông tin

Trang 28

về duyên cớ ly hôn: trường hợp thất xuất bắt nguồn ở lễ giáo; trường hợp thuận tình

ly hôn căn cứ vào sự thiếu tình thương yêu giữa hai vợ chồng và trường hợp ly hôn bắt buộc là sự tuyệt nghĩa phu phụ

Thứ hai, trong xã hội phong kiến Việt Nam thời kỳ ảnh hưởng đậm nét bởi tư tưởng Nho giáo, nếu như việc kết lập hôn nhân chính là vì lợi ích gia đình, thì khi hủy bỏ hôn nhân, cũng là do các quyền lợi của gia đình bị chi phối hơn là do mối quan hệ giữa bản thân người vợ và người chồng Nói cách khác, ý chí cá nhân của

vợ chồng bị gạt ra ngoài lề không chỉ khi họ kết lập hôn nhân của chính họ, mà còn khi cuộc hôn nhân của họ bị hủy bỏ, để thay thế vào đó là lợi ích gia đình, gia tộc

Ly hôn vì lý do “thất xuất” hay “nghĩa tuyệt” là sự phản ánh triệt để quan niệm này Thứ ba, cũng dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đề cao đức trị mà những quy định về duyên cớ ly hôn đã được thiết lập trên cơ sở đạo đức và nhân cách cá nhân để rồi bằng cách ấy chúng đã xóa nhòa ranh giới giữa đạo đức và pháp luật Ly hôn vì lí do không kính trọng cha mẹ chồng hoặc vì sự lắm điều của vợ chính là được quy định dưới ánh sáng của quan niệm này

1.3.2 Trong thời kỳ Pháp thuộc

Năm 1858 thực dân Pháp mở đầu xâm lược nước ta, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Cùng với việc duy trì quan hệ sản xuất phong kiến, thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến còn lợi dụng chế độ HN&GĐ phong kiến đã tồn tại và được duy trì từ nhiều thế kỷ ở nước ta để củng cố nền thống trị của chúng Với chính sách chia để trị, chúng chia nước ta thành 3 miền và mỗi miền

áp dụng một bộ luật cụ thể:

- Tại Bắc Kỳ áp dụng Dân luật Bắc kỳ (DLBK) 1931

- Tại Trung Kỳ áp dụng Trung Kỳ Hộ luật (TKHL) 1936

- Tại Nam kỳ áp dụng Dân luật dản yếu (DLDY) 1883

Pháp luật thời Pháp thuộc quy định chỉ có Toà án mới có quyền cho ly hôn khi

có các duyên cớ ly hôn mà pháp luật đã quy định Hai vợ chồng hoặc một trong hai

vợ chồng có thể xin ly hôn (Điều 116, 117 DLBK 1931 và Điều 115, 116 TKHL 1936)

Trang 29

- Pháp luật quy định chồng có thể xin ly hôn vợ vì các duyên cớ sau: (i) Vì vợ phạm gian; (ii) Vợ bỏ nhà chồng ra đi, tuy đã buộc phải trở về mà không chịu trở về; (iii) Vì vợ thứ đánh, chửi, bạo hành với vợ chính

- Người vợ có thể xin ly hôn chồng vì các duyên cớ sau đây: (i) Chồng không làm những nhiệm vụ đã cam kết khi kết hôn là phải nuôi nấng vợ con tuỳ theo kế sinh nhai; (ii) Chồng bỏ nhà đi quá 2 năm không có lý do chính đáng và không lo liệu việc nuôi nấng vợ con; (iii) Không có lý do chính đáng mà chồng đuổi vợ ra khỏi nhà mình; (iiii) Chồng làm trái trật tự vợ chính, vợ thứ (Điều 119 DLBK 1931

+ Vì một bên can án trọng tội;

+ Vì một bên vô hạnh làm nhơ nhuốc đến nỗi bên kia không thể ở chung được; +Vì một bên bị tâm thần mà ai cũng biết hoặc phải ở suốt đời trong bệnh viện (Điều 120 DLBK 1931 và Điều 119 TKHL 1936)

Tuy nhiên, trong cả ba Bộ luật mà thực dân Pháp ban hành ở nước ta thì người

ta chú ý hơn cả đến Bộ DLBK 1931, vì đây là Bộ luật phản ánh một phần các phong tục tập quán của người Việt, kỹ thuật lập pháp khá tinh vi, với cách thể hiện nôm

na, dễ hiểu Bởi ở Bắc kỳ, thực dân Pháp thi hành chính sách cải luơng và nhận thấy rằng pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam đã được thi hành một cách nề nếp, vững chắc, nên chỉ dựa vào đó mà thay đổi dần dần cho phù hợp với sự thống trị của chúng Như vậy, mặc dù ba Bộ luật đã có nhiều điểm tiến bộ đáng ghi nhận, nhưng do hoàn cảnh chính trị - xã hội lúc bấy giờ nên chúng cũng có những hạn chế nhất định đó là: Quy định hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lập quan hệ hôn nhân, theo độ tuổi của vợ chồng; quy định xét xử ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng hay của cả hai vợ chồng, các điều kiện có tính chất hình thức, phản ánh

Trang 30

nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, chứ không phải bản chất hôn nhân đã tan vỡ8 Việc xét xử của Toà án rất thụ động, hoàn toàn do ý chí của đương sự quyết định

1.3.3 Trong quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử HN&GĐ nước ta.Từ đó, nhiều văn bản pháp luật về HN&GĐ đã được ban hành nhằm củng cố và hoàn thiện các quan hệ gia đình tiến bộ Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã xác nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi

phương diện Điều 9 của Hiến pháp quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đấu tranh xoá bỏ hôn

nhân phong kiến, đặt cơ sở cho chế độ HN&GĐ tiến bộ, dân chủ

Sau hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ Cách mạng XHCN Quan hệ sản xuất mới XHCN được xác lập và là cơ sở vững chắc của chế độ HN&GĐ mới Để xóa bỏ triệt để những tàn tích lạc hậu của chế độ HN&GĐ phong kiến việc ban hành đạo luật mới về HN&GĐ đã trở thành một đòi hỏi cấp bách của toàn thể xã hội Đó là một tất yếu khách quan thúc đẩy sự nghiệp xây dựng XHCN

ở miền Bắc nước ta Chính vì thế, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá I, ngày 29/12/1959 Luật HN&GĐ được thông qua và được công bố ngày 13/01/1960 Luật HN&GĐ năm 1959 xây dựng trên 4 nguyên tắc: Hôn nhân tự do tiến bộ; hôn nhân 1 vợ 1 chồng; nam nữ bình đẳng trong bảo vệ hạnh phúc gia đình và bảo

vệ quyền lợi của con cái Trong đó, nguyên tắc cơ bản nhất là nam nữ bình đẳng Các vấn đề về HN&GĐ đã được quy định khá hệ thống như vấn đề kết hôn; quan hệ cha mẹ và con cái; quan hệ vợ chồng và đặc biệt là ly hôn và hậu quả của nó đã được quy định trong một chương riêng (Chương V)

Luật HN&GĐ năm 1959 đã công nhận quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn, xóa

bỏ sự bất bình đẳng về duyên cớ ly hôn chung cho cả hai vợ chồng Luật HN&GĐ năm 1959 không quy định những căn cứ ly hôn riêng biệt, mà quy định căn cứ ly hôn duy nhất cho mọi trường hợp là tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được

Trang 31

Điều 25 Luật HN&GĐ năm 1959 quy định: “Khi hai bên vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì sau khi điều tra, nếu xét đúng là hai bên tự nguyện xin ly hôn, TAND sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn” Việc điều tra để xét đúng hai bên tự nguyện ly hôn ở đây thể hiện quyền tự do ly hôn của các bên trong quan hệ hôn nhân đồng thời cũng thể hiện quan điểm giải quyết về mặt ly hôn của Nhà nước ta Việc ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án xử cho ly hôn là sự phản ánh thực tế khách quan cuộc sống chung giữa vợ chồng không còn nữa chứ không phải thể hiện ý chí của người xét xử Ở đây “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” không chỉ đơn giản là giữa hai vợ chồng không còn tình yêu mà nó muốn nói đến việc nuôi dạy con cái… và nếu tiếp tục duy trì cuộc sống đó thì nó không thể là cơ sở để xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc Do vậy, Tòa án xử cho ly hôn chỉ là công nhận về mặt luật pháp với thực trạng là cuộc hôn nhân đã chết

Tại Thông tư số 690 – DS ngày 29/4/1960 của TANDTC hướng dẫn xử lý việc

ly hôn và các vấn đề có liên quan đã quán triệt đường lối xử lý việc ly hôn là phải bảo đảm thực hiện tự do ly hôn cũng như cần phải giải quyết vấn đề ly hôn một cách chính xác, không gò bó, đồng thời không khinh xuất Đối với xử lý việc hai bên xin thuận tình ly hôn thì khi xử lý Tòa án phải xem xét thận trọng cơ sở tình cảm giữa hai bên vợ chồng còn hay hết và phải thẩm tra tính chất tự nguyện xin ly hôn của cả hai bên để bảo vệ quyền tự do ly hôn chân chính của các đương sự Đối với xử lý việc ly hôn do một bên xin Thông tư cũng hướng dẫn rất triệt để

có tính đến hoàn cảnh lịch sử lúc đó, đó là để xử lý cho ly hôn hoặc không cho ly hôn được chính xác, chẳng những Tòa án điều tra, nghiên cứu cơ sở tình cảm, tình trạng mâu thuẫn và khả năng chung sống giữa hai vợ chồng mà còn phải dựa trên cơ

sở các nguyên tắc của Luật HN&GĐ và đạo đức cách mạng để nhận xét và giải quyết yêu cầu của đương sự thì xử lý mới được đúng với chính sách tiến bộ

1.3.4 Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986

Trong những chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH, Luật HN&GĐ năm 1959 vẫn được tiếp tục duy trì và thực hiện thống nhất trong cả nước Nhưng với sự ra đời của Hiến pháp 1980 cùng với những quy định mới về nguyên tắc xây dựng chế độ HN&GĐ, đòi hỏi Luật HN&GĐ phải có những quy định để cụ thể hóa

Trang 32

những nguyên tắc này Sau hơn 30 năm thực hiện, Luật HN&GĐ năm 1959 đã có một số quy định không còn phù hợp nữa Điều này đòi hỏi phải có Luật HN&GĐ mới đáp ứng sự biến đổi của xã hội Ngày 29/12/1986 Luật HN&GĐ mới đã được Quốc hội thông qua gồm 10 chương và 57 điều

Những nguyên tắc chủ yếu của Luật HN&GĐ năm 1986 là: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; hôn nhân 1 vợ 1 chồng; vợ chồng bình đẳng; bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con cái; bảo vệ bà mẹ và trẻ em Nhiều quy định của Luật HN&GĐ năm

1959 được nhắc lại như điều kiện hạn chế ly hôn, căn cứ ly hôn… nhưng nhiều vấn

đề được quy định cụ thể và chi tiết hơn trước cho phù hợp với sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội Chẳng hạn, chế độ tài sản của vợ hoặc chồng, vấn đề cấp dưỡng sau

ly hôn…

Tại chương VII, Luật HN&GĐ năm 1986 quy định về ly hôn (từ Điều 40 đến Điều 45) cũng giống như Luật HN&GĐ năm 1959 Luật HN&GĐ năm 1986 quy định các trường hợp ly hôn, căn cứ ly hôn cơ bản giống Luật HN&GĐ năm 1959 Tuy nhiên, theo Luật HN&GĐ năm 1986, thủ tục hoà giải được đưa ra và coi là thủ tục pháp lý bắt buộc phải có trong việc giải quyết án kiện ly hôn dù hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn hay chỉ có một bên vợ, chồng yêu cầu

Theo quy định tại Điều 40 của Luật HN&GĐ năm 1986, ly hôn có thể do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu hoặc do cả hai bên cùng làm đơn xin ly hôn Nếu ly hôn

do một bên yêu cầu, căn cứ để Tòa án cho ly hôn là “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng xin ly hôn, Tòa án ra quyết định cho thuận tình ly hôn nếu xét thấy là cả hai bên thực sự tự nguyện

Trong cả hai trường hợp, Tòa án đều phải tiến hành hòa giải Khi hòa giải không thành, Tòa án ra quyết định hòa giải không thành, rồi sau đó đưa vụ án ra xét

xử hoặc ra quyết định thuận tình ly hôn tùy theo từng trường hợp Quá trình hòa giải cho phép xem xét một cách thận trọng cơ sở tình cảm giữa vợ và chồng còn thương yêu nhau hay đã chấm dứt Giai đoạn này cần thiết ngay cả đối với trường hợp vợ chồng tự nguyện ly hôn Yếu tố tự nguyện ở đây chỉ là căn cứ ban đầu Về bản chất, Tòa án vẫn cần xem xét các yếu tố bên trong nhằm làm sáng tỏ thực chất của sự tự

Trang 33

nguyện này Chỉ khi đó mới đủ các yếu tố cần thiết để Tòa án ra quyết định thuận tình ly hôn hay không

Về trình tự ly hôn, Luật HN&GĐ năm 1986 cũng quy định cụ thể hơn Theo đó,

ly hôn chỉ được công nhận bằng một bản án có hiệu lực của TAND, còn các bên vợ hoặc chồng chỉ có quyền đề nghị Khi các cặp vợ chồng xin ly hôn, Tòa án sẽ tiến hành điều tra, hòa giải hai bên Chỉ khi xét thấy hôn nhân đã thực sự tan vỡ, hạnh phúc gia đình không còn, Tòa án mới quyết định cho hai bên vợ chồng được ly hôn Thực tế, pháp luật cũng không thể đưa ra một công thức nhất định cho phép Tòa

án xử cho ly hôn hay không Do vậy, niềm tin nội tâm có được từ năng lực, kinh nghiệm và lương tâm người Thẩm phán có vai trò quan trọng khi đưa ra một bản án

ly hôn hay quyết định công nhận cho thuận tình ly hôn Điều luật chỉ là cơ sở, là nguyên tắc để người Thẩm phán vận dụng vào thực tế phức tạp và tế nhị của từng cặp vợ chồng khi xin ly hôn Xác định được tình yêu, hạnh phúc gia đình giữa họ còn tồn tại hay không, có thể cứu vãn được hay không, đó là nhiệm vụ nặng nề mà người Thẩm phán phải làm

1.3.5 Trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2000

Kế thừa những quy định của Luật HN&GĐ năm 1987, Luật HN&GĐ năm 2000 được ban hành với những sửa đổi, bổ sung trong đó có vấn đề về căn cứ ly hôn Chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 có 15 Điều (từ Điều 85 đến Điều 99) được quy định tại chương X Vấn đề ly hôn cũng được ghi nhận tại Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật Hôn nhân và Gia đình (được quy định từ Điều 23 đến Điều 30) và Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000

Khoản 1 Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Tòa án xem xét yêu cầu

ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn” Điều luật trên đây đã nêu ra 3 vấn đề: (i) Tình trạng trầm trọng; (ii) Đời sống chung không thể kéo dài; (iii) Mục đích hôn nhân không đạt được

Trang 34

Như vậy, theo quy định của điều luật trên thì ly hôn không phải là một biện pháp chế tài đối với vợ hoặc chồng phạm lỗi, bởi vì Điều 89 không hề nêu lên lỗi của hai bên vợ hoặc chồng

Có thể nói quy định căn cứ ly hôn như trên là hết sức khái quát Khi nào thì có tình trạng trầm trọng? Trong trường hợp nào thì phải coi là đời sống chung không thể kéo dài? Khi nào thì phải coi là mục đích hôn nhân không đạt được? Nếu quy định của pháp luật không rõ sẽ dẫn tới những sự giải thích khoáng đạt của Thẩm phán trong khi hôn nhân là nền tảng của gia đình mà gia đình là nền tảng của xã hội, cho nên việc phá vỡ quan hệ hôn nhân chỉ được cho phép trong những trường hợp luật quy định cụ thể, rõ ràng Trong thực tế xét xử Tòa án thường căn cứ vào lỗi của

vợ hoặc chồng để cho ly hôn, trong khi lỗi không phải là căn cứ ly hôn luật định Ly hôn theo luật năm 2000 không phải là một sự trừng phạt đối với người vợ hoặc người chồng phạm lỗi mà là một biện pháp giải cứu hai vợ chồng ra khỏi một liên

hệ pháp lý không thể duy trì được nữa và không có lý do tồn tại nữa

Trang 35

Kết luận chương 1

Trong chương 1 của luận văn, học viên tập trung phân tích các vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Mặc dù mục đích của hôn nhân đó là xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no mang tính lâu dài Tuy nhiên, cũng như pháp luật của các nước thì Luật HN&GĐ Việt Nam cũng quy định về chế định ly hôn nhằm giải thoát cho các cặp vợ chồng không thể chung sống tiếp tục được với nhau

Căn cứ ly hôn là một trong những nội dung trung tâm, quan trọng nhất của chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ Trong đó các nhà làm luật quy định về các chỗ dựa mà cá nhân cặp vợ chồng dựa vào đó để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn và đồng thời cũng là chỗ dựa để Tòa án cho phép cặp vợ chồng ly hôn

Căn cứ ly hôn có những nét đặc trưng và xuất phát từ các nguyên tắc nhất định mà các chủ thể tham gia vào quan hệ đó cần phải tuân thủ Ngoài ra, Chương 1 của luận văn còn phân tích cụ thể về lược sử hình thành và phát triển của các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về căn cứ ly hôn Điều này được tác giả phân tích trong các giai đoạn như: trong thời kỳ phong kiến, trong thời kỳ Pháp thuộc, trong giai đoạn sau năm 1959, trong giai đoạn sau năm 1986, trong giai đoạn sau năm 2000

Trang 36

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CĂN CỨ LY HÔN TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

2.1 Quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về căn cứ ly hôn

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định căn cứ để Tòa án giải quyết các trường hợp ly hôn tại Điều 55 và Điều 56

2.1.1 Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn

Thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ hoặc chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng Đơn xin ly hôn phải có xác nhận của UBND cấp xã, phường về nguyên nhân ly hôn, mâu thuẫn vợ chồng

Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn” Việc giải quyết ly

hôn cần dựa trên các điều kiện nhất định phải được tiến hành ở TAND, pháp luật quy định việc thuận tình ly hôn là công nhận và đảm bảo quyền tự do ly hôn chính đáng của hai bên vợ chồng Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai vợ chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 thì trong trường hợp hai vợ chồng có yêu cầu thuận tình ly hôn, sự tự nguyện của hai vợ chồng khi yêu cầu chấm dứt hôn

nhân là một căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân Bảo đảm “thật sự tự nguyện

ly hôn” là cả hai vợ chồng đều được tự do bày tỏ ý chí của mình, không bị cưỡng

ép, không bị lừa dối trong việc thuận tình ly hôn Việc thể hiện ý chí thật sự tự nguyện ly hôn của hai vợ chồng đều phải xuất phát từ trách nhiệm đối với gia đình

họ, phù hợp với yêu cầu của pháp luật và chuẩn mực, đạo đức xã hội

Tự nguyện ly hôn là cả hai vợ chồng đều tự do trình bày nguyện vọng, ý chí, không cưỡng ép, không bị lừa dối trong việc thuận tình ly hôn Việc thể hiện ý chí thật sự tự nguyện ly hôn phải xuất phát từ trách nhiệm đối với gia đình, phù hợp với yêu cầu của pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội và nhu cầu của bản thân chủ thể

Trang 37

trong việc quyết định ly hôn; đồng thời cả hai bên đều nhận thức được hậu quả của việc ly hôn

Theo quy định của pháp luật, người vợ và người chồng cùng thuận tình ly hôn

là thể hiện rõ ý chí, ý nguyện của các bên về việc giải quyết mối quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng Khi bản thân hai vợ chồng xét thấy cuộc sống gia đình không hạnh phúc, cuộc sống chung có nhiều khúc mắc, không đạt được mục đích của cuộc hôn nhân và họ tự nhận thức được việc ly hôn là cần thiết thì hai vợ chồng đồng tình cùng nhau yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn Căn cứ để Tòa án quyết định cho vợ chồng ly hôn là ý chí tự nguyện của các bên, thật sự nghiêm túc và chắc chắn, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối của vợ và chồng trong việc thuận tình ly hôn bảo đảm thật sự tự nguyện ly hôn Trong quá trình hòa giải, Thẩm phán có thể tiến hành tất cả các biện pháp điều tra, xác minh cần thiết, thậm chí có thể tìm hiểu

để làm rõ động cơ xin ly hôn của các đương sự

Trong trường hợp thuận tình ly hôn, ngoài ý chí thật sự tự nguyện xin ly hôn của vợ chồng, đòi hỏi hai vợ chồng còn phải có sự thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con, nếu vợ chồng không thoả thuận được hoặc tuy có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con thì Tòa án quyết định giải quyết việc ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải, mục đích là để vợ chồng rút đơn yêu cầu ly hôn và đoàn tụ với nhau Việc cho ly hôn trong trường hợp thuận tình này đối với Tòa án là không phải dễ, bởi vì khó có thể định lượng khi chỉ dựa trên yếu tố thỏa thuận tự nguyện thật sự của hai vợ chồng nếu không xem xét đến các yếu tố tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đến đâu, mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân đến cấp độ nào và gắn với việc thỏa thuận của họ đến đâu về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn Thực tế, nguyên nhân phát sinh tranh chấp trong cuộc sống vợ chồng dẫn đến

ly hôn hay thuận tình ly hôn cũng là do tình cảm của vợ chồng bị rạn nứt, một trong hai bên đã không làm tròn nghĩa vụ của mình với gia đình hay vì tự ái cá nhân hoặc hiểu lầm trong quan hệ của vợ hoặc chồng mình nên đã quyết định yêu cầu Tòa án giải quyết cho họ được ly hôn Nhưng khi có sự giải thích, phân tích đúng, sai trong

Trang 38

quan hệ của họ của người làm công tác hòa giải để khuyên họ nên bỏ qua những lầm lỗi, tha thứ cho nhau để quay lại chung sống với nhau thì họ đã hiểu ra và quay lại đoàn tụ chung sống với nhau và Tòa án cũng không phải giải quyết về các vấn đề kéo theo như con và tài sản Nếu hoà giải thành tức là vợ chồng rút đơn thuận tình

ly hôn thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành, sau 7 ngày kể từ ngày Tòa án lập biên bản hòa giải thành mà các bên đương sự không thay đổi ý kiến thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 10, Điều 211, Điều 212, Điều 217 Bộ luật TTDS năm 2015) Trường hợp hòa giải không thành, các bên thực sự tự nguyện ly hôn nhưng không thỏa thuận được về việc chia tài sản hoặc việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì Tòa án lập biên bản về việc hòa giải đoàn tụ không thành và về những vấn đề hai bên không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con, đồng thời mở phiên tòa xét xử theo thủ tục chung

Khoản 4 Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định về nguyên tắc vấn đề bảo

vệ quyền lợi chính đáng của bà mẹ và trẻ em: “4 Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về HN&GĐ; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình” Do vậy, những quy định như “chỉ cho phép

vợ chồng đồng thuận ly hôn khi đảm bảo được quyền lợi chính đáng của người vợ

và con” và “bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không

có tài sản để tự nuôi mình”9 đã thể hiện tính thống nhất, quy định chặt chẽ của pháp luật HN&GĐ nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em Có thể thấy rằng, thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ và chồng đều thống nhất và đồng thuận trong việc giải quyết các hậu quả của việc ly hôn: hai bên thật sự có ý nguyện ly hôn, không bị cưỡng ép hay chi phối bởi yếu tố nào khác; hai bên phân chia tài sản

rõ ràng, không có khúc mắc gì; hai bên cùng nhau thỏa thuận đầy đủ về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Tuy nhiên, nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng cho bà mẹ và trẻ em, pháp luật có quy định chặt chẽ hơn, nếu trong trường hợp những vấn đề đã nêu trên mà không đảm bảo quyền lợi chính đáng cho

9

Điều 59 Khoản 5 Luật HN&GĐ năm 2014

Trang 39

người vợ, người con thì Tòa án sẽ xem xét lại việc thuận tình ly hôn của hai bên Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về khái niệm

“không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con” do vậy khó tránh khỏi sẽ có

vấn đề trong thực tiễn giải quyết các vụ việc ly hôn

Tóm lại, muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân một cách hợp pháp, các bên còn phải thỏa thuận được về các hậu quả của việc ly hôn, đặc biệt là về phần liên quan đến việc phân chia tài sản chung và về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha

mẹ đối với con Nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, thì Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con; nếu không thỏa thuận được hoặc tuy có thỏa thuận, nhưng không bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con, thì Tòa án quyết định Theo quy định của pháp luật, khi giải quyết ly hôn đồng thuận, Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải đoàn tụ Nếu hòa giải đoàn tụ không thành, Tòa án lập biên bản về việc đồng thuận ly hôn và hòa giải không thành

2.1.2 Căn cứ ly hôn trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn

Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên

vợ hoặc chồng như sau:

“1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn

3 Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành

vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Theo đó, khi ly hôn theo yêu cầu của một bên thì Tòa án cần dựa vào một trong

ba căn cứ sau đây:

Trang 40

* Trường hợp có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được

Đối với trường hợp khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được

Trước tiên, khi có yêu cầu ly hôn của vợ, chồng, Tòa án phải tiến hành điều tra

và hòa giải, nếu hòa giải không thành thì Tòa án cần xác định tình trạng của quan hệ hôn nhân, xem có căn cứ ly hôn không để giải quyết Việc giải quyết ly hôn cần phải chính xác Nếu xét xử đúng, kết quả đó sẽ phù hợp với nguyện vọng của các bên, bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình Ngược lại, nếu việc giải quyết không chính xác sẽ dẫn tới tan vỡ hạnh phúc gia đình, phá huỷ một cuộc hôn nhân còn có thể cứu vãn được và gây ra hậu quả không đáng có Mặt khác, giải quyết ly hôn cũng đòi hỏi sự linh hoạt trong việc vận dụng căn cứ ly hôn đối với mỗi trường hợp cụ thể Trong trường hợp này khi giải quyết, Tòa án xác định phải tồn tại hai loại hành vi: (i) hành vi bạo lực gia đình; (ii) hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

- Đối với hành vi bạo lực gia đình: Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung điểm mới khi cho ly hôn khi có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng

quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng Như vậy, Luật mới đã quy định rất rõ “bạo lực gia đình” là căn cứ để giải quyết cho ly hôn; còn đối với những vi phạm khác,

những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng… trong đời sống vợ chồng, thì phải có cơ sở nhận định chung rằng tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì mới giải quyết cho ly hôn Bởi qua tổng kết thực tiễn giải quyết các án kiện ly hôn của Tòa án cho thấy số vụ ly hôn có hành vi ngược đãi, đánh đập chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nguyên nhân dẫn đến ly hôn ở nước ta trong đó thì đa phần phụ nữ là nạn nhân của tình trạng này

Ngày đăng: 02/08/2019, 20:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w