1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh ninh bình

111 384 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 851,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thi hành án dân sự là một lĩnh vực tương đối rộng và phức tạp, vì vậy trước những đòi hỏi khách quan của công tác thi hành án dân sự, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG ĐỨC CHÍNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Mai

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM 8

1.1 Khái quát chung về thi hành án dân sự 8

1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự 8

1.1.2 Đặc điểm của thi hành án dân sự 15

1.1.3 Ý nghĩa và vai trò của thi hành án dân sự 20

1.2 Một số nội dung cơ bản của pháp luật thi hành án dân sự qua các giai đoạn 21

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950 21

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1980 24

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1993 26

1.2.4 Giai đoạn từ 1993 đến nay 30

Kết luận chương 1 37

Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH NINH BÌNH 38

2.1 Đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế- xã hội ảnh hưởng đến việc thực hiện thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình 38

2.1.1 Đặc điểm về vị trí địa lý, tự nhiên 38

Trang 5

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội 39

2.1.3 Đặc điểm về dân cư, tôn giáo 40

2.2 Thực tiễn công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2011 đến nay 42

2.3 Đánh giá chung về công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2011 đến nay 55

2.3.1 Ưu điểm 55

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 59

2.3.3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 62

Kết luận chương 2 68

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THI HÀNH ÁN Ở TỈNH NINH BÌNH 69

3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 69

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thi hành án dân sư từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn 2025 74

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay 74

3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình 78

3.3 Điều kiện để thực hiện giải pháp hoàn thiện nâng cao chất lượng công tác thi hành án dân sự 86

3.3.1 Phía Nhà nước 86

3.3.2 Phía Cơ quan thi hành dân sự ở tỉnh Ninh Bình 91

Kết luận chương 3 97

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HĐND: Hội đồng nhân dân TAND: Tòa án nhân dân THADS: Thi hành án dân sự UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.2: Kết quả thi hành án dân sự về tiền 45

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động đưa bản án, quyết định về dân sự của Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh

ra thi hành trên thực tế THADS bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

và lợi ích của nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước Chính vì vậy, Điều 106 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” [35]

Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Hội đồng nhà nước trước đây, nay là Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 và gần đây là Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12

và Nghị quyết về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự số 24/2008/QH12, Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân

sự có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015 với mục đích nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, tạo cơ sở pháp lý cho sự chuyển biến cơ bản, bền vững, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành án dân sự, góp phần bảo đảm thực hiện quy định của Hiến pháp năm 2013, theo đó bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành

Trang 9

Tuy nhiên, do tác động của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế, các giao lưu dân sự trong nội bộ nhân dân và giữa các cơ sở kinh tế ngày càng

mở rộng và đa dạng dẫn tới tình trạng số vụ việc tranh chấp về dân sự và kinh

tế ngày càng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung Kết quả là số lượng các bản án, quyết định phải thi hành ngày càng nhiều, tổng số tiền và hiện vật phải thi hành ngày càng lớn, trong đó có nhiều vụ việc rất khó khăn, phức tạp trong việc tổ chức thi hành Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cấp Ủy Đảng, chính quyền và sự cố gắng của đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án trong các cơ quan thi hành án từ Trung ương tới địa phương đã làm giảm đáng kể số lượng

án phải thi hành hàng năm, nhưng số vụ việc và số tiền phải thi hành chuyển

kỳ sau vẫn còn rất lớn, có xu hướng tăng lên Đáng lo ngại là trên thực tế nhiều vụ việc không thể thi hành được còn tồn tại rất nhiều Trong những năm qua, ngành thi hành án đã đạt được những kết quả nhất định nhưng lượng án tồn đọng vẫn còn đáng kể Riêng ở Ninh Bình, công tác thi hành án đã đạt được kết quả cao theo đúng chỉ tiêu mà Bộ Tư pháp cũng như Tổng cục thi hành án dân sự đặt ra, năm 2015 việc chiếm 94% (vượt 6% so với chỉ tiêu quốc hội giao, tiền đạt 82% (vượt 5% so với chỉ tiêu Quốc hội giao) Kết quả đạt được nói trên phản ánh sự nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ thi hành án ở tỉnh Ninh Bình, sự quan tâm, chỉ đạo của cấp Ủy Đảng, chính quyền địa phương; sự phối hợp chặt chẽ của các ngành hữu quan trong thi hành án dân sự

Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm còn bộc lộ nhiều tồn tại, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, vẫn còn trong tình trạng các bản án, quyết định cuả Tòa án đã có hiệu lực nhưng chưa được nghiêm chỉnh thi hành, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan bảo vệ pháp luật Qua thời gian học tập, nghiên cứu tại khoa Luật- Đại học Quốc Gia Hà Nội, được sự hướng dẫn của Nhà giáo ưu tú.Phó Giáo Sư.Tiến sĩ Dương Đức

Chính học viên chọn đề tài: "Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình" làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình

Trang 10

Học viên mong muốn qua luận văn này đưa ra được những thực trạng cũng như những đề xuất, kiến nghị trong thực tiễn nhằm phát huy hơn nữa vai trò của thi hành án dân sự trong việc đưa bản án, quyết định về dân sự của Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành trên thực tế Đây là một vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với lĩnh vực thi hành án dân sự nhằm xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật thi hành án dân sự góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, công tác thi hành án dân sự đang được đặt

ra và là nhiệm vụ cấp bách của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và tất cả công dân Việt Nam Thi hành án dân sự là một lĩnh vực tương đối rộng và phức tạp, vì vậy trước những đòi hỏi khách quan của công tác thi hành án dân

sự, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành án dân sự,

cụ thể là: Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án”, mã số 96-98-207/ĐT do Cục quản lý thi hành án dân sự Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại”, mã số 95-98-114/ĐT do Viện

nghiên cứu khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí

Minh chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: “Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do Viện nghiên cứu khoa học pháp lí thuộc

Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện năm 2003; và công trình nghiên cứu khác, như:

Luận án tiến sĩ luật học của Hoàng Thế Anh (2015), "Giám sát thi hành án dân sự", Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Công Long (2000): “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”; Luận văn thạc sĩ luật học của

Trang 11

Nguyễn Thanh Thủy (2001): “Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự”; Luận văn thạc sĩ luật học của Trần thị Bích Thủy: “Đổi mới tổ chức bộ máy

cơ quan thi hành án dân sự thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh”; Luận văn thạc sĩ luật học của Cù Hoàng Hanh (2008): “Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế”; Luận văn thạc sĩ luật học của Đỗ Thị Lý (2010): “Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Thái Bình”; Hoàng Thọ Khiêm (2006): “Đổi mới tổ chức cơ quan thi hành án”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội; Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Triển khai

áp dụng Luật thi hành án +dân sự trong công tác đào tạo nghiệp vụ thi hành án” do TS Lê Thu Hà, trưởng khoa đào đạo Chấp hành viên và các chức danh

tư pháp khác làm chủ nhiệm; “Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự”, của Nguyễn Thị Khanh, Tạp chí Dân chủ và pháp luật,

số 05/2010; “Công tác cán bộ thi hành án dân sự - Một số vấn đề từ thực tiễn” của Đinh Duy Bằng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 09/2010; “Vướng mắc trong hoạt động thi hành án dân sự” của Ngọc Biên, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 09/2011; “Một số khó khăn sau hai năm áp dụng Luật Thi hành

án dân sự” của Lạc Phong, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 02/2012;

“Nguyên nhân của tình trạng án dân sự tồn đọng” của Hoàng Thế Anh, Tạp

chí Dân chủ và pháp luật, 06/2012; Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình kỹ năng thi hành án dân sự của Học viện tư pháp và một số bài viết trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật,

Tạp chí luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật; Tin thi hành án dân sự,…

Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án dân

sự ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu sâu về những vấn đề chung về thi hành án dân sự; những vấn đề mang tính tổng thể hay những khía cạnh, phạm vi cụ thể khác nhau của thi hành án dân sự trên phạm vi toàn quốc Nhưng đến nay, chưa có

Trang 12

công trình nghiên cứu nào dưới góc độ lý luận và thực tiễn về công tác thi hành án dân sự ở một địa phương cụ thể với những đặc thù riêng biệt của địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh như tỉnh Ninh Bình Do vậy, việc lựa chọn đề

tài "Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình" được xem là một trong

những công trình đầu tiên nghiên cứu về thực tiễn công tác thi hành án dân sự

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên cần phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Luận giải hệ thống lý luận về thi hành án dân sự

- Đánh giá thực trạng hoạt động công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động công tác thi hành án đưa ra phương hướng, yêu cầu và giải pháp để nâng cao chất lượng thi hành án dân sự

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Việc nghiên cứu được thực hiện trên quy định về thi hành án dân sự trong pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình hiện nay

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp cơ bản được sử dụng trong việc nghiên cứu, hoàn thiện luận văn: Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Các phương pháp cụ thể được sử dụng kết hợp, đó là: Phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Thứ nhất: Luận văn đã nghiên cứu tương đối toàn diện và đầy đủ về

“Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình” Kết quả nghiên cứu của luận

văn góp phần làm sáng rõ những vấn đề lý luận về pháp luật thi hành án dân

sự ở Việt Nam nói chung và Ninh Bình nói riêng

Thứ hai: Luận văn đã đi sâu nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng pháp luật thi hành án dân sự hiện hành và liên hệ thực tiễn ở tỉnh Ninh Bình, chỉ ra những kết quả đạt được, nguyên nhân của những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong việc thực thi pháp luật thi hành án dân sự

Thứ ba, luận văn đưa ra các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự từ ngay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025

Trang 14

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu, chỉ đạo, tổ chức hoạt động của công tác thi hành án nhằm tiếp tục phát huy vai trò của công tác thi hành án dân sự nói chung, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội nghĩa ở Việt Nam hiện nay

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thi hành án dân sự Việt Nam Chương 2: Thực tiễn thi hành án dân sự ở Ninh Bình

Chương 3: Phương hướng và giải pháp, điều kiện nâng cao chất lượng

công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới

Trang 15

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự

Học thuyết Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật lần đầu tiên trong lịch sử đã lý giải một cách đúng đắn, khoa học về bản chất của pháp luật và những mối quan hệ của nó với các hiện tượng xã hội khác nhau trong xã hội

có giai cấp, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp Pháp luật: Là hệ thống các quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước bảo đảm thức hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì xã hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị [48, tr 139] Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự chung (qui phạm pháp luật) thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên

cơ sở giáo dục, thuyết phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa [48, tr 143] Pháp luật thi hành án dân sự là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Để làm sáng tỏ khái niệm pháp luật thi hành án dân sự, trước hết cần làm rõ một số khái niệm có liên quan đến khái niệm pháp luật thi hành án dân

sự như: khái niệm thi hành, khái niệm tư pháp, khái niệm thi hành án và khái niệm thi hành án dân sự

Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là "Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [54, tr 1559] Theo từ điển Luật học thì thi hành án là "giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của toà án nhất định có hiệu lực pháp luật" [37, tr 464]

Trang 16

Việc xác định bản chất của thi hành án dân sự vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận cả từ góc độ lý luận và thực tiễn Dựa trên những luận cứ khác nhau, có quan điểm cho rằng:

Quan điểm 1: Thi hành án dân sự là một giai đoạn tố tụng

Thi hành án là gia đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở để tiến hành hoạt động thi hành án Ở giai đoạn này, cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định để đưa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế Thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác về bản chất với các hoạt động hành chính là tổ chức

và quản lý Thi hành án nhằm mục đích thực thi các phán quyết của Tòa án, đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thi hành và thi hành có hiệu qủa trên thực tế Hoạt động thi hành án gắn liền với quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử [49, tr 8] Theo quan điểm này thì thi hành án là giai đoạn nằm trong quá trình quyết vụ án, theo đó giai đoạn tố tụng trước của giai đoạn xét xử là giai đoạn chuẩn bị xét xử, còn thi hành án là giai đoạn xét xử, giai đoạn thực thi các phán quyết của Tòa án trên thực tế Căn cứ duy nhất để thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật Tính lệ thuộc của thi hành án vào công tác xét xử được thể hiện ở việc khẳng định xét xử là tiền đề của thi hành án Trong quá trình thi hành án, vai trò của Tòa án gắn chặt với hoạt động của thi hành án, thể hiện ở trách nhiệm của Tòa án trong việc hoãn thi hành án trong thời gian luật định, hay “xem xét, kháng nghị để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án quyết định có vi phạm thủ tục

tố tụng” khi cơ quan thi hành án kiến nghị Hậu quả pháp lý của việc xem xét theo trình tự này có thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức tiến hành thi hành án của cơ quan thi hành án

Trang 17

Thi hành án với quan điểm này, được hiểu là giai đoạn kết thúc trình tự

tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Quan điểm 2: Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất

hành chính – tư pháp Theo quan điểm này quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án chấm dứt khi tòa án ra phán quyết nhân danh nhà nước Trong đó tòa án đã xác định quyền và nghĩa vụ của các bên còn việc thi hành các phán quyết là một gia đoạn khác, không phụ thuộc vào quá trình tố tụng Thi hành án không phải là gia đoạn tố tụng bởi vì: Thi hành án có mục đích là khác với mục đích tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các

vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [28, tr 21]

Cùng quan điểm trên PGS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng:

Không thể đồng nhất hoạt động thi hành án với hoạt động tố tụng, bởi lẽ hoạt động thi hành án có tính chất chính trị, pháp lý, xã hội của nó Nghiên cứu hoạt động thi hành án hiện nay cần đặt trong vấn đề để xây dựng nhà nước pháp quyền Xét về bản chất, hoạt động thi hành án được thể hiện ở ba phương diện chủ yếu sau:

- Xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quá trình thi hành án

- Tính đặc thù trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án;

- Đặc thù trong các quan hệ về thủ tục thi hành án Quan hệ thủ tục thi hành án có thể bao gồm cả quan hệ tố tụng và quan hệ

Trang 18

khác mang tính hành tính- tư pháp Nhưng cần khẳng định rằng các quan hệ mang tính hành chính - tư pháp chủ yếu hơn Thi hành án

là hoạt động của cơ quan nhà nước Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực, một số công việc Nhà nước có thể xây dựng hành lang pháp lý để thực hiện xã hội hóa hoạt động này.Đây là điều khác so với hoạt động tố tụng, hoạt động tố tụng mang tính quyền lực tư pháp, không

có xã hội hóa

Cùng quan điểm, TS Đinh Trung Tụng cũng cho rằng:

Thi hành án không mang tính chất tố tụng thuần túy mà có nhiều tính chất của giai đoạn mang tính hành chính- tư pháp Ở đây có nhiều điểm khác nhau giữa tố tụng và quá trình thực hiện thi hành án Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi không phải là Tòa án Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang tính hành chính- tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành án kinh tế- tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động và một phần của thi hành án hình sự đối với loại hình phạt không phả là hình phạt tù) [49, tr 12]

Xuất phát từ các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự ở nước ta, nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm cho rằng thi hành án dân sự là hoạt động đặc thù, vừa có tính chất của hoạt động hành chính - tư pháp Điều này thể hiện ở một số điểm sau đây:

- Cơ sở của hoạt động thi hành án là các bản án, quyết định dân sự của Toà án; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng);

- Thi hành án dân sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án; trong quá trình thi hành

án, Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu cơ

Trang 19

quan thi hành án hoãn việc thi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm ) Tuy nhiên, thi hành án lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành dân sự đối với thi hành án dân sự Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa

vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả Tính chấp hành trong thi hành án phản ánh một đặc trưng chứng tỏ nó không đơn thuần

là hoạt động tố tụng thuần tuý Bên cạnh các chủ thể là Tòa án, Viện kiểm sát, chúng ta có thể thấy các chủ thể tham gia vào giai đoạn thi hành án đông đảo

và đa dạng hơn so với các giai đoạn tố tụng trước đó, ví dụ UBND địa phương nơi người phải thi hành án cư trú; cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án làm việc

- Thi hành án và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả với nhau Trong lĩnh vực thi hành án hình sự, nếu ở giai đoạn điều tra, các

cơ quan tiến hành tố tụng không kiên quyết áp dụng đầy đủ, kịp thời các biện pháp ngăn chặn như thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản thì đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đương sự cất giấu, tẩu tán tài sản dẫn đến tình trạng án tồn đọng không thể thi hành được Hoặc nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể, được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc thi hành án sẽ

dễ dàng, nhanh chóng hơn nhiều Ngược lại, nếu bản án, quyết định của Tòa

án được tuyên không khách quan, toàn diện và công bằng, thiếu tính khả thi

sẽ gây cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước Đồng thời, việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời sẽ

có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử

Trang 20

- Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân thì Viện Kiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểm sát chung như trước đây, có nghĩa là không thực hiện chức năng kiểm sát đối với hoạt động hành chính mà chỉ kiểm sát đối với hoạt động tư pháp Tuy nhiên, trong Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân hiện hành vẫn có một chương với nhiều điều quy định về kiểm sát thi hành án Trong thực tiễn, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã ban hành nhiều kháng nghị đối với các quyết định về thi hành án Tuy nhiên, tính chất của kháng nghị trong giai đoạn thi hành án có nhiều điểm không giống với kháng nghị trong giai đoạn xét xử Điều này cho thấy rõ mối quan hệ mật thiết, đan xen giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với cơ quan thi hành án, giữa pháp luật tố tụng tư pháp với pháp luật về thi hành án, giữa quan hệ pháp luật tố tụng với quan hệ pháp luật về thi hành án

- Quá trình thi hành án nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, do đó, các trình tự, thủ tục thi hành án cũng được quy định chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng trước đó vì đều liên quan đến quyền con người, quyền công dân Hơn nữa, yêu cầu đặt ra đối với những người tiến hành các trình tự, thủ tục thi hành

án, kể cả Chấp hành viên trong thi hành án dân sự cũng không thấp hơn những người tiến hành tố tụng trước đó là phải độc lập và tuân theo pháp luật để bảo đảm duy trì sự thật trong bản án, quyết định của Tòa án và tiến tới đạt được sự thật trên thực tế; nếu không độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thì giá trị sự thật mà bản án, quyết định của Tòa án đã xác định sẽ không còn nguyên nghĩa của nó, trừ trường hợp các đương sự có sự thỏa thuận tự nguyện khác trong quá trình thi hành án

- Bản chất của thi hành án là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa

Trang 21

án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình Mục đích cuối cùng của thi hành án là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trên thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của hoạt động hành chính Mặt khác, tính chất chấp hành không chỉ là yêu cầu trong hoạt động thi hành án mà còn là yêu cầu bắt buộc trong các giai đoạn tố tụng trước

đó với ý nghĩa cao nhất là chấp hành các quy định của pháp luật, bản thân pháp luật được Nhà nước ban hành có tính bắt buộc chung mà mọi người phải tôn trọng thực hiện

Như vậy có thể đưa ra khái niệm về thi hành án dân sự như sau: “Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính- tư pháp của Nhà Nước, do các cơ quan thi hành án thẩm quyền tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm bảo thi hành án các bản án hoặc các quyết định về dân sự của Tòa

án hoặc quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền” Trong các văn bản

pháp luật về thì hành án thì chưa có văn bản nào đưa ra khái niệm cụ thể về thi hành án dân sự Dưới góc độ lý luận xung quanh khái niệm “dân sự” trong

thi hành án dân sự có hai cách hiểu khác nhau:

Ý kiến thứ nhất: Tại điều 1 của Bộ luật dân sự năm 2005 cho rằng quan

hệ dân sự bao gồm quan hệ về tài sản và nhân thân phi tài sản phát sinh trong giao lưu dân sự Vì vậy, những bản án, quyết định dân sự trong thi hành án bao gồm bản án, quyết định liên quan đến quan hệ tài sản và nhân thân phi tài sản (như bản án, quyết định về tranh chấp các hợp đồng dân sự, về hôn nhân gia đình và một số loại bản án, quyết định có tính chất dân sự)

Ý kiến thứ 2: “Dân sự” ở đây hiểu theo nghĩa rộng, đó không chỉ bao

gồm các bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại án khác có tính chất dân sự của Tòa án, mà còn bao gồm các bản án, quyết định khác do pháp luật quy định

Trang 22

Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật hiện hành, nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự khác nhau nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự

Đồng tình với ý kiến này, bởi lẽ theo quy định của pháp luật hiện hành, nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự khác nhau nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự như đã nêu

1.1.2 Đặc điểm của thi hành án dân sự

Từ góc độ tiếp cận về khái niệm của thi hành án dân sự, trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự có thể thấy thi hành án dân sự có những đặc điểm sau:

Thứ nhất: Thi hành án mang bản chất hành chính- tƣ pháp

- Tính hành chính thể hiện ở chỗ: Thi hành án là dạng hoạt động chấp

hành, quản lý

+ Là dạng hoạt động chấp hành vì thi hành án chỉ được tiến hành trên

cơ sở các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và trong khuôn khổ luật định; toàn bộ quá trình thi hành án với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản

án, quyết định của Tòa án và theo các quy định cụ thể của pháp luật

+ Là dạng hoạt động quản lý vì thi hành án là sự tác động của pháp luật, của các cơ quan thi hành án tới đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án; phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của

cá nhân, tôn trọng kỉ luật nhà nước

- Tính tư pháp thể hiện ở chỗ: Căn cứ để thi hành án là các bản án và

quyết định của Tòa án và có sự tham gia của các cơ quan tư pháp vào quá

Trang 23

trình thi hành án Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng tính tư pháp trong thi hành

án là tư pháp hiểu theo nghĩa rộng Trong thực tiễn ở nước ta, cơ quan tư pháp thường được hiểu bao gồm Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án Điều này là không đúng Về mặt lý luận, nhiều quốc gia trên thế giới đều xem quyền tư pháp là quyền xem xét và phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp; Tòa án là cơ quan tư pháp độc lập duy nhất Viện Kiểm sát nhân dân chỉ là cơ quan tham gia các hoạt động

tư pháp Ngay cả Bộ Tư pháp về tên gọi là như thế nhưng vẫn không có quyền

tư pháp (quyền phán quyết) mà chỉ là cơ quan quản lý nhà nước về một số lĩnh vực liên quan trong hoạt động tư pháp (luật sư, thi hành án dân sự ) Tương tự như vậy, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án cũng thuộc nhóm cơ quan hành pháp Hệ quả là không thể dựa vào tính tư pháp trong thi hành án

để cho rằng thi hành án là một giai đoạn của tố tụng hành chính Vì vậy, có thể dùng "cái gạch ngang" giữa hành chính và tư pháp để phản ánh bản chất của thi hành án

Tính chất hành chính - tư pháp là một đặc điểm rất quan trọng cần lưu ý trong khi quy định về tổ chức và hoạt động của thi hành án Là hoạt động thuộc trách nhiệm của hệ thống cơ quan hành pháp nên trong các quy định của pháp luật thi hành án phải xác định rõ trách nhiệm chính trong tổ chức, quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án phải thuộc về Chính phủ và Ủy ban nhân dân các địa phương Với đặc điểm là hoạt động mang tính chất tư pháp thì những tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trực tiếp thi hành án (thủ trưởng cơ quan thi hành án, chấp hành viên) phải có tính độc lập tương đối, hoạt động theo luật và chịu trách nhiệm trước Nhà nước Thật khó có thể xác định rõ được mức độ (liều lượng) của tính hành chính và tính tư pháp trong thi hành

án Tuy nhiên, trong thực tiễn, đặc điểm của mỗi loại hình thi hành án cũng như của mỗi nhóm vụ việc trong từng loại hình thi hành án sẽ quy định mức

Trang 24

độ của tính hành chính và tính tư pháp và thông thường trong thi hành án, tính

tư pháp luôn thể hiện ở mức độ hạn chế hơn so với tính hành chính

Thứ hai: Chủ thể bắt buộc trong quan hệ thi hành án dân sự là Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và đương sự (Người được thi hành án, người phải thi hành án)

Quan hệ THADS luôn tồn tại ba chủ thể bắt buộc là cơ quan THADS, Chấp hành viên và các bên đương sự (Người được thi hành án, người phải thi hành án) hình thành trên cơ sở các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Pháp luật Cơ quan thi hành án và Chấp hành viên là chủ thể thực hiện quyền lực Nhà nước để thi hành bản án, quyết định theo quy định Về nguyên tắc tính chủ động, độc lập của Chấp hành viên trong hoạt động nghiệp vụ luôn được tôn trọng, bảo vệ

Ví dụ, đối với việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trong thi hành án dân sự, Chấp hành viên chỉ được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định, đó là: khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy có giá của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; phong tỏa tài khoản, tài sản của người phải thi hành án tại ngân hàng, kho bạc: kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang di người thứ ba giữ; buộc giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất hoặc giao vật, tài sản khác; cấm hoặc buộc phải thi hành án không làm hoặc làm công việc nhất đinh; chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án sau khi người phải thi hành án đã hết thời gian tự nguyện thi hành án (trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án); không được tổ chức cưỡng chế thi hành án trong các ngày nghỉ theo quy định của pháp luật lao đông trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau, mười lăm ngày trước và sau tết nguyên đán, các ngày lễ tết truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án và các

Trang 25

trường hợp khác do Bộ trưởng Bộ tư pháp quy định; việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án: Chấp hành viên phải căn cứ vào nội dung bản án, quyết định, tính chất, mức độ của nghĩa vụ thi hành án, điều kiện của người phải thi hành án, đề nghị của đương sự và tình hình thực tế tại địa phương để áp dụng biện pháp

Thứ 4: Trình tự thủ tục thi hành án dân sự dƣợc tiến thành theo một thủ tục trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định

Trình tự thủ tục THADS là một cơ chế chặt chẽ theo quy định của luật THADS nhằm phục vụ cho chức năng thi hành án Qua nghiên cứu, thủ tục thi hành án phải đảm bảo chính xác bởi lẽ hoạt động thi hành án là để hiện thực hóa quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ THADS Đó là trình tự nhận bản án, quyết định của tòa án nhân dân, nhận đơn yêu cầu thi hành án, ra quyết định thi hành án, xác minh thi hành án, thông báo thi hành án, cưỡng

Trang 26

chế thi hành án… Việc tuân thủ các trình tự này đảm bảo tính dân chủ, công khai, công bằng, đảm bảo cho kết quả của hoạt động thi hành án dân sự là thực thi có hiệu quả các bản án, quyết định của Tòa án Vì vậy, nếu cơ quan thi hành án, Chấp hành viên áp dụng pháp luật thi hành án dân sự không chính xác sẽ dẫn đến hậu quả thực tế rất khó khắc phục

Thứ năm: Thi hành án dân sự đề cao tính chủ động của Chấp hành viên

Tùy từng trường hợp cụ thể, Chấp hành viên được lựa chọn biện pháp thích hợp, chủ động giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình thi hành án (cưỡng chế, kê biên tài sản, ủy thác thi hành án) sao cho việc thi hành án đạt được mục đích và hiệu quả miễn là đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trong thi hành án dân sự, tính chủ động trong hoạt động tác nghiệp của Chấp hành viên được đề cao, Chấp hành viên căn cứ vào các quy định của pháp luật về thi hành dân sự, căn cứ vào tình hình thực tế của vụ việc để lựa chọn các biện pháp thi hành án phù hợp Ví dụ: vụ việc đơn giản, ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án tốt thì Chấp hành viên lựa chọn biện pháp giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành các nghĩa vụ của mình theo đúng phán quyết của tòa án hoặc của trọng tài thương mại (trường hợp người được thi hành án yêu cầu người phải thi hành án thi hành toàn bộ các nghĩa vụ theo quy định của bản án, quyết định của tòa án) Ngược lại nếu sau khi xác minh thấy đương sự có điều kiện để thi hành án nhưng xét thấy người phải thi hành án ý thức chấp hành pháp luật không tốt,

có biểu hiện tẩu tán tài sản hoặc có tính chây ỳ, không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên lựa chọn, áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế theo quy định trong luật thi hành án dân sự (khấu trừ tài khoản, trừ vào tài khoản, thu hồi giấy có giá của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; phong tỏa tài khoản, tài sản của người phải thi hành

Trang 27

án tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc, xử lý tài sản của người phải thi hành án kể cả tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ; buộc giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất hoặc giao vật, tài sản khác; cấm hoặc buộc người phải thi hành án không làm hoặc làm công việc nhất định) để

tổ chức thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của Trọng tài thương mại

1.1.3 Ý nghĩa và vai trò của thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng Bản án, quyết định của Toà án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước

- Thi hành án dân sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử nhằm thi hành bản án, quyết định của Tòa án Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế Với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, thi hành án có mối quan hệ hữu cơ với cơ quan xét xử Nếu mục đích của thi hành án không đạt được thì toàn bộ hoạt động tố tụng trước đó cũng trở nên vô nghĩa Nếu một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự, kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực nhà nước bị xem thường Vì vậy, khi bản án, quyết định được đưa ra thi hành là đảm bảo hiệu lực pháp luật, hiệu lực pháp lý của Nhà nước, góp phần giữ vững kỷ cương xã hội, nâng cao uy tín của Nhà nước trước nhân dân

- Thông qua thi hành án cũng có thể kiểm tra lại quá trình xét xử trước

Trang 28

đó, bản án có thấu tình, đạt lý mới có thể dễ dàng thi hành án trên thực tế, trái lại việc xét xử ra một bản án có sai sót, sẽ khó thi hành án Từ thực tiễn thi hành án mà Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm nhân dân và cán bộ Tòa án

đã tham gia quá trình xét xử có thể rút ra kinh nghiệm để khắc phục những khiếm khuyết nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác, Đồng thời cũng là cơ sở để Tòa án nhân dân tối cao tổng kết, đúc rút kinh nghiệm đưa ra đường lỗi xét xử chung, thống nhất trong toàn ngành

- Thông qua thi hành án, các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật phải chấm dứt các hành vi đó và thực hiện các quyền của mình theo quyết định của Tòa án Qua thi hành án các quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm được khôi phục vì thế bảo đảm thực hiện được mục đích giải quyết

vụ việc dân sự, bảo vệ được lợi ích của nhà nước, bảo hộ được các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân

- Thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ của riêng cơ quan thi hành án mà đó là sự kết hợp với vai trò và trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương; là sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức hữu quan và mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội Thông qua thi hành án dân sự

ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân ngày càng được nâng cao và vai trò trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được đảm bảo, niềm tim của nhân dân vào hệ thống pháp luật, vào bộ máy của Nhà nước ngày càng được vững chắc hơn

1.2 Một số nội dung cơ bản của pháp luật thi hành án dân sự qua các giai đoạn

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ở nước ta tồn tại chế độ Thừa Phát lại Thừa phát lại được tổ chức ở Việt Nam với nhiệm vụ: thông báo Tòa khai mạc và bế mạc, gọi các đương sự, nhân chứng, thi hành lệnh giữ trật tự

Trang 29

tại phiên tòa, tống đạt giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án, thi hành án văn có hiệu lực pháp luật, triệu tập đương sự, lập các vi bằng theo quy định của Pháp luật (Theo quy định của Luật tố tụng dân sự ban hành theo Nghị định ngày 16/3/1010 của Toàn quyền Đông Dương) Thừa phát lại là những công lại được pháp luật giao cho việc làm các truyền phiếu, các việc về tư pháp, việc thi hành các bản án, công văn cũng là công việc nội bộ trong Tòa án (Theo nghị định 111/BTP ngày 02 tháng 02 năm 1950 của Bộ Tư Pháp) Sau cách mạng tháng 8 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, hệ thống cơ quan tư pháp mới được thiết lập trong cả nước, chế độ thừa phát lại được duy trì và chịu sự quản lý của Ban công lại thuộc phòng giám đốc của Bộ Tư pháp.Đến năm 1946 tai sắc lệnh số 13 ngày 20/11/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán đã đặt cơ sở đầu tiên cho tổ chức thi hành án dân sự Việt Nam Tại khoản 3, điều 3 Sắc lệnh này quy định “Ban tư pháp xã có quyền thi hành những mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên bao gồm các bản án, quyết định của Tòa án” Và tại điều 3 của lệnh số 130 ngày 19/7/1946 của Chủ tịch chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định “Trong các xã, thị xã hoặc khu phố

”chủ tịch, phó chủ tịch và thư ký, đều chịu trách nhiệm thi hành các mệnh lệnh hoặc án” Về trình tự thi hành án, Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc thi hành án Hình và Hộ đã quy định cụ thể những nguyên tắc chấp hành, thể thức chấp hành, cách thức thi hành các bản

án và quyết định của Tòa án Cụ thể là:

Về nguyên tắc chấp hành: theo dân sự, thương sự tố tụng, người đương

sự được kiện, muốn chấp hành bản án của mình phải xin ở phòng lục sự một bản trích lục hoặc toàn sao bản án ấy Nhưng việc chấp hành vẫn chịu quyền giám thị của chưởng lý và biện lý Bản thân lục sự của Tòa án phải tự động gửi bản sao bản án cho người đương sự biết và thi hành

Trang 30

Về thể thức thi hành: trong các bản trích lục hoặc bản sao được phòng lục sự cấp cho đương sự, bên dưới phải được lục sự ký: "thừa lệnh Tòa án" Bên chữ ký của lục sự phải có chữ ký của thẩm phán công tố viên "duyệt".Đó

là những bản sao có thể thức chấp hành.Bản sao này chỉ được cấp có một lần Nhưng trong trường hợp đặc biệt, ví dụ: đánh mất bản sao có thể thức chấp hành, ông Chánh án có thể ra mệnh lệnh cho phép phòng lục sự cấp một bản toàn sao khác có thể thức chấp hành Vị chưởng lý và biện lý có nhiệm vụ kiểm soát những thể thức chấp hành này

Về cách thức thi hành: pháp luật đặt ra những công lại riêng để thi hành các án hộ và thương mại, được gọi là các thừa phát lại Tuy nhiên, thừa phát lại trước năm 1945 là lý trưởng, thì nay trong tổ chức tư pháp mới là tư pháp

xã Chức năng này của ban tư pháp xã đã được quy định chính thức trong Sắc lệnh số 13, ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán Khi cần thiết, các vị chỉ huy binh lực sẽ can thiệp vào việc thi hành án

Tuy nhiên, việc dân sự không có một cách thức thi hành duy nhất Tuỳ theo bản chất, mỗi loại án hộ có một cách thức thi hành riêng Các thẩm phán phải thấu triệt những thủ tục chấp hành và phải theo dõi công việc xem

có đạt được kết quả không Nếu cần, thẩm phán nên thân hành đến chứng kiến việc làm của các cơ quan thừa hành Mỗi khi có trở lực trong việc chấp hành, ông biện lý có bổn phận can thiệp để tỏ rõ nhiệm vụ làm cho pháp luật được tôn trọng

Có thể nói rằng, ngay từ những năm đầu của chính quyền cách mạng,

dù phải đương đầu với biết bao khó khăn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ trước sự tấn công của thù trong, giặc ngoài, Nhà nước ta vẫn không ngừng quan tâm xây dựng, kiện toàn tổ chức thi hành án dân sự Bên cạnh đó đã từng bước hình thành pháp luật thi hành án dân sự, xác định

cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự nhằm thể hiện bản

Trang 31

chất của nền Tư pháp nhân dân, công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Tuy còn ở những bước đi ban đầu nhưng tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự đã có những đóng góp quan trọng vào việc hình thành và phát triển của nền Tư pháp mới thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước dân chủ nhân dân Tuy vậy, ở giai đoạn này, tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự vẫn còn rất sơ khai, pháp luật thi hành án dân sự chưa đầy đủ và còn nhiều hạn chế, cần phải được tiếp tục củng cố, hoàn thiện trong giai đoạn tiếp theo

Như vậy, tổ chức thi hành án dân sự đã được hình thành ngay trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám thành công và tồn tại dưới hai hình thức là Thừa phát lại và Ban tư pháp xã Tuy tồn tại hai lực lượng thi hành án nhưng việc thi hành án đều thể hiện quyền lực nhà nước và được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1980

Từ năm 1950 đến năm 1960, công tác thi hành án dân sự có một sự thay đổi lớn về cơ chế quản lý và tổ chức hoạt động, với việc ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về “cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng”, theo đó Điều 19 của Sắc lệnh này quy định: “Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ, mà chính Tòa án huyện hay Tòa

án trên đã tuyên” Theo quy định này, việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây được giao cho Thẩm phán huyện thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Sắc lệnh này đã giao nhiệm

vụ tổ chức thi hành án dân sự cho một cơ quan cấp huyện thay vì cơ quan cấp

xã như trước đây, cho thấy vai trò và vị trí của công tác thi hành án dân sự ngày càng được nâng cao

Bước sang năm 1960, công tác thi hành án tiếp tục có thêm bước phát triển mới, đó là trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Điều 24 Luật Tổ chức Toà án

Trang 32

nhân dân năm 1960 đã quy định: “Tại các Toà án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án, quyết định hình sự” Như vậy, thay bằng quy định Thẩm phán vừa thực hiện công tác xét

xử, vừa kiêm nhiệm công tác thi hành án dân sự thì theo quy định mới này từ năm 1960, tại các Tòa án nhân dân đã có nhân viên chấp hành án chuyên trách thực hiện nhiệm vụ thi hành dân sự Ngày 14 tháng 11 năm 1974, Tòa

án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định thành lập Phòng chỉ đạo thi hành

án Trong thời kỳ này, Phòng chỉ đạo thi hành án là một Phòng hoạt động độc lập dưới sự chỉ đạo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, giúp Chánh án Tòa

án nhân dân tối cao nắm tình hình, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc công tác thi hành án của Chấp hành viên tại Tòa án nhân dân các cấp; xây dựng các văn bản chỉ đạo chung về thi hành án

Có thể nói, từ năm 1960 đến năm 1980 ngành Tòa án nhân dân đã thực

sự quan tâm tới việc xây dựng, phát triển tổ chức và hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự Trong thời kỳ này, các cơ quan của Nhà nước và Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành các văn bản quy định cụ thể, rõ ràng về nguyên tắc, trình tự, thủ tục về thi hành án dân sự và được áp dụng thống nhất trong

cả nước; Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho Chấp hành viên và nhân viên thi hành án về lý luận chính trị và nghiệp vụ, tăng cường phương tiện phục vụ công tác thi hành án cho Chấp hành viên và nhân viên thi hành án Đồng thời với việc ra đời chức danh Chấp hành viên và sự phát triển đội ngũ Chấp hành viên trong Tòa án nhân dân các cấp, hoạt động của đội ngũ Chấp hành viên đã góp phần bảo đảm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 33

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1993

Ngày 18 tháng 12 năm 1980, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ hoà bình, đánh dấu một dấu mốc lịch sử quan trọng khi đất nước ta chuyển mình sang một giai đoạn mới: Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước Hiến pháp năm 1980 đã đưa ra yêu cầu Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 12) Với tinh thần thượng tôn pháp luật đó, Hiến pháp năm 1980 cũng đã lần đầu tiên ghi nhận thành nguyên tắc hiến định về giá trị thi thành của các bản án, quyết định: Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm túc chấp hành (Điều 137) Đây chính là những cơ sở pháp lý quan trọng giúp ngành Thi hành án dân sự có những chuyển biến quan trọng trong lịch sử phát triển của mình trong giai đoạn 1981-1989

Tiếp theo, Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng đã đổi tên Hội đồng Chính phủ thành Hội động Bộ trưởng, trong Luật này có ghi danh sách các

Bộ, trong đó có Bộ Tư pháp, sau đó ngày 22 tháng 11 năm 1981, Nghị định số 143/HĐBT đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký ban hành Sau khi được tái lập, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ nhiều hơn và có hệ thống tổ chức bộ máy lớn hơn so với Bộ Tư pháp trước đây Trong đó, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ quản lý Toà án địa phương, trong đó có công tác thi hành án dân sự (Vụ Quản lý Toà án)

Theo quy định tại Thông tư số 08-TT ngày 06 tháng 01 năm 1982 hướng dẫn thực hiện Nghị định 143-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức của các cơ quan thuộc hệ thống tư pháp, trong cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp có Phòng quản lý Toà án tham

Trang 34

mưu cho Sở Tư pháp quản lý về mặt tổ chức các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã; phối hợp chặt chẽ với Toà án nhân dân cấp tỉnh trong công tác này; Quản lý công tác tư pháp khác tại địa phương bao gồm cả công tác chấp hành án Đối với Ban Tư pháp huyện có nhiệm vụ : Chấp hành các án dân sự

và hôn nhân gia đình do Toà án huyện xét xử hoặc Toà án tỉnh ủy nhiệm Đối với Ban Tư pháp xã có nhiệm vụ: Tham gia đôn đốc việc thi hành các bản án dân sự và hôn nhân gia đình thuộc phạm vi xã do Toà án huyện và Ban Tư pháp huyện chuyển về

Cũng ở thời điểm này, Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 7 năm 1981 đã giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao quản lý Toà án nhân dân địa phương về mặt tổ chức Nghị định số 143-HĐBT ngày 22 tháng 11 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của

Bộ Tư pháp quy định Bộ Tư pháp có chức năng quản lý Toà án nhân dân địa phương về mặt tổ chức và trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy chế chấp hành án Ngày 01 tháng 01 năm 1982, Toà

án nhân dân tối cao đã bàn giao nhiệm vụ quản lý công tác thi hành án trong phạm vi cả nước sang Bộ Tư pháp Ngày 18 tháng 7 năm 1982, Bộ Tư pháp

và Toà án nhân dân Tối cao đã ký Thông tư liên ngành số 472 về công tác quản lý thi hành án trong thời kỳ trước mắt, trong đó quy định:

- Tại các Toà án nhân dân cấp tỉnh có Phòng thi hành án nằm trong cơ cấu bộ máy và biên chế của Toà án để giúp Chánh án chỉ đạo công tác thi hành án

- Tại các Toà án cấp huyện có Chấp hành viên hoặc cán bộ làm công tác thi hành án dưới sự chỉ đạo của Chánh án

Ngày 28 tháng 8 năm 1989, Pháp lệnh Thi hành án dân sự - một hình thức văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất, lần đầu tiên đã được ban hành, đặt

Trang 35

cơ sở pháp lý cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động thi hành

án dân sự Trên cơ sở đó, quy chế Chấp hành viên đã được ban hành kèm theo Nghị định số 68/HĐBT ngày 06 tháng 3 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng Theo quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 và Quy chế chấp hành viên thì chỉ có chấp hành viên là người được nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án (trước đây việc thi hành án ngoài Chấp hành viên còn có thể do cán bộ thi hành án thực hiện) Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định số lượng biên chế Chấp hành viên, cán bộ thi hành án cho từng Tòa án địa phương Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên do Bộ trưởng

Bộ Tư pháp quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân địa phương Chấp hành viên được bổ nhiệm ở các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện

Với việc ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989, cơ chế thi hành án đã có bước thay đổi căn bản Theo Pháp lệnh này, cơ chế kết hợp quyền tự định đoạt của đương sự với sự chủ động của Cơ quan thi hành án và Chấp hành viên đã tạo ra sự phát triển mới trong công tác thi hành án dân sự Quyền tự định đoạt của đương sự, một trong những nguyên tắc đặc trưng của

tố tụng dân sự, trước đây mới chỉ được áp dụng trong giai đoạn xét xử, thì nay

đã được vận dụng trong giai đoạn thi hành án dân sự Thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập tiếp theo giai đoạn xét xử, trong giai đoạn này người được thi hành vẫn có quyền tự định đoạt quyền lợi của mình, có quyền yêu cầu người phải thi hành án thi hành những phán quyết của Tòa án, nhưng cũng có quyền tự hòa giải, thỏa thuận với người phải thi hành án về phương thức thi hành, thậm chí không yêu cầu người phải thi hành án thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án Quyền tự định đoạt của đương sự đã trở thành một nguyên tắc quan trọng trong công tác thi hành án dân sự Tuy nhiên, Pháp lệnh năm 1989 vẫn có những quy định về quyền chủ

Trang 36

động thi hành của cơ quan thi hành án trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân

Cùng với sự đổi mới của cơ chế thi hành án, đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án cũng không ngừng được củng cố và tăng cường Từ chỗ Thẩm phán vừa làm nhiệm vụ xét xử, vừa tổ chức thực hiện nhiệm vụ thi hành án, đội ngũ cán bộ thi hành án đã được chuyên môn hóa, có chức danh, tiêu chuẩn riêng và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc thực hiện các phán quyết của Tòa án

Tuy nhiên, mặc dù cơ chế thi hành án đã từng bước được hoàn thiện, đội ngũ cán bộ làm công tác này được củng cố, tăng cường một bước, nhưng

sự chỉ đạo điều hành công tác thi hành án vẫn chưa được thay đổi phù hợp

Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên thuộc Tòa án, do Tòa án trực tiếp chỉ đạo về nghiệp vụ và chịu trách nhiệm báo cáo cấp trên về kết quả của hoạt động thi hành án Mọi quyết định quan trọng trong thủ tục thi hành án đều thuộc thẩm quyền của Chánh án Chấp hành viên với trách nhiệm là “Người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Tòa án” thực ra chỉ là người thừa hành sự chỉ đạo của Chánh án, không có quyền năng thực sự để đảm bảo thực thi nhiệm vụ của mình Mặt khác, Chánh án với tư cách là người chịu trách nhiệm về tổ chức và hoạt động xét xử phải đồng thời là người chỉ đạo việc thi hành các phán quyết của Tòa án, dẫn đến tình trạng quá tải về công việc, có nơi, có lúc chưa giải quyết kịp thời các yêu cầu thi hành án đặt ra Hơn nữa, Tòa án vừa là cơ quan xét xử duy nhất, vừa là cơ quan làm nhiệm vụ thi hành án, dẫn đến tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, chưa thực sự đảm bảo sự khách quan, công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, gây ra sự băn khoăn, lo lắng trong nhân dân về hiệu quả công tác này

Trang 37

Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Toà án nhân dân tối cao trong công tác quản lý Toà án địa phương diễn ra thuận lợi trong thời gian đầu nhưng từ năm 1989 đã xuất hiện những ý kiến khác nhau về trách nhiệm quản lý Toà án địa phương

Do trọng tâm của Tòa án là xét xử nên trong một thời gian dài tổ chức hoạt động thi hành án chưa được quan tâm đầy đủ Số cán bộ giỏi thường được bổ sung sang làm Thẩm phán, đội ngũ cán bộ luôn luôn bị xáo trộn không được quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, chế độ, chính sách không được chú ý đúng mức Lực lượng chấp hành viên, cán bộ thi hành án vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho hoạt động thi hành án hầu như không được trang bị; quản lý Nhà nước về công tác thi hành án bị buông lỏng; số việc tồn đọng chưa được thi hành chiếm tỷ lệ cao;… điều này đã vi phạm trật tự kỷ cương Nhà nước, vi phạm pháp chế XHCN, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật

1.2.4 Giai đoạn từ 1993 đến nay

Đây là giai đoạn công tác thi hành án dân sự được chuyển giao hoàn toàn từ Tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ thông qua việc Quốc hội Khóa IX ban hành Nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành án dân sự từ Toà án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 266-TTg ngày 02/6/1993

về việc triển khai việc bàn giao và tăng cường công tác thi hành án dân sự và liên ngành giữa Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ, Bộ Tài chính và Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư liên ngành số 01-TTLN ngày 26/5/1993 hướng dẫn việc bàn giao công tác thi hành án dân sự và Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993

Trang 38

Những cơ sở pháp lý quan trọng này đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cải cách về công tác Thi hành án dân sự từ đó đến nay Giai đoạn từ năm 1993 đến nay đã chứng kiến sự phát triển không ngừng của ngành Thi hành án dân

sự cả về thể chế, tổ chức bộ máy và đội ngũ Chấp hành viên, công chức Thi hành án dân sự

Trên cơ sở Pháp lệnh Thi hành án dân sự ngày 21/4/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/CP ngày 02/6/1993 quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự và Chấp hành viên Theo quy định của Nghị định 30/CP, các

cơ quan Thi hành án dân sự gồm có Phòng Thi hành án thuộc Sở Tư pháp, Đội Thi hành án thuộc Phòng Tư pháp; các Phòng Thi hành án cấp quân khu

và tương đương Ở Trung ương, Cục Quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có nhiệm vụ tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý tổ chức, chỉ đạo hoạt động thi hành án dân sự trong phạm vi toàn quốc

Như vậy, kể từ ngày 01/7/1993, hệ thống tổ chức thi hành án dân sự được xây dựng theo cơ cấu từ Trung ương đến cấp huyện, do Chính phủ thống nhất quản lý và chỉ đạo

Trong thời gian này, công tác thi hành án dân sự ngày càng trở nên nặng nề hơn Các cơ quan thi hành án dân sự được bổ sung nhiệm vụ tổ chức thi hành các bản án, quyết định về kinh tế, lao động, quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hành chính; bản án, quyết định của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài

đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành; giá trị tiền, tài sản phải thi hành ngày càng lớn, tính chất ngày càng phức tạp Đứng trước những khó khăn, thử thách mới, ngành Tư pháp nói chung và Hệ thống Thi hành án dân

sự nói riêng đã có nhiều nỗ lực vượt bậc Đảng, Nhà nước ta đã dành sự quan tâm to lớn đối với công tác thi hành án dân sự Trong điều kiện khó khăn

Trang 39

chung của đất nước, Chính phủ vẫn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án cả về kinh phí, phương tiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị và biên chế nhằm bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao Lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường xuyên theo dõi, cho ý kiến chỉ đạo về công tác tư pháp, nhất là công tác thi hành án dân sự Tại các kỳ họp, Quốc hội đều nghe và cho ý kiến đối với báo cáo của Chính phủ về công tác thi hành án Nhờ đó, công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn này đã đạt được kết quả quan trọng, từ năm

1993 đến hết năm 2003, các cơ quan Thi hành án dân sự đã thi hành xong 1.195.754 việc, thu được trên 9.697 tỷ đồng Chính vì vậy, tại Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự đã ghi nhận: "Hệ thống tổ chức các cơ quan Thi hành án dân sự đã được hình thành trong cả nước, công tác thi hành án dân sự đã được triển khai và hoạt động có hiệu quả bước đầu, làm giảm đáng kể số lượng án tồn đọng"

Ngày 14/01/2004, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 với nhiều đổi mới quan trọng về thi hành án dân sự, trong đó có cả đổi mới về tổ chức, cán bộ các cơ quan thi hành án dân sự và trình tự, thủ tục thi hành án dân sự Trên cơ sở của Pháp lệnh này, ngày 11/4/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2005/NĐ-CP Theo quy định của Nghị định số 50/NĐ-CP, Cục Thi hành án dân sự trực thuộc Bộ Tư pháp được giao thêm nhiều nhiệm vụ quan trọng như tổ chức áp dụng thống nhất pháp luật về thi hành án dân sự trong toàn quốc, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo về thi hành án; giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý theo ngành dọc đối với cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện;… Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết này đã chỉ

rõ “Chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển

Trang 40

giao tổ chức và công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp, giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án…”

Các cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh , cấp huyện, từ chỗ là Phòng Thi hành án thuộc Sở Tư pháp, Đội Thi hành án thuộc Phòng Tư pháp trở thành hệ thống cơ quan tương đối độc lập Thi hành án dân sự cấp tỉnh là cơ quan chịu sự quản lý, chỉ đạo của Bộ Tư pháp về tổ chức, cán bộ, công chức, kinh phí và nghiệp vụ; chịu sự quản lý, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

về mặt nhà nước theo quy định của pháp luật Thi hành án dân sự cấp huyện trực thuộc và chịu sự quản lý, chỉ đạo của Thi hành án dân sự cấp tỉnh về kinh phí và nghiệp vụ; chịu sự quản lý, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp huyện về mặt nhà nước theo quy định của pháp luật Đội ngũ cán bộ thi hành án dân sự tiếp tục được củng cố, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng; cơ sở vật chất, trụ sở làm việc, kinh phí hoạt động của các cơ quan Thi hành án được tăng cường Nhờ đó, công tác thi hành án dân sự ngày càng có sự chuyển biến tích cực, kết quả thi hành án về việc và tiền năm sau cao hơn năm trước, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ vững trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Để tiếp tục củng cố và hoàn thiện về tổ chức, bộ máy và cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thúc đẩy công tác thi hành án dân sự ngày càng hiệu quả, ngày 14/11/2008, Quốc hội khoá 12 đã thông qua Luật Thi hành án dân sự năm

2008 Ngày 09/9/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 74/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân

sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự Theo đó, hệ thống các cơ quan Thi hành án dân sự được xác định rõ hơn theo nguyên tắc quản lý tập trung, thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện, với một vị thế mới, tương

Ngày đăng: 13/05/2016, 09:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Kết quả thi hành về việc  45 - Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh ninh bình
Bảng 2.1 Kết quả thi hành về việc 45 (Trang 7)
Bảng 2.1: Kết quả thi hành về việc - Thực tiễn thi hành án dân sự ở tỉnh ninh bình
Bảng 2.1 Kết quả thi hành về việc (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w