1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN HÓA ẨM THỰC TRONG THƠ NÔM THẾ KỶ XVXVII

99 454 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 593 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VĂN HÓA ẨM THỰC TRONG THƠ NÔM THẾ KỶ XVXVII 1. Trong tiến trình văn học Việt Nam trung đại, thơ Nôm Đường luật là một bộ phận quan trọng và đạt được nhiều thành tựu trên cả phương diện nội dung phản ánh và nghệ thuật biểu hiện. Trong đó, giai đoạn thế kỷ XVXVII như là giai đoạn mở đầu, nhưng cũng là giai đoạn đã đạt được hầu hết các thành tựu đó. Nếu Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là cái “mốc” ở vị trí hàng đầu thì sự xuất hiện của Hồng Đức Quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và các văn nhân thời Hồng Đức sau gần nửa thế kỷ đã khẳng định vị trí xứng đáng của dòng thơ tiếng Việt trong nền văn học dân tộc. Còn thế kỷ XVI phải kể đến cây đại thụ Nguyễn Bỉnh Khiêm với tập thơ Bạch Vân Quốc ngữ thi tập và thế kỷ XVII là Khâm định thăng bình bách vịnh của Trịnh Căn. Trong đó, các sáng tác thơ Nôm Đường luật giai đoạn này thường chuyển tải những nội dung gắn với đời sống dân tộc vào trong tác phẩm của mình. Văn hóa ẩm thực cũng là một trong những yếu tố được các thi nhân ít nhiều phản ánh để viết nên những vần thơ đầy ý nghĩa. Văn hoá ẩm thực được chúng tôi quan niệm là những sinh hoạt ăn uống riêng của con người, đưa con người phân biệt với các loài động vật và ngày càng được nâng lên thành ứng xử, thành nét đẹp, nét văn minh của xã hội loài người. Qua ăn uống, có thể thấy nhiều phương diện khác của đời sống con người như cách sống, quan niệm thẩm mĩ,… Vì vậy, nghiên cứu văn hoá ẩm thực của các chủ thể nào đó không chỉ thấy vấn đề sinh hoạt ẩm thực (ăn gì, uống gì, ăn thế nào, uống ra sao,…) mà còn thấy được các phương diện khác của các chủ thể ấy. Áp dụng vào nghiên cứu văn hoá ẩm thực trong thơ Nôm Đường luật thế kỷ XVXVII, chúng ta sẽ thấy điều đó.

Trang 1

VĂN HÓA ẨM THỰC

TRONG THƠ NÔM THẾ KỶ XV-XVII

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu 10

4 Mục đích nghiên cứu 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 11

7 Cấu trúc của luận văn 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 13

1.1.Văn hóa ẩm thực 13

1.2.Biểu hiện văn hóa ẩm thực trong văn học 16

1.3 Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII 19

1.3.1 Khái quát về thơ Nôm Đường luật 19

1.3.2 Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII 21

1.3.3 Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu 24

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA ẨM THỰC TRONG THƠ NÔM THẾ KỶ XV – XVII 31

2.1 Văn hóa ăn 31

2.1.1 Các món ăn 32

2.1.2 Cách ăn 38

2.2.Văn hóa uống 42

2.2.1 Các đồ uống 42

2.2.2 Cách uống 48

Tiểu kết chương 2 52

Chương 3 VAI TRÒ VĂN HÓA ẨM THỰC VỚI VIỆC THỂ HIỆN NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRONG THƠ NÔM THẾ KỶ XV-XVII 53

3.1 Văn hoá ẩm thực với việc thể hiện con người tác giả 53

3.1.1 Con người trần thế 53

3.1.2 Con người thanh cao 57

Trang 3

3.1.3 Con người nghệ sĩ 62

3.2 Văn hoá ẩm thực với việc thể hiện bức tranh đời sống 67

3.2.1 Đời sống tha hóa 67

3.2.2 Đời sống bình dị dân dã 71

3.2.3 Đời sống thái bình thịnh trị 76

Tiểu kết chương 3 79

C KẾT LUẬN 80

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

E PHỤ LỤC

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong đời sống của con người, việc ăn uống luôn là những nhu cầuthiết yếu không thể thiếu Ở mỗi thời đại khác nhau, vấn đề ăn uống cũngđược quan tâm ở mức độ khác nhau Thưở bình minh của nhân loại, conngười đã tìm cách để duy trì cuộc sống của mình bằng săn, bắt, hái, lượm.Tiến gần hơn với xã hội văn minh, con người đã biết ăn chín, uống sôi, nhưngvẫn ăn chủ yếu cốt để no Cho đến khi đời sống văn minh, cải thiện hơn, conngười chú ý đến ăn ngon, mặc đẹp, đến cách ăn uống, ứng xử với việc ănuống theo những chuẩn mực hay quy tắc văn hoá Vấn đề ăn uống không đơnthuần là hoạt động vật chất mà còn là hoạt động tinh thần Nhiều bài học củacuộc sống được hình thành từ chuyện ẩm thực, như: “miếng ăn miếng nhục”,

“có thực mới vực được đạo”, “ăn trông nồi ngồi trông hướng”, “một miếnggiữa đàng bằng một sàng xó bếp”, “lời chào cao hơn mâm cỗ”, “học ăn họcnói học gói học mở”, Thông qua cách ăn uống, có thể hiểu được nét văn hóavật chất, tinh thần, tình cảm, tri thức của một con người hay một cộng đồng,dân tộc; khắc họa cơ bản nét đặc sắc của cá nhân, cộng đồng, gia đình, làngxóm, vùng miền, quốc gia, Nó còn chi phối cách ứng xử và giao tiếp của cánhân, cộng đồng tạo nên nét đặc thù của cộng đồng ấy Qua ăn uống và nghệthuật chế biến món ăn, sẽ thấy được cách ứng xử giao tiếp con người đối đãivới nhau như thế nào, quan niệm về cuộc sống, về nhân tình thế thái rasao,v.v… Từ đó, ẩm thực trở thành một “mã văn hoá” để nhìn nhận các hiệntượng đời sống, trong đó có văn học, và thông qua văn học chính là cuộc đời

1.2 Trong dòng chảy văn học viết trung đại, thơ Nôm Đường luật ViệtNam ra đời khá sớm, từ thế kỷ XIII và ở thế kỷ XV-XVII đã đạt được những

thành tựu rực rỡ Trước tiên, phải kể đến bông hoa đầu mùa Quốc âm thi tập

mà Nguyễn Trãi đem đến cho văn học nước nhà Tập thơ Nôm này đã đánh

Trang 5

dấu một thể loại mới trên cơ sở tiếp thu, vận dụng một thể loại có sẵn trongvăn học Trung Quốc Nhà “khai sơn phá thạch” Nguyễn Trãi đã có công laolớn trong việc dân tộc hóa một thể loại ngoại nhập để không còn, gò bó, chặt

chẽ nữa đưa nó về gần hơn với các thể thơ dân tộc Tiếp đó là Hồng Đức

Quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập, thơ văn phủ chúa Trịnh có xu

hướng phá cách thơ luật không chỉ trên phương diện hình thức mà cả phươngdiện nội dung từ ước lệ, tao nhã sang xu hướng bình dị Một trong những vấn

đề được phản ánh trong các sáng tác trên phải kể đến đời sống ẩm thực, vănhoá ẩm thực Thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và vănthần, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Trịnh Căn đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc

có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của thơ Nôm Đường luật ViệtNam Vì vậy, từ trước đến nay thơ Nôm của các tác giả trên đã thu hút sựquan tâm của rất nhiều nhà phê bình, nghiên cứu và đã có không ít nhữngcông trình đi sâu nghiên cứu những giá trị nội dung và nghệ thuật của các tậpthơ trên ở nhiều góc nhìn khác nhau Khi khảo sát thơ Nôm giai đoạn XV-XVII chúng tôi nhận thấy có một phần không nhỏ trong những sáng tác Nômcủa giai đoạn này đề cập đến các món ăn, đồ uống để nói lên những nét sinhhoạt văn hóa, bức tranh đời sống xã hội, thể hiện con người của mỗi tác giả.Nói khác đi, trong thơ Nôm thế kỉ XV-XVII đã tồn tại một văn hoá ẩm thựcriêng thực sự Song chưa có một công trình nào nghiên cứu tổng thể về vấn đềvăn hóa ẩm thực trong thơ Nôm giai đoạn này Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài

“Văn hóa ẩm thực trong thơ Nôm thế kỷ XV-XVII” với hi vọng mở ra hướng

tiếp cận mới và đầy triển vọng, sẽ mang đến những tri thức mới, những đánhgiá đầy đủ, sâu sắc hơn cho thơ Nôm thế kỷ XV-XVII

1.3 Những sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,

Lê Thánh Tông chiếm một phần không nhỏ trong chương trình ngữ văn phổ

thông cũng như các trường cao đẳng, đại học Lựa chọn đề tài Văn hóa ẩm

Trang 6

thực trong thơ Nôm thế kỷ XV-XVII có ý nghĩa thiết thực góp phần đổi mới về

nội dung và phương pháp giảng dạy ngữ văn trong nhà trường Bản thânchúng tôi là người thực hiện đề tài này đang trực tiếp làm công tác giảng dạymôn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông nên kết quả của đề tài sẽ lànguồn tư liệu tham khảo bổ ích khi giảng dạy thơ Nôm của các tác giả trên.Mặt khác, bên cạnh phương pháp truyền thống là truyền dạy tri thức thì xuhướng đổi mới giáo dục những năm gần đây đã thay đổi chương trình từ địnhhướng nội dung sang phát triển năng lực, từ dạy học đơn môn sang dạy họctích hợp, liên môn liên ngành, phát huy ở người học tính chủ động, sáng tạothì thông qua việc nghiên cứu văn hóa ẩm thực, cái nhìn về văn hóa ẩm thựctrong thơ Nôm góp phần vào việc giáo dục nhân cách, tri thức, lối sống chohọc sinh bắt nguồn từ thực tế cuộc sống

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong những năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Nôm

Đường luật thế kỷ XV-XVII như: Văn học thời Lý, Văn học thời Trần của Ngô Tất Tố (Nxb Mai Lĩnh, 1942); Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (Nxb Đông pháp, 1943); Văn học Việt Nam thời Lê mạt Nguyễn

sơ của Lê Trí Viễn (Liên Khu V xb, 1951); Lịch sử văn học Việt Nam của

Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Nxb Giáo

dục,1961-1963); Văn học Việt Nam của Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp,1971,1976,1977); Văn học

Việt Nam thế kỷ X-nửa đầu thế kỷ XVIII do Đinh Gia Khánh chủ biên (1978);

“Lời giới thiệu” Hồng Đức Quốc âm thi tập (1982) của Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên; “Lời giới thiệu” Thơ văn Lê Thánh Tông của Mai Xuân Hải (1986); Đặc điểm lịch sử văn học Việt Nam của Lê Trí Viễn (1987); “Lời giới thiệu” Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm Bùi Văn Nguyên (1989); Đặc trưng của

Văn học trung đại Việt Nam của Lê Trí Viễn (1996); Thơ Việt Nam thơ Nôm

Trang 7

Đường luật từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX (1997) của Hà Xuân Liêm; Thơ Nôm Đường luật của Lã Nhâm Thìn (Nxb Giáo dục, 1998); Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam của Trần Đình Sử (1999), Văn học trung đại Việt Nam (tập 1) của Nguyễn Đăng Na (2006), “Lời giới thiệu” Tổng tập văn học Nôm của Nguyễn Tá Nhí (2008), Giáo trình văn học trung đại Việt Nam tập 1

của Lã Nhâm Thìn (2012)… và nhiều công trình nghiên cứu khác nữa

Ngoài các công trình kể trên, những năm gần đây đã có khá nhiều khóaluận tốt nghiệp, luận văn, luận án đi vào nghiên cứu thơ Nôm giai đoạn XV-XVII chủ yếu trên phương diện nội dung (yêu nước, yêu thiên nhiên, phảnánh đời sống xã hội, con người tác giả) và nghệ thuật (ngôn ngữ, hình ảnh,nhịp điệu, thể loại ) của những tập thơ tiêu biểu cho thế kỷ XV-XVII như

Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng Đức Quốc âm thi tập của Lê Thánh

Tông và Hội Tao Đàn, Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm,

Khâm Định thăng bình bách vịnh thơ của chúa Trịnh Căn các công trình đó

đều ít nhiều nhắc đến các yếu tố ẩm thực Tổng hợp lại, khi nghiên cứu về vănhóa ẩm thực trong thơ Nôm Đường luật ở giai đoạn này chúng tôi nhận thấy

có hai hướng nghiên cứu sau:

Một là, những nghiên cứu đi vào khai thác các chi tiết ẩm thực theo hướng tự phát, không tập trung, chỉ nói đến ẩm thực như một hiện tượng nội dung nhỏ nằm trong các nội dung khác quan trọng hơn của thơ Nôm thế kỷ XV – XVII chứ chưa đặt ra thành vấn đề riêng Ở đó các tác giả

thường đi phân tích nội dung ý nghĩa của những chi tiết ẩm thực như nhữngchất liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu khác như: phản ánh chủ đề, đề tài

về thiên nhiên, cuộc sống con người, xã hội, đất nước hay nghiên cứu về cuộcđời tác giả, nghiên cứu tác phẩm, nghiên cứu về đặc trưng thể loại hay lịch sử

phát triển văn học Chẳng hạn, trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ X- nửa

đầu thế kỷ XVIII của Đinh Gia Khánh (Nxb Đại học và trung học chuyên

nghiệp,1978) có trích dẫn nhiều bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi nằm trong

Trang 8

Quốc âm thi tập như: Ngôn chí- bài thứ 9, Mạn thuật- bài thứ 1, Thuật bài thứ 23, Trần tình- bài thứ 3, Ngôn chí- bài thứ 3,11,24 đều là những bài có

hứng-nhắc đến chi tiết ẩm thực nhưng không nhằm mục đích nói về đề tài ẩm thực

mà để nói về đề tài thiên nhiên và bức tranh đời sống của Nguyễn Trãi những năm tháng ẩn dật ở Côn Sơn “Phải hòa mình vào cuộc sống ở nông thôn và

yêu mến cuộc sống thì mới có thể nói về sản vật và phong vị quê hương một cách thân thiết như vậy Quả núc nác, rau mồng tơi, hạt kê, củ khoai, bè rau muống, luống dọc mùng, khóm vầu, bụi tre, củ ấu, quả ổi, dưa muối là những thứ vốn rất quen thuộc với nhân dân nhưng lại vốn rất xa lạ với thơ văn bác học Những thứ ấy đã được đưa vào thơ nôm Nguyễn Trãi một cách rất tự nhiên” [36, tr.401].

Hay trong cuốn Văn chương Nguyễn Trãi, (NXB Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, 1984), Bùi Văn Nguyên đã đi sâu tìm hiểu những chủ đềchính trong thơ Nguyễn Trãi, ở đó nổi bật nên ba chủ đề: tình nhà và nợ nước,hoài bão và hiện thực, thiên nhiên và con người Trong chủ đề thiên nhiên vàcon người có đề cập đến văn hóa ẩm thực trong thơ Nguyễn Trãi để thấy đượctấm lòng ưu thời mẫn thế của Nguyễn Trãi với dân, với nước

Hoặc ở cuốn Thơ Nôm Đường luật của Lã Nhâm Thìn (1998), tác giả

dành nhiều trang sách thống kê chi tiết, tìm hiểu cụ thể phần hệ thống chủ đề

và đề tài trong các tập thơ Nôm Đường luật tiêu biểu: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồng Đức

Quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông Nét đặc sắc ở chủ đề thiên nhiên trong

thơ Nôm Đường luật vừa kỳ thú vừa bình dị, mỹ lệ song không kém phần ấm

áp hơi thở của cuộc sống con người Những hình ảnh bình dị gắn với nhữngsinh hoạt ăn uống đời thường như: bè rau muống, lảnh mồng tơi, cây núc nác,

củ khoai, củ ấu, con kê, con cóc vốn xa lạ với thơ chữ Hán lại xuất hiệnnhiều trong thơ Đường luật Nôm

Trong bài “Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi”, Nguyễn Thiên Thụ đã viết: “Nguyễn Trãi đã thực sự coi thiên nhiên là bằng hữu, là nguồn yên vui

Trang 9

trong đời Nguyễn Trãi đã thực sự hòa mình với thiên nhiên từ khi tiên sinh rời kinh đô, trở về ẩn dật ở nơi núi rừng Thanh – Tĩnh…” [36,187] Trong

khoảng thời gian ở ẩn đó, Nguyễn Trãi thực sự đắm mình vào thiên nhiên, gầngũi với nếp sinh hoạt đời thường với những bữa ăn uống đạm bạc

Lã Nhâm Thìn tác giả cuốn Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt

Nam từ góc nhìn thể loại (2009), khi phân tích bài Thói đời của Nguyễn Bỉnh

Khiêm có những câu thơ xuất hiện chi tiết liên quan đến ẩm thực như cơm,rượu và các hương vị món ăn như “Mặn nhạt, chua cay lẫn ngọt bùi”, “Cònbạc, còn tiền, còn đệ tử/ Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi” nhưng không dùng để

phản ánh ẩm thực mà nhằm nói đến bức tranh đời sống xã hội“đảo điên,

trắng đen, phải trái, tốt xấu, thật giả tất cả đều lẫn lộn khó có thể phân biệt được… nhà thơ trực tiếp miêu tả hiện trạng xã hội, trực tiếp nói lên sự thực

về quan hệ giữa con người với con người… tiền bạc thay thế cho tình người, của cải thay thế cho đạo đức” [68, tr 67] Hay khi phân tích bài Nhàn của

Nguyễn Bỉnh Khiêm tác giả bài viết cũng không đặt ra vấn đề ẩm thực dù nói

đến món ăn nhưng để thể hiện cuộc sống con người tác giả chất phác, đơn sơ, đạm bạc mà thanh cao của bậc ẩn sĩ “Sự đạm bạc là ở những thức ăn quê

mùa, dân dã như măng trúc, giá đỗ Các món ăn đạm bạc cây nhà lá vườn này là mình tự lo, là công sức của chính mình Ăn đã vậy còn ở, còn sinh hoạt? Cũng tắm hồ, tắm ao như bao người dân quê khác”[68, tr.71] Cuộc

sống ung dung tự tại hòa nhập với thiên nhiên trong bức tranh tứ bình, mùanào thức nấy có đủ vị, đủ hương lánh xa chốn chợ lợi đường danh tìm được

phút thảnh thơi trong tâm hồn Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam, tập1,

của Nguyễn Đăng Na (2012) chủ biên cũng đưa những câu thơ có chứa chi

tiết liên quan đến ẩm thực nhưng để thể hiện tư tưởng chủ đề về tình yêu thiên

nhiên và sự hòa hợp với thiên nhiên, sống thuận theo tự nhiên của các nho sĩ

lánh đời Nguyễn Trãi, “thiên nhiên bình dị dân dã, từ quả núc nác, lảnh

Trang 10

mùng tơi, bè rau muống, lảnh mùng, ngõ cày đất ải vốn gần gũi quen thuộc với nhân dân với thơ ca dân gian nhưng lại có phần xa lạ với văn chương bác học Nguyễn Trãi đã đưa được những thứ ấy vào trong thơ một cách tự nhiên trở thành ngôn ngữ nghệ thuật, tạo nên những rung động thẩm mĩ” [49,

tr.131] Khi nói đến các món ăn, đồ uống xuất hiện trong thơ Nôm giai đoạnnày như cơm hẩm, cơm xoa, núc nác, mùng tơi, trà, rượu các nhà nghiêncứu đều khẳng định, chúng không nhằm mục đích nói đến vấn đề ăn uống,

hưởng thụ mà để nói đến cuộc sống bình dị thanh cao hay cuộc sống tao nhã,

thi vị của nhà thơ Nguyễn Trãi

Trong khi nghiên cứu các nội dung này thì các hình ảnh, chi tiết liênquan đến vấn đề ẩm thực cũng được phân tích lý giải nhưng dường như chưađặt ra thành vấn đề riêng để nghiên cứu mà chỉ thấy thơ viết về ẩm thực đểnói lên những vấn đề khác của cuộc sống Trên cơ sở đó chúng tôi kế thừa từ

các công trình trên đây ở việc đưa yếu tố ẩm thực vào thơ để phản ánh bức

tranh đời sống và con người tác giả.

Hai là, nghiên cứu ẩm thực một cách tập trung, tự giác đặt ẩm thực

ra thành vấn đề riêng: Văn hóa ẩm thực trong thơ Nôm Đường luật.

Một số năm trở lại đây có một vài khóa luận tốt nghiệp đại học, luậnvăn thạc sĩ đã tiến hành nghiên cứu trực tiếp văn hóa ẩm thực trong thơ trungđại Việt Nam nói chung và thơ Nôm Đường luật nói riêng, như:

Đề tài ẩm thực trong văn học trung đại Việt Nam nhìn từ quan niệm của mẫu người lý tưởng của Trần Thị Huyền mới chỉ tìm hiểu vấn đề ẩm thực

trong những sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,… như là một

“phép thử” cho mẫu người lí tưởng: những chi tiết ẩm thực bình dị, đạm bạc

là phương thức để tôn lên con người thanh cao, đẹp đẽ; trong khi những yếu

tố ẩm thực xa hoa, trần tục lại là cái để các tác giả thể hiện cảm hứng triết lí,trào phúng,… qua đó cũng nêu lên phẩm chất lí tưởng của họ

Luận văn thạc sĩ văn học dân gian Trần Hồng Hoa với đề tài Văn hóa

ẩm thực trong tục ngữ,ca dao người Việt và trong sáng tác Nôm của một số

Trang 11

nhà thơ trung đại (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến) đã đề

cập đến vấn đề văn hóa ẩm thực của người Việt qua tục ngữ với nét văn hóatruyền thống thể hiện ở đồ ăn, thức uống; ở cách chế biến thức ăn đồ uống; ởtính tổng hợp, tính linh hoạt trong cách ăn uống của người Việt để thể hiệnviệc ăn uống có văn hóa như thế nào Còn những biểu hiện về văn hóa ẩmthực trong ca dao người Việt lại đi ngợi ca đặc sản địa phương, thể hiệnnhững phong tục tập quán của người Việt và cả những câu ca dao, những bài

ca dao nhắc đến ẩm thực nhưng lại đề cập đến những nội dung khác khôngthuộc phạm trù văn hóa ẩm thực Bên cạnh đó người nghiên cứu cũng đi tìmhiểu văn hóa ẩm thực trong các sáng tác Nôm của ba nhà thơ trung đạiNguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến Khi nghiên cứu vềnhững tác phẩm thơ Nôm của Nguyễn Trãi có chi tiết, hình ảnh ẩm thực

người nghiên cứu cho thấy “những vần thơ khi nói về uống, Nguyễn Trãi là

một nhà nho, một thi sĩ, một ẩn sĩ đầy tâm sự yêu nước nhưng gặp phải tình huống chớ trêu không thể đứng ra giúp nước Ở những vần thơ nói về ăn, người đọc lại thấy một Nguyễn Trãi sống giản dị đạm bạc, gắn bó với cuộc sống của người dân bằng tấm lòng rộng mở, tâm hồn thanh thản, bình yên,

đó là một con người trọng lối sống trong sạch, giữ trọn nhân cách trong sạch” [21, tr.58] Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, qua những sáng tác viết về ẩm

thực cho thấy vẻ đẹp con người có “nhân cách trong sạch, một con người

tỉnh táo biết giữ mình trong mọi hoàn cảnh khó khăn, một người sống gần gũi chan hòa với thiên nhiên, với bà con làng xóm, một người yêu nước thương dân sâu sắc, một nhà thơ với khát vọng chở đạo lý nhân nghĩa của mình đến bến bờ hạnh phúc cuả muôn dân” [21, tr.73] Qua đó ta còn nhận thấy thái độ

phê phán thói đời và triết lý làm người ở những vần thơ viết về ẩm thực củaông Còn với Nguyễn Khuyến, cho thấy những vần thơ Nôm viết về ẩm thựcnhưng không phản ánh nghĩa thực sự của nó mà mượn những hình ảnh thơ

Trang 12

nhắc đến ẩm thực để kí thác tâm sự thời thế của tác giả và tình cảm xót xa chodân trong nỗi buồn mất nước, thể hiện lòng yêu nước thương dân chân thành,thái độ gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc Như vậy luận văn thạc sĩ của Trần

Hồng Hoa với đề tài: Văn hóa ẩm thực trong tục ngữ, ca dao và trong sáng

tác Nôm của một số nhà thơ trung đại (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến) đã làm rõ nét văn hóa ẩm thực trong ca dao, tục ngữ của

người Việt và một số nhà thơ trung đại tiêu biểu Tác giả bài viết chỉ ra rằngnhững bài thơ chứa đựng yếu tố ẩm thực đều mang trong mình những quanniệm của bậc quân tử, cho rằng việc ăn uống không quan trọng, người quân tửkhông cần ăn no, mặc không cần ấm, chỉ vui khi cái đạo được thực hiện

Khóa luận tốt nghiệp đại học của Chu Thị Trang Văn hóa ẩm thực

trong thơ Nguyễn Trãi đi tìm hiểu sáng tác của Nguyễn Trãi ở cả thơ chữ Hán

và chữ Nôm có nói tới ẩm thực, rồi đặt trong tương quan so sánh với nhữngsáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến Ở đây,người nghiên cứu đi tìm hiểu văn hóa ăn, văn hóa uống trong thơ Nôm

Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập để thấy được chân dung tâm hồn của một con

người giản dị thanh cao, sống đạm bạc nhưng vẫn lạc quan yêu đời, yêu quêhương, đất nước, không mượn rượu để giải trí giải sầu mà để ngẫm chuyện

đời Còn trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi với Ức Trai thi tập gửi gắm vào

trong thơ những hình ảnh, chi tiết nói về ẩm thực nhằm khắc họa cuộc sốngđơn sơ đạm bạc, mộc mạc, thú vui tao nhã và tâm trạng nhớ nhà của thinhân Bên cạnh đó người nghiên cứu cũng đặt văn hóa ẩm thực trong thơ củaNguyễn Trãi trong mối quan hệ với giai đoạn trước Nguyễn Trãi có thơ LýTrần và sau Nguyễn Trãi có Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, NguyễnKhuyến cũng có những sáng tác đề cập đến vấn đề văn hóa ẩm thực

Trên đây là những công trình đi vào nghiên cứu văn hóa ẩm thực trongvăn học từ văn học dân gian đến văn học trung đại, có nghiên cứu về ẩm thựctrong thơ Nôm ở các tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,

Trang 13

Nguyễn Khuyến và liên hệ với thơ văn Lý Trần Ngoài ra khóa luận của ChuThị Trang có đi vào nghiên cứu văn hóa ẩm thực trong thơ Nguyễn Trãi ở cảhai mảng chữ Nôm và chữ Hán Cho đến nay chưa có một công trình nàonghiên cứu về vấn đề văn hóa ẩm thực toàn diện, xuyên suốt giai đoạn vănhọc trung đại ở thế kỷ XV-XVII Mặc dù có không ít nghiên cứu đề cập đếnhình ảnh, chi tiết liên quan đến vấn đề ẩm thực trong thơ Nôm giai đoạn nàycũng được phân tích, lý giải nhưng chưa đi sâu, toàn diện và đặt thành vấn đềriêng, và còn mang tính chất nhỏ lẻ Từ đó chúng tôi có sự kế thừa, phát triển

mở rộng đề tài văn hóa ẩm thực trong thơ Nôm của nhiều tác giả khác nữa tậptrung ở ba thế kỷ XV-XVII Những nghiên cứu đó có sự gợi mở và mang ýnghĩa tham khảo rất bổ ích cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

3 Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu.

3.1.Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là văn hóa ẩm thực (tức là những sinh hoạt ẩmthực) trong thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII, bao gồm các sáng tác sau:

- Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.

- Hồng Đức Quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và các văn thần.

- Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

- Khâm Định thăng bình bách vịnh của Trịnh Căn.

3.2 Phạm vi tư liệu nghiên cứu.

Để thực hiện đề tài này tôi nghiên cứu toàn bộ sáng tác thơ Nôm ở thế

kỉ XV-XVII dựa trên các tài liệu chính sau:

Tổng tập văn học Nôm - thơ Nôm Đường luật, tập 1, do Nguyễn Tá Nhí

chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008

Tổng tập văn học Nôm - thơ Nôm Đường luật, tập 2, do Nguyễn Tá Nhí

chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008

Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo các sách như:

Quốc âm thi tập, in trong Nguyễn Trãi toàn tập, tập 3, do Mai Quốc

Liên chủ biên, Nxb văn học, Hà Nội 2014

Hồng Đức Quốc âm thi tập, do Phạm Trọng Điềm- Bùi Văn Nguyên

phiên âm-chú giải-giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội, 1982

Trang 14

Thơ văn Nguyễn Bỉnh khiêm, do Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb Văn

học, Hà Nội, 1997

Thơ văn phủ chúa Trịnh, do Đinh Khắc Thuận chủ biên, Nxb Văn hóa

Thông tin, Hà Nội, 2012

Thơ Việt Nam: Thơ Nôm Đường luật từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, của

Hà Xuân Liêm, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997

4 Mục đích nghiên cứu

Qua khảo sát, nghiên cứu những sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Trãi, LêThánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúa Trịnh và các tác giả khác, luận vănmuốn làm rõ vấn đề ẩm thực đi vào trong thơ góp phần tái hiện bức tranh đờisống, cũng như việc thể hiện con người tác giả ở thế kỷ XV-XVII Nghiêncứu này cũng góp phần làm rõ hơn quan niệm sáng tác của các tác giả thơNôm thế kỷ XV-XVII

5 Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Bước đầu tìm hiểu về văn hóa ẩm thực trong văn học, vài nét kháiquát về thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII

- Tìm hiểu những biểu hiện của văn hóa ẩm thực trong thơ Nôm Đườngluật thế kỷ XV-XVII; cụ thể là, văn hóa ăn, văn hóa uống trong thơ NômĐường luật thế kỷ XV-XVII

- Vai trò của văn hóa ẩm thực với việc thể hiện nội dung tư tưởng, nhânvật trữ tình trong thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII

6 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp tiếp cận văn học từ văn hóa học: là phương pháp dùng

các yếu tố, tri thức văn hóa để hiểu rõ, lý giải các vấn đề về văn hóa ẩm thựctrong thơ Nôm thế kỷ XV-XVII, cũng như để thấy được những tri thức, nhữngkinh nghiệm của nhân dân về ăn uống đã được thẩm thấu như thế nào vào thơNôm thế kỷ XV-XVII

- Phương pháp thi pháp học: là phương pháp nghiên cứu khoa học về

thi ca như là một hình thức nghệ thuật Phương pháp này dùng để khảo sát tần

số xuất hiện các chi tiết, hình ảnh liên quan đến vấn đề ẩm thực Từ đó khái

Trang 15

quát nâng lên thành nội dung biểu hiện (không gian, thời gian) hay quan niệmnghệ thuật về con người, trong thơ Nôm thế kỷ XV-XVII

- Phương pháp văn học sử: Thơ Nôm Đường luật là một hiện tượng

văn học sử kéo dài trong nhiều thế kỷ nên việc sử dụng phương pháp văn học

sử để nghiên cứu giai đoạn thơ Nôm thế kỷ XV-XVII đặt trong cả tiến trìnhthơ Nôm Đường luật thời trung đại, đảm bảo tính khoa học, lo gic trong quátrình khảo sát phục vụ việc nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Được sử dụng để phân

tích, tìm hiểu các tác phẩm thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII cụ thể nhằmminh chứng cho các luận luận điểm, luận cứ trong luận văn

Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số thao tác như: thống kê, phân

loại, mô tả, so sánh – đối chiếu để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, cấu trúcnội dung luận văn gồm 3 chương:

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Chương này trình bày những tri thức chung mang tính nền tảng chotoàn bộ luận văn của chúng tôi, bao gồm các khái niệm cơ bản (đặc biệt làkhái niệm “văn hoá ẩm thực”); sự biểu hiện của văn hoá ẩm thực trong vănhọc nói chung; những tri thức chung về tác giả - tác phẩm thơ Nôm Đườngluật (đặc biệt là thơ Nôm Đường luật giai đoạn thế kỷ XV-XVII) Đây lànhững tri thức không hoàn toàn mới nhưng là những tri thức tổng hợp, có tínhchất cơ sở, cần thiết cho việc triển khai các chương sau của luận văn

1.1.Văn hóa ẩm thực

Để hiểu về văn hóa ẩm thực và văn hóa ẩm thực trong văn học, trước

tiên cần hiểu về “ẩm thực”, “văn hóa”, “văn hóa ẩm thực” cũng như những

biểu hiện của văn hóa ẩm thực trong văn học

Trước hết, ta cần hiểu khái niệm ẩm thực Theo Từ điển Tiếng Việt,

“ẩm thực” chính là “ăn và uống” Ăn uống là nhu cầu chung của nhân loại,không phân biệt màu da, sắc tộc hay tôn giáo nhưng ở mỗi cộng đồng dântộc do hoàn cảnh lịch sử, địa lý, môi trường sinh thái, tập quán, tôn giáo, tínngưỡng khác biệt nhau nên dẫn tới những đồ ăn thức uống có sự khác nhau,những quan niệm về ăn uống khác nhau, hình thành nên những phong tục tậpquán khác nhau trong việc ăn uống Trong lịch sử sơ khai của loài người thìchưa có sự khác biệt lớn bởi vấn đề ăn uống là để duy trì sự sống, con ngườitrên trái đất hoàn toàn sống dựa vào tự nhiên, vào những thứ có sẵn trongthiên nhiên Họ ăn những thứ có được từ việc săn, bắt, hái, lượm và cách ăn là

“ăn tươi nuốt sống” Theo sự phát triển của lịch sử, loài người tiến gần đếnvăn minh hơn, từ khi con người phát hiện ra lửa thì ăn uống đã đổi sang hìnhthức khác là ăn chín uống sôi Về sau nhu cầu của con người không chỉ dừnglại ở việc ăn lấy no mà vượt xa hơn họ có nhu cầu ăn ngon mặc đẹp Đến đây

Trang 17

một tập quán mới hình thành, do sự tác động của môi trường sống, do phươngthức kiếm sống, do sự gia tăng dân số, do việc mở rộng địa bàn cư trú vànhững tiến bộ trong hoạt động kinh tế của con người dẫn tới những khácbiệt trong tập quán và khẩu vị ăn uống họ chú trọng tới tính thẩm mỹ của mónăn: ăn bằng mắt, bằng mũi, bằng mọi giác quan, các đồ ăn thức uống cũngđược chế biến bày biện cầu kỳ, tinh tế hơn và chú trọng “ăn ngon hơn, hợp vệsinh hơn, có văn hóa hơn” Vì vậy ăn uống cũng là một nghệ thuật, nó khôngchỉ chứa đựng giá trị vật chất mà còn chứa đựng trong đó giá trị tinh thần

Thứ hai là khái niệm “văn hoá” Từ trước tới nay, có nhiều cách hiểu về

văn hóa Về mặt từ nguyên, “văn hóa” là từ Việt gốc Hán “Văn” nghĩa là

đẹp, “hóa” là sự vận động phát triển toàn diện Nhưng khi ghép lại, văn hóa là

danh từ có một nội hàm ngữ nghĩa khá phong phú và phức tạp Theo Giáo

trình văn hoá ẩm thực Việt Nam, người ta có thể hiểu văn hóa như một hoạt

động sáng tạo của con người nhưng cũng có thể hiểu văn hóa như là lối sống,thái độ ứng xử, trình độ văn hóa của con người Ngoài ra văn hóa còn baohàm giá trị vật chất (như các công trình để ở, cầu đường giao thông, đền đài,thành quách, đình chùa, miếu mạo do các hoạt động của con người tác độngvào tự nhiên) và giá trị tinh thần được con người sáng tạo nên thông qua hoạtđộng sống (như giao tiếp, ứng xử bằng tư duy, bằng các quan niệm hay nhữngcách ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội về vũ trụ, văn hóa, lịch sử,nghệ thuật, tôn giáo, phong tục, tập quán, lễ hội và các hoạt động văn hóakhác phong phú và sinh động) [64, tr.8] Nhà dân tộc học người Anh Edward

B Tylor có định nghĩa về văn hóa đầu tiên mang tính kinh điển tiêu biểu: Văn

hóa hay văn minh, được hiểu theo nghĩa rộng của dân tộc học, là toàn bộ phức thể bao gồm trí thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và mọi khả năng, tập quán khác mà con người có được với tư cách là thành viên của xã hội [Dẫn theo 66, tr.11] Theo cuốn Cơ sở văn hóa Việt

Trang 18

Nam, UNESCO có định nghĩa về văn hóa trong ý nghĩa rộng nhất “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người những khả năng suy xét của bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình

là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [85, tr.23] Còn cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường

tự nhiên và xã hội” [66, tr.10]

Như vậy, ta có thể hiểu: văn hóa là những sản phẩm được tạo ra từ hoạtđộng của con người, để phân biệt với tự nhiên Hiểu theo nghĩa rộng, văn hóachỉ toàn bộ các giá trị sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo

ra Theo nghĩa hẹp, văn hóa thiên về các giá trị tinh thần hoặc các phươngthức ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội và với chính mình

Cuối cùng là khái niệm “văn hoá ẩm thực” Trần Ngọc Thêm từng

khẳng định “Ăn uống là văn hóa, nói chính xác hơn, đó là văn hóa tận dụng

môi trường tự nhiên” Theo Giáo trình văn hóa ẩm thực Việt Nam, văn hóa

ẩm thực hiểu theo nghĩa hẹp là những tập quán và khẩu vị ăn uống của conngười, những ứng xử của con người trong ăn uống, những tập tục kiêng kỵtrong ăn uống; những phương thức chế biến, bày biện món ăn thể hiện giá trịnghệ thuật thẩm mĩ trong các món ăn và cách thưởng thức món ăn Còn theo

Trang 19

nghĩa rộng, “văn hóa ẩm thực” là một phần văn hóa nằm trong tổng thể cácđặc trưng diện mạo về vật chất, tinh thần, tri thức, tình cảm khắc họa một sốnét cơ bản đặc sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốcgia Nó chi phối một phần không nhỏ trong cách ứng xử và giao tiếp của mộtcộng đồng, tạo nên đặc thù của cộng đồng ấy Trên bình diện văn hóa tinh

thần, “văn hóa ẩm thực là cách ứng xử giao tiếp trong ăn uống và nghệ thuật

chế biến thức ăn qua đó thấy được con người đối đãi với nhau như thế nào?”

[64, tr.7]

Từ cách hiểu về ẩm thực, văn hóa và văn hóa ẩm thực trên đây, khinghiên cứu về văn hóa ẩm thực trong thơ Nôm thế kỷ XV-XVII chúng tôi sẽxem xét ẩm thực trên hai góc độ: văn hóa vật chất (các món ăn ẩm thực) vàvăn hóa tinh thần (cách ứng xử, giao tiếp trong ăn uống và nghệ thuật chếbiến các món ăn cùng ý nghĩa, biểu tượng, tâm linh của các món ăn)

1.2.Biểu hiện văn hóa ẩm thực trong văn học.

Từ xa xưa, người Việt Nam đã đưa văn hóa ẩm thực và để lại dấu ấn từtrong văn học dân gian với những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao, cổ tích,truyền thuyết đúc kết thành nhiều bài học, nhiều kinh nghiệm sống thôngqua việc ăn uống như “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” đâu chỉ là cách ănuống thông thường chỉ nét văn hóa vật chất, mà chứa đựng nét văn hóa tinhthần là cách ứng xử của con người với nhau trong bữa ăn, cách ứng xử tronggia đình và nhìn rộng ra là cách ứng xử xã hội Nên trong ba cái thú ăn- mặc-chơi thì ăn được đặt lên hàng đầu Ăn trở thành nét văn hóa ăn sâu trong tiềmthức người Việt và người Việt Nam ta cũng biết giữ gìn ẩm thực như một nétvăn hóa mang bản sắc riêng không lẫn với các dân tộc khác, các quốc gia, khuvực, vùng miền nào khác trên thế giới trong xu thế giao lưu kinh tế hội nhậpquốc tế

Ai trong chúng ta đều biết câu nói “có thực mới vực được đạo”, “dĩthực vi tiên” ăn uống đã trở thành đạo cư xử hay nói rõ hơn là đạo làm người

Trang 20

Người Việt từ xưa từng lấy “miếng trầu là đầu câu chuyện”, họ còn nhận thấytrong ăn uống có tính chất thiêng liêng “trời đánh còn tránh miếng ăn” Họ coiviệc mời ăn, mời uống, tặng quà cho nhau là thước đo của lòng người “có đi,

có lại mới toại lòng nhau” là lẽ tất yếu trong giao tiếp Đạo làm người đượcthể hiện ở lòng tôn kính tổ tiên ngay ở đạo ăn cũng thấy rất rõ “ăn quả nhớ kẻtrồng cây”, đạo uống thì “uống nước nhớ nguồn” Nên họ vô cùng chán ghétnhững kẻ “ăn cháo đá bát”, “vắt chanh bỏ vỏ” Rồi chê bai những bọn ănquỵt”, “ăn bớt, ăn xén” Họ không thích những kẻ “ăn bậy, ăn bạ”, “ăn trênngồi chốc” Và khinh bọn “ăn không ngồi rồi”, “mồm lê mách lẻo”, “ăn chực,

ăn rình” của những kẻ tiểu nhân “ăn bậy uống bạ”, “ăn ở vô phép tắc”, “ăngian nói dối”, ăn bám, ăn nợ Để đánh giá nền văn hóa cao hay thấp họ nhìnthấy được qua ăn uống “ăn lông ở lỗ” hay ăn sang, ăn chơi; với nền văn hóahưởng thụ mâm cao đĩa đầy, yến tiệc linh đình, sơn hào hải vị dành cho nhữngngười quyền cao chức vọng, với những người bình dân họ vui với hũ tươngbần, nồi gạo hẩm, niêu cá kho Như vậy có thể nói còn rất nhiều câu nói có ýnghĩa tương tự như vậy phản ánh lối sống, cách sống của người Việt qua ănuống xuất hiện từ rất lâu trong văn hóa ứng xử của người Việt Nam

Từ văn học dân gian đến văn học viết trung đại và hiện đại Việt Namvấn đề ẩm thực đã đi vào văn học một cách tự nhiên Các thi nhân xưa thườnglấy thiên nhiên làm bầu bạn, còn tìm đến ẩm thực là để giãi bày tâm tư Họhay đưa những món ăn dân dã, thanh tao, bình dị vào thơ để bộc lộ cái chí cáitâm của mình trước thời cuộc Hình ảnh ấm trà, bầu rượu, túi thơ quen thuộcgần gũi để ngợi ca cuộc sống thanh nhàn khi ở ẩn của những tao nhân mặckhách, hòa nhập với thiên nhiên với núi rừng, vui với cảnh nghèo bằng lònglạc quan tin tưởng, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương Cũng có tác giả lại thông qua chuyện ănuống để phê phán, châm biếm thế sự, như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn

Trang 21

Khuyến, Trần Tế Xương… Hay có các tác giả lại xem chuyện ẩm thực là sựhưởng lạc, hành lạc phóng túng, như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, DươngLâm, Chu Mạnh Trinh… Qua những cách ăn uống các nhà văn còn bộc lộtình yêu quê hương, đất nước, con người Việt Nam và bộc lộ tâm tư, tình cảm,thái độ với xã hội đương thời.

Đến với văn học hiện đại Việt Nam bạn đọc thường nhắc đến những tácgiả, tác phẩm đề cập đến văn hóa ẩm thực tinh tế phải kể tới Thạch Lam với

Hà Nội băm sáu phố phường, Nguyễn Tuân với Phở, Chén trà trong sương sớm; Nam Cao với Trẻ con không được ăn thịt chó, Một bữa no, Tư cách mõ;

Vũ Bằng với Thương nhớ mười hai, Món ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam và gần đây Hoàng Phủ Ngọc Tường có bút ký Chuyện cơm Hến ở Huế Như vậy

mỗi nhà văn, nhà thơ đều chọn cho mình cách thể hiện tư tưởng, tình cảm củamình về cuộc sống thông qua con đường ẩm thực mới mẻ, độc đáo làm nênphong cách tác giả không lẫn với ai, như lời nhận xét của Văn Giá ở công trình

Vũ Bằng bên trời thương nhớ đã khẳng định: “Trước miếng ăn, nếu như Thạch Lam hiện ra như một thi nhân, Nguyễn Tuân như một tao nhân còn Vũ Bằng như một thường nhân” Nếu như Tản Đà viết về ẩm thực để bộc lộ cái ngông

nghênh, khinh bạc của mình với cuộc đời thì Thạch Lam viết về ẩm thực như làbản nhạc được hòa điệu êm ái, du dương Nguyễn Tuân viết về ẩm thực là thểhiện cái tôi tài hoa của người nghệ sỹ về cái đẹp Còn Nam Cao nói về miếng

ăn như là miếng nhục Riêng Vũ Bằng, viết về ẩm thực là vẽ một bức tranh,làm một bài thơ trong cảm giác đằm thắm, đắm say nhất tạo nên nét đẹp vănhóa qua các món ngon

1.3 Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII

1.3.1 Khái quát về thơ Nôm Đường luật

Thơ Nôm Đường luật là những bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo

thể Đường luật (gồm cả những bài theo thể Đường luật hoàn chỉnh và những

Trang 22

bài theo thể Đường luật phá cách- những bài có xen câu ngũ ngôn, lục ngônvào thơ thất ngôn) Thơ Nôm Đường luật có đặc điểm nổi bật là sự kết hợp

Yếu tố Nôm (Nôm đọc biến âm là Nam, Nôm còn được hiểu là nôm na gắn với những gì bình dị dân dã) và Yếu tố Đường luật (mang sắc thái cổ kính,

cổ xưa, vĩnh hằng) Sự hòa quyện xuyên thấm hai yếu tố, “yếu tố Nôm” và

“yếu tố Đường luật” làm cho bức tranh thiên nhiên hay cuộc sống con ngườitrong thể thơ này vừa bình dị mà thanh cao, vừa hiện thực mà vẫn lãng mạn.Hai yếu tố này tác động qua lại xuyên thấm vào nhau vừa có tính độc lậptương đối vừa có thể tách riêng để nhận diện đặc trưng thể loại được biểu hiệntrên các phương diện: thể thơ, đề tài chủ đề và ngôn ngữ hình ảnh như sau

Về thể thơ: đây là thể loại ngoại nhập tiếp thu từ văn học Trung Quốc

nhưng thơ Nôm Đường luật lại tồn tại với tư cách là một thể loại văn học dântộc bởi quá trình dân tộc hóa thể loại văn học Từ thơ thất ngôn dẫn đến sựchuyển biến đan xen giữa câu ngũ ngôn, lục ngôn với câu thất ngôn ThơNôm Đường luật đã mang một chức năng văn học mới, chức năng thẩm mỹmới, khẳng định sự tồn tại không thể thay thế của thể loại này trong lịch sửvăn học Việt Nam Về cơ bản, quá trình này đã hoàn tất sinh mệnh nghệ thuậtkéo dài từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương và kết thúc thời kỳ phát triển rực

rỡ của diện mạo thơ Nôm Đường luật không có tuổi già là Nguyễn Khuyến.Điều đó thể hiện tinh thần tiếp thu có sáng tạo của các nhà thơ Việt Nam qua

đó bộc lộ tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc

Về đề tài, chủ đề rất phong phú, đa dạng, đề cập đến nhiều vấn đề lớn

nhỏ của lịch sử, của thời đại, của đất nước cũng như khía cạnh tinh tế phứctạp trong đời sống tinh thần con người, thấm đượm hồn dân tộc mang vẻ đẹpmộc mạc, bình dị của làng quê Việt Nam Ngoài ra Thơ Nôm Đường luậtcũng phản ánh những quan niệm, những phạm trù đạo đức của Nho, Phật,Đạo nghiêng về cái cao cả, trang nhã thổi vào đó hơi thở thời đại, linh hồn

Trang 23

dân tộc khiến lời thơ trở nên gần gũi hơn với đời sống tâm hồn dân tộc và tâmthức nhân dân.

Về ngôn ngữ sử dụng chữ Nôm, ngôn ngữ dân tộc mộc mạc, giản dị,

gần gũi với đời sống nhân dân, vận dụng nhiều ngôn ngữ văn học dân giannhư: tục ngữ, thành ngữ, lớp từ thuần Việt Để phản ánh đất nước, cuộc sống,con người Việt Nam một cách chính xác, cụ thể, sinh động, đầy biểu cảm mà

ngôn ngữ ngoại lai không có được Đặc biệt trong lớp từ thuần Việt, góp phần

hạn chế tính công thức ước lệ, làm cho lời thơ trở nên nôm na hơn, hạn chếbớt vẻ quý tộc, bác học vốn có của thể thơ Đường luật, mang đến sắc thái dântộc, thể hiện phong cách thời đại, phong cách tác giả rõ nét Những hình ảnhthơ không còn tính ước lệ, công thức, quy phạm nữa nó đi vào thơ Nôm củaNguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương,Nguyễn Khuyến, Tú Xương một cách tự nhiên và phản ánh sinh động muônmặt của đời sống xã hội, con người Việt Nam như quả dưa, lảnh mùng tơi,núc nác, cây chuối, cái đu, cái rế, cái ấm đất, cái nón, con chó đá, con muỗi,con kiến, con gà, bèo, rau muống, cá, thịt, mật, mỡ Đồng thời thể hiện tínhsáng tạo của tác giả và chống lại tính công thức và ước lệ phản ánh xu hướng

dân chủ hóa trong quá trình phát triển thơ Nôm Đường luật, “từng bước phá

vỡ tính qui phạm đó để cho hồn thơ, tài thơ, hồn văn, tài văn của mình nở hoa kết trái tự nhiên hơn, lắm sắc màu hơn, dịu ngọt hơn” Đó là những cách tân

thơ của Đường luật Nôm so với Đường luật Hán Bên cạnh đó thì ngôn ngữsách vở, các từ Hán Việt những điển tích, điển cố (Hàn Tín ăn cơm phiếumẫu, Tô Vũ ăn lông và da thú, đàn Nam phong của vua Nghiêu Thuấn mongdân ấm no, rượu của Lão Bành…), thi liệu Hán học mang tính chất cô đọng,hàm súc cũng xuất hiện trong thơ Nôm Đường luật nhưng có sự giảm dần từ

Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn

Trang 24

Khuyến có tỷ lệ từ Hán Việt thấp nhất, người sử dụng từ Hán Việt nhiều nhấttrong sáng tác thơ Nôm Đường luật là Bà Huyện Thanh Quan.

1.3.2 Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII

Thơ Nôm Đường luật ra đời là kết quả của sự sáng tạo đầy tinh thầndân tộc, một thể loại thơ ra đời ngay trên chính quê hương của mình dù được

du nhập từ xứ sở khác kéo dài suốt bẩy thế kỷ của xã hội phong kiến Từ thế

kỷ XIII, thơ viết bằng chữ Nôm ra đời gắn với tên tuổi của Nguyễn Thuyên có

sự kế thừa và phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ XV là Nguyễn Trãi, Lê ThánhTông và các văn thần Bước sang thế kỷ XVI-XVII là sự xuất hiện củaNguyễn Bỉnh Khiêm, Trịnh Căn, Trịnh Cương, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm Kéodài sang thế kỷ XVIII nửa đầu XIX gắn với tên tuổi bà chúa thơ Nôm HồXuân Hương, Bà huyện Thanh Quan Khép lại “sinh mệnh nghệ thuật” củathể thơ này ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX là hai đại biểu lớn cuối cùngNguyễn Khuyến, Tú Xương

Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII tập trung phản ánh ba khuynh

hướng cơ bản như khuynh hướng yêu nước; khuynh hướng thù tạc ca, tụng

chế độ phong kiến, khẳng định Nho giáo; khuynh hướng bất mãn với thời thế, phê phán hiện thực xã hội, phê phán những gì phi Nho giáo Căn cứ vào tư

tưởng chủ đạo của tác giả và nội dung chủ đạo của tác phẩm

Khuynh hướng yêu nước là khuynh hướng chủ đạo của thơ Nôm thế kỷ

XV, nhà yêu nước vĩ đại Nguyễn Trãi- tác giả của áng thiên cổ hùng văn đãphản ánh cuộc kháng chiến chống quân Minh trường kỳ gian khổ và tất thắngcủa nghĩa quân Lam Sơn bằng niềm tự hào về truyền thống bất khuất quậtcường, cổ vũ cho công cuộc chấn hưng đất nước Sang thế kỷ XVI-XVIIkhuynh hướng yêu nước có sự chuyển biến do bối cảnh lịch sử thay đổi Nộidung yêu nước thể hiện tập trung ở thơ Nôm viết về đề tài lịch sử, đề tài thiênnhiên, đất nước trong thơ Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn, Nguyễn Trãi,Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ Nôm chúa Trịnh

Trang 25

Khuynh hướng thù tạc, ca tụng chế độ phong kiến, khẳng định Nho giáo nhìn chung khuynh hướng này tồn tại kéo dài suốt lịch sử phát triển của

chế độ phong kiến Tùy từng giai đoạn lịch sử và tùy thuộc vai trò của giaicấp phong kiến đối với dân tộc kéo theo mức độ phản ánh đậm nhạt, tích cựchay tiêu cực Ở thế kỷ XV giai cấp phong kiến đang trên đà phát triển và đạtmức cực thịnh ở nửa cuối thế kỷ XV có tác dụng tích cực với lịch sử, bởi vậythơ ca thế kỷ này cũng dành nhiều lời ngợi ca vương triều bằng tinh thần lạcquan về thời thái bình thịnh trị Đến thế kỷ XVI-XVII, khi chế độ phong kiến

có dấu hiệu khủng hoảng, xung đột gay gắt của lịch sử thì sự ca tụng ấy trởnên sáo rỗng, công thức, phô trương Nổi bật cho khuynh hướng này là thơ cacủa Lê Thánh Tông, và ẩn chứa niềm mong ước của Nguyễn Trãi, NguyễnBỉnh Khiêm gửi gắm qua các những bài thơ viết về ẩm thực có sử dụng cácđiển tích, điển cố

Khuynh hướng bất mãn với thời thế, phê phán hiện thực xã hội, phê phán những gì phi Nho giáo khuynh hướng này có từ cuối thời Trần và xuất

hiện suốt chặng đường lịch sử của chế độ phong kiến Nảy sinh sự bất mãnthời thế là khi chế độ phong kiến khủng hoảng, còn khi chế độ phong kiếnđang hưng thịnh thì sự bất mãn thời thế trở nên lạc lõng Khuynh hướng phêphán hiện thực và phi Nho giáo là điểm nổi bật của thơ Nôm thế kỷ XVI-XVII Tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng này chủ yếu là những nho sĩ ẩn dậtlánh đời như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Cư Trinh hay nhưmột vài nho sĩ khác cả đời “chân không bước tới thị thành, mình không vào

đến cung đình” cũng mẫn cảm với thời thế, mang tâm sự u uất “Thơ văn của

các tác giả trên đều là tiếng nói phê phán chế độ phong kiến, biểu hiện trên một số khía cạnh chủ yếu: ca tụng cuộc sống ẩn dật, ca tụng tiết tháo nhà nho, miêu tả hiện thực cuộc sống đau khổ của nhân dân, tố cáo giai cấp thống trị, lên án thói đời… Cần lưu ý rằng tiếng nói phê phán hiện thực xã

Trang 26

hội trong văn học giai đoạn này chủ yếu mới trên lập trường đạo đức và vẫn

là tiếng nói khẳng định Nho giáo chứ chưa phải trên lập trường nhân bản như văn học thế kỷ XVIII-XIX sau này” [49, tr.99].

Như vậy, trong ba khuynh hướng chính của nội dung thơ Nôm thế kỷ

XV-XVII, nét chủ đạo ở thế kỷ XV là khuynh hướng yêu nước, Khuynh

hướng thù tạc, ca tụng chế độ phong kiến, khẳng định Nho giáo, sang thế kỷ

XVI điểm nổi bật lại là khuynh hướng bất mãn với thời thế, phê phán hiện

thực xã hội, phê phán những gì phi Nho giáo.

Thật vậy, thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVII là sự tiếp nối truyềnthống của văn học những thế kỷ trước, phản ánh một cách sâu sắc toàn diệnnhững đặc trưng cơ bản nhất của văn học dân dộc, góp phần khẳng định vị trívững chắc trong sáng tạo văn hóa, văn học của người Việt đưa thơ Nôm đứngsong hành cùng các thể thơ dân tộc truyền thống như lục bát, song thất lụcbát… thành tựu rực rỡ của thơ Nôm giai đoạn này tạo tiền đề cho văn họcNôm phát triển ở hai thế kỷ sau Những đóng góp nổi bật của thơ Nôm thế kỷXV-XVII là sự cách tân về thể thơ, mở rộng về đề tài, chủ đề, phong phú ởyếu tố ngôn ngữ, hình ảnh thơ bình dị dân dã, mộc mạc gần gũi với đời sốngcủa nhân dân Vì vậy, các yếu tố liên quan đến ẩm thực đi vào thơ Nôm giaiđoạn này mang hơi thở của cuộc sống thôn quê hay bác nhã cung đình Thôngqua các món ăn, cách ăn, cách ứng xử với món ăn để thấy bản sắc văn hóangười Việt qua con đường ẩm thực cũng như cách thể hiện bức tranh đời sống

xã hội và con người tác giả trong thơ Nôm ở thế kỷ XV-XVII

1.3.3 Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu

1.3.3.1 Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập

Nguyễn Trãi (1380-1442) là nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Việt Namthời phong kiến, là con người toàn tài hiếm có trong lịch sử Ông vừa là nhàquân sự lỗi lạc, nhà ngoại giao, anh hùng dân tộc, nhà văn chính luận xuất

Trang 27

sắc, nhà thơ khai sáng văn học Tiếng Việt, nhà văn hóa lớn, là danh nhân vănhóa thế giới Đồng thời ông cũng là người chịu án oan khiên thảm khốc nhất.

Nguyễn Trãi sống ở thời điểm lịch sử diễn ra nhiều biến động, sốngdưới ba triều đại, cuối đời Trần, đời nhà Hồ và đầu đời Lê Khi sóng to gió cả,những bão táp dữ dội của cuộc kháng chiến tạm yên, bao ước mong cống hiếnsức mình cho công cuộc bình Ngô phục quốc, chiến thuật tâm công được

Nguyễn Trãi đưa vào cuốn Quân trung từ mệnh tập giúp cho cuộc khởi nghĩa

Lam Sơn của Lê Lợi toàn thắng Khúc khải hoàn ca ngân vang Nguyễn Trãimong muốn đóng góp sức mình để xây dựng đất nước “Tấm lòng ưu ái” cứcuồn cuộn như nước triều Đông Nhưng ước mong chưa thỏa nguyện, mâuthuẫn trong nội bộ triều đình dẫn đến việc sát hại công thần, bản thân NguyễnTrãi có lần bị bắt giam rồi được tha nhưng không còn được tin dùng nhưtrước Ông cáo quan về Côn Sơn ở ẩn chọn lối xử nhàn để tránh họa vào thân,nhưng thân nhàn mà tâm không nhàn tấm lòng lo nước, thương dân của ôngkhông bao giờ vơi cạn Năm1440, ông được vua Lê Thái Tông mời ra giúpnước nhưng chẳng được bao lâu khi đang gánh trọng trách với dân với nướcthì năm 1442 Nguyễn Trãi mắc án oan Lệ chi viên, bị “tru di tam tộc” thảmkhốc nhất trong lịch sử

Nguyễn Trãi không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc, ông còn là nhà

thơ, nhà văn lớn để lại nhiều tác phẩm có giá trị như: Dư địa chí, Chí Linh

sơn phú, Bình Ngô đại cáo, Lam Sơn thực lục, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập Toàn bộ những sáng tác của Nguyễn Trãi đều bộc lộ tấm lòng nhân đạo,

yêu nước thương dân sâu sắc

Quốc âm thi tập được coi là “tập đại thành” bằng thơ ra đời trong thời

gian ở ẩn chốn Côn Sơn, là bông hoa đầu mùa ngát hương trong vườn hoa vănhọc Nôm của dân tộc Với tập thơ này Nguyễn Trãi được coi là người đặt nềnmóng cho văn học Nôm của Việt Nam, thể hiện sâu sắc tâm hồn dân tộc,

những cảm quan về thiên nhiên, quê hương, đất nước Quốc âm thi tập bao

Trang 28

gồm 254 bài được chia làm bốn phần: Vô đề (Thủ vĩ ngâm, Ngôn chí, Mạn

thuật, Trần tình, Thuật hứng, Tự Thán, Tự thuật, Tức sự, Tự giới, Bảo kính cảnh giới); Thời lệnh môn; Hoa mộc môn; Cầm thú môn Trong mỗi phần có

nhiều mục, có tất cả 53 mục, có mục có một bài, có mục có một chùm bài thơ

(Ngôn chí 21 bài, Mạn thuật 14 bài, Bảo kính cảnh giới 61 bài, Tự thán 41

bài) trong bốn phần này thì phần Vô đề là quan trọng nhất vì nó thể hiện rõ

nỗi lòng lánh đục tìm trong tránh xa bọn quyền gian, bầu bạn với thiên nhiênđược phả vào thơ như tấm gương báu răn mình vừa thể hiện nỗi buồn, lo, đauxót khi lý tưởng hoài bão chưa trọn, khi đất nước còn rối ren thể hiện sự

“nhận thức rất rõ vấn đề dân tộc, vấn đề nhân dân nên thơ quốc âm của ông mang tiếng nói dân tộc qua âm vang tục ngữ, ca dao dân tộc” Ở đó,“Nguyễn Trãi đã dùng hình thức chữ Nôm để ghi lời thơ tiếng Việt của mình ( ) Tập thơ hoàn chỉnh này truyền lại, được coi như tác phẩm vô cùng quý giá, ghi lại

âm vang của tổ tiên người Việt chúng ta từ thời trung cổ”.

Trong Quốc âm thi tập, văn hóa ẩm thực cũng là một trong số nhiều

chủ đề của tập thơ Khi khảo sát, thống kê tư liệu chúng tôi thấy có xuất hiệnđến 67 trên tổng số 254 bài xuất hiện chi tiết liên quan đến ẩm thực và tậptrung nhiều nhất nằm ở phần Vô đề Bên cạnh tấm lòng “ưu dân, ái quốc”Nguyễn Trãi đề cập đến cái ăn, cái uống để nói lên lối sống, phẩm chất thanhcao của mình, đồng thời cũng phản ánh nét văn hóa của lớp nho sĩ lánh đờithông qua con đường ẩm thực

1.3.3.2 Lê Thánh Tông và văn thần với Hồng Đức Quốc âm thi tập

Lê Thánh Tông tên thật là Lê Tư Thành (1442-1497), Tao Đàn nguyênsúy, là hoàng đế thứ năm vương triều Hậu Lê trị vì lâu nhất thời kỳ hòa bìnhcủa nước Đại Việt kéo dài 38 năm từ (1460-1497)

Lê Thánh Tông sống ở nửa cuối thế kỷ XV, khi đất nước sạch bóngquần thù ông bắt tay vào xây dựng đất nước, có thể coi đây là thời đại hoàngkim của vương triều phong kiến phát triển cực thịnh Lê Thánh Tông hết lòng

Trang 29

chăm lo việc nước: mở khoa thi, kén chọn hiền tài khích lệ việc khắc bia tiến

sĩ, khuyến khích sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề, mở rộng giaolưu buôn bán, mở mang bờ cõi, ban hành chế độ quân điền, coi trọng việc bảo

vệ biên giới quốc gia, ban hành bộ Luật Hồng Đức Trong Đại Việt sử ký

toàn thư (bộ quốc sử được khởi soạn từ thời Lê Thánh Tông và hoàn thiện vào

thời Lê Trung Hưng) có nhận định của sứ thần đời sau về ông “vua sáng lập

chế độ văn vật khả quan, mở mang đất đai, bờ cõi khá rộng, thực là bậc vua anh hùng tài lược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn được Những công trình thổ mộc vượt quá quy mô xưa”

Lê Thánh Tông còn là một nhà thơ, nhà văn lớn Thơ văn của ông chứađựng tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc sâu sắc Ông là người đã lái phongtrào văn học của các văn thần vào quỹ đạo cung đình xu hướng ngâm hoavịnh nguyệt, ca tụng chế độ phong kiến buổi thịnh trị đề cao đạo đức lễ giáothể hiện ở lòng yêu nước, tự tôn dân tộc bằng cái nhìn lạc quan tìm thú vuitrong chén rượu tiếng đàn chủ trương sống “có thì ăn mặc, có thì chơi” Ôngsáng tác thơ văn bằng cả chữ Nôm và chữ Hán để lại hàng nghìn sáng tác với

nhiều tác phẩm có giá trị như: Quỳnh uyển cửu ca, Chinh tây kỉ hành, Minh

lương cẩm tú, Văn minh cổ súy, Cổ tâm bách vịnh, và là đồng tác giả của Hồng Đức quốc âm thi tập với các văn thần của mình.

Hồng Đức quốc âm thi tập là sự tiếp nối Quốc âm thi tập của Nguyễn

Trãi Tập thơ này do Lê Thánh Tông cùng các văn thần sáng tác Tập thơ cónhiều tác giả nên mỗi bài đều không ghi tên tác giả bởi tác giả là các tiến sĩthời Hồng Đức, có thể chủ yếu là các hội viên hội Tao Đàn Tập thơ này đượcsưu tập về sau nên không đề rõ thời gian cụ thể Tập thơ có 328 bài được chia

làm năm phần: Thiên địa môn (59 bài), Nhân đạo môn (46 bài), Phong cảnh

môn (66 bài), Phẩm vật môn (69 bài), Nhàn ngâm chư phẩm (88 bài) Trongphần nội dung thơ Nôm thời Hồng Đức, tác giả cũng đưa ra các hình ảnh contrâu tớ béo, cá tớ tươi, đầu rô trỗi, lưỡi chó lè, rau tần không để nói về món

Trang 30

ăn mà nói lên cảnh sắc nông thôn, tình yêu quê hương đất nước bằng lối thơđậm đà tính dân tộc, tiếp tục xu hướng dân tộc hóa thể thơ ngoại nhập trênphương diện sử dụng ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ đời sống được phát triển

tiếp nối Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.

1.3.3.3 Nguyễn Bỉnh Khiêm với Bạch Vân quốc ngữ thi tập

Nguyễn Bỉnh Khiêm sống gần trọn thế kỷ XVI (1491-1585) là ngườinổi tiếng học rộng tài cao, có tầm nhìn chiến lược được người đời tôn kính vìnhững lời sấm truyền Ông là nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất của lịch sử vănhóa Việt Nam, nhà thơ lớn của dân tộc, là người thầy vĩ đại bồi dưỡng nhiềunhân tài cho đất nước; là bậc đại hiền, một triết gia, một bậc tiên tri

Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong bối cảnh thời đại có nhiều biến độngrối ren chưa từng có trong lịch sử, ông trải qua “Ba đời chúa được phúc tìnhcờ/ Ơn nặng chưa từng báo tóc tơ” Sau triều đại hoàng kim của Lê ThánhTông, chế độ phong kiến có dấu hiệu suy thoái, là người nổi tiếng thôngminh, học rộng tài cao nhưng đỗ muộn, do tình hình chính trị rối ren nhà Lêsuy yếu nhà Mạc lên thay Năm 1535, Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng nguyên

và ra làm quan dưới triều Mạc gửi trọn niềm tin vào xã hội thịnh trị nhà Mạc

Ông sáng tác một số lượng tác phẩm đồ sộ gồm gần một nghìn bài thơ

chữ Hán nằm trong tập Bạch Vân Am Trình Quốc Công thi tập, và 161 bài thơ viết bằng chữ Nôm ở Bạch Vân quốc ngữ thi tập.

Tập thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập chủ yếu được ông sáng tác trong

thời gian ở ẩn tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại Nội dung chủ yếu của tậpthơ là cảm hứng thế sự và triết lý nhân sinh Giống như thơ Nôm của Nguyễn

Trãi ẩm thực không phải là một đề tài nằm trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi

tập, nhưng qua khảo sát, thống kê chúng tôi thấy những chi tiết liên quan đến

ẩm thực xuất hiện trong 60/161bài chiếm số lượng khá nhiều Vậy NguyễnBỉnh Khiêm đưa những chi tiết liên quan đến ẩm thực vào trong tập thơnhững bữa ăn giản đơn, những cốc trà, chén rượu để nói đến thói đời, thế sự

Trang 31

hay trần tình về nỗi lòng của mình Mặc dù lánh đời, tìm nơi ẩn tích songtrong lòng ông không nguôi nỗi lo thế sự, sự chiêm nghiệm sâu sắc về cuộcđời trần thế Chuyện ăn và uống không chỉ để tồn tại, no ấm mà thông qua đóông kí thác bao tâm sự nỗi lòng của nhà thơ Nhiều chi tiết về ẩm thực xuất

hiện dày đặc trong tập thơ như: canh cua rốc, cơm hẩm, cơm xoa, măng trúc,

giá đỗ, cá tôm nhưng không để nói về ẩm thực mà nói đến cuộc đời thanh

đạm của tác giả, nói về việc vận dụng ngôn ngữ quần chúng, ngôn ngữ vănhọc dân gian, khẩu ngữ hàng ngày, thành ngữ tục ngữ đi vào thơ ca một cách

tự nhiên Còn những mùi vị, món ăn quen thuộc không thể thiếu trong bữa ăn

của gia đình người Việt được nhắc tới nhiều trong tập thơ này như: cay đắng,

ngọt bùi, tanh tao, mặn nhạt, mật mỡ, không nhằm mục đích nói đến cách

chế biến món ăn, cách ứng xử với món ăn mà để phản ánh nội dung triết lýrăn đời, triết lý cầu nhàn của Bạch Vân cư sĩ Điều đó sẽ được chúng tôi trìnhbày cụ thể ở các chương tiếp sau

1.3.3.4 Trịnh Căn với Khâm Định thăng bình bách vịnh

Trịnh Căn (1633-1709) là vị chúa Trịnh thứ tư đời Lê Trung Hưng, cầmquyền từ năm (1682-1709), ở ngôi chúa 27 năm Sự nghiệp của Trịnh Căn làgạch nối giữa thời Trịnh- Nguyễn phân tranh và thời thịnh trị của ĐàngNgoài Ông là người có công chặn đứng thế Bắc tiến của chúa Nguyễn, giữhòa bình cho Bắc Hà và đưa miền bắc Đại Việt vào thời kỳ phát triển phồnthịnh trở lại sau nhiều năm chiến tranh binh lửa

Không chỉ là nhà chính trị, nhà quân sự, Trịnh Căn còn là một nhà thơ

Ông để lại một tập thơ Nôm Khâm Định thăng bình bách vịnh còn có tên gọi khác Ngự đề Thiên Hòa doanh bách vịnh gồm 90 bài làm theo thể thơ Đường

luật Đây là tập thơ có tính chất cung đình, nhân danh các bậc vua chúa “báchvịnh” vịnh trăm bài thơ ở điện Thái Hòa mục đích ca ngợi triều đại, công tích

và ân huệ trị dân của mình Tập thơ có nhiều điểm gần giống với tập Hồng

Đức Quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông ở chỗ vịnh cảnh sông núi, chùa

Trang 32

miếu, thiên nhiên, thời khắc đến vịnh vật (voi, ngựa, thuyền, súng, cung, nỏ,kiếm, bút, nghiên mực, chiếc quạt) từ đó thể hiện niềm tự hào về cảnh trí nonsông, đất nước Do vậy, mà chi tiết ẩm thực ít được nói đến trong tập thơ này.

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Như vậy, trên đây chúng tôi đã trình bày những tri thức cơ bản về: ẩmthực, văn hóa, văn hoá ẩm thực cùng những biểu hiện của văn hóa ẩm thựctrong văn học từ văn học dân gian đến văn học viết trung đại và hiện đại Kháiquát về đặc điểm thơ Nôm Đường luật, thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV-XVIIcùng các tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho thơ Nôm thế kỷ XV-XVII Văn hoá

ẩm thực được chúng tôi quan niệm là những sinh hoạt, ứng xử liên quan đếnhoạt động ăn uống của con người Những sinh hoạt ứng xử đó được thể hiệnthông qua con đường ẩm thực khá đa dạng trong thơ văn Thơ Nôm Đườngluật đã ra đời trước thế kỷ XV Phải đến thế kỷ XV-XVII mới đạt được nhữngthành tựu rực rỡ và nó đã phản ánh, chịu sự tác động nhất định của văn hoá

ẩm thực đương thời Ở chiều ngược lại, trình độ phát triển của thơ NômĐường luật cũng sẽ chi phối đến sự phản ánh, tái hiện văn hoá ẩm thực lúcbấy giờ Đây là những tri thức cơ bản, nền tảng để chúng tôi tiếp tục triển khainhững chương tiếp theo

Trang 34

Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA ẨM THỰC TRONG THƠ NÔM THẾ KỶ XV – XVII

Trong chương này, chúng tôi tập trung tìm hiểu, tái hiện những biểuhiện của văn hoá ẩm thực trong thơ Nôm thế kỷ XV – XVII, xem đó như là sựtái hiện phần nào đó sinh hoạt ẩm thực đương thời của các tác giả thơ Nômgiai đoạn này Để phù hợp với đặc thù của từng phương diện và cũng là đểtiện trình bày và theo dõi, chúng tôi tách riêng thành 2 phần “ăn” (thực) và

“ẩm” (uống)

2.1 Văn hóa ăn

Để đi vào tìm hiểu biểu hiện của văn hóa ăn trong thơ Nôm thế kỷ XV– XVII, chúng tôi tiến hành khảo sát các tập thơ và số liệu hóa thành bảngthống kê dưới đây

Bảng thống kê các món ăn trong thơ Nôm thế kỷ XV – XVII

Các món ăn/

đồ ăn

Nguyễn Trãi

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tác giả Hồng Đức

Trịnh Căn

Tổng số

Trang 35

Kê, khoai, đậu 2 1 1 0 4

hệ sinh thái nhỏ lẻ mang đến nguồn thực phẩm như cá, tôm, cua, ốc Sự đadạng về môi trường sinh thái mang lại sự đa dạng về nguồn thực phẩm và nó

Trang 36

được tái hiện thành công, đậm nét trong những trang thơ trung đại Thời trung

đại, người Việt Nam tìm thấy sự đa dạng thực phẩm như bảng thống kê trênđây cho thấy nét đặc trưng trong nhiều món ăn phục vụ cho đời sống hàngngày từ rau, củ quả, gạo, cá tôm Người Việt giai đoạn này dường như không

ăn nhiều thịt, thịt có được nhắc tới trong ba bài ở Bạch Vân quốc ngữ thi tập

của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chỉ để phân biệt cuộc sống của người giàu vớingười nghèo, hoặc nhắc tới mà không ăn Những món ăn bình dị giản đơn ấycũng tự nhiên đi vào thơ ca và trở thành đối tượng thẩm mĩ giúp bộc lộ đờisống tâm hồn thi nhân Tìm hiểu thơ ca của một số nhà thơ trung đại thế kỷ

XV – XVII, chúng tôi nhận thấy phần nhiều tác phẩm đề cập tới những món

ăn bình dị chốn đồng quê, một số ít khác cũng có đề cập sơ lược về văn hóa

ăn nơi cung đình, chủ yếu là các bữa yến tiệc (khá chung chung)

Theo khảo sát thống kê, chúng tôi thấy rằng trong Quốc âm thi tập có 39/254 bài đề cập tới các món ăn, bao gồm: Ngôn chí III, VII, IX, XIV, XVII;

Mạn thuật I, VI, XIII; Trần tình II, III, V; Thuật hứng I, III, XI, XX, XXII, XXIII, XXIV; Tự thán XIX, XXXII, XXXIV Trong Bạch Vân Quốc âm thi tập

chúng tôi thống kê thấy có tới 37/161 bài nói chuyện ăn, và 60 lượt chi tiếtliên quan đến món ăn bao gồm: bài số 3, 4, 11, 22, 23, 32, 36, 41, 42, 43, 46,

58, 60, 61, 71, 73, 79, 99, 100, 101, 103, 113, 114, 130, 131, 137, 149, 153

Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm có cuộc đời và tâm sự rất khácnhau nhưng lại giống nhau ở chỗ cùng có làm thơ tiếng Việt vào cái thời màhiếm trí thức Việt chịu sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ Hai nhà thơ dành nhiều tìnhcảm đặc biệt cho chữ Nôm, cho thơ Nôm Đường luật Bên cạnh nguồn cảmhứng dồi dào về đề tài yêu nước, yêu thiên nhiên hay cảm hứng thế sự hai tácgiả dành nhiều bút lực viết về cuộc sống bình dị chốn ẩn cư, trong đó sử dụngnhiều yếu tố ẩm thực trong những trang thơ của mình

Hai tác giả nói rất nhiều về các món ăn dân dã của người bình dân NếuNguyễn Trãi đề cập tới các món như cơm, rau thì Nguyễn Bỉnh Khiêm lại nói

Trang 37

nhiều đến măng trúc, giá đỗ hay các mùi vị của món ăn Trong Quốc âm thi

tập có tới 16 bài nói về các món cơm: cơm hẩm, cơm xoa, cơm cám 8 bài

nói về các món rau: mùng tơi, dưa muối, kê khoai, đòng đong, núc nác Chẳng hạn:

Vàng bạc nhà chẳng có mỗ phân

Lành thay cơm cám được no ăn.

(Trần tình – bài II)

Khách hèn nào quản quen cùng lạ

Cơm đói nài chi hẩm lẫn khê.

(Bài XIV)Nguyễn Trãi đặc biệt quan tâm tới cuộc sống và cảnh bần cùng củangười nông dân Thi nhân chọn cho mình một cách sống xa rời sách vở để gầngũi hơn với cuộc sống thôn dã Chính lối sống bình dị ấy đã giúp cho thơNôm Nguyễn Trãi thể hiện được vẻ đẹp đời sống văn hóa của dân tộc thế

kỷ XV, trong đó có sinh hoạt ẩm thực

Từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý nơi triều chính, Nguyễn Trãi quay

về với một tấm lều nhỏ bé, mộc mạc và hoang sơ nơi thôn dã Căn lều dù nhỏ

bé nhưng không hề cô độc mà được chở che, quấn quít với thiên nhiên Với

kẻ ở ẩn, chuyện ăn uống không chút xa hoa mà đạm bạc dân dã, một cuộcsống mang tính tự cung tự cấp và tùy theo mùa vụ:

Cơm ăn chẳng quản muối dưa

Áo mặc nài chi gấm thêu.

(Thuật hứng - 22)

Ngày tháng kê khoai những sản hằng

Tường đào ngõ mận ngại thung thăng.

(Mạn thuật – bài I)Cuộc sống nhàn dật gắn với công việc lao động của người dân quê, với

ruộng vườn: ương hoa, vun đất ải, vãi đậu kê, vun trúc, cấy muống, ương sen,

nuôi cá, phát cỏ, lấy củi, vớt bèo… Vốn từ thi nhân sử dụng phong phú, đa

dạng, miêu tả cụ thể chính xác công việc của người dân lao động và vớinhững món ăn mà ông nói đến

Trang 38

Khác với Ức Trai, Nguyễn Bỉnh Khiêm dành nhiều vần thơ viết vềmăng trúc-món ăn mà ông ưa thích Khi nói về các món cơm, nhà thơ viết về

sự phân biệt cơm bữa nhà giàu với nhà nghèo: cơm rau – cơm thịt, cơm babữa – cơm ba niêu

Giàu ba bữa, khó ba niêu,

Yên phận thì hơn hết mọi điều.

(Bài 3)

Giàu cơm thịt, khó cơm rau

Yên phận là tiên, lọ phải cầu.

(Bài 4)

Tục ngữ có câu: “Cơm niêu nước lọ” để chỉ nếp sinh hoạt của ngườidân khốn khó Tương tự trong bài số 4, tác giả kể rằng người giàu ăn cơm vớithịt cá, người nghèo ăn cơm với rau quanh nhà Dù là người giàu hay nghèocũng ăn ngày ba bữa mà thôi, người giàu bữa đủ ba món, kẻ khó ngày ba niêucơm nhỏ Dù có như thế nào, bữa ăn không quan trọng, cũng không cần phảicầu xin ai, yên phận sớm hôm bên một mụ hầu, có thể hiểu mụ hầu ấy chính

là người vợ của tác giả

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng giống như bao thi sĩ đời trước: thích trà, yêutrăng, ưa các món ăn thanh bạch như măng trúc, cá tôm, dưa muối Thơ ôngvừa bày tỏ tình yêu thiên nhiên vừa khắc họa tâm hồn cao khiết, không màngdanh lợi của ông Những loại rau quanh nhà cũng được nhà thơ nhiều lần nóitới trong hàng loạt sáng tác của mình Nhiều nhất là món măng trúc có thểxem là món ăn tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng cho con người và cho đếnngày nay nó vẫn làm nao lòng biết bao thực khách

Bóng hoa lệ động am chưa quét

Măng trúc còn tươi bếp mới sôi.

(Bài 11)Hay:

Sôi măng trúc đắng thèm thay thịt

Đắp áo sô to lạnh kẻo chiên.

(Bài 22)

Đặc biệt trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, nhà thơ có tới 13 bài nói về

các mùi vị của món ăn: mặn, nhạt, chát, đắng cay, tanh, mật mỡ Nhưng dù

Trang 39

nói đến các món ăn hay mùi vị nào đó thường là cách mượn các mùi vị, món

Trong Hồng Đức Quốc âm thi tập chúng tôi khảo sát và thấy các tác giả nhắc tới các món ăn trong 20/328 bài thơ: Hựu hạ thử, Hàn Tín, Tô Vũ, Sơn

thị tình lam, Trà thượng sa cư, Trà thượng phiếm chu, Tứ thú tương thoại, Vịnh trăng non, Hạ thử, Cửu hạn trùng cam vũ, Ngư thôn tịch chiếu, Tiêu Tương dạ vũ, Tiến Trung phong tục, Động lâm hiểu cảnh, Qua… Thơ của

những người cầm quyền trong cả nước ấy không quá xa vời mà gần gũi vớinhân dân, với cuộc sống hàng ngày của người dân với những món ăn, đồ ănrất thực:

Cá tươi xâu liễu người về kíp

Rượu chín nồng hoa khách ở chầy.

(Cảnh mây quang bên chợ núi)

Trong cảnh chợ quê ngày nắng tạnh, sắc xanh cây in bóng khắp nơi,những con cá câu về được xâu bằng cành liễu, cất giữ tươi ngon Những ngàytrời xám xịt con nước lên, gác mái chèo cho thuyền trôi lững lờ trên dòngnước, luôn sẵn cá tôm đem đổi bữa cơm chay:

Toan ngày con nước chèo lan gác

Đối bữa cơm chay chén cúc khơi.

(Trà Thượng phiếm chu)

Trang 40

Rồi những ngày nhàn cư trò chuyện với nhau:

Con trâu tớ béo cơm ngươi trắng, Đon củi ngươi nhiều cá tớ tươi.

(Bốn thú nhàn cư trò chuyện với nhau)Buổi thái bình thịnh trị, nhà nhà được no đủ có cơm trắng, nuôi contrâu được béo tốt, nhà tôm dư thừa, củi đun sẵn trong bếp Bức tranh đời sốngxiết bao chân thực với những món ăn giản dị, đời thường như thế Đó là cách

Hồng Đức Quốc âm thi tập ngợi ca đất nước trong buổi thái bình thịnh trị, bởi

vậy nội dung thường viết về cảnh sinh hoạt no đủ, tâm trạng phấn khởi vuitươi của người dân nước nhà

Có thể thấy rằng khi nhắc tới các món ăn trong thơ, các tác giả dườngnhư khá e ngại và không nhắc tới các món ăn sơn hào hải vị, không sa vào lốisống hưởng thụ Ở nơi ẩn cư họ chỉ đề cập tới những món ăn bình dị, dân dãđậm chất quê kiểng

Những món ăn trên đây chúng tôi thống kê và kể ra phần nào cho thấytrong thơ Nôm thế kỷ XV – XVII các nhà thơ dù là thuộc tầng lớp vua quancũng dành nhiều tình cảm cho những món ăn bình dị dân dã Tất cả nhữngloại cơm, rau, khoai sắn của người bình dân được các tác giả ưu ái đưa vàothơ ca một cách giản dị và chân thực Bên cạnh đó còn có thể thấy được cáchnói dùng điển tích điển cố khi nhắc tới một số món ăn hay các bữa yến tiệcchốn cung đình Đề cập tới vấn đề cách ăn trong thơ Nôm Đường luật, chúngtôi xin được thống kê ở phần tiếp theo

2.1.2 Cách ăn

Nếu món ăn trong thơ Nôm đường luật của các nhà thơ trung đại đadạng theo vùng miền thì cách ăn cũng như vậy Món ăn ngon phần nhiều là docách chế biến và tâm trạng của người ăn Tuy nhiên các nhà thơ không phải lànhững đầu bếp để lưu lại cách chế biến món ăn mà thông qua cách ăn chothấy những tâm hồn vô cùng giản dị mà thanh cao

Ngày đăng: 23/07/2019, 14:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w